Hiện có 7 người xem / 1335328 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ BUỔI HỌP
NGÀY 09-01-2010

Như thường lệ, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã bắt đầu phiên họp bằng việc giới thiệu 2 cuốn sách tương đối cổ vì một cuốn được in năm 1955 (nghĩa là 55 tuổi đời) và một cuốn được in năm 1935 (70 tuổi). Cuốn được in năm 1955 là một cuốn sách bằng Pháp văn mang tựa đề là: “Tôi chọn các tác giả tôi yêu thích” (Je choisis mes auteurs). Cuốn sách này khổ 13cm x 19cm và dày 366 trang. Cuốn này được viết bởi một nhóm tác giả được đặt dưới sự chỉ đạo của hai người tên là R. du Mesnil và P. Chartier, và các tác giả được nói đến trong cuốn này là các tác giả của tất cả các nước và mỗi tác giả ngoài tên họ, năm sinh, quốc tịch còn có tên các tác phẩm, và đặc biệt là các tác phẩm này được chia ra làm 4 loại khác nhau, đánh dấu bằng 1 sao, 2 sao, 3 sao và 4 sao. Loại 1 sao dành cho tất cả mọi người. Loại 2 sao dành cho các độc giả đã trưởng thành. Loại 3 sao dành cho các độc giả dầy dạn kinh nghiệm. Và cuối cùng, loại 4 sao là loại sách không nên đọc, và lời khuyên này áp dụng cho tất cả mọi người.

Ngoài ra sách còn cho ta danh sách các loại giải thưởng văn chương từ khi mới ra đời cho tới năm 1954, tức là 1 năm trước lúc cuốn sách ra đời. Qua cuốn sách này người đọc được biết tên tác giả và tác phẩm đoạt giải của tất cả mọi giải. Đồng thời ta cũng được biết là giải FEMINA ra đời năm 1904, giải Théophraste – Renaudot ra đời năm 1926, giải GONCOURT, năm 1903, giải INTERALLIÉ, năm 1930, giải RENOUVEAU FRANÇAIS, năm 1946, và giải PRIX DU ROMAN de L’ACADÉMIE FRANÇAISE ra đời năm 1915.

Ngoài ra cuốn sách này còn mang đến cho người đọc một Thông tin không phải tìm đâu cũng thấy. ĐÓ LÀ TÊN CÁC SÁCH VÀ TÁC GIẢ BỊ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO LA MÃ cấm các tín đồ đọc.

Cuốn sách thứ nhì bằng Việt văn và là của LM. J.M. Thích ở Huế trứ tác năm 1935. LM. J.M. Thích rất nổi tiếng ở HUẾ và được coi là 1 học giả thứ thiệt. Cuốn sách gồm 99 bài viết ngắn hầu hết là các trích đoạn rút ra từ tác phẩm của nhiều tác giả danh tiếng. Các trích đoạn đó được chú giải rất kỹ càng và được nhiên là rất hay. Đây cũng là 1 cuốn sách rất bổ ích, rất mở mang kiến thức cho người đọc có may mắn gặp gỡ nó.

Sau phần giới thiệu sách, Bs. Nguyễn Lân Đính có một bài nói chuyện ngắn về CÁCH THỞ ĐỂ LÀM HẠ HUYẾT ÁP. Bs. Đính là 1 thành viên luôn luôn tích cực giúp đỡ các thành viên khác để họ có sức khỏe để mà đọc sách. Yếu sìu thì làm răng mà đọc được! Điều cốt lõi của cách thở này là: thở như thổi vào 1 ngọn nến, nhưng không cho nó tắt.

Sau anh Đính là anh Liêm. Anh Liêm giới thiệu qua về 1 cuốn sách sắp được in đồng thời cũng mời các thành viên có tư liệu Hán Nôm tham gia 1 cuộc trưng bày tài liệu Hán Nôm do Thư viện Tổng Hợp tổ chức. Kế đó, anh Liêm có đưa ý kiến là không nên thờ tượng KHỔNG TỬ ở Văn miếu Trấn Biên ở núi Bửu Long ở Biên Hòa.

Tiếp lời anh Liêm, Dịch giả Vũ Anh Tuấn có đưa ra ý kiến nên khuyến cáo báo chí chẳng nên đăng tải những tin tức không hợp lý coi thường độc giả.

Cuối phiên họp tất cả các thành viên CLB đã đồng ý tổ chức 1 bữa ăn Tất niên ngay sau phiên họp ngày 6.2.2010, tức là ngày Ông Táo về Trời.

Buổi họp kết thúc lúc 11 giờ kém 15 phút.

CLB Sách Xưa & Nay của chúng ta vừa được Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Hồ Chí Minh tặng giấy khen vì đã có đóng góp tích cực cho hoạt động của Thư viện Khoa học Tổng hợp 2009. Giấy khen được ký ngày 27/1/2010. Đây cũng là tin vui nho nhỏ vào ngày đầu năm.

Vũ Thư Hữu

VÀI DÒNG VỀ CUỐN SÁCH

“MỘT CHIẾN DỊCH Ở BẮC KỲ”

(“UNE CAMPAGNE AU TONKIN”

của BS. HOCQUARD XB NĂM 1892) 

Tôi cũng có cuốn sách này nhờ anh bác sĩ “trung thương gia” mang ở Pháp về. Thấy tôi thích, anh rất “tình cảm” và chỉ “cứa” tôi rất nhẹ, chưa hề hấn gì. Cuốn sách này được xuất bản năm 1892 (118 tuổi), khổ 20cm x 28cm và dày 560 trang.

Trước khi đi vào chi tiết xin được nói vài dòng về tác giả Bs. Hocquard. Tên đầy đủ của ông ta là Charles-Edouard HOCQUARD, sinh ngày 15.2.1853 ở Saint-Nicolas (Meurthe) và mất ở Lyon ngày 18.1.1911. Ra trường năm 1875, ông được đưa về quân đoàn 4 bộ binh chiến dịch, và đã làm đơn xin được làm y sĩ trưởng trên xe cứu thương và tham dự chiến dịch diễn ra ở Bắc Kỳ, và ông đã sống ở Bắc Kỳ trong 2 năm rưỡi.

Cuốn sách dày 560 trang này được chia ra thành 23 Chương.

Xin các bạn hãy cùng tôi đi du hành qua XXIII chương của cuốn sách này:

Chương I: Nói về các chuyện sau đây: Tác giả tới Bắc Kỳ – Vịnh Hạ Long – Thành phố Hải Phòng. Từ Hải Phòng lên Hà Nội – Ông Ba và lũ đầy tớ Annamites – Những người làm nghề khảm trai – Cách ăn mặc và trang điểm của phụ nữ Annam.

Chương II: Nói về nhiều chuyện lặt vặt khi tác giả sinh sống ở Hà Nội như: nhà người nhà giàu Annam trang trí như thế nào? Người họa sĩ vẽ hoạt họa, nghệ sĩ được đối xử như thế nào? Các người bán rong vv…

Chương III: Nói về các chuyện lặt vặt khi tác giả sinh sống ở Hà Nội và về các nơi chốn như Thành Hà Nội – Chùa Vua vv… Đặc biệt là chương này có mô tả việc tướng Millot tiếp các sứ thần mà vua Annam gửi đến – và việc một ông Quan Annam nhận xét thế nào về người Pháp. Trong chương này, tác giả cũng có nhắc tới tục nhuộm răng đen của người Annam.

Chương IV: Nói về việc tác giả sửa soạn đi Bắc Ninh về việc quân viễn chinh Pháp gặp khó khăn trong việc nuôi quân – về kế hoạch mở chiến dịch – và về các con đề ở Bắc Kỳ.

Chương V: Nói về bọn Giặc Cờ đen – việc chiếm thành Bắc Ninh – về các chiến lợi phẩm – về bọn trộm cướp bị trừng trị - và về thành lũy của bọn Tàu.

Chương VI: Nói về việc tác giả trở về Hà Nội trên con đường Cái quan – về việc cày cấy bằng trâu – về những khu phố cổ – về các món ăn Annam – về việc tác giả ghé vào một tiệm hút thuốc phiện – về tòa Công sứ Pháp.

Chương VII: Nói về việc tác giả đi Hưng Hóa – về các đồn canh – về căn nhà của một kỳ hào – về các món quà được tặng khi tới nơi.

Chương VIII: Nói về những chuyện như: mô tả thành Sơn Tây – một tuyên cáo của Lưu Vĩnh Phước – các con voi của quan Tổng Đốc – việc ăn trầu – ăn thịt chó – miếu Ngũ Hành – một người Bắc kỳ có thể ăn nhiều tới bao nhiêu đồ ăn.

Chương IX: Nói về các việc như: oanh kích Hưng Hóa – Giòng sông Hắc – các chuyện cướp bóc của bọn Tàu – Lên đường đi Bất Bạt – về con đường núi – về đi đêm trong rừng – về việc bọn Giặc Cờ Đen thuê lao động như thế nào – về việc bọn lính Pháp cư xử tử tế tốt đẹp với người bản xứ…

Chương X: Nói về việc tổ chức các doanh trại trong mùa hè – về các luật lệ về vệ sinh – về một đêm đầy xáo trộn nào là muỗi, kiến, gián, ếch nhái và rắn.

Chương XI: Nói về việc kiếm nước sạch uống được – các chợ – trại các ông đồ – thi cử: tú tài, cử nhân, tiến sĩ – đền thờ Khổng Tử: các bia đá tưởng niệm – việc làm que hương – một xưởng giấy của người Annam – thư viện của một ngôi chùa – ngôi đền các liệt nữ Bắc kỳ.

Chương XII: Nói về chuyến chuyển quân tới Nam Định – Đồn Tre – Bà Ti – sau thày dạy tiếng Annam – thành Nam Định – một trận bão.

Chương XIII: Nói về ngày cắt tó thui dê ở Bắc kỳ – múa rối – ca sĩ – diễn viên hài – cuộc chạy đua giữa heo và dê – các trò cờ bạc – thơ và nhạc – tiếng Annam rất khó – các thi nhân Bắc kỳ.

Chương XIV: Nói về Nhà thờ Công giáo, một cách cầu nguyện kỳ lạ – các linh mục Pháp và Tây Ban Nha – cách sống và làm việc của các linh mục – các tu sĩ bản xứ – vấn đề tôn giáo – y khoa và các y sĩ bản xứ – khí hậu rét và nóng – các thứ thuốc Bắc kỳ – làm sao có được khách tới khám bệnh – một vụ xử tử – đao phủ thủ người Annam – đời sống gia đình ở Bắc kỳ – vợ cả, vợ lẽ – hôn nhân…

Chương XV: Nói về tiếng đồn về chiến tranh – tác giả rời Nam Định – sông Đáy và chài lưới – Nhà thờ Kẻ Sở – Phủ Lý – Giặc Cờ Đen làm việc cho Pháp – một cuộc báo động.

Chương XVI: Nói về bọn Tàu tràn vào – kế hoạch của Tướng Chỉ Huy – con đường Phủ Lạng Thương – Từ Yêu Lệ tới Bảo Lộc: di chuyển cực kỳ khó khăn vì trời quá nắng – Trận Kép – một đêm trên xe cứu thương – đoàn xe thương binh.

Chương XVII: Nói về việc bất ngờ đi tới sông Đáy (Rivière Claire?) – về những tàu đắm thê thảm – về một trại hủi – các ngôi làng nổi – sự đồng mưu của những tên thông ngôn – một lò rèn – các nhà ảo thuật và phù thủy – người Chàm – cây cau…

Chương XVIII: Nói về tác giả ở trên tàu Éclair – các bản đồ Annam – một tang lễ – linh hồn người chết kết bằng lục – Bữa ăn của người chết – Đám tang – lên đường đi Tuyên Quang – chuyến về vui vẻ bằng thuyền nhỏ…

Chương XIX: Nói về việc tác giả lên đường đi Lạng Sơn – tấn công các thành lũy của Tàu – quân thù bỏ chạy – thành Lạng Sơn – chợ Kỳ Hòa – xưởng làm nến – cuộc rút lui khỏi Lạng Sơn – ký hiệp ước sơ khởi tái lập hòa bình – Tướng De Courcy tới: tổ chức lại lãnh thổ…

Chương XX: Nói về nạn cướp biển ở Bắc kỳ – tổ chức bang nhóm, chiến thuật, việc tìm đồng đảng – vũ khí – việc bán tù nhân sang Tàu – nguồn gốc chuyện buôn người này – sự đồng lõa của quan lại – sự cần thiết phải phổ biến tiếng Pháp trong xứ – các trường học của người Annam.

Chương XXI: Nói về cuộc phục kích ở Huế – cuộc trốn chạy của vua Hàm Nghi – Đồng Khánh lên ngôi – chuyến đi thám hiểm ở Hắc Giang – Núi Ba Vì – Người Mường: lịch sử và phong tục – một ông quan giỏi triết lý – thờ cúng tổ tiên – tới cư ngụ trong một ngôi chùa…

Chương XXII: Nói về Lên đường đi miền Trung – chuyến hải hành đầy sóng gió – tới Cửa Hàn (Tourane) – đi thăm Ngũ Hành Sơn – tục thờ cúng Thủy Thần – lên đèo Hải Vân – Lăng Cô – thuyền rồng của nhà vua – Thuận An – tới Huế – Lãnh sự Pháp – thăm Thương Bạc và Thành Nội – Cửa Ngọ Môn – Vườn Thượng Uyển…

Chương XXIII: Nói về LM. Hoàng – du ngoạn trong Hoàng Thành – Hồng Môn – Viện Bảo Tàng – lễ hội các Tiến sĩ – Tết Annam – sự mê tín và trào phục – thăm viếng quà cáp – Vua Đồng Khánh – lễ phục của các quan – Nhà tiếp riêng phái đoàn – viếng thăm các lăng tẩm – trở về Pháp.

Tác phẩm này có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu nhiều chi tiết lý thú trong các chiến dịch ở Bắc kỳ, đồng thời nó rất phong phú về mặt hình ảnh vì nó có tất cả là 247 minh họa rất đẹp và 2 bản đồ. Sau đây người viết xin chia sẻ với quý vị một vài hình ảnh, xin vui vẻ thưởng thức.

Trích Hồi ký 60 năm chơi sách, chương 6

Vũ Anh Tuấn

Từ bài thơ xuân 1947 

“Cảnh rừng Việt Bắc”

của Bác Hồ

Bác Hồ được tổ chức UNESCO (Văn hóa – Giáo dục và Khoa học của Liên Hợp Quốc) công nhận ngoài danh hiệu Anh hùng Giải phóng Dân tộc còn là Danh nhân Thế giới về văn hóa chắc chắn có liên quan tới tài nghệ thi họa của Bác, đặc biệt về Hán văn mà thi phẩm “Nhật ký trong tù” là một nét đặc trưng. Trong thời gian ở tù của quân Tưởng Giới Thạch (1941-1942) mặc dù sống cảnh tù đày, khổ sở và đau yếu nhưng tư tưởng, tâm hồn của của nhà ái quốc họ Nguyễn (Nguyễn Ái Quốc) vẫn luôn trong sáng hướng về cách mạng, về ngày đánh đổ ách đô hộ của thực dân Pháp, Nhật để giành lại độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước.

Tất cả thơ của Bác bằng chữ Hán hay chữ Việt đều có nội dung chiến đấu và xây dựng đầy khí phách lạc quan cách mạng, yêu đời. Suốt trong những năm tháng gian khổ kháng chiến, lúc ở Pắc Bó hay khi ở An toàn khu (ATK) mà trung tâm là “Thủ đô kháng chiến” hay “Thủ đô gió ngàn”, sau ngày toàn quốc kháng chiến (1946) Bác đều sáng tác thơ, đặc biệt vào những đêm trăng sáng và những ngày Tết cổ truyền, đặc biệt Tết nào Bác cũng có bài thơ nổi tiếng chúc Tết đồng bào các giới và chức mừng thắng lợi của cách mạng. Riêng đối với trăng thì Bác coi như người bạn đời bởi vì giữa cảnh rừng núi bao la vắng vẻ, đêm đêm Bác và trăng luôn là đôi bạn tâm giao “trăng xưa, hạc cũ”. Từ đó, có người nghĩ là “Trăng xưa” chữ Hán là “Cổ nguyệt”“Hồ” (chữ nguyệt ghép với chữ cổ thành chữ Hồ) mà trăng xưa lại “rất sáng” tức Chí Minh.

Xin trở lại chuyện thi phú của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Khi Bác trở lại ATK ở đồi Khau Tý thuộc xã Điềm Mặc huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên để cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ thì ngay mùa xuân đầu tiên ở đây (1947) Bác đã cảm hứng xuất khẩu thành thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.

Khách đến thì mời ngô nếp nướng

Săn về thường chén thịt rừng quay

Non xanh, nước biếc tha hồ dạo

Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say

Kháng chiến thành công ta trở lại/

Trăng xưa, hạc cũ với xuân này .

Luật sư Phan Anh là thành viên của Hội đồng Chính phủ được Bác Hồ là Chủ tịch Hội đồng mời về họp ở một thôn thuộc huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và dân làng đã chiêu đãi một bữa cơm ngon với đầy đủ thổ sản, thú rừng. Bác đã có bài thơ như trên. Luật sư Phan Anh họa lại như sau:

Cảnh rừng càng biết lại càng hay

Khác cảnh phồn hoa sống mỗi ngày.

Ngựa bước dồn câu, ta vẫn vững

Tàu bay hết nước, địch đành quay.

Núi rừng cách mặt tình thêm mặn

Thơ phú, không men vẫn ý say.

Hạc cũ, trăng xưa đâu đó ta.

Ngày xuân tô điểm nước non này.

Chưa ngủ vì lo nỗi nhớ nhà.

Quân Pháp đánh lên căn cứ địa Việt Bắc (8/10/1947) nhưng chiến sĩ cách mạng đã dũng cảm chiến đấu bảo vệ an toàn ATK. Bác tạm lánh một tuần lễ lại quay về chốn cũ ở “Phủ Chủ tịch” bên thác nước 7 tầng, dòng suối mát và cây đa cổ thụ rợp bóng vào những đêm trăng sáng cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn việc quân sự. Bác làm bài thơ “Cảnh khuya”:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ, Người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đương gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ nhờ anh em gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to. (1947)

Bác đánh máy ra nhiều bản gởi cho cụ Bùi Bằng Đoàn (Thường trực Quốc Hội), cụ Cù Huy Cận (nhà thơ), luật sư Phan Anh… Mấy hôm sau, luật sư Phan Anh họa lại gởi lên Bác như sau:

Họa vần xin gởi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non.

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao lao trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà.

Nước nhà tuy gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau đó, Bác lại có bài thơ “Báo tiệp” bằng chữ Hán gởi cho các nhân sĩ, trí thức, ai có điều kiện thì dịch họa lại:

Nguyệt thôi song vấn : thi thành vị ?

Quan vụ nhưng mang vị tố thi

Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng

Chính thị Liên khu báo tiệp thì. (1948)

Nhà thơ Cù Huy Cận dịch gởi lại, Bác khen hay:

Tin thắng trận, Trăng vào cửa sổ đòi thơ

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau

Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu

Ấy tin thắng trận Liên khu báo về .

Một đêm, Hội đồng chính phủ họp trong rừng ATK (1953). Trăng lên đẹp, rất nên thơ. Bên cửa sổ, Bác bỗng nẩy ý thơ, Người viết bằng bút chì truyền cho luật sự Phan Anh dịch:

Song ngoại, nguyệt minh lung cổ thụ

Nguyệt di, thụ ảnh đáo song tiền.

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu

Huề chẩm, song bàng đối nguyệt niên.

Dịch nghĩa:

Ngoài sân, trăng sáng lồng cây

Trăng đưa bóng ngả, bóng cài bên song.

Việc quân, việc nước bàn xong

Bên song ôm gối, gối cùng trăng mơ.

Về sau, có bài dịch rất tuyệt của cụ Nam Trân:

Ngoài song, trăng rọi cây sân

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong

Gối khuya yên giấc, bên song trăng nhòm.

Thật là thú vị lẫn thi vị những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ độc đáo của núi rừng Việt Bắc ở “Thủ đô gió ngàn” trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống quân thù!

Vương Liêm

Nguồn: Theo ghi chép của Đồng Khắc Thọ “Bác Hồ ở ATK”, NXB Hội nhà văn, Hà Nội – Xuân Đinh hợi. 

NĂM CON HỔ

Thời gian cứ vùn vụt trôi qua, năm cũ ra đi, nhường cho năm mới lại đến, Theo Lịch Can - Chi, tức 12 Con Giáp theo Âm lịch của Á Đông, mà chủ yếu từ Trung Hoa cổ đại. Lịch 10 Can và 12 Chi, theo truyền thuyết là Thiên Hoàng chế ra Can - Chi, Phục Hy làm ra Giáp lịch và Hoàng Đế truyền lệnh đặt ra Giáp Tý. Ba triều đại Hạ, Thương, Chu lịch pháp không giống nhau. Như đời Hạ lấy tháng Dần làm tháng đầu năm, nhà Thương thì chọn tháng Sửu, còn nhà Chu thì lấy tháng Tý khởi mốc đầu năm, bước sang đời nhà Tần lại lấy tháng Hợi. Đời Hán chưa thay đổi lịch pháp, chỉ đến đời Hán Vũ Đế lại dùng lịch pháp của nhà Hạ, tức lấy tháng Dần khởi đầu năm, rồi thời Vương Mãng dùng tháng Sửu, các thời sau lại đổi lịch pháp, lúc lấy theo nhà Chu, lúc theo lịch nhà Hạ, đến cuối đời Tiêu Tông mới quay trở lại lấy tháng Dần làm ngày khởi đầu năm mới cho đến ngày nay.

Đó là cách đặt tên cho Can - Chi và tính chu kỳ của nó mà thành lịch.

- Can có 10 can theo thứ tự:

Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm – Quý

- Chi có 12 con vật theo thứ tự :

Tý- Sửu- DẦN - Mão- Thìn - Tỵ- Ngọ - Mùi- Thân- Dậu- Tuất- Hợi.

Phối hợp chúng thành cặp ta có 60 tên gọi khác nhau, Đó là vòng Lục thập hoa giáp. Vì thế, năm cũ của chúng ta là năm Kỷ Sửu, thì Năm Mới là năm CANH DẦN.

Năm Canh Dần 2010 là Năm Con Hổ, bắt đầu từ ngày 14/02/2010 và kết thúc vào ngày 02/02/2011. Con Hổ là con Giáp thứ 3 trong Thập nhị chi, tức 12 con Giáp trong Âm lịch của Á Đông (Việt Nam khác Trung Hoa 1 con Giáp, VN: Mão -> con Mèo, TH: Mão -> con Thỏ. Còn khác nhau về 1 con Giáp nữa, theo một số tài liệu, thì VN: Mùi -> con Dê, TH: Mùi -> con Cừu)

Hổ là dấu hiệu của lòng can đảm. Người Trung Hoa và Việt Nam tôn sùng Hổ, vốn là con vật không biết sợ ai và tính tình hung hãn, mọi người coi như là một con Giáp để tránh xa 3 tai họa chính trong gia đình là: hỏa hoạn, trộm cướp và ma quỷ.

ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI SINH TUỔI DẦN.

Những người tuổi Con Hổ vốn can đảm, hiếu động và quả quyết. Lạc quan, sôi nổi và độc lập. Dễ nổi loạn, năng động và khó đoán trước được. Tính tình nóng nẩy nhưng thận trọng. Trìu mến với mọi người nhưng thiếu cẩn trọng. Trong bản chất, họ là người lãnh đạo và biểu lộ quyền lực, niềm đam mê và lòng dũng cảm.

Những người sinh tuổi Dần thì thường được quý mến vì phong cách dễ lôi cuốn người khác. Đôi khi, việc thất bại một nhiệm vụ được giao phó hoặc biểu lộ rõ nhân cách hay cuộc sống chuyên nghiệp, có thể tạo ra cho họ chịu đựng sự trầm cảm sâu sắc. Sự phê bình từ những người bạn mà họ thương yêu cũng có thể tạo ra những phản ứng tương tự.

Những người tuổi Con Hổ thích tranh đua. Họ đơn giản là không thể khước từ một thách thức nào, và có thể xuất hiện với vẻ lạnh lùng và khó đoán trước được, và thật là không khôn ngoan nếu đánh giá thấp những phản ứng của họ. Là người lãnh đạo trong bản chất, họ có ý thức mạnh mẽ về nhân cách riêng. Họ thường thông minh, cảnh giác và biết lo xa. Là nhà chiến thuật và chiến lược tài ba, họ thường có chương trình hành động kín đáo, có khi không dám mạo hiểm ngay cả sự may mắn của mình, và nếu kìm hãm, kiểm soát được tính nóng nẩy, họ sẽ tận hưởng sự thành đạt và hạnh phúc.

Những người sinh tuổi Dần có bản chất trực tính và không rụt rè. Họ sẽ không bao giờ từ bỏ bất kỳ điều gì ngăn cản họ đạt tới mục đích. Nhưng họ cũng đầy sự ngờ vực và đôi khi hành động vội vã, thiếu chín chắn. Họ phải lưu ý tới cách họ phản ứng ra sao và ảnh hưởng do các hậu quả vì sự nóng giận của mình. Họ nên xem mọi thứ dễ dãi, thoải mái hơn và họ nên tiến hành từng bước để duy trì được sự năng động lâu dài hơn và ngăn ngừa sớm sự bột phát bất ngờ. Họ có khả năng uyển chuyển và đôi khi có thể bình phục bệnh hoạn và chấm dứt sự đau đớn mau chóng.

Một số người sinh tuổi Con Hổ thì dịu dàng và nhiều tình cảm. Họ thường tử tế, yêu thương trẻ em và thích điều gì dựa vào trí tưởng tượng. Một số khác có thể ương ngạnh và ích kỷ. Nói chung, họ ưa thích sự vui vẻ và chan hòa nhiệt huyết và tình cảm. Vài người thì đồng bóng, họ có thể cười nói vui vẻ lúc này và sau đó lại than khóc lúc khác; họ có khi lạc quan, nhưng rồi lại chán nản vô cùng.

Những người sinh tuổi Dần cảm thấy hãnh diện vì có sự khác biệt với người khác và thường biểu thị sự đặc biệt cao độ trong nhà họ sinh sống, nhà của họ thường có nhiều đồ vật quý giá, lạ lùng. Họ là các học giả, học viên chăm chỉ, cần mẫn, ưa có thách thức và có khi làm việc đơn độc một mình. Vài người có khuynh hướng thích thay đổi nghề nghiệp bởi vì họ dễ chán nản với công việc đang làm.

Trong bản chất, họ là những nhà lãnh đạo và làm việc tận tâm, xuất sắc nhất nếu có mục đích nhắm tới địa vị cao hơn và có ảnh hưởng lớn hơn. Họ thích chi tiêu tiền bạc và cũng sẵn sàng chia sẻ về điều đó. Họ có thể là người chi tiêu khá bốc đồng, hấp tấp, bởi vì bản thân biết rằng họ có thể làm ra nhiều hơn.

Thật là thú vị khi Hai đặc điểm chính là thiếu suy nghĩ và hay lưỡng lự - một cặp phủ định trái ngược nhau. Nếu họ biết cách thư giãn và làm việc tùy theo tình huống, thì họ có thể thành đạt mỹ mãn, thành công hoàn toàn.

PHẠM VŨ (Dịch từ Internet)

Người xưa nghỉ hưu vẫn phát huy vai trò người cao tuổi:

Cải cách hành chính

Một đề xuất có từ đời vua Tự Đức

Trương Đăng Quế (1783-1865) quê ở xã Sơn Mỹ huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi, có biệt hiệu là Quảng Khê Tẩu (ông già Quảng Khê) đã từng phụng sự liên tiếp trong bốn triều đầu tiên của nhà Nguyễn gồm có Gia Long (Thế Tổ 1802-1819), Minh Mạng (Thánh Tổ 1820-1840), Thiệu Trị (Thánh Tổ 1820-1840) và Tự Đức (Hiến Tổ 1841-1847).

Ông còn là một nhà văn và nhà giáo, một nhà trí thức lớn, một vị quan có trách nhiệm với dân, với nước. Vì thế, Trương Đăng Quế là một quan Đại thần phụ chính đồng thời là danh sĩ nên đã đóng một vai trò quan trọng trong thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông từng là thầy học của vua Thiệu Trị. Năm 1820 sau khi đỗ kỳ thi hương, ông bắt đầu ra làm quan. Trong cuộc đời 43 năm làm quan (1820-1863), Trương Đăng Quế thể hiện lòng trung thành, công minh, liêm chính của mình bằng cách hết lòng với công việc triều chính. Một trong những đóng góp đặc sắc nhất chính là hoàn thành việc đạt điền và lập địa bạ trên vùng đất Nam Kỳ dưới triều Minh Mạng. Đây chính là một đóng góp to lớn vào công việc hoàn thiện lãnh thổ quốc gia và phục hưng đất nước, đặt biệt với vùng đất phương Nam.

Tuy là quan đại thần của Cơ mật viện, ông lại ở trong phe phản đối nhiều hòa ước bất bình đẳng ký kết giữa triều đình nhà Nguyễn với quân đội viễn chinh Pháp. Có lẽ vì vậy mà giới chỉ huy quân đội Pháp căm ghét Trương Đăng Quế. Chúng quy cho ông cầm đầu phe chủ chiến đánh Pháp đến cùng, ngấm ngầm không công nhận Hòa ước năm Nhâm Tuất (hòa ước cắt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ) và chủ trương ủng hộ các phong trào kháng chiến của Trương Định. Trước khi quân Pháp xâm lược nước ta, ông là người có công trong việc mở rộng lãnh thổ Đại Nam, quy tập một số đất giáp giới các nước Đông Dương về cho Tổ quốc, như Trấn Tây Thành (nước Chân Lạp), vùng đất phía tây Thanh Hóa trở thành tỉnh Trấn Ninh, mở rộng thêm phủ ở đất Chiêm Động và Lạc Phàn đặt tên Trấn Tĩnh Phủ và Lạc Biên Phủ là một phần đất giáp với Điện Biên Phủ ngày nay. (Việt Nam sử lược, NXB Văn hóa Thông tin, 1999, trang 488).

Như vậy, kể từ thời Minh Mạng, trải qua triều Thiệu Trị cho đến những năm đầu triều Tự Đức khi còn Trương Đăng Quế chấp sự, Việt Nam là một quốc gia hùng cường trên bán đảo Đông Dương. Về sau, thực dân Pháp đã ép buộc triều nhà Nguyễn cắt ra những vùng đó, kể cả một số đất ở biên giới phía Bắc nước ta do Hòa ước Thiên Tân (ký giữa Pháp và Trung Quốc) đặt ra. Còn về tính cách, Trương Đăng Quế là con người sắc sảo, thận trọng và có óc thực tế. Đây chính là tính cách giúp Trương Đăng Quế được tín nhiệm trong công việc, giúp ông được thăng quan tiến chức nhanh. Thế nhưng, khi nhận thấy thế sự không còn chỗ cho ông thi thố tài năng thì ông xin nghỉ hưu và xin tới lần thứ tư, vua Tư Đức vẫn không thuận tình và tâm sự với ông: “ Trẫm đương tuổi nhỏ, kiến thức còn ít, mọi việc chưa quen, nên muốn dùng người cũ để giúp trẫm những điều trẫm không nghĩ tới được. Từ trước đến nay, phàm khanh có dâng điều hay, can điều trái, không điều gì mà trẫm không nghe theo, khanh còn ngại ngùng gì mà nỡ phụ lòng trẫm...”

Tới lần thứ năm xin nghỉ hưu thì ông được toại nguyện nhưng sau đó vẫn dâng sớ đề nghị một số biện pháp trị nước gọi là cải cách hành chính mà cho tới nay vẫn còn giá trị do tính thời sự của nó.

Xin được ghi lại bốn điều cải cách như sau:

1- Chọn đúng người có tài. Vua chỉ nên nắm đại cương chớ không nên ôm đồm làm mọi việc thay cho các quan.

2- Cấp huyện rất gần với dân. Do đó, quan lại cấp huyện phải là người có kinh nghiệm. Khi bổ nhiệm các tôn sinh, ấm sinh, giám sinh không nên đưa về làm hậu bổ ở các tỉnh ngay vì họ chưa từng trải việc cai trị mà nên đưa về tập sự một, hai năm ở các bộ, các viện để họ làm quen với công việc chính trị. Sau đó, Bộ lại phải xét xem người nào có khả năng làm chính trị được mới bổ dụng về cấp huyện.

3- Vì tài chính của triều đình quá eo hẹp cho nên những người có tội được chuộc tội bằng tiền, tùy theo mức tội.

4- Muốn cho quan được thanh liêm, không gì bằng giảm số người làm việc và tăng lương cho những người còn được giữ lại làm việc. Nhưng muốn giảm bớt số người thì trước hết phải giảm bớt số việc, mà muốn giảm việc thì phải dùng các quan lại giỏi. (Việt Nam – Những sự kiện lịch sử 1858-1945, NXB KHXH Hà Nội 1981, trang 55).

Một số tác phẩm giá trị của ông còn lưu lại tới nay:

- Đại Nam liệt truyện, viết về tiểu sử các nhân vật nổi tiếng dưới triều các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, cho đến đời vua Thiệu Trị.

- Đại Nam thực lục tiền biên, sách lịch sử Việt Nam thời kỳ các chúa Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần.

- Đại Nam thực lục chính biên, ghi chép về ba triều đầu của nhà Nguyễn.

- Quảng Khê thi văn tập , tuyển tập văn thơ …

Vương Liêm

 

Điểm sách:

“Nhà Tây Sơn”

của Quách Tấn - Quách Giao, Nhà xuất bản Trẻ, năm 2000

Mùa xuân mới đang đến, mọi người trong chúng ta đang tận hưởng biết bao cảm xúc tràn ngập niềm vui lâng lâng cùng với Trời đất, cỏ cây, hoa lá... Chúng ta cùng nhau điểm sách “Nhà Tây Sơn” để tưởng nhớ tới Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử, dân tộc ta nhớ lại chiến công oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn với Quang Trung bách chiến bách thắng.

ẤP TÂY SƠN.

Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của Bình Định tam hùng: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi Ba anh em là Nhà Tây Sơn. Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ, ở làng Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An, vào lập nghiệp ở Quy Nhơn, Bình Định thời Lê. Ông Hồ Phi Phúc mang họ Nguyễn từ lúc sơ sanh: Nguyễn Phi Phúc, sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tức Nguyễn Bình, Nguyễn Lữ.

Ba anh em lớn lên đều thọ giáo ông Trương Văn Hiến tục gọi là Giáo Hiến ở An Thái (An Nhơn) cả văn lẫn võ, nhưng nặng bên võ hơn bên văn. Ông Nhạc chuyên học kiếm, ông Huệ chuyên học đao, ông Lữ chỉ học quyền.

TÂY SƠN KHỞI NGHĨA.

Cơ sở đã vững vàng, quân sĩ, vũ khí, lương thực tạm đầy đủ, Nguyễn Nhạc xuống An Thái thỉnh giáo thầy, Trương Văn Hiến đáp: “Khởi sự được rồi”. Ông bái tạ về. lo chỉnh đốn quân ngũ, sắm kỳ hiệu, đặt quan chức, tự xưng là Tây Sơn Vương, quân chia làm 3 đạo.

Đại kỳ thêu kim tuyến 3 chữ Tây Sơn Vương. Mọi việc an bài, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo Trời Đất, tế cờ xuất quân.

- Đạo quân Nguyễn Huệ kéo về chiến khu

- Đạo quân Trần Quang Diệu theo đường núi ra hướng bắc

- Đạo quân Tây Sơn Vương kéo thẳng xuống hướng đông

Đó là ngày rằm tháng 8 năm Quý Tỵ (1773)

Thành Quy Nhơn là thành cũ Đồ Bàn của Chiêm Thành. Quân Tây Sơn vây đánh 3 ngày mà không lấy được, Tây Sơn Vương bèn dùng mưu bằng cách cho đóng 1 chiếc cũi thật kiên cố, bên trong có máy mở đóng, rồi tự mình vào ngồi trong cũi, bảo khiêng đem nạp cho Tuần Phủ chỉ huy thành Quy Nhơn. Cũi vừa qua khỏi thành, cánh cửa chưa kịp đóng Tây Sơn Vương liền mở cũi chạy ra, rút kiếm giấu sẵn trong người, chém chết viên đội trưởng giữ cửa, 8 nghĩa quân khiêng cũi, lớp côn lớp quyền, đánh tan đội giữ cửa, mở rộng cửa thành và đốt pháo hiệu truyền lệnh. Quân Tây Sơn liền ùa vào thành một cách thần tốc, Tuần Phủ khiếp đảm chạy trốn, quân lính và quan lại trong thành như rắn không đầu, đều quy hàng Tây Sơn Vương.

Mặc dù thành Quy Nhơn đã trở thành căn cứ chiến đấu, chiến khu Tây Sơn vẫn giữ y nguyên và vẫn tiếp tục phát triển kinh tế và quân sự.

ANH HÙNG NGHĨA SĨ GIÚP NHÀ TÂY SƠN DỰNG NGHIỆP.

Vừa dựng cờ khởi nghĩa, nhà Tây Sơn đã được nhiều anh hùng nghĩa sĩ xa gần phò tá.

Bên võ có 7 người: Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết, Lý Văn Bưu, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Lộc, danh truyền là Tây Sơn Thất hổ tướng. Tất cả đều là tướng tài, mỗi người có 1 môn sở trường vô địch.

Bên văn có 6 người: -Nguyễn Thung, Võ Xuân Hoài, Trương Mỹ Ngọc, La Xuân Kiều, Triệu Đình Thiệp, Cao Tắc Tựu, người đương thời gọi là Lục kỳ sĩ. Tất cả đều đức cao học rộng.

Nữ tướng có 5 người: Bùi Thị Xuân, Bùi Thị Nhạn, Trần Thị Lan, Nguyễn Thị Dung, Huỳnh Thị Cúc, danh truyền là Ngũ phụng thư.

Thất hổ tướng, Lục kỳ sĩ và Ngũ phụng thư hợp thành Tây Sơn Thập bát cơ thạch, nghĩa là 18 tảng đá làm nền móng của Nhà Tây Sơn.

NHÀ TÂY SƠN ĐÁNH NHÀ NGUYỄN Ở MẶT BẮC.

Trong khi Tây Sơn Vương lo củng cố nội bộ, chiêu mộ hào kiệt thì Trấn thủ Quảng Nam sai quân vào đánh.

Đất nhà Nguyễn lúc bấy giờ từ Hoành Sơn đến Hà Tiên, Quy Nhơn nằm khoảng giữa, phía nam giáp Phú Yên, có dãy núi Cù Mông làm ranh giới, phía bắc giáp Quảng Ngãi, có dãy Bình Đê làm ranh giới. Nam cũng như bắc đều có đèo mở lối ra vào, nhưng địa thế rất hiểm trở.

Được tin quân nhà Nguyễn kéo vào Quy Nhơn, Tây Sơn đem quân chống lại, toàn thắng, đắp 1 lũy cát tại Bến Vân (Bình Sơn, Quảng Ngãi). Qua tháng chạp năm 1778, nhà Nguyễn lại cử 2 đạo binh vào đánh Tây Sơn Vương. Hai bên kịch chiến, quân Tây Sơn lại thắng và chiếm phủ lỵ Quảng Ngãi.

Qua mùa thu năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc vâng lệnh Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đem quân vào đánh lấy Phú Xuân. Chúa Nguyễn cùng đình thần chạy vào Quảng Nam. Quân Tây Sơn kéo đến đánh, Chúa Nguyễn chống không nổi, cùng Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy vào Gia Định.

Tiếp đó quân Ngũ Phúc vượt Hải Vân vào đánh Tây Sơn. Nhận thấy quân Ngũ Phúc đã đông lại mạnh, Tây Sơn Vương bèn rút hết quân về Quy Nhơn, và làm kế hoãn binh, cho người mang thư và vàng lụa ra dâng cho Ngũ Phúc, xin nạp Quy Nhơn và Quảng Ngãi, cùng xin làm tiền khu đi đánh Họ Nguyễn. Ngũ Phúc bèn xin Chúa Trịnh phong cho Vương làm Tướng quân Tây Sơn Hiệu trưởng. Tây Sơn Vương không lo mặt Bắc nữa, chuẩn bị đánh lấy mặt Nam.

ĐÁNH VỚI NHÀ NGUYỄN Ở MẶT NAM.

Đi đánh mặt Bắc, Tây Sơn Vương không quên mặt Nam. Vương cử Nguyễn Lữ vào Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận để xem xét tình hình, nên binh Tây Sơn cứ thẳng tiến vào Nam, đi tới đâu được hoan nghênh tới đó và lấy 3 thành dễ dàng như trở bàn tay, nhờ vào Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân. Đến cuối đông năm 1774, Vương sai Nguyễn Lữ và Phan Văn Lân đem thủy quân vào đánh Gia Định, chiếm được Sài Côn (tức Sài Gòn), sang năm 1776, Đỗ Thành Nhân dấy binh giúp nhà Nguyễn, kéo đánh Sài Côn. Nguyễn Lữ không chống cự, bỏ thành rút quân về Quy Nhơn. Đến năm 1777, Vương sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem thủy binh vào đánh Gia Định, hạ thành Sài Côn, các quan võ nhà Nguyễn đều quy hàng. Sau đó, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ kéo binh về Quy Nhơn, giao cho đám hàng thần là Tổng đốc Chu trấn thủ đất Gia Định.

TÂY SƠN VƯƠNG SỬA THÀNH ĐỒ BÀN VÀ XƯNG ĐẾ HIỆU.

Sau khi mặt Nam tạm yên, tháng chạp năm 1775, Chúa Trịnh cho rút quân về Thuận Hóa, nên Quảng Nam lại thuộc về Tây Sơn.

Bắc Nam được yên ổn, Tây Sơn Vương đổi làm Minh Đức Vương và cho sửa lại thành Quy Nhơn, thành sửa từ năm 1776 - 1778 mới hoàn tất, tráng lệ nguy nga, nhà vua xưng đế hiệu Minh Đức Hoàng Đế, niên hiệu Thái Đức. Thành Quy Nhơn đổi tên là Hoàng Đế thành.

Nhà vua rước thầy Trương Văn Hiến về làm Quân sư, phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhương Tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết Chế.

TÂY SƠN PHÒ LÊ DIỆT TRỊNH.

Bình xong phía Nam, nhà Tây Sơn lo đến phía Bắc. Thành Thuận Hóa, do Phạm Ngô Cầu trấn thủ, là người vô mưu, vua Thái Đức biết Thuận Hóa không phòng bị, bèn sai Nguyễn Huệ, Võ Văn Nhậm, Nguyễn Văn Chỉnh đem binh ra đánh Thuận hóa. Chiếm được thành dễ dàng, Nguyễn Huệ bèn treo bảng phủ dụ nhân dân. Sau, nghe lời khuyên của Chỉnh, Nguyễn Huệ ra đánh lấy Bắc Hà.

Nguyễn Huệ một mặt truyền hịch đi khắp nơi, nói là lấy nghĩa phò Lê diệt Trịnh, một mặt kéo quân lên lấy Thăng Long.Tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ vào Thăng Long mở kho phát chẩn cho người nghèo, ngày hôm sau, vào cung Vạn Thọ yết kiến vua Lê, và tâu rằng đem binh ra Bắc Hà không còn mục đích nào khác hơn là diệt Trịnh, phò Lê, vua Lê Hiển Tông mừng rỡ, tạ ơn, phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên soái Uy Quốc công và gả con gái là Ngọc Hân Công chúa.

Vua Thái Đức được tin Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà, sợ em ở ngoài lâu sinh biến muốn gọi về, nên phải thân hành đem binh theo đi thẳng ra Thăng Long. Đến nơi, Nguyễn Huệ cùng tướng sĩ ra ngoài thành nghinh đón. Lễ tương kiến của hai Vua tổ chức tại phủ Chúa Trịnh. Vua Thái Đức ngồi giữa, vua Chiêu Thống ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên hữu, các quan văn võ đứng chầu hai bên. Một tuần nhật sau vua tôi nhà Tây Sơn rút quân về nước.

Dẹp yên chúa Trịnh ở Thăng Long, đánh đuổi chúa Nguyễn ra khỏi Gia định. Vua Thái Đức phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương thống trị đất Thuận Hóa từ Hải Vân Sơn đến Hoành Sơn, phong cho Nguyễn Lữ là Đông Định Vương coi đất Gia Định, còn mình thì xưng Trung Ương Hoàng đế chăm lo phần đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Nhân dân an cư lạc nghiệp và mong hưởng thái bình được lâu dài.

BẮC BÌNH VƯƠNG ĐỐI PHÓ MẶT BẮC.

Nguyễn Hữu Chỉnh lộng hành ở Bắc Hà, tháng 12 năm 1787 Bắc Bình Vương sai Võ Văn Nhậm ra Thăng Long đánh Chỉnh. Thua trận, Chỉnh bị bắt giải về Thăng Long còn Lê Chiêu Thống trốn thoát. Nhậm kể tội Chỉnh rồi đem giết và nói “việc an dân đã có ta làm chủ”. Được tin, Bắc Bình Vương truyền lệnh xuất binh ra Thăng Long, bất ngờ, bắt được Võ Văn Nhậm, truyền đem ra giết. Để Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhậm... cùng vua Lê lo việc nước, tháng 5 năm 1788, Vương trở về Phú xuân đem theo Phan Huy Ích.

Ngô thời Nhậm, theo chính sách đoàn kết rộng rãi của Bắc Bình Vương, đã góp phần lớn lao vào việc củng cố an ninh và chính trị ở Bắc Hà.

CHIÊU THỐNG RƯỚC TÀU VỀ ĐÁNH TÂY SƠN.

Lê Chiêu Thống tới Kinh Bắc, cho người cầu viện Thanh triều. Vua Càn Long chuẩn y và sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn binh sang VN, mượn cớ giúp vua Lê đánh Tây Sơn để đặt nền đô hộ lên đất Việt.

Phụ Bản I

Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, Ngô Thời Nhậm nói: “Rút hết thủy bộ vào đóng giữ từ Tam điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi báo cấp về Phú Xuân, lúc đó ta sẽ quyết chiến cũng không muộn”. Vào thành Thăng Long như vào chỗ không người, Sĩ Nghị nghĩ rằng đánh dẹp Tây Sơn sẽ dễ dàng như lấy đồ trong túi, nên lơ đãng việc binh, ngày ngày lo hưởng lạc thú, rồi truyền ba quân đóng trại nghỉ ngơi để qua Tết chiến đấu.

Cảnh nước loạn dân đau khổ đến thế là cùng cực.

Người người đều trông mong cuộc đời đổi thay.

VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH.

Được tin quân Thanh sang chiếm đóng Thăng Long, Bắc Bình Vương lập tức hội các tướng đến bàn việc dẹp giặc. Các tướng xin Vương trước nên chính vị hiệu để ràng buộc lòng người Nam Bắc rồi sau sẽ khởi binh.

Theo lời, Vương sai đắp đàn ở Bàn Sơn (tức Núi Bân, gần núi Ngự Bình, Huế). Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), làm lễ cáo Trời Đất, lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Quang Trung. Ngay hôm đăng quang, vua Quang Trung tự thống lĩnh thủy đại bộ binh, đốc suất tướng sĩ ở tế đàn, kéo rốc ra Bắc. Để quân sĩ đi cho chóng và khỏi mệt, nhà vua cấp cho 3 người một cáng tre, 2 người khiêng 1, luân phiên nhau đi gấp ngày đêm ra Nghệ An.

Đến nơi ngày 29/11. Nhà vua mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đến vấn kế, Cụ đến ngay và nói “Quân Thanh ở xa mới tới không biết tình hình quân ta mạnh yếu thế nào, địa thế nước ta hiểm trở ra sao, không biết nên đánh hay giữ. Chúa công ra đây nên đánh gấp thì không quá 10 ngày nhất định tiêu diệt được địch”. Vua Quang Trung mừng rỡ: “Thật hợp ý ta”.

Sau khi chuẩn bị với hơn 10 vạn, trên 200 thớt voi và 500 ngựa, nhà vua hạ lệnh trẩy quân. Ngày 20 tháng chạp (1789) đại binh tới Tam Điệp, Ngô Văn Sở, Ngô thời Nhậm ra chịu tội. Nhà vua cười: “Ta biết đây là kế của Ngô Thị lang. Chúng nó sang chuyến này là mua cái chết đó thôi. Ta đã định mẹo cả rồi. Dẹp yên giặc chỉ trong mươi ngày là xong”. Mọi việc cụ bị, nhà vua cho mở tiệc linh đình vào ngày 29 tháng chạp để thết đãi tướng sĩ. Trong bữa tiệc nhà vua nói:

- Bữa nay ta hãy ăn Tết Nguyên đán trước, sang xuân ngày mồng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Ai nấy đều hớn hở vui mừng. Sáng hôm sau, 30 tháng chạp, nhà vua truyền lệnh xuất quân. Quân Tây Sơn đến đâu cũng được dân địa phương hoan hô đến đó. Mồng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1780) lúc nửa đêm nghĩa quân vây đồn Hà Hồi, quân Thanh đang ngủ, nghe tiếng reo hò, tiếng trống trận vang rền như sấm ngoài chiến lũy, khiếp sợ, không còn gan chống cự, vội vã kéo cờ hàng.

Nhà vua cưỡi voi, thúc quân tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Voi trận đi trước quân lính theo sau, đi như gió cuốn. Quân Thanh bị rối hàng ngũ, không dám giao chiến, phải rút vào giữ đồn. Đồn này giữ vị trí quan trọng nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, lực lượng có trên 3 vạn quân tinh nhuệ. Đồn bị tiêu diệt, quân tử trận và bị bắt hơn 2 phần, còn lại chừng 1 phần sống sót kéo nhau chạy ra ngả Thăng Long, sau bị bao vây, quân địch không còn 1 tên sống sót. Đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt toàn bộ. Sau đó, đồn Khương Thượng, nằm phía tây nam thành Thăng Long cũng bị tiêu diệt luôn, tướng chỉ huy là Sầm Nghi Đống khiếp sợ, trốn ra gò Đống Đa thắt cổ tự tử, binh sĩ trong đồn bị giết toàn bộ và bị chôn vùi tại đây.

Tại bản doanh, Tôn Sĩ Nghị nghe tin đồn Ngọc Hồi rồi đồn Khương Thượng bị tiêu diệt và binh vua Quang Trung đương kéo đến Kinh thành, Nghị sợ quá không kịp mặc áo giáp, không kịp thắng yên ngựa, hớt hãi cùng toán hầu cận bỏ cung Tây Long, vượt cầu phao chạy qua sông Nhị, tướng sĩ thấy chủ tướng bỏ chạy, rùng rùng chạy theo, cầu không chịu nổi sức nặng bị đứt, ném tung hàng vạn quân địch xuống sông. Vua Chiêu Thống cũng chạy theo Tôn Sĩ Nghị. Quân Thanh bị quét sạch, Bắc Hà hoàn toàn được giải phóng.

Chiều mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30/1/1789) Vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long trong không khí tưng bừng. Chiến bào của nhà vua đỏ thắm, đã bị thuốc súng nhuộm thành màu đen. Nhà vua vào thành Thăng Long trước kỳ hẹn 2 ngày. Theo đúng hẹn, vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn Tết một lần nữa. Nhân dân trong và ngoài thành cũng đua nhau mở tiệc vui, tưng bừng, nhộn nhịp. Và trên kỳ đài thành Thăng Long, ngọn cờ đỏ mặt trời vàng bay phấp phới.

VUA QUANG TRUNG VÀ ĐỐI NỘI, ĐỐI NGOẠI.

Về Đối nội, Vua Quang Trung có ý đóng đô tại thành Phượng Hoàng ở Nghệ An, nhưng thành chưa xây xong, nên nhà vua về ngự tại Phú Xuân suốt thời gian trị vì. Tổ chức lại quân đội. Đúc tiền mang danh hiệu Quang Trung thay thế cho tiền Cảnh Hưng, Chiêu Thống. Nhà vua lập Sùng Chính Viện, thỉnh La Sơn Phu Tử làm Viện trưởng để dịch những tác phẩm có giá trị về đạo đức và văn chương ra chữ Nôm để phổ biến trong toàn quốc.

Về Đối ngoại, vua Quang Trung sai Ngô Thời Nhậm thảo thư “xin tạ tội” và xin giảng hòa, sai sứ mang thư sang Tàu và nhờ chính sách bang giao khôn khéo nên vua Càn Long thuận cho giảng hòa và sai sứ sang phong vua Quang Trung làm An Nam Quốc vương, truyền sang năm Canh Tuất (1798) sang chầu. Nhà vua chọn Phạm văn Trị làm “Giả vương” sang chầu, vua Càn Long vui nhận cống phẩm, cho người vẽ chân dung Quang Trung làm kỷ niệm. Vua Quang Trung muốn xin lại đất Lưỡng Quảng, nên lo dưỡng uy sức nhuệ để rồi đòi lại đất đai của tổ tiên.

VUA QUANG TRUNG BĂNG HÀ.

Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình vua Quang Trung băng hà. Vua băng hà ngày 29/7 năm Nhâm tý (15/9/1792).” - Sách “La sơn Phu tử” của Hoàng xuân Hãn đưa ra 2 nhân chứng người Âu là Guerard và Labousse đều nói rằng vua Quang Trung chết vào tháng 9/1792 nhằm 15/7 - 15/8 năm Nhâm Tý. Vậy vua băng hà vào tháng 7 năm Nhâm Tý.

Nguyên nhân gây ra cái chết của vua Quang Trung đã trở thành 1 nghi án lịch sử.

- Đại Nam Chính biên Liệt truyện của sử gia nhà Nguyễn bịa ra: “Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú xuân có mạo phạm lăng tẩm của liệt thánh

- Có người bảo nhà vua bị “thượng mã phong”, đó chỉ là chuyện hài hước.

- Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu, rõ là lời vu cáo giữa trời!

Thiết tưởng vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên.

Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Định và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: “Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài!”

Liền chuẩn bị đại binh vào đánh, thì nhà vua bị cảm, bệnh mỗi ngày một nặng, nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: “Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Ta chết rồi, các khanh phải đồng lòng phò Thái tử còn nhỏ và sớm lo việc chống giặc, nếu không vậy binh Gia định kéo đến, các khanh không có đất chôn thây...”

Nói rồi băng hà ngày 29/7 năm Nhâm Tý, thọ 40 tuổi, ở ngôi 5 năm. Triều đình mai táng Vua tại phía nam sông Hương.

Thái tử Nguyễn Quang Toản, mới 13 tuổi, lên ngôi là vua Cảnh Thịnh. Cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên quyết đoán.

Vua Thái Đức ở ngôi được 16 năm (1778 - 1793) thọ 52 tuổi.

Nguyễn Phúc Ánh chiếm thành Phú Xuân tháng năm Tân Dậu (1801) và ra Thăng Long bắt vua Bửu Hưng (tức Cảnh Thịnh), Nguyễn Quang Thùy tuẫn tiết. Nhà Tây Sơn mất tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802)

Tháng 7 năm Nhâm Tuất Nguyễn Phúc Ánh xưng đế, niên hiệu Gia Long, sau đó đem vua tôi nhà Tây Sơn ra báo thù rất khắc nghiệt và dã man.

LÒNG DÂN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.

Danh người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ, người đã 2 phen thắng quân xâm lược do Chiêu Thống và Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà” (Quân Thanh và quân Xiêm), cứu nhân dân Việt Nam thoát vòng nô lệ của ngoại bang, cùng mặt trăng, mặt trời rạng rỡ trên sông núi Việt Nam. Và người Bình Định ghi nhớ cả 3 anh hùng áo vải: Vua Thái Đức, vua Quang Trung và Đông Định Vương.

Bởi vậy, sau khi ngôi từ đường của nhà Tây Sơn ở Kiên Mỹ bị nhà Nguyễn phá hủy thì ngôi Đình làng thay thế vào, dân đem sắc thần để một ngôi miếu khác, còn Đình thì bí mật thờ Ba vua Tây Sơn. Xuân kỳ thu tế, nhưng chỉ vái thầm chớ không đọc văn. Ngoài xuân kỳ thu tế, còn ngày kỵ của Ba Vua vào ngày rằm tháng 11 Â.L. để che mắt vua quan nhà Nguyễn, ngày Kỵ gọi trại là ngày “cúng cơm mới”.

VÀI CẢM NGHĨ VỀ “NHÀ TÂY SƠN”.

1/ Đồng thời với vua Quang Trung tung hoành, lẫy lừng từ vùng Tây Sơn, Bình Định vào Nam đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm, đuổi Nguyễn Ánh chạy trốn hết Phú Quốc, đến Côn Đảo, ra Bắc diệt chúa Trịnh phò vua Lê, tiêu diệt quân Thanh, ta thử so sánh:

- VIỆT NAM: Quang Trung lên làm vua (1778-1793), đánh quân Xiêm năm 1785, đánh quân Thanh năm 1789

- PHÁP: Napoleon Bonaparte lên làm vua (1804-1815), Cách mạng Pháp phá ngục Bastille ngày 14/7/1789, làm đại úy năm 1793, xâm chiếm gần hết Châu Âu, bị đày 2 lần, mất năm 1821.

- HOA KỲ: George Washington , lãnh đạo Cách mạng Mỹ (1775-1783), Tổng thống đầu tiên (1789-1797).

2/ Chiến thắng Đống Đa chiến thắng quân Thanh rất quan trọng vì các lý do sau đây:

- Đập tan nạn “Rước voi, cõng rắn”: lần này thắng quân Thanh, lần trước thắng quân Xiêm.

- Chấm dứt vĩnh viễn sự đô hộ của Trung Hoa.

- Xác định cương vực lãnh thổ của nước VN độc lập, giáp biên giới với Trung Hoa, trước khi các Đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa trên thế giới.

3/ Nhân ngày đầu Xuân, chúng ta cùng nhau thắp nén nhang thơm để tưởng nhớ tới công lao của Tam Kiệt Tây Sơn, nhất là vua Quang Trung Nguyễn Huệ, cùng cất tiếng hát vang lừng các bài Sử ca nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Cao:

- “Thăng Long Hành khúc ca” với câu: Nhị Hà còn kia, Nhị Hà còn đó, lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông.

- “Gò Đống Đa” với câu: Ta đi đi đi đi thăm Gò xưa chất thây, Đống Đa còn chốn đây, Nhắc xương đầy máu xây...

PHẠM VŨ

BẢN CHẤT XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM

QUA NGÒI BÚT HIỆN THỰC CỦA

TÚ XƯƠNG

1870…1975. Hơn một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Trần Tế Xương ra đời. “Trăm năm trong cõi người ta”, biết bao biến chuyển đổi thay, như chính họ Trần khi còn sống đã nhận định:

Đất nọ vẫn thường hay có chạch,

Bể kia nhiều lúc cũng trồng dâu.

Nhưng “lịch sử là một sự tái diễn không ngừng”, cho nên chúng ta, lớp người trẻ ở thành thị, vẫn tìm được những điều đáng học hỏi ở cuộc sống phong phú của ông.

Ông sinh năm 1870 (Tự Đức thứ 23) tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc trong thành phố Nam Định và mất năm 1907 (Thành Thái thứ 19) tại quê ngoại ở làng Địa Tứ cũng thuộc huyện Mỹ Lộc. Ông có tự là Tử Thịnh, hiệu là Vị Thành, nhưng nhân dân vẫn thường gọi ông bằng cái tên rất thân mật là Tú Xương. Các nhà văn học đôi khi còn gọi ông một cách văn vẻ là “nhà thơ của non Côi sông Vị”, ý muốn nhắc nhở đến núi Côi Sơn và sông Vị Hoàng ở quê hương ông.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ XÃ HỘI

Cuộc đời ngắn ngủi của Tú Xương trùng hợp vào một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử dân tộc ta. Trước khi Tú Xương mở mắt chào đời, 3 tỉnh miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1867) của Nam phần lần lượt lọt vào tay giặc Pháp (cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết). Năm Tú Xương lên 3 tuổi, thực dân Pháp xua quân chiếm Hà Nội lần thứ nhất (cụ Nguyễn Tri Phương hy sinh). 9 năm sau, chúng lại chiếm thành Hà Nội lần thứ hai (cụ Hoàng Diệu tự vẫn). Với Hòa ước Giáp Thân (1884), vua quan phong kiến nhà Nguyễn thừa nhận ách thống trị của thực dân tư bản Pháp trên toàn cõi nước ta. Nhưng cũng từ năm đó, dưới ngọn cờ Cần Vương cứu quốc, sĩ phu và các tầng lớp nhân dân vùng lên khởi nghĩa đuổi quân xâm lược, sôi nổi nhất là ở miền Bắc Trung phần và Bắc phần (chung quanh quê hương của Tú Xương). Khi phong trào Cần Vương tan rã, phong trào Duy Tân bùng lên với sự thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và hàng trăm thanh niên ưu tú bí mật vượt bể du học.

Những biến chuyển lịch sử sôi động trên chắc chắn tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Tú Xương.

Tú Xương lớn lên khi quân chủ phong kiến bắt đầu tàn tạ và thực dân tư bản đang bành trướng. Do đó, xã hội thời Tú Xương chứa đựng tất cả những tệ nạn mục nát.

Một mặt, luân lý phong kiến suy đồi một cách trầm trọng:

· Nhà kia lỗi đạo, con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua, vợ chưởi chồng.

· Chồng chung vợ chạ, kìa quan Bố,

Đậu lạy quan xin, nọ chú Hàn.

Nho giáo mất hẳn địa vị và uy quyền cũ:

· Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

Mười người đi học, chín người thôi.

· Nào có ra gì cái chữ Nho,

Ông nghè, ông cống cũng nằm co.

Phật giáo và Lão giáo cũng biến thành trò mê tín sa đọa:

· Một thằng trọc tuếch ngồi khua mỏ,

Hai ả tròn xoe đứng múa bông.

· Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm gỗ

Ra oai, bà giắt cái khăn hồng.

Một mặt khác, lối sống tư bản thúc đầy con người chỉ biết có tiền, “tiền là trên hết”:

· Kẻ yêu, người ghét, hay gì chữ,

Đứa trọng, thằng khinh, cũng vị tiền.

· Giàu sang: âu yếm, tình quen thuộc,

Bần tiện: thờ ơ, dạ bạc đen.

Vì khiến trong tay tiền bạc có,

Nói dơi nói chuột, chán người khen.

· Keo cú người đâu như cứt sắt,

Tham lam chuyên thở những hơi đồng.

Mọi hành vi đều nhắm vào một mục đích “kiếm cho thật nhiều tiền”:

· Quẳng bút lông đi, giắt bút chì.

· … ……………… đi học làm thầy phán,

Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.

Khoa cử vẫn là con đường độc nhất để thanh niên tiến thân và để nước nhà chọn công chức. Nhưng chưa có thời nào ở chốn trường thi lại diễn ra lắm điều oái oăm như trong thời Tú Xương.

Chánh chủ khảo thì dốt nát:

· Thánh ép ông vào chủ việc thi,

Đêm ngày coi sóc chốn trường quy.

Chẳng hay gian dối vì đâu vậy,

Bá ngọ thằng ông biết chữ gì!

Giám khảo thì ngu đần:

· Sơ khảo trường Nam bác cử Nhu,

Thật là vừa dốt lại vừa ngu.

Văn chương nào phải là đơn thuốc,

Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu!

Thử hỏi như thế thì làm sao lựa chọn được người tài giỏi? Cho nên, những người thi đỗ phần đông là hạng dốt nát nhờ đút lót hối lộ quan trường hoặc là bọn con ông cháu cha được gởi gấm:

· Năm nay đỗ rặt phường “hay chữ”

Kìa bác Lê kia cũng thứ ba!

Tệ trạng đó không phải chỉ có ở kỳ thi Hương (Tú tài Cử nhân):

· Cử nhân: thằng ấm Kỷ,

Tú tài: con đô Mỹ.

Học thế cũng đòi thi,

Ôi, khỉ ơi là khỉ!

mà còn xảy ra trong kỳ thi Hội (Tiến sĩ) nữa:

· Nghe văn mà gớm cho văn mãi,

Cờ biển vua ban cũng lạ đời!

Cứ xem lối chọn người làm việc công như thế, chúng ta thừa biết bộ máy hành chánh lúc bấy giờ thối nát và tham nhũng đến mức nào! Tú Xương đã lớn tiếng tố cáo từ tên tri phủ Xuân Trường chỉ biết ăn hối lộ chứ không lo nghĩ đến phúc lợi an sinh của nhân dân:

· Chữ “y”, chữ “chiểu” không phê đến,

Ông chỉ phê ngay một chữ “tiền”!

Đến tên đốc học Nam Định (tức là người coi việc giáo dục trong toàn tỉnh) cũng không có tác phong đạo đức:

· Ông về đốc học đã bao lâu?

Cờ bạc rong chơi rặt một màu!

Đó chính là ý đồ thâm độc của bọn cướp nước. Chúng muốn biến trường học thành nơi đào tạo một lũ quan lại mà Tú Xương gọi là “xôi thịt lũ quan ôn”, làm bù nhìn cho phong kiến và làm tay sai cho đế quốc, không có ý thức dân tộc, không có ý chí đấu tranh:

· Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,

Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi!

Bao trùm lên trên những tệ nạn của xã hội thời Tú Xương là cái nhục mất nước. Tú Xương đã mô tả một cách cay chua từ cảnh trường thi dưới sự chủ tọa của vợ chồng tên chủ tịch thực dân:

· Xe kéo rợp trời quan sứ đến,

Váy lê phết đất mụ đầm ra.

đến cảnh vợ tên toàn quyền Paul Doumer ngồi trên khán đài trong buổi lễ xướng danh để các ông cử nhân mới thi đậu đến lạy tạ:

· Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt,

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng,

Mặc dầu Tú Xương cũng là một trong những “lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” tham dự kỳ thi đó, song ông đã cảm thấy xấu hổ, nhục nhã của người dân mất nước:

· Sao không nghĩ đến điều tu sĩ?

Ngoảnh cổ mà xem lại nước nhà!

NHỮNG ĐỨC TÍNH ĐÁNG PHỤC

Sống trong một xã hội thối ruỗng như thế, Tú Xương có một đức tính đáng cho chúng ta thán phục: đó là nghèo mà vẫn trong sạch (bần tiện bất năng di).

Nói đến Tú Xương, chúng ta đều nghĩ ngay đến cái nghèo của ông.

Ông nghèo cho đến nỗi nhà cửa thì:

· Nhà cửa giao canh nợ phải bồi.

vườn tược thì:

· Ba luống vườn hoang bán sạch rồi.

Ngày nay, đọc lại những câu thơ như:

· Van nợ lắm khi tràn nước mắt,

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.

chúng ta còn bồi hồi thương cảm.

Ông cố vượt ra khỏi cảnh nghèo bằng con đường cử nghiệp, nhưng thi Hương suốt 8 khoa liền trong 21 năm trời (từ năm lên 15 tuổi (1885) đến năm 1906, tức là một năm trước khi ông từ trần), mãi đến khoa thứ tư vào năm Giáp Ngọ (1894), ông mới đỗ được Tam trường:

· Tú rớt bảng trong năm Giáp Ngọ, nổi tiếng tài hoa.

(“Phú hỏng thi” của T.X.)

Còn từ đó cho đến khi mất, ông rớt liên tiếp 4 khoa nữa. Con đường tiến thân độc nhất đã bế tắc, ông đành chịu sống kiếp hẩm hiu của người lỡ vận:

· Một việc văn chương thôi cũng nhảm,

Trăm năm thân thế có ra gì!

Trong khi biết bao kẻ xu thời (từ Hoàng Cao Khải ngoài Bắc, với Nguyễn Thân ở Trung, đến Trần Bá Lộc trong Nam) ra hợp tác với lũ giặc cướp nước để được bơ thừa sữa cặn, vinh thân phì gia, Tú Xương vẫn giữ được tâm hồn trắng như tuyết, trong như sương:

· Nước muốn cho trong phải đánh phèn,

Cớ sao lại giữ thói bon chen.

Sá chi người thế lòng xanh trắng,

Chỉ tại thân ta vận đỏ đen.

một mặt đề cao khí tiết và danh dự của người trí thức, một mặt đả kích những kẻ đua đòi, chạy theo danh lợi:

· Danh giá nhường nầy không lẽ bán,

Nhân duyên đến thế hãy còn theo.

· Đói no đành chịu, không ai biết

Lành rách cho thơm, lắm kẻ khen.

Hễ hết bỉ rồi thời lại thái,

Lọ là kèn cựa với bon chen!

Ông đau lòng trước cảnh một số đồng bào mãi mê trong tiền tài danh vọng, không nghĩ đến nạn nước, nạn dân:

· Nước bốn nghìn năm hồn chửa tỉnh,

Người hăm lăm triệu giấc còn say.

Ông muốn mọi người dồn hết nỗ lực vào sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, giành lại chủ quyền và độc lập:

· Đồng giỏi sao đồng không giúp nước?

Hay là đồng sợ súng thần công?

Đối với các nhà cách mạng yêu nước (điển hình là cụ Sào Nam Phan Bội Châu), ông biểu lộ một tấm lòng ngưỡng mộ và quý mến chân thành:

· Mấy năm vượt biển lại trèo non,

Em hỏi thăm qua bác vẫn còn (…)

· Ta nhớ người xa cách núi sông,

Người xa xa có nhớ ta không (…)

Ông có một quan niệm khá tiến bộ về quyền tự do dân chủ. Ông đánh giá cao vai trò một người đại biểu của nhân dân:

· Nghị viên há phải chuyện con con,

Nước có quyền dân, nước mới còn (…)

Thay mười tám triệu người ăn nói,

Mở bốn ngàn năm mặt nước non.

NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG TIẾC.

Nhưng tiếc thay, Tú Xương yêu nước mà không thể trở thành một người cứu nước. Vì ông là người có nghĩ mà không dám làm. Cuộc sống của ông là một cuộc xung đột gay gắt giữa tư tưởng và dục vọng.

Cũng như ông thương bà Tú vất vả gieo neo, làm thơ ca tụng bà:

· Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Một duyên hai nợ thôi đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

nhưng bản thân ông không làm được việc gì để giúp đỡ vợ con, trái lại còn ăn bám bà Tú. Tuy ông trách đồng bào chìm đắm trong quyền lợi riêng tư:

· Nước bốn nghìn năm hồn chưa tỉnh,

Người hăm lăm triệu giấc còn say.

song chính ông, ông cũng không làm gì để thức tỉnh đồng bào:

· Thiên hạ có khi đương ngủ cả,

Việc gì mà thức một mình ta?

hay đôi lúc, ông còn tỏ ra tiêu cực hơn, có tư tưởng trốn chạy:

· Ngủ quách, việc đời thây kẻ thức!

Rốt cuộc, ông chỉ “thực hiện” những ước mơ của mình trong giấc mộng, nghĩa là không thực hiện được điều gì hết:

· Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng,

Mộng thế thì bẳng tỉnh mấy mươi!

Buồn cho nhân thế, cho vận nước, ông chỉ tìm lối thoát trong men rượu:

· Buồn ruột cho nên men phải nhắp,

Dở mồm nào biết giọng là cay.

Bạn cùng quỷ rẫy chi cho bận,

Vui với ma men thế cũng hay.

hay trong tiếng trống cô đầu:

· Hôm nay rỗi rãi buồn tình nhỉ!

Thử xuống hàng Thao đập ngón chầu.

để đến nỗi mang vào mình món “nợ Vu sơn”:

· Thua bạc ra đi với mẹ nhà

Bệnh gì chẳng bệnh, bệnh tiêm la!

Quá vui đến nỗi ra người dại,

Lỡ bước cho nên nhắm mắt qua!

Người ta thường thuật rằng Tú Xương có liên lạc với nhà cách mạng Phan Sào Nam. Nhưng những lần gặp gỡ, trao đổi đó không đem lại một sự thay chiều đổi hướng cho cuộc đời của Tú Xương. Ngày nay, chúng ta chỉ còn thấy lưu lại 2 bài thơ hình như Tú Xương viết để tặng cụ Phan (ở trên đã có trích mấy câu trong 2 bài thơ này). Trong khi sĩ phu cùng với các tầng lớp công nông trong cả nước, kẻ cầm súng xông ra giết giặc (như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật…), người viết sách, mở trường hô hào Duy tân (như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can…) thì Tú Xương vẫn còn đắm chìm trong thú vui không thanh cao:

· Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó khuấy ta!

Tâm trạng của Tú Xương có nhiều điểm tương đồng với tâm trạng của Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ… trước khi Cách Mạng Mùa Thu bùng nổ, hay với tâm trạng của một số thanh niên làm văn nghệ ở các thành phố chúng ta ngày nay: đó là một tâm trạng buồn chán, lạc lõng, không tìm thấy hướng đi cho kiếp sống.

Tú Xương đã cảm thấy một mối sầu sâu rộng, dằng dặc:

· Trời không chớp bể với mưa nguồn,

Đêm nảo, đêm nao tớ cũng buồn.

· Bối rối tình chung cơn gió thoảng,

Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông.

Tú Xương đã than thở về nỗi cô đơn trống rỗng của mình, tự ví mình là người lạc đường:

· Một mình đứng giữa quảng chơ vơ,

Có gặp ai không để đợi chờ?

Nước biếc non xanh coi vắng vẻ,

Kẻ đi người lại dáng bơ vơ.

Hỏi người, chỉ thấy mây xanh ngắt,

Đợi nước càng thêm tóc bạc phơ.

Đường đất xa xôi ai mách bảo,

Biết đâu mà ngóng tới bao giờ?

Mà quả thật, Tú Xương đã lạc đường. Ông đã đi ra ngoài con đường tranh đấu cứu nước của toàn dân. Ông tự cô lập mình với khối nhân dân đang hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Ở Việt Nam, trong thời Tú Xương, chưa có một chủ thuyết có thể phân tích được những sự kiện xã hội một cách khoa học nên ông chỉ nhìn đời bằng con mắt duy tâm và đầy tình cảm. Ông cảm nhận được phần nào vấn đề nhưng hoàn toàn thiếu nghị lực (đức tính căn bản của người chiến sĩ) để dấn thân vào cuộc đấu tranh chung.

Cũng vì thế, ông thường tỏ ra hoài nghi. Chẳng hạn trong bài “Lạc đường” (đã dẫn ở trên), ông băn khoăn tự hỏi:

· Có gặp ai không để đợi chờ?

Biết đâu mà ngóng đến bao giờ?

Song nếu có gặp (trong thực tế, ông đã gặp cụ Phan), chưa chắc ông đã dám dứt khoát từ bỏ nếp sống buông xuôi trong dục lạc để chấp nhận cuộc đời gian khổ hy sinh của một người đi làm cách mạng cứu nước.

BÀI HỌC CHO CHÚNG TA.

Ông đã không đóng góp gì cho sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta. Đó là một điều vô cùng đáng tiếc cho Tú Xương. Và đó cũng là một bài học đáng cho thanh niên, sinh viên, học sinh chúng ta ngày nay suy ngẫm. Vì sao thế?

1. Vì hoàn cảnh xã hội và lịch sử của Tú Xương có nhiều điểm tương đồng với hoàn cảnh chúng ta hiện nay: vẫn là một nền học từ chương tách rời người học ra khỏi thực tế của Đất nước và khỏi số phận của nhân dân, vẫn là một xã hội thờ kim tiền, đầy dẫy bất công, tham nhũng và thối nát…

2. Vì Tú Xương là một thanh niên ở vào vai anh của chúng ta (ông qua đời khi còn rất trẻ, mới 37 tuổi), lại là một thanh niên thành thị (làng Vị Xuyên ở ngay trong thành phố Nam Định). Do đó, Tú Xương rất gần gũi với tuổi trẻ đô thị. Những gì Tú Xương thấy và cảm, sinh viên, học sinh chúng ta đang hay và sẽ thấy và cảm.

Tưởng nhớ tới nhà thơ non Côi sông Vị là rút ra được bài học:

KHÔNG CÓ LÝ TƯỞNG NÀO CAO ĐẸP HƠN LÝ TƯỞNG PHỤNG SỰ DÂN TỘC VÀ XÃ HỘI, KHÔNG TẠO CHO MÌNH MỘT Ý CHÍ PHẤN ĐẤU, CHÚNG TA SẼ KHÔNG CÓ DỊP GIÚP DÂN CỨU NƯỚC, VÀ CUỘC SỐNG CỦA CHÚNG TA SẼ VÔ VỊ VÀ VÔ ÍCH.

Chúng ta không thể chần chờ. Tú Xương có thể rớt 7 khoa thi trong suốt 21 năm liền, nhưng sinh viên, học sinh chúng ta thì không. Chúng ta không thể chần chờ, vì như Nguyễn Hữu Bào đã viết trong một bài thơ mới sáng tác trong dịp Xuân Canh Tuất 1970:

“Xuân đến, nghĩ xa xôi

Lòng lo lắng, bồi hồi:

Kỳ thi này… vỏ chuối

Khăn gói… quân trường thôi!”

Trước mắt chúng ta chỉ có một con đường thôi: Con đường cách mệnh xã hội, không thể có con đường nào khác.

Chúng ta không nỡ trách Tú Xương quá tiêu cực thành tự sát, nhưng tiếc cho cái thiên tài văn chương của ông vô cùng. Tiếc hơn nữa là Tú Xương chết quá sớm, chết giữa tuổi thanh niên đầy sức sống và nhiều ước mơ. Một vài năm trước khi qua đời, ông còn ao ước:

· Xấp xỉ ba mươi mấy tuổi đời,

Trăm năm tính đốt hẳn còn lâu.

với dự tính:

· Sống lâu, lâu để làm gì nhỉ?

Lâu để mà xem cuộc chuyển vần.

Biết đâu chuyện đời chuyển vần, tư tưởng của ông cũng chuyển vần để ông có thể đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của Dân tộc.

Trong dịp đón Xuân, chúng ta thử so sánh cái xã hội Việt Nam thời Tú Xương xa xưa còn có những gì khác biệt hơn so với cái xã hội miền Nam ngày nay hầu thông cảm trọn vẹn kỳ vọng đầu năm của những nhà văn nghèo đang phải sống trong cảnh tạm tự ép mình theo chủ nghĩa ái quốc tiêu cực xuyên qua lời chúc Tết sau đây của Tú Xương:

Chúc cho khắp cả ở trên đời:

Vua, quan, sĩ thứ người muôn nước,

Sao được cho ra cái giống người.

T. T.

(Đỗ Thiên Thư st)

Tìm hiểu về lịch sử
Thành Thăng Long – Hà Nội


Thăng Long ngày xưa và Hà Nội ngày nay, tính tới năm 2010 kinh đô mang tên “rồng bay lên” của nước ta có mặt đúng 1.000 năm (1010-2010), đánh dấu từ năm vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) dời đô từ động Hoa Lư (cố đô thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay) ra thành Đại La (thủ đô Hà Nội ngày nay) với lý do: Hoa Lư chỉ có địa thế núi non hiểm trở thích hợp với một vị trí phòng ngự lợi hại về quân sự, còn Đại La ở giữa vùng đồng bằng, với vị trí trung tâm đất nước và những điều kiện giao thông thủy bộ thuận lợi của nó mới có thể trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của một quốc gia độc lập hùng cường. “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ nói rõ mục đích dời đô là: “Đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau…” Ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi: vị trí ở giữa bốn phương đông tây nam bắc, tiện hình thế núi sông sau trước. Ở đó, địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”. (Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội 1971, trang 151).

Sáng hôm ngày dời đô, khi đoàn thuyền rồng của vua theo dòng sông Đáy tưng bừng rời đất Hoa Lư ra sông Hồng ngược lên Thường Tín rồi tới đậu trước thành Đại La, vua Lý Thái Tổ liền cho rằng trên không xuất hiện hình ảnh “rồng bay lên” nên đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Sách “Đại Việt Sử ký Toàn thư” chép: “Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua từ thành Hoa Lư dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long”. Đây là tên gọi có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong các tên về Hà Nội.

Tưởng cũng nên nói thêm, sở dĩ vua Lý Thái Tổ biết tường tận vị trí, địa thế vùng Đại La là vì thuở nhỏ ông là con nuôi của nhà sư trụ trì chùa Tiêu Sơn làng Cổ Pháp (Đình Bảng – Bắc Ninh) Lý Khánh Vân và được thiền sư Vạn Hạnh rèn luyện văn võ song toàn. Khi lớn lên ông được cử giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ dưới triều đình nhà Tiền Lê ở Hoa Lư. Gặp thời nhà Tiền Lê suy yếu, ông được suy tôn lên ngôi vua. Lúc nhỏ, ông sống ở Bắc Ninh nên không xa lạ với vùng Đại La.

Từ thời kỳ đầu dựng nước, 18 đời vua Hùng Vương (2879-258 trước Tây lịch) với tên nước là Văn Lang đều đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc – Vĩnh Phú ngày nay). Tới nhà Thục (257-207 trước Tây lịch) nước Âu Lạc dời đô xuống thành Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội).

Trước triều đại nhà Lý, sau Tây lịch có các triều đại Tiền Lê (981-1009), nhà Đinh (968-980), nhà Ngô (939-944), nhà Tiền Lý (Lý Nam Đế, Lý Phật Tử 544-602) đều trở lại đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phú) và Long Biên (tinh Bắc Ninh). Năm 862 Cao Biền là tướng nhà Đường (Trung Quốc) sang cai trị nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc đã đắp thành Đại La (866), theo truyền thuyết lúc ấy phát hiện thần nhân hiện ra tự xưng là thần Long Đỗ nên thành ấy còn có tên này. Các triều đại phương Bắc (Trung Quốc) sau khi đánh chiếm Âu Lạc đã đóng trị sở ở Long Biên và thành Cổ Loa, với lý do dễ bề liên lạc và thuận lợi cho chi viện từ Trung Quốc. Ngay như Mã Viện đời nhà Hán (Trung Quốc) sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng (40-43 sau TL) vẫn không dám ở lại Mê Linh, vùng Sơn Tây phía Nam sông Hồng. Họ cứ đóng trị sở ở phía Bắc sông Hồng và cho di dời toàn bộ huyện Mê Linh sang bên ấy nên ngày nay huyện Mê Linh và đền thờ Hai Bà vẫn ở trên địa bàn của Vĩnh Phúc. Đời nhà Tùy (Trung Quốc) 581-818 mới dời xuống phía bên dưới sông Hồng đóng ở Tổng Bình tức thành Đại La. Nhưng tới đời nhà Đường (618-907) trị sở của quan quân đô hộ lại đóng tại vùng Long Biên (tỉnh Bắc Ninh ngày nay) nằm ở phìa Bắc sông Hồng. Truyền thuyết nói rằng khi Cao Biền gia cố và mở rộng thành Đại La thì gặp phải trở ngại nên phải trấn ếm bằng tà thuật ở sông Tô Lịch chảy qua trước cổng thành ở hướng Đông. Mấy năm qua, chính quyền thành phố Hà Nội cho thực hiện khai thông dòng sông cổ này đã bị bồi đắp gần hết sau cả ngàn năm mới phát hiện nhiều cổ vật và nhiều hài cốt cho thấy công trình xây thành xưa gây tai nạn chết người rất nhiều.

Từ sau triều đại nhà Lý cho đến cuối đời nhà Hậu Lê (1533-1788), kinh đô vẫn Thăng Long là chính. Tới nhà Nguyễn (1802-1945), thành Thăng Long bị bỏ phế do các triều đại này đóng đô ở Huế - nơi được coi là trung tâm của đất nước Việt Nam thống nhất liền một dãy từ Bắc tới Nam như ngày nay, chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Đời Minh Mạng (1820-1840), gọi Thăng Long là Bắc thành hay thành Hà Nội mà người dân quen gọi Hà thành, Huế là Kinh thành và miền Nam gọi Gia Định thành. Đời Tự Đức, năm Mậu Thân 1848, nhiều cung điện bị tháo dỡ đưa về Huế xây dựng. Ngày 23/7/1893, thành Hà Nội được mở rộng đặt tỉnh Hà Nội nhượng địa cho Pháp. Tòa Đốc lý Hà Nội cho phá bỏ thành Thăng Long cũ để mở rộng thành phố.

Cho tới Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945 thì thủ đô Hà Nội (kinh đô Thăng Long) mới được khôi phục lại vị thế cho tới nay. Thành cổ Hà Nội đã bị thực dân Pháp hủy hoại rất nhiều, nay chỉ còn lại một số cổng thành như Ô Quan Chưởng… và một số cung điện cũ (điện Kính Thiên) được Bộ Quốc Phòng sử dụng làm nơi làm việc cho tới nay.

Vương Liêm

Tài liệu tham khảo :

-Lịch sử Việt Nam tập 1, như đã dẫn trong bài.

-Việt Nam sử lược, NXB Văn hóa Thông tin, 1999.

Về một bài thơ bây giờ mới được biết đến

Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đình Chú có những bút danh: Kỳ Sơn, Phương Hoa, Đông Phong, Phương Mai, Hà Thu, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1932. Quê quán: xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1957. Từng là Chủ nhiệm Bộ môn Văn học Việt Nam Trung-cận đại, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Được phong giáo sư năm 1991, Nhà giáo Nhân dân năm 1998.

Là nhà giáo trong một trường đại học công lập, tất nhiên các sách ông soạn đều theo quan điểm chính thống đương thời. Trong đó bao gồm cả các bài ông viết về Phạm Quỳnh.

Chủ nhật 20/9/2009, Nguyễn Đình Chú đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Tuyên, thắp nhang trên bàn thờ Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết là vợ nhạc sĩ, mà cũng là đồng nghiệp dạy cùng trường lâu năm với ông. Nhân dịp này, ông tặng gia đình bài viết nhỏ về một bài thơ của Phạm Quỳnh mà ông mới phát hiện. Ông cũng đồng ý để gia đình đưa lên blog hoặc đưa lên báo. Nhạc sĩ Phạm Tuyên rất cảm động trước nghĩa cử này của giáo sư Nguyễn Đình Chú và chuyển ngay cho chúng tôi bài viết mới của giáo sư về học giả Phạm Quỳnh. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với các bạn hôm nay

—o0o—

Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố) một thời được dư luận xã hội tôn là bốn học giả sáng giá nhất của đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chíPhạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Bài thơ này còn được hôm nay là do cụ Nguyễn Đình Khang, quê Nghi Lộc, Nghệ An, làm thư viện ở Huế trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 và từng tham gia việc tịch biên gia sản Cụ Quỳnh hồi tháng 9-1945 tại Huế, nhân đó mà thấy bài thơ trong tập bản thảo của Cụ Quỳnh, nay đọc lại cho chép. Bài thơ như sau:

Khóc Nguyễn Văn Vĩnh

Vừa mới nghe tin vội giật mình

Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh

Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng

Bảy thước tang bồng nấm cỏ xanh

Sống lại như tôi là sống nhục

Chết đi như Bác chết là vinh

Suối vàng Bác có dư dòng lệ

Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Bài thơ đúng là cho thấy tấm lòng Cụ Quỳnh đối với Cụ Vĩnh nhưng cũng để lộ nỗi lòng của Cụ Quỳnh giữa cuộc thế bấy giờ. Hậu thế hôm nay, đọc bài thơ, có ai cảm thông và cũng là cảm thương phần nào cho Cụ Quỳnh không nhỉ?

Nguồn PhamTon’s Blog

Nguyễn Đình Chú (9-2009)

BƯỚC NHẢY VỌT CỦA CON HÙM

TRONG TRUYỆN KIỀU

Mịch La Phong

Kiều lênh đênh trong biển nhân sinh giữa bốn bề bão tố. Hoạn Thư đối xử với nàng – một tình địch – vừa độc ác vừa độ lượng, cho nàng ở vào Quan Âm các, “áo xanh đổi lấy cà sa, pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền”. “Trạc Tuyền”, có nghĩa là tắm giặt cho sạch, gột rửa tâm hồn lẫn cơ thể. Ngờ đâu Thúc Kỳ Tâm không để yên cho nàng, lại lần đến để giãi bày tâm sự!

Chắc Kiều không quên, hồi còn ở Lâm Tri, Kỳ Tâm hứa sẽ về Vô Tích dàn xếp việc gia đình, sau đó cho nàng làm bé để danh chánh ngôn thuận. Hắn hứa: “Đường xa chớ ngại Ngô, Lào; Ngàn điều nàng hãy trông vào một ta”. Ngôn ngữ thì tuy có khác nhưng cũng một dạng ba hoa như tên Sở Khanh: “Thuyền quyên ví biết anh hùng, ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi”. Giờ này, hắn vác mặt đến chùa Quan Âm tỉ tê phân bua, để cho Hoạn Thư bắt gặp. Hắn dối quanh: “Tìm hoa quá bước xem người viết kinh”.

Hoạn Thư quá biết sự vụng trộm ấy, thế mà vẫn cười cười nói nói ngọt ngào, khiến Kiều phát rét!

“Thế mà im chẳng đãi đằng”! Trong cái im lặng đó sắp có sóng gió. Cái im lặng của một tâm bão. Cái im lặng của con hổ đang rình mồi! “Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này”. Và con hùm vô tình đã đưa Kiều từ Quan Âm các bay sang Chiêu Ẩn am!

Đừng tưởng cửa chùa không có sóng gió. Nàng không dám vào tu mà không có lễ vật, nên mới đem chuông vàng khánh bạc ra để bảo chứng cho cuộc tu hành khá miễn cưỡng này. Ít lâu sau, công việc bị đổ bể. Sư cô Giác Duyên sợ vạ cho cả hai, mới đẩy Kiều qua nhà mụ Bạc, vốn đã “Am mây quen lối đi về dầu hương”. “Ai ngờ cũng tổ bợm già, Bạc bà học với tú bà đồng môn”. Mụ hăm dọa, ép cho được nàng phải lấy cho được cháu mụ là gã Bạc Hạnh. Nghe cái tên cũng đủ biết đó là một gã mất nết. Mụ khoe Bạc Hạnh có “Cửa hàng buôn bán Châu Thai”. Mụ trấn an “Bấy giờ ai lại biết ai, Dù lòng biển rộng sông dài thênh thênh”! .Nhưng nàng lại nói: “Biết người biết mặt biết lòng làm sao”!. Câu ấy ý muốn dẫn ra “Họa hổ họa bì nan họa cốt”. Quả con hùm ở Quan Âm các theo nàng đến đây rồi!

Bạc Hạnh thành thân với Kiều cho “đủ lễ”, rồi đưa nàng xuôi đến miền Châu Thai, dắt vào “hành viện xưa nay, cũng phường bán thịt cũng tay buôn người”. Thật là độc địa! Bán hùm buôn sói, bán thịt buôn người, có khác gì?

Cái nghiệp thanh lâu lại trở về với nàng. Từ đó “Lần thâu gió mát trăng thanh” một hôm, có một bậc hào kiệt với tướng mạo “Râu hùm hàm én mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”. Con người đó vừa có nét anh hùng lại vừa có nét phong lưu: “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”. Con hùm vô hình kia giờ đây gặp vị hổ tướng thứ thiệt, nó đã theo những bóng ma xó xỉnh mà biến mất.

Vị khách biên đình ấy có phong độ anh hùng và ngôn ngữ khiêm tốn. Ông ta tay cầm hồ rượu, tay ngoắc Kiều lại nói:

“Lại đây xem lại cho gần,

Phỏng tin được một vài phần hay không”.

Nàng khép nép thưa:“Lượng cả bao dong,

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen,

Rộng thương cỏ nội hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”…

Từ Hải đến với nàng như một vị thiên thần, cốt cách long hành hổ bộ và kết quả sơ khởi: “Phỉ nguyền sánh phụng đẹp duyên cưỡi rồng”. Khi gặp con hùm thật rồi, cái cảnh bán thịt buôn người không còn nữa. Hương lửa được nửa năm “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương”. Từ Hải tạm chia tay nàng để đi làm sự nghiệp. Một năm sau, Từ kéo mười vạn tinh binh về, rồi cho tướng sĩ đến đón nàng, cảnh thật uy nghi, cao sang. Từ vẫn là Từ của khi nào, “Vẫn còn hàm én mày ngài như xưa”, dĩ nhiên bộ râu hùm kia càng sum suê tươi tốt hơn.

Con “hùm thiêng” ấy nghe kể lại những cảnh “miệng hùm nọc rắn”, “bán hùm buôn sói”, thì vênh râu dựng tóc gầm thét vang trời, rồi tức tốc cất mấy đạo quân: “Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri”, cũng không quên mời những người ân đến. Không bao lâu những cánh quân ấy trở về phục mệnh. Tức thì:

“Trướng hùm mở chốn trung quân,

Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi”!

Cái cảnh “Oán thì trả oán, ân thì báo ân” được nàng giải quyết thỏa đáng. Từ lúc Kiều gặp khách “râu hùm hàm én mày ngài” thì những ma chăn quỷ chiếu không còn nữa, cho đến khi “trướng hùm mở chốn trung quân” thì nàng đã được “Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng”. Yên ổn được năm năm bỗng bình địa ba đào và gã họ Hồ kia đã ném nàng xuống sông Tiền Đường để gặp hồn ma Đạm Tiên.

***

Khi Giác Duyên gặp Đạo Cô Tam Hạp, thì đạo cô đã cho bà sãi biết số phận của Kiều “Kề lưng hùm sói gởi thân tôi đòi”, không nói gì về công đức của con hùm thiêng này, chỉ nói “trong vòng giáo dựng gươm trần” như là một hung nạn. Con hùm thiêng đã “bay bổng tuyệt vời” rồi thì những u cảnh xảy đến với Kiều dồn dập.

Dù sao con hùm thiêng ấy đã đưa nàng hết một phần ba quãng đường còn lại…

Bùi Đẹp (st)

1998

MÙA XUÂN BẤT TẬN CỦA ĐẠO PHẬT

Trong các mùa thì Mùa Xuân là mùa đẹp nhất. Không chỉ là thiên nhiên với hoa tươi đủ màu khoe sắc, mà còn là môi trường cũng được giữ cho trong lành, sạch sẽ nhất. Cảnh vật cũng được chăm chút hơn, và hơn hết là những ngày đầu Xuân thì con người với trang phục sang trọng nhất, cung cách cũng lịch lãm hơn, chào đón nhau bằng những nụ cười thân thiện và những lời chúc tốt đẹp nhất dành cho nhau… Mọi người tạm dẹp qua một bên những tính toán hơn thua, những mua bán lời lỗ, bắt tay trang hoàng nhà cửa để cùng nhau chào đón những ngày khởi đầu cho một năm mới. Hầu như tất cả những gì tốt đẹp, trang trọng nhất, mọi người đều dành cho những ngày đầu Xuân. Trong 3 ngày Tết, mọi người đều hài lòng thấy mình được thực sự nhẹ nhõm, an lành bởi mọi việc làm, lời nói đều được thận trọng, tránh để xúi quẩy cho cả năm… Không phải mỗi người không đủ khả năng diện cho mình bộ cánh mới hay không thể tự dọn dẹp trang hoàng nhà cửa trong những ngày khác. Nhưng vì đó là những ngày mà theo tập tục từ ngàn đời, cả nước, cả dân tộc đồng lòng hưởng ứng nên trở thành một ngày mang ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt, mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.

Rõ ràng, với một chút cố gắng, mọi người đều được hưởng những ngày Xuân trong no ấm, hạnh phúc, vui vẻ, hòa đồng với nhau. Chỉ cần sợ “rông” cho 365 ngày thôi mà mọi người đều đối xử với nhau một cách hòa nhã, lịch sự mà ở ngày thường rất hiếm gặp! Trong khi đó, cách đây đã hơn 2.550 năm, Đạo Phật đã gióng lên hồi chuông cảnh báo là với những gì mỗi người suy nghĩ, nói năng, hành động, không chỉ theo ta một hay nhiều năm, mà là vô lượng đời. Đó chính là Nhân Quả luôn theo dõi con người như bóng theo hình, có trốn đi sang kiếp nào khác cũng không thoát.

Chúng ta đã hết sức nhiệt tình để chuẩn bị ba ngày Xuân cho gia đình, còn để chuẩn bị cho kiếp sau thì ít người nghĩ tới, nên vì thế đôi khi đã hành động bất chấp Nhân Quả chỉ vì những món lợi nhất thời trước mắt mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao, đến khi bị giáng trả mới giật mình thì đã quá muộn!.

Thật vậy, còn sống là còn phải đối mặt với những cái Vui, Cái Buồn. Tâm lý chung là mọi người đều muốn kiếm cái Vui, tránh cái Buồn, và cái Vui thường gắn liền với cái vừa ý, cái ĐƯỢC, cho nên đôi khi nhiều người chỉ nghĩ đến cái Được của bản thân mình mà quên đi đã làm tổn hại cho người khác, để rồi sau đó, dù cho không ai biết, trong sâu thẳm nhiều khi họ cũng tự dày vò, ăn năn, hối hận! Những cái VUI này không ngoài thỏa mãn Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý là những thứ Có Tướng, nên theo quy luật, nó đến rồi sẽ đi, dù có cố giữ đến mấy cũng không tồn tại mãi được. Nó lại luôn thay đổi tùy theo từng giai đoạn của cuộc đời mỗi con người. Lúc còn trẻ, sức khỏe dồi dào thì có thể là bộ cánh đẹp, những phương tiện vật chất, những cách thể hiện bản thân “sành diệu”, ít nhiều mang tính chất hơn thua!. Hoặc là những chuyến đi phiêu lưu mạo hiểm để thử thách bản thân và chinh phục thiên nhiên. Càng khó khăn càng thấy hứng thú. Những cuộc vui trong tiếng nhạc rộn ràng, sôi nổi. Những chốn đông người với nhiều màu sắc. Nhưng khi tuổi đã nhiều thì chuyển về những niềm vui tao nhã, trầm lặng, hướng về tinh thần nhiều hơn, như chơi hoa kiểng, hội họa, thơ văn, sưu tầm sách vỡ, cổ vật vv... Tóm lại là những thứ thỏa mãn cho nhu cầu của con người. Càng có được nhiều thì càng thấy niềm vui nhân lên. Nhưng cứ mỗi lần có được thì lại muốn có thêm, nên cái Vui chẳng bao giờ trọn vẹn!

Chính vì vậy mà khi nghe trong Đạo Phật nói có cái THƯỜNG LẠC nhiều người không thể hiểu nổi. điển hình là Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH, có Thầy Tăng tên Chí Đạo đã hỏi Lục Tổ:

“Kẻ học này từ khi xuất gia xem Kinh Niết bản có trên 10 năm mà chưa hiểu ý, xin Hòa Thượng chỉ dạy”. Lục Tổ hỏi: “Có chỗ nào mà người chưa hiểu”? Ông ta trả lời: “Bạch , Các sự hành động của tâm đều vô thường, ấy là pháp sanh diệt. Sanh diệt diệt rồi, vắng lặng là vui”. Trong các điều ấy đệ tử có chỗ ngờ”. Tổ hỏi: “Bởi cớ nào mà ngươi sanh nghi?” Bạch: “Cả thảy chúng sanh đều có hai thân là Sắc Thân và Pháp Thân. Sắc thân là Vô Thường, có sanh, có diệt. Pháp Thân là thường còn, vô tri, vô giác. Kinh nói “Sanh diệt diệt rồi, vắng lặng là vui”. Chẳng biết thân nào vắng lặng, còn thân nào hưởng sự vui? Nếu là Sắc Thân thì lúc sắc thân tiêu diệt, bốn chất rả tan, toàn nhiên là khổ, mà Khổ thì không thể nói là Vui được. Còn nếu là PHÁP THÂN, thì Pháp Thân là vắng lặng, tức là giống cỏ, cây, ngói, gạch. Thế thì cái chi hưởng sự Vui? Lại Pháp Tánh là cái thể của sự sanh diệt, Năm Uẩn (Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức) là cái dụng của sự sanh diệt. Một cái Thể năm cái Dụng, sanh diệt là thường. Sanh thì do Thể mà khởi ra Dụng. Diệt thì thân dụng về Thể. Nếu chịu sanh trở lại , tức là loài hữu tình, tâm niệm chẳng dứt, chẳng tắt. Còn nếu chẳng chịu sanh trở lại, thì về cảnh tịch diệt đời đời, đồng với vật vô tình. Thế là các pháp đều bị Niết bàn ngăn chế còn chẳng đặng sanh, có gì là Vui?

Sư nói: Nguơi là con nhà Phật sao lập theo chỗ tà kiến của ngoại đạo mà bàn qua phép tối thượng thừa? Cứ theo chỗ ngươi nói thì ngoài cái Sắc Thân riêng có cài Pháp Thân, lìa chỗ Sanh Diệt cầu nơi Tịch diệt, lại nghĩ cảnh Niết Bàn là thường vui, nói rằng có cái thân thọ dụng. Ấy là cố chấp tiếc thương chỗ sống chết, quá nhiễm cái vui sướng thế gian.

Ngươi nay phải biết, Phật thấy cả thảy các người mê muội, nhận Năm Uẩn Hòa Hiệp là Tướng của Thân Mình. Phân biệt cả thảy các pháp là các tướng của thế gian ở ngoài, ưa sống, ghét chết, niệm niệm đổi dời, chẳng biết sự mộng huyển giả dối, luống chịu sanh tử luân hồi, lấy cảnh Thường Vui Niết Bàn đổi làm trạng tướng khổ não và trọn ngày chỉ cầu ở ngoài. Vì đó Ngài mới động lòng thương xót mà chỉ cái Thiệt Vui Niết Bàn, trong một sát na không có tướng sanh, không có tướng diệt, lại cũng không có sự sanh diệt gì mà nên tắt dứt. Ấy là cái tâm vắng lặng hiện ra rõ ràng, cũng không nghĩ tới chỗ hiện ra. Ấy gọi là Thường Vui.

Sự Thường vui ấy không có thọ cảm, cũng không có chỗ chẳng thọ cảm, há có cái tên một thể năm dụng sao? Hà huống lại nói Niết Bàn ngăn chế các pháp khiến cho đời đời chẳng sanh. Ấy là nhạo Phật chê Pháp vậy”.

Thầy Tăng này cũng có đọc Kinh, nhưng hiểu lầm ý Kinh. Thầy cho rằng mỗi con người có hai phần: Sắc Thân, tức là cái thân Ngũ Uẩn phải chịu sự Sinh Diệt, và Pháp Thân là cái vô tri vô giác. Nếu cái Thân đã diệt, cái Pháp Tánh thì vắng lặng thì cái gì hưởng sự Vui?

Những sự hiểu lầm như thế ta thấy nhan nhản trong giới tu hành từ xưa đến nay. Họ có thể bỏ nhà cửa, tiền bạc, danh vọng thế gian, nhưng lại mơ màng cái Danh Uy của con đường tu hành nên vẫn chưa rời được đối đãi là những Pháp thuộc về hữu tướng. Nghe nói Đạo Phật là Độ Khổ thì họ nghĩ ngay đến cái được sướng. Nghe nói cảnh Niết Bàn họ bèn nghĩ ngay đến cái hưởng thụ của đường tu!

Thật vậy, con người quen sống với Khổ, Vui, Sống, Chết, Được, Mất, Hơn, Thua, Có, Không… của những gì Mắt thấy, Tai Nghe, Thân va chạm, Ý thích, ghét trước kia. Không biết rằng có một tình trạng an ổn, thanh tịnh, như như, không còn Khổ, Vui... Đạo Phật gọi là “Viên Như Ý Bửu Châu” mà người tu hành thanh lọc Cái Tâm sẽ gặp được. Gọi là “Như Ý” bởi không còn ham thích, đòi hỏi, so sánh, tìm cầu, như người đã có đầy đủ tất cả.

Cái “Được” của người tu không phải là “bỏ cái nhỏ để được cái lớn” như có vị Hòa Thượng rất có uy tín trong đạo Phật đã dùng đó để khuyến tu! Như vậy rất dễ sinh ra hiểu lầm để người đối phó với thế gian không xong, lại hướng về con đuờng tu hành với ý tưởng có ngày sẽ được như Đức Thích Ca, hay ít ra cũng cầm đầu Tăng chúng. Thu nạp được nhiều đệ tử. Cất được nhiều kiểng chùa to, đẹp để đời! Chứng tỏ là họ chưa biết mục đích tu hành chỉ là để đạt được một sự an lạc, nhẹ nhàng, gọi là THƯỜNG VUI trong Tâm, do Xả hết những cái Chấp Tướng mà có được. Cái Được đó cũng không phải là cái Thân tỏa hào quang, không còn ốm đau bịnh hoạn, dí lửa vào cũng không biết đau, biết trước, biết sau..hay 32 tướng tốt với “chiếc lưỡi rộng dài, trùm phủ tam thiên”...

Nếu có đọc kỹ chính Kinh ta sẽ thấy: Đức Thích Ca đã sống một cuộc đời hết sức bình thường như tất cả chúng ta. Lúc chưa phát tâm tu hành thì cũng có vợ, có con. Khi vào tu rồi thì cũng nhầm lẫn học với ngoại đạo đến 6 năm. Khi tìm được Con Đường Giải Thoát, mở ra giảng dạy cho tới lúc nhập diệt thì Ngài vẫn cùng đệ tử đi khất thực, vẫn tự rửa bát, tự trải tọa cụ để ngồi, không hề tỏ ra là giáo chủ. Cái Thân Ngài cũng bịnh hoạn, nhiều lần Ngài Anan phải mang bình đi xin sữa, và cuối cùng Ngài cũng chết, cũng trà tỳ, đâu có gì khác mọi người? Pháp của Ngài giảng dạy là PHÁP GIẢI THOÁT, để cho những người học, hành theo đó khi sống cũng như lúc chết không còn bị những cảnh Khổ hành hạ, được như Hoa Sen, dù sống trong bùn, nhưng vẫn tinh khiết, không bị bùn làm cho ô nhiễm. Người tu Phật hành trì miên mật không phải là để trở thành Thần Linh hay Thánh Nhân, mà để sống đúng như một người tốt, xứng đáng một kiếp “Nhân thân nan đắc”. 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp là để khuyến thiện. “Chiếc lưỡi rộng dài bao trùm tam thiên”, là ý diễn tả những gì Phật Thích Ca thuyết ra đều là chân thật, dù qua bao đời cũng không bị đào thải mà thôi. Bởi nếu Phật có chiếc lưỡi to đến như vậy, thì mâu thuẫn với lý thuyết của Đạo Phật, vì Phật là Vô Tướng! Tất cả chỉ vì lớp người đi trước đã “Y Kinh giải nghĩa”, nên biến Đạo Phật từ Nhất Thừa: Tự tin, Tự Độ, tự Giải Thoát thành Nhị Thừa, Quyền Thừa, làm cho lớp sau thiếu kiểm chứng dễ sinh hiểu lầm, không theo hướng dẫn để tu hành được Giải Thoát, lại thấy Phật là một vị Thần toàn năng nên chỉ thờ phụng Phật để cầu xin mà thôi!

Phụ Bản II

Tóm lại, Cái THƯỜNG VUI của Đạo Phật là do Xả những cái Chấp, do dứt trừ Tham, Sân, Si, do Giới, Hạnh mà tìm được. Cái này không hình tướng, không sinh diệt, không khổ vui, sống chết, không cao thấp hơn thua nên không còn phiền não, là nghĩa của NIẾT BÀN. Xem tượng Đức Di Lặc ta thấy: đó là một ông mập mạp khoe rốn, cười thoải mái với 6 đứa trẻ đeo quanh người, tượng trưng cho người tu đã điều phục được LỤC CĂN. SÁU TÊN GIẶC giờ đây chỉ là sáu đứa con nít, không còn phá phách làm cho người tu phải phiền não nữa và nụ cười đó tượng trưng cho Mùa Xuân Bất Tận mà người quay về với cái Chân Tâm của bản thân sẽ có được. So với Mùa Xuân của trần gian thì Mùa Xuân đó không cần ngoại cảnh hỗ trợ, không cần phải có sự tham gia rầm rộ của nhiều người. Không cần mượn hoa cỏ, âm thanh, màu sắc, cũng chẳng đợi thời tiết đến mới diễn ra.

Cũng giống như người đời, muốn có được Mùa Xuân thì mọi người phải chung tay để làm ra thì Mùa Xuân Thường Hằng của Đạo Phật cũng thế. Cũng phải gây tạo Nhân lành, phải kiên trì, phải học, phải tu sửa, phải Xả nhiều thứ mới có được, và được thực hiện nơi Cái Tâm của mỗi người.

Khác với những tôn giáo có lời hứa hẹn của giáo chủ: “cứ đăt trọn niềm tin, giữ đúng các giáo điều thì sẽ được ban ơn khi sống, lúc chết được về nước của các vị”. Đạo Phật lại dạy Tự Độ. Chỉ riêng hai từ đó cũng đủ nói lên tất cả những cầu xin, nương tựa... không phải là Đạo Phật chân chính. Vì thế, nếu ta thấy những ai còn màu mè sắc tướng, vọng ra để tìm bên ngoài, tạc tượng cho to, cho đẹp để chiêm bái, khấn vái, cầu xin... thì ta có thể hiểu được là họ chưa ý thức được rằng cái THƯỜNG LẠC chỉ có ở nơi cái tâm rỗng rang thanh tịnh, và phải hành trì mới có. Không phải do vật chất đầy đủ, hoàn cảnh thuận lợi, cũng không phải do cầu xin mà được ban cho vậy.

Tâm Nguyện (1/2010)

Văn hoá
trong việc thưởng xuân

Còn một tháng nữa mới thực sự bước vào những ngày Tết cổ truyền, nhưng không khí, quang cảnh chung quanh đã mang màu sắc những ngày đầu xuân. Trước hết là màu nắng, màu nước trà đặc biệt của ánh nắng trong mấy ngày Tết. Nắng không còn đem lại sức nóng oi bức của những ngày hè, mà chỉ hơi âm ấm dìu dịu, cộng thêm bầu không khí lành lạnh đem lại sự thoải mái, khoái cảm tuyệt vời. Mọi hoạt động ngoài xã hội có vẻ nhộn nhịp hẳn lên. Mọi người có vẻ bắt đầu hối hả cho cuộc chạy đua nước rút trong tháng cuối năm để rồi phải kết thúc trước giờ phút giao thừa.

Trước năm 75, có một bài hát được ban nhạc AVT thường xuyên trình bày trong mỗi dịp xuân về:

“Mừng xuân mới về, mừng mùa xuân nay đã về,

Con nít thời vui lòng ông lão thấy cũng vui…”

Đúng vậy, ở những người lớn tuổi vào thời điểm này cũng thấy bắt đầu nôn nao trong lòng. Mặc dù có nhiều người nói rằng già cả rồi Tết nhất có gì đâu mà ham, nhưng thực ra nhiều người lớn tuổi cũng đều cảm thấy có niềm vui rạo rực nhè nhẹ trong lòng. Niềm vui càng to lớn khi những người lớn tuổi thường được khuyên nên sống lạc quan để giữ gìn sức khỏe.

Rồi lật bật cũng sẽ đến giai đọan thưởng thức không khí ngọt ngào của những ngày đầu xuân. Mọi người bắt đầu bước vào những họat động ngày xuân mà năm nào như năm ấy tiếp tục diễn tiến tạo thành thói quen từ đời này sang đời khác, biến thành những tập tục, trong đó có họat động mang tính văn hóa dân tộc nhưng cũng có những họat động không có tính văn hóa nếu không muốn nói là lạc hậu cần phải thay đổi, không nên tiếp tục.

Đi lại trong ngày Tết.

Đi lại là nhu cầu rất lớn trong mấy ngày đầu xuân sau một năm miệt mài mưu cầu cuộc sống. Người về quê thăm gia đình, người đi thăm bà con thân tộc dù ở trong cùng thành phố nhưng vì bận bịu quanh năm không có dịp gặp nhau hàn huyên thăm hỏi. Nhiều người cần đi lại để tham quan thắng cảnh, chùa chiền nơi này nơi nọ, tìm về thiên nhiên. Nhu cầu đi lại còn phát sinh vào thời gian cận Tết khi những người mưu sinh xa nhà, sinh viên học sinh học tập xa quê. Tất cả đều gấp rút về gặp người thân để cùng đưa mâm hoa quả lên bàn thờ đón giao thừa. Nhu cầu này còn phát sinh vào dịp sau Tết khi những người sống xa quê, các học sinh, sinh viên từ giả gia đình trở về nơi mưu cầu cuộc sống.

Việc đi lại trong dịp Tết là họat động mang tính văn hóa rất cao cho thấy ai ai cũng nghĩ rằng phải trở về quê hương, đất nước với những người thân yêu trong những ngày đầu năm mới. Người về luôn luôn nôn nao cầu mong sao cho mau về đến nhà, còn người đón thì cứ ra vào trông mong, hết nhìn lịch trên tường đến nhìn đồng hồ chờ đợi giờ phút tao ngộ.

Tuy nhiên bản sắc văn hóa đẹp đẽ trong việc đi lại vào dịp Tết thường gặp phải những thực tế tiêu cực gây cho những người có nhu cầu đi lại nhiều phiền toái, gian khổ. Đó là nạn “phe” vé tàu, xe đò, nạn xe đò quần lòng vòng rồi bán khách, nạn chèn nhét khách dưới khoan xe như vận chuyển súc vật, nạn cơm tù như báo chí đã nhiều lần đề cập. Năm ngoái có người về tới Hà Nội đã quá giờ giao thừa. Thêm vào đó nạn kẹt xe. Không cần nói đi đâu xa, cách đây vài năm, gia đình người bạn thuê xe đi lên Bửu Long vào ngày mồng một. Xe không vào được khu giải trí mà phải đậu cách xa hàng cây số và phải chờ đợi gần 3 tiếng đồng hồ. Sau đó mệt mỏi quá phải quay về, nhưng cũng phải mất cả giờ đồng hồ để ra khỏi mê hồn trận của một rừng xe cộ đang bị kẹt cứng. Rồi nạn giữ xe máy với giá cắt cổ, một lượt 10.000 đồng, có nơi 20,000 đồng. Đi xe máy bị xẹp lốp, một lỗ vá bị “cứa” liền 20.000 đồng. Đi đến đâu cũng được nghe câu nói “Tết mà anh Hai”.

Tới đây xin được “link” qua một chút về giá cả leo thang trong dịp Tết. Hầu như tất cả các lọai hàng hóa, dịch vụ đều lên giá. Khách hàng nếu có than thở, chỉ dám than thở chứ không dám khiếu nại, sẽ nhận được câu trả lời: “Tết mà !!”. Cách xử sự của “Thượng đế” ngày nay là được quyền than thở.

Tập tục Lì xì

Đây là tập quán mang bản sắc văn hóa khi những người trẻ tuổi, những em nhỏ được người lớn lì xì một số tiền hợp lý đựng trong bao giấy hồng xinh xắn gọi là chúc may, chúc phúc đầu năm. Con cháu tùy khả năng lì xì cho ông bà, cha mẹ để mừng tuổi, cũng là một điều tốt. Ngày nay tập tục lì xì này đã bị biến dạng. Khách đến chúc Tết mà không lì xì cho con cháu chủ nhà, bảo đảm sau khi khách ra về, chủ nhà sẽ bằm cho vài câu nào là hà tiện, là keo kiệt. Tập tục lì xì còn được khai thác triệt để khi cấp dưới đến chúc Tết thường lì xì cho con cháu cấp trên bằng những bao lì xì dày cộm. Sau Tết, vào học lại, con cháu các sếp lớn thường kháu nhau: “Tết rồi tiền lì xì tao được 20 triệu”. Có đứa còn khoe một bao lì xì đỏ thắm và rút ra tờ giấy 500 ngàn mới được xếp ngay ngắn.

Tín ngưỡng

Nổi bật là việc đi chùa đầu năm. Sau khi cúng giao thừa người ta thường đi đến những ngôi chùa gần nhà trước là đốt nén hương cầu nguyện cho đất nước hòa bình giàu mạnh, người dân hạnh phúc ấm no, gia đình thân nhân khỏe mạnh, may mắn, sau đó là xin lộc nhà chùa, xin một lá xăm cầu cho may mắn, xóa mọi rủi ro. Hình ảnh người ta ăn mặc tươm tất lũ lượt đến chùa trong đêm trừ tịch dưới màn sương lành lạnh thật vô cùng đẹp mắt. Ngày nay các chùa chiền đều cảm thấy rét run vào thời điểm giao thừa. Người ta vô không phải xin lộc mà là cướp lộc. Những cây cảnh, bonsai quí giá trong chùa đều bị người ta, đa số là những người trẻ, bẻ phá tan nát. Nhiều vườn hoa tại các ngôi chùa qua sáng mồng một xác xơ thảm hại. Nhiều cây mai bonsai trụi lũi, tróc gốc nằm lăn lóc rớt ra khỏi chậu đã bị vỡ đôi.

Tình trạng cướp lộc này còn lây lan đến các cuộc triển lãm cây cảnh cho các ngày lễ trong năm, có nghĩa là không phải đầu năm để lấy lý do hái lộc cầu may. Thế mà họ vẫn phá vẫn bẻ tan nát, gom từng bó chạy rần rần trên đường phố.

Về phương diện tín ngưỡng còn có một họat động nhằm giúp cho du khách đi “thăm” được thật nhiều chùa càng tốt. Thường là mười ngôi chùa đi về trong ngày. Ở những “tua” như vậy du khách thập phương không thể nói là đi tham quan mà là chạy đua vào chùa cắm cây nhang rồi chạy trở ra xe không đầy 10 phút, trong khi nhà xe vừa bóp kèn inh ỏi vừa la hét hối thúc du khách. Thật không hề có một chút xíu bản sắc văn hóa dân tộc cho cái cảnh tham quan chùa chiền theo kiểu “băng tốc độ” này. Có chủ xe chốc chốc lại lên lớp giảng đạo nào là đi thăm được mười chùa sau này chết được lên… “thiên đàng”(?), hoặc được đầu thai làm người giàu có, ăn sung mặc sướng, có kẻ hầu người hạ. Thôi thì một tương lai sáng quắc do mụ chủ xe thêu dệt ra để hấp dẫn khách thập phương. Người viết còn được khách hành hương kể lại rằng ngày xưa mẹ của Thầy Tam Tạng nhờ đã từng đi tham quan 10 cảnh chùa nên đã sinh con sau này tu hành đắc đạo thành Phật (?).

Một khía cạnh khác của vấn đề tín ngưỡng là trong những ngày đầu năm người ta đốt giấy tiền vàng bạc nhiều quá. Đi đâu cũng thấy người ta đốt giấy vàng bạc. Không biết ở dưới suối vàng người đã chết có được hưởng tí hương khói gì không mà thấy người ta đốt giấy tiền vàng bạc đến phát khiếp. Giá mà số tiền bỏ ra thay vì mua vàng mã về đốt được đóng góp vào việc xây dựng nhà tình thương thì hay biết mấy.

Cờ bạc thưởng xuân.

Ngày Tết thường là dịp để người ta họp mặt. Mà hễ họp mặt thì không nhậu nhẹt cũng đánh bài. Khi có đủ tay mọi người ráp lại để sát phạt. Ban đầu ăn thua chút đỉnh cho vui sau đó lớn dần mà cao điểm là có người thua nguyên một chiếc xe máy, hay một sợi dây chuyền vài lượng. Không kể các đại gia sau khi sát phạt có người thua một hai căn nhà hay một chiếc xe con “đờ lu-xe” đội nón ra đi. Nạn cờ bạn còn được nhân rộng ra tới ngòai đường phố mà chủ xị mấy sòng bạc này là bọn lưu manh lập thành từng nhóm với đủ lọai hình cờ bạc, nào là sóc dĩa, xỉa xu, bài ba lá, tài xỉu… Mấy người từ các tỉnh mới lên Saigon xớ rớ lại gần bị tụi cò mồi dụ dỗ một lát là sạch túi.

Cho dù có biện hộ rằng ngày Tết chơi vài ván bài cầu may, chứ có sát phạt gì đâu, nhưng hoạt động cờ bạc không hề có bản sắc văn hóa dân tộc gì cả. Cần phải nghiêm khắc dẹp bỏ, nếu không muốn thấy từng thế hệ người dân trở thành bác thằng bần.

Chén rượu đầu xuân.

Thật không có gì đẹp bằng ngày Tết đến nhà bạn hàn huyên nhăm nhi một hai chung rượu mừng xuân, ngâm nga vài ba câu thơ cổ, hoặc cao hứng đọc một bài thơ xuân vừa sáng tác. Tính văn hóa trong ly rượu đầu xuân rất cao. Nhưng hình ảnh này ngày nay hầu như không còn nữa. Nhà nhà đều trữ rượu bia đón Tết. Tùy theo mức sống của mỗi gia đình, người ta mua bia rượu về dự trữ. Từ rượu Tây thượng hạng rồi xuống dần đến bia các lọai và sau cùng là… đế. Vào các ngày đầu năm, nhiều bệnh viện thường quá tải vì phải đón tiếp quá nhiều nạn nhân say xỉn bị tai nạn giao thông, hay đâm chém nhau gây thương tích, kẻ vào bệnh viện, kẻ đến nhà lao. Gia đình nào gặp phải cảnh này thì ngày Tết trở thành vô nghĩa. Nhiều gia đình có trình độ văn hóa thấp kém, nạn say xỉn dễ đưa đến bạo hành làm cho hạnh phúc gia đình nhanh chóng đỗ vỡ. Nhiều tài liệu y khoa nói rằng hầu hết những người nghiện rượu đều bị chứng bệnh lớn nói nhỏ không nghe, có khi trở thành anh chàng Hốt tất Liệt. Anh nào có con thì đứa bé có nguy cơ, khi lớn lên, trở thành đần độn, ngu dốt.

Tệ nạn uống rượu bia say xỉn đã làm mất đi tính văn hóa cao đẹp vốn dĩ đã tồn tại từ ngàn xưa. Ngôn ngữ tại các bữa tiệc nhậu trong ngày Tết không còn thi vị mà được thay thế bằng những ngôn từ không hoa mỹ chút nào, hoặc là những cuộc thiệt chiến tưng bừng sôi nổi để rồi kết thúc bằng cuộc chiến không khoan nhượng.

Để vui hưởng một cái Tết hợp lý.

Mọi người, ai cũng có thể mang lại cho gia đình mình một không khí Tết trong phạm vi khả năng cho phép. Người giàu có thì ăn Tết theo kiểu cách riêng của mình, kẻ nghèo khó có thể tạo cho mình cát Tết trong phạm vi thấp nhất. Không thể có vấn đề đi vay mượn để ăn Tết. Trong xã hội hiện nay cũng có một bộ phận dân chúng đi vay tiền nóng để ăn Tết, viện cớ rằng để cho con cái nở mặt nở mày với người ta, để rồi sang năm làm việc còng lưng trả nợ. Đây là những người thích đua đòi muốn có cuộc sống như người khác. Họ sẽ dễ dàng sa ngã trước sự cám dỗ của vật chất. Có nhà kia thấy nhà bên cạnh chưng một cây mai bonsai đẹp mắt, tự nhiên thấy khó chịu bèn chạy ra chợ hoa mua một cây mai bonsai rực rỡ hơn đem về chưng gần cửa sổ cho ông đi qua bà đi lại nhìn được rõ. Thuở còn cho đốt pháo, tính ganh tỵ còn thể hiện rõ rệt. Mỗi lần thấy nhà bên cạnh đốt dây pháo hai thước, nhà bên này lầy ra dây pháo 3 thước đốt trả đũa. Cứ thế mà leo thang. Nạn nhân là những hàng xóm phải chịu thống khổ vì tiếng ồn của pháo.

Hình thức bày biện đón mừng ngày Tết nhà này khác nhà kia thực ra không quan trọng, nhưng điều quan trọng chính là tất cả những thành viên trong gia đình có hòa nhịp một cách trọn vẹn với không khí tưng bừng của ngày Tết hay không. Mọi người phải tự điều chỉnh các khoản chi tiêu trong dịp Tết cho phù hợp với khoản thu nhập của mình.

Dương Lêh

SỚ TÁO QUÂN


23 tháng Chạp

Các Táo khắp nơi

Đều phải về trời

Để lo trình báo..

Thần Nội San Táo

45 số rồi

Nay xin phản hồi

Những điều hay, dở..

oOo

Nội San nho nhỏ,

Mỗi tháng một lần

Góp mặt văn đàn

Của Người Yêu Sách

Cố vấn cao nhất

Cha Triết hiền lành

Độc nhất Việt Nam

Với “Sưu Tập Đèn”

Đến hàng ngàn chiếc

Thứ nhì phải biết

Là Chủ nhiệm rồi

Tập họp mọi người,

Kiểm tra bài vở

Chính là Dịch Giả

Anh Tuấn nhà ta

Chuyên môn … vác ngà

Đảm đang Truyện Dịch

Và “Thú Chơi Sách”

“Sưu tầm”..lai rai

Vừa viết Liêu Trai

Có tên “Hảo Mộng”

Năm qua in tặng

Bè bạn xa gần

Đọc.. thấy lâng lâng

Nửa hư, nửa thực !

Người luôn tất bật :

Bác Phó Vương Liêm

Một mình mà kiêm

Nhiều chức nên bận

Nào là “Mặt Trận”

Nào “Nhịp Cầu Vàng”

Vẫn sáng tác hăng

Chưa hề mỏi mệt

Truy tìm từng vết

Thành Cổ, dấu xưa..

Rồi viết say sưa

Nhiều khám phá mới

Di Sản thế Giới

Bác (Bùi) Đẹp trông coi

Xin mời xem chơi

Để thấy nhiều nơi

Sao mà đẹp, lạ !

Ăn sao no dạ

Mà bổ dưỡng thêm

Khoản này anh em

Giao Bác Sĩ Đính

Giúp cho khỏi bịnh

Để đọc sách hoài

Muốn khỏe dài dài

Xin mời gọi điện

Có Bà Tâm Nguyện

Chuyên gia đọc Kinh

Viết cách thực hành

Tu sao thành Phật

Chuyện trời, chuyện đất

Chuyện lạ, chuyện vui

Thỉnh thoảng góp bài

Là bác Công Tạo

Nhà thơ, nhà giáo

Diễn giả Hùng Dương

Tham luận dễ thương

Bàn về Ghen tuông

Chuyện dài muôn thưở

Và về Tên, Họ

Rồi... Dâu, mẹ Chồng

Làm sao sống chung

Dưới, trên hòa hợp

Đề tài văn học

Có bà Thùy Dương

Dịch áng văn chương

Kiều, ra tiếng ngoại

Anh em không ngại

Chịu khó góp bài

Đủ mọi đề tài

Văn chương, thi phú

Chuyện mới, chuyện cũ

Chuyện xưa, chuyện nay

Lục Bát, Đường Thi

Rất là phong phú

Bài vở gom đủ,

Tới phiên Mạnh Đoàn

Lo khâu dàn trang

Sao cho lịch sự

Đó là nội bộ

Đối ngoại cũng vui

Năm qua 3 người

Thành viên của mình

Được mời thuyết trình

Tại Cung Văn Hóa

Thêm 2 dịch giả

Thùy Dương, Thiếu Khanh

Dự hội Nhà Văn

Tận ngoài Hà Nội

Anh em hồ hởi

Tất cả đồng lòng

Viết trong tinh thần

Mới – Hay – Đẹp – Lạ

Tới đây… nói nhỏ

Thượng Đế giùm thương

Dù họ lên gân

Viết lách rất hăng

Nhưng… không nhuận bút

Nên cũng…hơi kẹt !

Bởi vậy… tổng kết

Thiên đình dư tiền

Nếu thấy không phiền…

Cho họ... trúng số !

Táo Nội San


Hờn Xuân

Mến tặng Nhà thơ Ngàn Phương

Biền biệt người đi khuất nắng sương

Mà hương kỷ niệm mãi vương vương

Nhìn Xuân luống những khơi niềm nhớ

Ngắm sắc càng thêm gợi luyến thương

Gió hỡi, phiêu du muôn vạn hướng

Mây ơi, trôi dạt khắp muôn phương

Cho ta nhắn gởi người yêu dấu

Nỡ tặng nhau chi khúc đoạn trường !

Tâm Nguyện

Chào Xuân 2010

Cuộc sống thanh bình dệt gấm hoa

Niềm tin khởi sắc, chẳng phôi pha

Bài thơ mừng nước giàu dân mạnh

Khúc nhạc vui mưa thuận gió hòa

Vạn vật huy hoàng xinh lộng lẫy

Phố phường tráng lệ đẹp nguy nga

Tự do Độc lập ngời chân lý

Hạnh phúc An khang khắp mọi nhà.

Ngàn Phương

TẾT CANH DẦN

Hồng thắm nắng Xuân nhuộm bóng mây

Tình xưa nghĩa cũ vẫn đong đầy

Canh Dần bước đến – lòng hoan hỉ

Kỷ Sửu ra đi – dạ ngất ngây

Vạn vật thay mùa thêm thắm thiết

Muôn loài đổi tiết – thật vui vầy

Tự do Độc lập vươn mầm sống

Dân Việt âu ca khắp đó đây.

Ngàn Phương

Chúc Xuân Canh Dần

Chúc mừng Xuân mới sang

Anh chị thêm lộc vàng

Ông bà tăng tuổi thọ

Phúc lành khắp thế gian.

Xuân Vân

Chúc Thi nhân 

Trân trọng gởi đôi lời cầu chúc

Tỉ, huynh thừa “ngũ phúc tam đa”

Nâng đàn múa bút ngân nga

Phổ vần nhân đức, ướp hoa nghĩa tình.

Xuân Vân

Sài Gòn đêm Xuân

Đêm ba mươi đi ngắm đường hoa

Hoa khoe màu, hoa đua sắc

Hoa với người, người với ta

Hoa là em và em cũng là hoa

Xuân Sài Gòn đổi mới

Xuân tràn về phơi phới hồn ta

Trời đầy hoa, đất ngàn hoa

Xuân Sài Gòn say đắm lòng ta

Ôi! Em thật duyên dáng

Môi luôn nở nụ cười

Mắt thắm đượm tình người con gái quê hương

Em mãi là người tôi mến tôi thương.

Lê Minh Chử

Cũng là chuyện… tình già

Anh đang ngồi đây

chờ Tết

Xin đừng vội nghe nhầm

anh đang chờ ….chết.

Mới vừa quá sáu mươi

tay chân mặt mũi còn ngon lành

và vẫn còn làm được người tình si

để theo em đến tận chân trời góc biển.

Nghe sáo quá phải không em

Người già như anh

sao vẫn muốn làm người trai trẻ

để tập tễnh làm thơ,

vẽ tranh rồi tìm em trao tặng

Em thì làm bộ

quày quả bỏ đi

để anh chạy theo ơi ới,

Bài thơ trong tờ giấy

dúi vội vào tay em

như “ngày xưa hoàng thị”.

Bao nhiêu người đi qua

nhìn hai đứa mình,

bỗng lấy làm kinh dị.

Họ có biết gì đâu?

chúng mình yêu nhau hơi bị trễ tràng.

và họ cũng có biết gì đâu

chúng mình yêu nhau

còn sôi nổi hơn những người son trẻ.

***

Thôi mặc họ, em à

Thiên hạ chung quanh

đã con đàn cháu đống,

đã quên mất tình yêu

và họ có khi còn trẻ hơn chúng mình.

Thôi anh không màng tới họ

mà chỉ dưng dửng lặng thinh,

anh còn muốn gì nữa đâu

ngoài tình yêu chúng mình

ở cái tuổi xa dần

bầu trời của buổi bình minh

để về gần với đất.

***

Chúng mình đã đến với nhau

vô cùng chân thật.

Năm mười năm nữa thôi

Một trong hai đứa

sẽ nói với nhau lời vĩnh biệt,

không còn được gần bên nhau

nhưng cũng đã hạnh phúc lắm rồi.

Dương Lêh

Thành Thăng Long

I

Sông Lô, núi Tản trơ trơ…

Thăng Long dưới mắt, bạc phơ mái đầu!

Dinh xưa, cung cũ còn đâu,

Mà nay đường trước, thành sau khác rồi.

Mỹ nhân bạn trẻ làng chơi,

Nay người bồng bế, nay người nên ông!

Canh khuya, thao thức, chồn lòng,

Vi vu tiếng địch ai lồng ánh trăng?...

II

Trăng xưa rày chiếu bên thành mới,

Đây vẫn kinh đô, vẫn nước non.

Đường mới, sắc mờ hằn vết cũ,

Nhạc pha tiếng rộn trúc tơ non.

Giàu sang mồi ấy gây tranh cướp,

Bạn cũ năm xưa, nửa khuất còn!

Ngắm lại mái đầu ta cũng bạc,

Chuyện đời chìm nổi sá than van…

Nguyễn Du

(Bùi Đẹp st)

BÀI CA NGƯỜI GẨY ĐÀN CẦM Ở THĂNG LONG

Long Thành có cô nàng mỹ lệ

Tên họ chi, ai kể, ai hay?

Đàn cầm riêng có hoa tay,

Người trong thành quen gọi ngay Cô Cầm.

Khúc Cung phụng, điệu âm triều trước,

Ấy nhạc trời, nàng thuộc làu làu…

Ta thuở ấy, xanh đầu, trẻ tuổi,

Đêm Giám hồ, nhớ buổi tiệc chơi:

Bấy giờ nàng ngoại đôi mươi,

Áo hồng lấp lánh, mặt tươi hoa đào,

Vẻ chếnh choáng, đẹp sao đẹp lạ,

Dáng ngây thơ càng tả càng yêu.

Năm cung, tay khéo lựa đều,

Tiếng đàn réo rắt như trêu cợt người:

Khoan như rừng thông, hơi gió thoảng,

Trong như tiếng hạc khoảng âm u,

Mạnh như sét đánh bia to,

Buồn như Trang Tích ốm hò Việt âm.

Người nghe khoái, chăm chăm quên mỏi.

Ấy nhạc xưa trong nội Trung Hòa.

Tây Sơn quan khách đầy tòa,

Say mê, nghiêng ngả, la đà thâu đêm…

Quanh tiệc rượu, kẻ khen, người thưởng,

Tiền bạc quăng, coi tưởng như bùn,

Hào hoa khí át hầu môn,

Ngũ Lăng chàng trẻ, coi còn ra chi!

Băm sáu cung mê ly xuân ấy,

Báu Trương Yên, càng thấy giá cao…

Từ bữa ấy vẳng về sau,

Hai mươi năm chẵn biết bao nhiêu tình…

Khi Tây Sơn sạch sanh thất bại,

Giã Long Thành, tôi lại về Nam:

Tấc gang Thành chẳng được thăm,

Huống chi ca vũ còn lăm mua cười!

Quan Tuyên phủ vì tôi mở tiệc,

Đám nhi ca toàn lượt trẻ măng.

Riêng ngồi cuối, tóc hoa râm,

Vóc gầy, mặt võ, âm thầm hình dung.

Lười xười, biếng tô hồng truốt lục,

Ấy người xưa tiếng nức trong thành,

Dạo khúc cũ, lệ chảy quanh…

Lắng nghe luống những tâm tình xót xa!

Hai chục năm, nay đà nhớ lại:

Tiệc Giám hồ, chuyện hãy chưa phai.

Việc người, thành quách đổi dời,

Tranh kia bao độ vẽ đời tang thương!

Tây Sơn, nghiệp đế vương đã hỏng,

Ca vũ còn một mống người đây!

Trăm năm thấm thoắt bao ngày,

Đau lòng chuyện cũ, lệ đầy áo ta…

Ta về Nam, chóng già, đầu bạc,

Thảo nào ai tàn rạc phấn son!

Mắt giương, tưởng lại nguồn cơn…

Thương thay, giáp mặt mà còn lạ nhau!

Nguyễn Du

(Bùi Đẹp st)

Một thời tuổi xuân

Chắc là thêm được vài năm

Có cho nữa cũng vui thêm cuộc đời.

Tuổi xuân thoăn thoắt qua rồi

Huơ tay xua đuồi khoảng trời bao dung

***

Mắt em chín độ sen hồng

Đòi bao nhiêu nữa cho xong nỗi buồn

Anh đi trong thoảng chim bay

Cành hoa hé lộ đôi tay bềnh bồng

***

Xin thêm một chút giọt nồng

Ấm êm quê ngoại long đong kiếp người.

Ơn em ta nhớ một đời

Dù sao chăng nữa cũng phơi nỗi lòng

***

Thêm bao năm nữa vẫn mong

Anh về xin được rêu phong lưng đồi

Gió sương ghi lại không lời

Xôn xao nỗi nhớ, tìm nơi chuyện trò

Dương Lêh (2009)

Cũng là chuyện
….. ngày xưa!

Rồi một mai em về,

sau mấy mươi năm cách biệt.

Em sẽ thấy những con người thay đổi,

những cảnh đời thay đổi

và tôi cũng không còn dáng vẻ ngày xưa.

***

Em còn nhớ không?

Buổi chiều đông khô khan gần Tết,

chúng mình thả bộ tà tà tên đường Nguyễn văn Thủ,

có hai hàng me muốn phủ kín bầu trời

nắng lỗ chỗ rớt lên trên tà áo.

Vài cơn gió nhẹ,

những chiếc lá me bay,

xoay xoay trong gió.

Ở đây không có những chiếc lá dầu,

thuở còn ở Trưng Vương

đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày trước.

mỗi bước đi nghe tiếng “ lá vỡ dưới chân”(1)

Có còn ai ở đây

nghe được âm thanh này?

Cái âm thanh dễ thương chi lạ

và rồi lại nhớ giọng nói của em

Cũng dễ thương chi lạ

không biết diễn tả ra răng!

giọng nói miền Trung người ta hay diễu rằng trọ trẹ,

sao mà tôi nghe êm ả quá chừng.

Em nói tôi

là anh con trai Nam kỳ đặc biệt

Vừa biết nấu ăn, vừa biết diễu cợt,

vừa biết nhái tiếng miền Trung,

và bạn của em

gọi tôi là Omar Sharif...

***

Em khen tôi rồi,

sao em lại ra đi?

Rồi tin em biền biệt,

không một ai ở đây được biết,

tôi tìm cả trên Internet

cũng không có tăm hơi

và chắc không bao giờ thấy ...tăm hơi....

Dương Lêh (2009)

(1) Tên một quyển truyện vừa trước năm 1975 của nhà văn NTUL

Điếu văn như luận thời cuộc

Theo lịch sử, sau khi cụ Phan Thanh Giản tự kết liễu đời mình bằng chén thuốc độc vào ngày 2/8/1867 vì những ức chế chính trị giữa thế lực ngoại bang và nội quyền. Cụ Phạm Phú Thứ làm bài điếu văn gồm 99 câu, mà bản dịch nghĩa trong “Chân dung Phan Thanh Giản” của Nguyễn Duy Oanh, do Tủ sách Sử học, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xuất bản năm 1974, đại ý như sau:

Tháng 11 năm 1867, Phạm Phú Thứ có điếu văn sau đây:

1. Người Lang Sa hùng mạnh ở Tây Phương

2. Cách xa ta đến vạn lý trùng dương

3. Trong một năm nào, họ cậy việc giao thiệp cũ mà tăng cường quân lực

4. Đến xin hoãn việc cấm đạo và mở lại giao thương

5. Ba lần đưa thơ mà không được toại ý

6. Bằng cách quỷ quyệt, họ kêu đồng bọn đến chiếm vùng Trà Sơn(1)

7. Tại huyện Hòa Vang(2) họ nhiều lần thất bại về quân sự

8. Đó là họ tranh cái lợi chớ không cần phải lâu dài

9. Ba năm sau, một ngày nọ, họ bỏ những đồn đã chiếm mà đi

10. Thuyền của bọn giặc này lại xông vào Bến Nghé

11. Dựa vào đại đồn(3) sự kháng cự kéo dài được ba năm

12. Hòa thì không thành, còn chống thì chúng ta không ngăn được

13. Thế là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường

14. Bèn bị bọn heo lớn rắn dài thôn tính, chiếm cứ

15. Co tay tính lại thì sự thù hằn đã được năm năm rồi

16. Thời gian ấy, người bị giết, công quỹ bị hao, nước nhà kiệt quệ

17. Nhà vua lo lắng khổ sở, còn tướng thần thì hổ thẹn

18. Làm sao mà thấy được những người nham hiểm có thể khuấy động những nội loạn

19. Bọn giặc Bắc(4) thừa hư xuẫn nhiên quấy động

20. Ở Hải Yên, Tây Bắc, các nơi nổi lên như ong vỡ

21. Lúc bấy giờ sao chổi mọc(5) và luôn cả nạn hạn thủy

22. Từ năm Ngọ (1858) đến năm Tuất (1862) không năm nào ngừng

23. Con đường giao thông thì hoàn toàn bị cản trở

24. Ảnh hưởng ngoại bang tăng tiến thật sự như một lò than hồng

25. Làm đường mòn trên núi, đổi lộ trình trên sông càng không có hiệu quả cho sự vận chuyển và tiếp tế

26. Tiền lương thiếu, dân đói, loạn lạc chưa dứt

27. Triều đình muốn trừ bạo loạn(6) lại thiếu binh giỏi

28. Nếu cơ binh thuận lợi thì tùy ý đánh bại kẻ nào là nguyên nhân sự đau khổ của chúng ta

29. Thình lình những đề nghị của kẻ hung tợn

30. Chúng ta phải chấp nhận ngoài ý muốn

31. Ngài cùng với Lâm công (Lâm Duy Hiệp) phụng chỉ sung toàn quyền

32. So thời, đọ sức thật đáng lo việc trời

33. Làm sao cứu vãn ba tỉnh đã mất

34. Cùng với bốn trăm vạn ngân nguyên (4 triệu đồng bạc)

35. Ví như chim ưng khi no thì bay đi mất

36. Sự ẩn tránh của con rắn, con rồng để bảo tồn hiện hữu

37. Cường binh mãnh tướng của chúng ta kéo ra Bắc

38. Lúc ấy những vận chuyển công tư thoát khỏi hỏa thiêu

39. Các tướng sĩ Bắc chinh bèn cố gắng hết sức

40. Mộ binh mạnh lo việc dẹp giặc, tìm thêm quân cụ

41. Sự trấn áp ở trên bộ và sự phong tỏa đường biển dài đã năm năm

42. Cuối cùng bọn giặc cướp, núp trong sào huyệt chiến đấu dài theo bờ hầm, bờ lũy, bị tiêu diệt gần hết)

43. Trái lại ở miền Nam, không thể làm hạ cơn sóng dậy của cá Kình(7)

44. Hai kỳ (Nam và Bắc) thọ địch không ngày nào yên

45. Công việc điều đình có hợp lý không?

46. Mà lo nghĩ đến cảnh ngộ này, người ta chỉ thở dài thương tiếc

47. Bọn sài lang khó mà thỏa mãn được, e rằng việc giao hòa với họ khó thành

48. Phía Nam Tiều Hải(8) chúng ta là người lận đận với họ

49. Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên thật đang ở trong tình trạng bấp bênh

50. Trách nhiệm thâu lại phần đất đã mất, trao lại cho ai ngoài ngài ra?

51. Nhân dịp phụng sự Tây phù ngài đã tỏ ý chí cương quyết

52. Ngày nay ngài được phong làm chánh sứ có toàn quyền

53. Ngài kiên trì tuân lệnh triều đình nên không tỏ vẻ khuất phục

54. Chỉ mong thu hồi đất cũ với tiền chuộc

55. Về vấn đề vàng lụa bồi thường chiến tranh theo việc xưa

56. Ngài đạt được thắng lợi cho chúng ta là không trả dứt

57. Đó là một cơ hội hiếm có nhưng lại bị bỏ qua thật rất tiếc

58. Các quan tranh luận dai dẳng lo công quỹ cạn tiền

59. Nếu rợ Khiết Đôn(9) ở biên thùy đã chiếm cứ U, Kẽ (Bắc Kinh)

60. Vì chúng biết rằng thế của Tống không mạnh lên được

61. Muốn được công lao, vài quan lại bác bỏ bản hòa ước mới

62. Chúng tôi cũng lặng im không gặn hỏi thêm

63. Nam thùy từ đây việc càng nhiều

64. Quân giặc biết được âm mưu nên chờ đợi một nguyên nhân để tham gia vào cuộc hỗn chiến

65. Ngài quyết lòng gởi sớ thỉnh nguyện lên vua để xin đi lần nữa

66. Chúa biết ai phải quấy, nhà vua ra lịnh ngài giải quyết khó khăn giữa các nước tham chiến

67. Trước kia ở triều đình có nhiều sự bàn cãi và người ta không biết ai có lý

68. Trong sự tiến thoái khó khăn, ngài có thể làm gì được?

69. Kẻ nghịch có thói quen biểu lộ hiền lành ở lời nói và cứng rắn ở việc làm

70. Nước Sở phải chịu tổn phí để chiếm các hầu quốc, của Huỳnh, Lục

71. Năm xưa khi hòa ước đã lập

72. Ngài đã chấp nhận vai trò phạm nhân để dẫn đến việc hưu trong tình thế khó khăn

73. Ngày nay đến Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

74. Mưa gió tơi bời tình thế nguy hiểm

75. Nếu đồng ruộng bao la của chúng ta, chẳng sửa soạn trong việc chiến đấu đã bị đánh chiếm thình lình

76. Trách nhiệm đổ dồn vào chúng ta, chúng ta than thở ích gì?

77. Chết trên lãnh thổ là phận sự người tôi giữ biên cương

78. Thù nghĩa để thánh nhân, ngài giữ tròn nghĩa vụ ấy

79. Một bức di biểu (của ngài gởi cho vua) biểu lộ được tình cảm nội tâm

80. Lòng yêu nước sâu kín của ngài đối với nước nhà đáng khóc lên được

81. Thương thay mây sấm đang thời khó khăn

82. Ngài lấy lòng trung cang ra chịu đựng khó khăn đó

83. Vấn đề nhường đất đai sau cùng phải được nhà vua xét đoán

84. Mọi người xem ngài như lầm lẫn

85. Đức nghiệp của ngài lan rộng từ trong triều ra ngoài ngõ

86. Đức nghiệp ấy biểu lộ ở văn chương ngài hay tuyệt cổ

87. Một thân mang nặng ba triều, làm quan hơn bốn mươi năm, già đã 70 tuổi

88. Ngài chứng tỏ lòng cung kính, sự thận trọng và sự chuyên cần tuyệt đối ngày như đêm

89. Huống chi đã rất từng trải kinh nghiệm

90. Ngài gây được sự tin cậy và lòng tôn kính khắp miền Di hạ

91. Ngài thật là một người học rộng và có phẩm cách trong đời

92. Ngài không phải là những hạng người làm hại đến nước nhà, dù hoàn cảnh nghịch thường nào

93. Ngài chịu đựng nỗi cảnh đời ngang trái với sự tự đắc cao thượng

94. Trong khi bọn lùn đứng thấp không trông thấy việc gì xảy ra

95. Họ la hét chạy nhảy như trong mộng, tâm trí giàu sự hồ nghi và sự phóng đại

96. Cho nên ngày giờ này tình thế chuyển biến chuyển ngày này sang ngày khác

97. Có bao nhiêu người hiểu biết tình thế thật sự của nước nhà?

98. Khi nghĩ lùi về nguyên nhân của trận giặc này, tôi rất buồn nhớ đến ý chí của ngài (không được thực hiện)

99. Gởi lòng thương xót của tôi vào gió Thu để tặng ngài tôi làm bài điếu văn này.

Phạm Phú Thứ bài thơ

Tự Đức 20, tháng 8, nhằm tháng 9dl.1867

Nhà Nho với y thuật và lý số

Ngày xưa, trong mỗi con người của Nho học đều có một con người của y thuật và lý số. Về y thuật, con cháu cụ Phạm không nghe nói đến nhưng con số 99, đây quả là một con số của lý số. Trong bài điếu cụ Phạm không dừng lại ít hơn, mà cũng không đi xa nhiều hơn con số này. Nó nói lên ý nghĩa gì?

Đồng sàn dị mộng

Bài điếu cho thấy cụ Phạm rất kính trọng cụ Phan, không những đối với tuổi tác (cụ Phan hơn cụ Phạm 24 tuổi) mà còn ở đức tính thanh liêm mẫn cán của vị đồng liêu lão thành này. Hai điều trên đã khiến cụ Phạm không e dè làm bài điếu văn ca tụng trong lúc biết rằng nhà vua (Tự Đức) đang rất tức giận khi đại thần họ Phan thọ lãnh trách nhiệm mà làm không xong, khiến cho vua cảm thấy có tội với liệt thánh vì đã để mất đi một phần giang sơn do các tiên đế đã tốn hao nhiều xương máu, vào sinh ra tử mới gầy dựng được.

Nhưng cũng cần phải thấy rằng hai vị chánh, phó sứ này tuy đồng nhiệm nhưng không đồng ý tưởng nên:

Cụ Phan mới có câu:

Bá han xão nghệ tề thiên địa

Duy hữu tử sanh tạo hóa quyền

(tỏ vẻ choán ngộp)

Còn cụ Phạm thì lại:

Tào giao Đông thổ kiêm trường kỷ

Ba lý, Long Đôn vị túc hiền

(có ý là người ta làm được mình làm được)

Chú thích:

(1) Trà Sơn: ngày nay là quận Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng

(2) Hòa Vang: huyện của tỉnh Quảng Nam

(3) Đại đồn: đồn Kỳ Hòa

(4) Giặc Bắc: giặc do Lê Phụng cầm đầu bị bắt năm 1865

(5) Sao chổi: sao chổi mọc đêm 20-9-1858, người xưa tin rằng năm nào có sao chổi mọc lên là có loạn lạc

(6) Bạo loạn: ý muốn ám chỉ người Pháp

(7) Cá Kình: Kình ngư ví với binh lực Pháp

(8) Tiểu Hải: cửa tiểu của sông Cửu Long chảy ra Nam Hải

(9) Khiết đôn: rợ Khiết Đôn là tiền thân của nước Liêu bên Trung Hoa hay qua quấy nhiễu miền Bắc nước Tống, nhưng quân Liêu quá mạnh nên Tống thua. Sau vua Tống thân chinh, thế mạnh nên Liêu xin hòa, và hai bên thỏa thuận nước Tống phải nạp cho Liêu mỗi năm 10 vạn lạng bạc, 20 tấm lụa, vua Liêu và vua Tống kết làm anh em.

Bài ca vãn của cụ Phạm Phú Thứ

gởi điếu cụ Phan Thanh Giản,

nguyên Kinh lược đại thần ở Nam Kỳ

Phiên âm: Ký văn nguyên nam kỳ kinh lược đại thần

Phan Lương Khê Công 

Phật lang kiệt ngạo hùng Tây Phương

Dữ ngã viễn cách cửu vạn lý chi trùng dương

Hà niên tế sự thị hữu cựu

Lai thình thỉ cấm kiêm thông thương

Tái tam đấu thư bất đắc chí

Giảo yên khiếu đảng trạm cứ Trà Sơn bàng

Hòa vang quân thứ lũ tiến tỏa

Bỉ tắc tranh lội phi tranh trường

Tam niên nhất đán khí chi khứ

Tặc thuyền phục sấm ngưu giang chữ

Đai đồn chung thủy diệc tam niên

Hòa tắc bất thành chiến mạc ngư

Ứ thị Gia Định dữ Biên, Tường

Toại vi phong thĩ trường xà tính thôn cứ

Khuất chỉ quân hưng ngũ nẫm trung

Sát nhân my nô quốc kỷ không

Cữu trùng ưu lao tướng thần sỉ

Khôi ngu tiểu xú sinh nội hồng

Bắc phĩ thừa hư xuẫn nhiên động

Hài, Yên, Tây, Bắc xứ xứ như đồn phong

Thị thời tinh bột kiêm hạn thủy

Tự ngọ chí tuất võ tuế chỉ

Vận đạo tinh vi ngạnh

Dương phân chánh như hủy

Thông sơn cài tào cánh bất hiệu

Hưởng quy dân cô loạn vị nhĩ

Triều đình phục bạo phi giai binh

Cơ cấu khả thừa lợi khuynh bỉ

Hốt yên nghị hòa tự nhung thí

Ngã tắc ứng chi khối hoạch kỷ

Công dữ Lâm công phụng chỉ sung toàn quyền

Lượng thời độ lực thật ưu thiên

Hà cận ký thất chi tam tỉnh

Dữ tứ bách vạn chi ngân nguyên

Ưng chiên nhứt bảo nghi dương khứ

Xà long chi trập phương đỗ tồn

Cường binh mãnh tướng chuyền nhi bắc

Công tư thương tải tùng thữ ly thiên phần

Bắc chinh tướng sĩ toại chạc lực

Mộ dũng viện tiểu ích quân bảo

Câu nguyện tiệt hải hựu ngũ niên

Phục mãng lộng trì nãi thô tức

Bắt giáo nam tảo kinh kình ba

Lưỡng kỳ thọ địch vô ninh nhật

Thị địch chi nghi nhiên bất nhiên

Niệm thử linh nhân trường thái tức

Sài lang nan yểm khủng nan thân

Tiểu hải chi nam phương dữ lân

Vĩnh Long, Giang, Hà thật phù ký

Đồ hồi thử trách nhượng thùy nhân

Tạc phụng Tây phù chí ích tráng

Toàn quyền kim tác chính sứ quân

Kiên trì bái tự bất khuất tất

Ninh thâu cố cương đa thục ngân

Kim tăng tuế tệ tùng cổ sự

Bất tri bất nạp ngà kỷ thận

Thiên tải cơ lai khước di hận

Phân phân trạnh ngôn khủng tiền tận

Khiết đôn biên tù cứ U, Kẽ

Tình trị Tống nhân thế bất chấn

Yếu công lực bác tân ước thư

Ngã diệc điềm hy bất phục vấn

Nam thùy tùng thử sự cánh đa

Lậu sư tý hấn nhật phân noa

Nghị thiên nhất số thỉnh tái vãn

Chư quốc khúc trực linh bình tha

Hướng giả phân phân cánh thùy khả

Tiến thoái duy cốc công nại là

Nhuyển từ nganh thủ nhung tập quán

Sổ ư Huỳnh, Lục phi thâm ma

Tích niên hòa ước lập

Cam tác tội nhân thư hoãn cấp

Kim dã Long, Giang, Hà

Phong vũ phiêu phiêu thế ngập ngập

Điền quãng bất ngu vi sở tập

Trách đương quy kỷ hà ta cập

Phong cương chi tử phong cương thần

Thủ nghĩa thành nhân lượng sổ chấp

Nhất phong di biển phỉ chung khúc

Ưu quốc thâm tâm kham thế khấp

Tích tai vân lôi đinh thời gian

Công dĩ trung lượng đương kỳ nan

Cương sự chung tu quy động chức

Chúng nhân khước tác ngộ quốc khán

Bình sinh đức nghiệp văn triều dã

Phát duy văn chương tuyệt cổ nhã

Tam triều tứ kỷ thất cỗn thân

Kỳ thận nhất tâm vô túc dạ

Huống hồ lịch duyệt chì sở kinh

Tín kỉnh khả hành biến Di Hạ

Thế gian chán cá độc thủ lập phẩm nhân

Lâm sự ưng phi ngộ quốc giả

Hao hao đắc tang trường

Nuy nhân khán bất phá

Hấp phi nghệ tẩu sinh nghi sá

Tức kim phong hội nhật thôi đi

Vũ nội đại thế nhân kỷ tri

Bản nguyên quân sự thương công chí

Ký khái thu phong vi chuyết từ

Tự Đức nhị thập niên bát nguyệt nhật

Phạm Phú Thứ bái thư

MỘT CÁI NHÌN VỀ THIỀN TRONG ĐẠO PHẬT (Thuyết trình tại CUNG VĂN HÓA LAO ĐỘNG ngày 1/11/2009) 

I .- Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH

Không riêng người tu Phật mới nghe nói đến THIỀN, mà Thiền hiện nay hầu như phổ biến rộng rải khắp nơi. Để tĩnh tâm, để trị bịnh, luyện khí công, mở luân xa, xuất hồn… mọi người đều mượn phương tiện này. Những người hướng dẫn về Thiền ngày càng sáng tạo nhiều kiểu Thiền: Thiền Ngồi, Thiền nằm, Thiền chạy.vv…

THIỀN thật ra không phải do Đức Thích Ca sáng lập, mà trước đó do một người tên là PHẤT ĐANG LA. Lúc đó gọi là Tĩnh Lự hay Tư Duy Tu. Nhưng kể từ khi Đức Thích Ca trải tòa cỏ Ngồi dưới cội cây Bồ Đề trong 49 ngày rồi đắc đạo, thì Thiền Định là một trong LỤC ĐỘ mà Ngài áp dụng để hướng dẫn cho những người tu thực hành nếu muốn thành công trên con đường tu tập.

THIỀN ĐỊNH là một phương tiện của Đạo Phật, vì thế, trước khi sử dụng phương tiện người sử dụng cần biết:

l/- Cách sử dụng.

2/- Mục đích, vì dù là cùng một tư thế Ngồi xếp bằng Bán Già hay Kiết Già, giống nhau. Nhưng do điều khiển hơi thở hoặc tư tưởng mà cho ra nhiều kết quả khác nhau.

Thiền Định một trong 6 Phương tiện Đức Thích Ca dùng để hướng dẫn cho người tu Phật gọi là LỤC ĐỘ gồm có: BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH, TRÍ TUỆ.

Lý do Đức Thích Ca đưa ra Lục Độ là vì Ngài quan sát thấy chúng sinh trong vũ trụ, cũng như chúng sinh trong Tâm của mỗi chúng ta đều xu hướng không ngoài Sáu Đường: ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH, NHÂN, THIÊN, ATULA, nên Ngài đặt ra Lục Độ là để Độ thoát cho 6 đường này. Thế nhưng, người muốn thực hiện cho thành công thì phải hiểu rõ phương tiện. Tức là phải biết phương tiện đó dùng để làm gì? Sử dụng như thế nào? Để đạt được cái gì? Để biết được những điều đó thì cần có sự tập trung để Tư Duy gọi là THIỀN ĐỊNH. Do đó, Mục đích của THIỀN ĐỊNH là để tập trung tư tưởng rồi dùng đó mà Quán Sát, Tư Duy các pháp để sinh ra sự hiểu biết trên con đường tu hành gọi là Trí Huệ. Đó cũng là ý nghĩa của câu Phật Ngôn: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

II.- MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT

Mục đích của Đạo Phật là để “ĐỘ KHỔ”. Hết Khổ gọi là ĐƯỢC GIẢI THOÁT hay là THÀNH PHẬT. Nhưng muốn Giải Thoát thì phải biết điều gì đã ràng buộc? Thào gở cách nào? Đó là những gì mà người hành THIỀN ĐỊNH phải dùng thời gian NGỒI để Tư Duy tìm cho ra. Đức Thích Ca nhờ NGỒI THIỀN nên đã tìm ra “Con đường giải Thoát khỏi Sinh tử Luân Hồi” gọi là “Đắc Đạo”. Người sau chúng ta thì không phải khám phá thêm điều gì mới, chỉ là lần dò theo dấu chân của Phật và Chư Tổ để xác định lại cho mình mà thôi.

Tu Phật gọi là TU TÂM, tức là SỬA CÁI TÂM MÊ LẦM, để nó sáng suốt mà ngưng tạo Nghiệp. Theo Đức Thich Ca, sở dĩ chúng sinh phải luân hồi là vì những NGHIỆP đã gây tạo, mà những Nghiệp gây tạo không ngoài sự điều động của THAM, SÂN SI, THƯƠNG, GHÉT trong Tâm, nên con đường tu Phật được tóm gọn bằng 4 câu Kệ trong Kinh Viên Giác:

NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT

CÙNG VỚI THAM SÂN SI

CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC

CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT (Tr. 83)

Nhưng muốn đoạn Thương, Ghét, Tham Sân Si cũng không phải là điều dễ dàng, một sớm mội chiều mà có thể làm được. Vì thế Đạo Phật đưa ra GIỚI như một vòng đai để bảo vệ người trong đó dù chưa tu hành xong thì cũng không phải rơi vào đường ác.

Có 3 điều quyết định mà Kinh Lăng Nghiêm dạy là người muốn tu Phật phải thực hành: Đó là GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. Thì ĐỊNH tức là THIỀN ĐỊNH. Cứ kiên trì hành như thế cho đến lúc độ thoát tất cả Chúng Sinh thì sẽ được hoàn toàn Giải Thoát.

III. - CHÚNG SINH LÀ GÌ? ĐỘ NHƯ THẾ NÀO?

Chúng ta nên hiểu lại cho đúng về nghĩa của PHẬT. PHẬT chỉ có nghĩa là “người đã được Giải Thoát”, và Thành Phật là “Thành tựu Con Đường Giải Thoát”, không phải là thành một Ông Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp có khả năng “độ” cho mọi người. Đức Thích Ca cũng không độ được cho ta, chỉ độ cho ta bằng giáo pháp mà thôi. Nếu độ được người khác thì gọi là Độ Tha, thì ý nghĩa Tự Độ của Đạo Phật không còn nữa. Cho nên những người cầu xin được độ là người đã hiểu lầm lời Phật.

Chúng ta cũng không phải là Chúng Sinh của Đức Thích Ca, vì Ngài đã “Độ Tận” Chúng Sinh, đã Thành Phật lâu rồi mà chúng ta vẫn còn ngụp lặn trong bể Khổ ở đây, chứng tỏ chúng ta không phải là Chúng Sinh của Ngài.

Chúng Sinh được Lục Tổ Huệ Năng giải thích trong Pháp Bảo Đàn Kinh như sau: “Chư Thiện tri Thức. Chúng sinh trong tâm mình là lòng mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi là chúng sinh. Mỗi người phải dùng Tánh mình mà độ lấy mình mới gọi là thiệt độ” (tr. 81)

ĐỘ được 1 Chúng Sinh cho nó được GIẢI THOÁT, hết KHỔ gọi là ‘”ĐƯA MỘT CHÚNG SINH QUA BỜ GIẢI THOÁT, hay cũng gọi là CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ PHẬT. Trong cả một kiếp sống, chúng ta phải diệt độ vô lượng vô số chúng sinh để được Giải Thoát nên gọi là CÚNG DƯƠNG VÔ SỐ ỨC ĐỨC PHẬT để sau cùng chính người cúng dường sẽ được THÀNH PHẬT.

IV.- VÀI PHƯƠNG PHÁP TU THIỀN.

Đạo Phật gọi con đường tu hành là phải “lâu ngày cần khổ”. Người muốn tu trước phải Có GIỚI, phải Quán sát, Tư Duy để nắm vững phần LÝ, sau đó đưa Lý vào áp dụng gọi là “Lý Sự viên dung” thì mới thành công trong đạo. Nhưng càng về sau thì nhiều người tu lại muốn tu tắt, tới mau. Biết rằng Đức Thích Ca đã thành đạo nhờ 49 ngày đêm Thiền Định nên họ bỏ hết mấy Độ kia, chỉ chuyên chú hành THIỀN ĐỊNH và lập ra những pháp môn chuyên tu THIỀN, lấy Khai Công Án làm mấu chốt để tập trung vào đó mà thôi. Người chỉ chuyên tu Thiền không biết có chứng đắc hay không, nhưng những môn phái Thiền thì rầm rộ quảng cáo, người đời chẳng biết thực, hư, nên nhiều người rất ngưỡng mộ, và cũng mong đắc đạo nhờ Thiền, vì thế, các Thiền Đường ngày càng nở rộ.

Nói đến THIỀN là phải nói đến những phương pháp đào tạo. Pháp môn Thiền thì chắc chắn phải có nhiều tài liệu, Kinh sách. Nơi đây tôi chỉ xin đề cập đến 2 quyển: CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA của Thiền Sư Nguyệt Khê do Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch, được THÀNH HỘI PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH xuất bản năm 1994 được ghi là “PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA THIỀN TÔNG”, và quyển VÔ MÔN QUAN được VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM ấn hành năm 1996 được dịch giả ghi là: “đóng góp vào công cuộc chấn hưng Thiền Học Việt Nam” vì những sai lầm được viết trong đó, rất nguy hiểm cho những ai bắt chước theo. Đầu tiên xin nói về Thiền Đả Thất.

a)- Về THIỀN ĐẢ THẤT

Có một hiện tượng về Thiền được xem là nổi bật trong thập niên 50, gọi là THIỀN ĐẢ THẤT được Thiền Sư Nguyệt Khê ghi lại trong THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC. Xin trích một vài trang nói về phương pháp “Thiền Đả Thất” do Tông Cảo Thiền Sư hướng dẫn ở Đài Loan tại Chùa Cao Mân được Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch.

Bài Khai Thị đầu tiên, ta thấy ghi Phật lịch năm 1942 tại Chùa Cao Mân, Sông Tam Xoa, Đất Dương Châu, Tỉnh Giang Tô. Sư cầm hương bảng và và thuyết giảng trong đó có những câu mang tính chất rất ư là kiêu mạn và bạo lực mà nếu ai không tận mắt đọc hẳn khó lòng tin rằng giữa thời buổi được cho là đã văn minh tiến bộ mà còn có lối dạy tu đánh chết người như thế. Trong đó có đoạn để giải thích về “Đả thất” như sau:

“Đả thất là làm việc gì sao làm bao nhiêu người bận rộn như vậy? Cái đó còn chẳng kể làm gì. Ngay cả thập phương chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp, Long Thiên so với ta lại còn bận rộn hơn nữa. Bận rộn việc gì vậy? Các ông có người nào biết được không? Đả thất là làm việc gì? Có lẽ có người còn chẳng hiểu được. Trong lòng các ông nói rằng: Những cực khổ lúc bình thường đã là quá lắm rồi, nay lại còn phải đả thất. Thầy nói thì nghe hay đấy, vì chúng tôi đả thất, lại nói thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Lịch Đại Tổ Sư, Hộ pháp Long Thiên đều vì chúng tôi mà bận rộn. Bận rộn là bận rộn việc gì? Chẳng qua là đem đến thêm chút khổ nữa cho chúng tôi phải chịu đựng chứ có việc gì khác nữa đâu!… Đúng, thật đáng thương xót. Thương xót không thể nói được. Các ông tuy ngu mê như thế nhưng ta vẫn chiếu theo quy củ của nhà chùa đề làm việc. Các ông phải hiểu được là: Quy củ nhà chùa rất nghiêm khắc, khác với ngày thường. Ấy là ngay này các ông xin phép sanh tử ở các vị Tổ quá khứ và cũng xin phép sanh tử với ta. Ta hứa cho phép sanh tử, vậy sanh tử các ông nằm trong tay ta, ta muốn cho các ông sống thì sống, muốn cho chết thì chết. Đúng ngay chỗ này chết. Lúc bình thường thân các ông giao cho nhà chùa, còn tính mệnh phó cho Long Thiên. Trong thời kỳ đả thất thì không như vậy. Sắc thân, tính mệnh đều giao trọn trong tay ta. Quy củ nghiêm khắc là như thế nào? Ta đại khái đem ra nói lại cho các ông nghe. Từ nay về sau, trong thời kỳ đả thất, tăng chúng và các vị hành đơn đểu không chắp tay chào các vị Duy Na, không hỏi thăm Ban Thủ cũng không chắp tay hỏi thăm ta. Trong thời kỳ đả thất Phật cũng không lạy, hương cũng chẳng đốt thì các ông chắp tay hỏi thăm để làm gì. Ta vì các ông mà nói trước thế này. Việc lớn hơn hết là bệnh nặng. Việc lớn nhất đã không có rồi, nói gọn lại là bệnh. Một khi có bệnh là chẳng phải chắp tay xin phép Duy Na cho nghỉ sao? Vị Duy Na không dám cho nghỉ có phải chắp tay xin phép Ban Thủ không? Không được, Vị Ban Thủ lại dám cho các ông nghỉ bệnh ư? Chẳng những là phép nghỉ bệnh, nghỉ chạy hương, nghỉ kinh hành cho đến hết thảy các việc nghỉ phép. Ban Thủ, Duy Na đại khái không dám to gan thế đâu. Vì sao vậy? Các ông xin phép sanh tử không phải xin Ban Thủ, Duy Na, mà phải xin ta, các vị kia dám thay ta cho phép ư? Vậy khi nào có bệnh thì làm cách nào? Chẳng có cách nào hết. Sống cũng đả thất, chết cũng đả thất, đau cũng đả thất, chung quy là đả thất... Các ông bệnh cũng được, sống cũng được, chết cũng được, đợi sau khi giải thất thì mới đưa đi chôn, dù năm người hay ba người cũng quẳng xuống đáy quảng đơn. Đây là cách giải quyết kẻ có bệnh. Lại nữa, trong thời kỳ đả thất, đi hương, ngồi hương, quả đường, cho đến đại tiểu tiện mà quay đầu một cái, hoặc cười đùa, như thế, ta bảo cho các ông biết: Các ông phải mất mạng đó. Thế là sao? Một khi các ông đã đến Thiền Đường thì hương bảng của các vị Ban Thủ, Duy Na đều quay về các ông mà đập xuống. Một, hai chục hương bảng chẳng kể đầu, mặt, tai.. cứ đánh hết, đánh rồi mà không chết thì vẫn phải đả thất. Nếu như đánh các ông bị thương thì làm cách nào? Thì cũng phải liệng các ông xuống đáy quảng đơn. Sau khi giải thất rồi thì đem chôn một lượt.

…. Đoạn khác:

Thời kỳ đả thất thì không như thế. Vậy thì Chùa Cao Mân đánh chết người chẳng coi việc đó ra gì sao? Những năm qua trong thời kỳ đả thất cũng có mấy người bị đánh chết. đây là việc bình thường chẳng có gì là lạ… Ta nói gọn lại một câu: Có bệnh gần chết không được xin nghỉ bệnh, chết rồi liền đem quăng xuống đáy quảng đơn. Phạm quy củ đánh chết rồi cũng quăng xuống đáy quảng đơn… Các ông dù có ỉa ngay ra quần hay ỉa trên nệm ngồi cũng không quái lạ gì các ông cả, ỉa ra trên nệm thì có thể được chứ mở cửa thì không thể được..”(175-177).

Khai thị và hướng dẫn Thiền bằng bạo lực như thế, Tánh mạng của người chấp nhận Nhập Thiền coi nhẹ như không. Cứ hương bảng mà giáng xuống bất kể, chết thì bỏ. Nhưng đọc đến Thất thứ 8 ngày thứ Sáu lại thấy sư nói: “Ta thật tiếc cho các ông trong thời kỳ đả thất chẳng có người nào công phu được chút tiến bộ sâu xa nào, chẳng từng có

Phụ Bản III

được người nào công phu khai được tiểu ngộ, đó là điều ta thật tiếc vô cùng ! ” (tr.389)

Không biết luật pháp của Đài Loan nghĩ sao mà để cho thiền sư như thế lộng hành. Chùa như vậy lại được tồn tại! Điều đáng lo ngại và đáng buồn là “THIỀN TÔNG” của nước ta lại lấy “Thiền Đả Thất” như trên làm “Phương Pháp tu trì của Thiền Tông”. Nếu thật sự họ cũng bắt chước nguyên bản như Thiền Sư Tông Cảo đã làm thì chắc cũng nên xét lại về cái hiểu Thiền của những người đánh giá và phổ biến phương pháp đó, bởi hoàn toàn không giống một chút nào so với Thiền được hướng dẫn trong chính Kinh!

Trong Đạo Phật, Giới nặng nhất là Giới SÁT, ngay cả đối với con sâu, cái kiến còn không được giết, để thể hiện Tâm Bình Đẳng, Tâm Từ Bi của người tu Phật. Chính Thiền Sư Tông Cảo cũng đã rất mâu thuẫn, vì cũng biết rằng Thân người rất quí. Ngay trong bài khai thị ngày đầu tiên ông ta đã phát biểu: “Hôm nay đến được nơi này quả không phải là dễ đâu, ấy là do sự bồi đắp từ kiếp trước. Cái thân người này không dễ gì có được, phải trải qua bao đại kiếp ở trong các loài khác đến nay mới có được cái thân người này. Ta lại để thân này trôi qua há chẳng phải là để phí phạm đi mất sự vun trồng của đời trước sao? (tr. 179). Vậy mà còn dám đánh chết người với lý do “Đả Thất”!

Người đời phạm tội tày trời, luật pháp còn phải lập tòa án, cho người bào chữa, xem đi, xét lại rồi mới xử tử hình, nếu thấy là đáng tội chết. Luật pháp và xã hội chỉ dùng án tử hình để loại trừ những kẻ nào đó thấy rằng nếu để họ tiếp tục sống sẽ gây nguy hại cho xã hội. Những người vào nhập thất chỉ có cái tâm muốn chứng đắc thôi, mà Thiền Sư Tông Cảo coi còn hơn tội phạm. Chỉ cần cười hay quay đầu một cái là phải mất mạng! Do đó, theo tôi, nên gọi ông này là “Thiền Tặc” mới đúng vì phá Giới, thiếu Hạnh và thật sự không hiểu biết gì về phương pháp Thiền Định của Đạo Phật.

b)- SỰ HIỂU LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỐN NGỘ

Tất cả những cách đánh, quát của những người thầy dạy tu Thiền xuất phát từ việc hiểu lầm, cho là Thần Hội nhờ bị đánh 3 gậy mà sau đó “hoát ngộ” nên có thể đứng ra chấn hưng đạo pháp của Lục Tổ!. Có lẽ những người nghĩ như thế không đọc hết quyển Pháp Bảo Đàn Kinh để thấy là trước khi đến với Lục Tổ thì Thần Hội đã là Sa Di bên Chùa Ngọc Tuyền, ít nhiều cũng đã được nghe giảng pháp, biết rằng Ngồi Thiền thì Thấy Tánh, nên mới hỏi Lục Tổ: Hòa Thượng Ngồi Thiền Thấy hay chẳng thấy? Sau khi bị đánh 3 gậy thì Thần Hội còn tiếp tục học với Lục Tổ 16 năm dài, cho đến khi Lục Tổ viên tịch mới đứng ra chấn hưng Phật Pháp. Đâu phải bị đánh 3 gậy đã lập tức Thấy Tánh ngay! Ngài Ca Diếp mỉm cười khi Đức Phật đưa cành Sen lên rồi được truyền Y Bát đâu phải gặp Phật tuần trước hay tháng trước, tháng sau đã cười để được truyền Y Bát? Cũng đâu phải Phật truyền Y Bát chỉ vì Ngài cười để Ngài Vô Môn bàn là: “Nếu cả đám đều cười thì Chánh Pháp Nhãn Tạng làm sao truyền được?” Những người tu Thiền quá nôn nóng chứng đắc đến độ không đọc kinh để hiểu thế nào là Phương Tiện của Đạo Phật và để thấy Phật dạy:

“Phật Tánh tuy sẵn có

Phải tu mới hiển hiện

Cũng như vàng sẵn có

Phải lọc quặng mới thành!”

Tức là dù Phật Tánh nơi mỗi người đều sẵn có, nhưng phải qua quá trình tu tập, trừ bỏ Tham, Sân Si... thì mới hiển lộ. Đâu phải cứ vác gậy đập thì sẽ Thấy nó? Cũng giống như vàng, dù nằm sẵn trong quặng, nhưng muốn lấy được vàng thì phải lọc quặng mới lấy được. Phải đâu đập cục quặng cho tan nát mà lấy được vàng ngay? Chuyện sơ đẳng như vậy mà nhà Thiền cũng không nhận ra!

Trong khi Tổ Đạt Ma dạy trong SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT, Phẩm Huyết Mạch Luận trang 130 như sau: “Trời tây 28 Tổ Sư Thiền đều lần lượt Truyền Tâm Ấn cho nhau. Ta nay đến xứ này cũng chỉ truyền một Tâm ấy, không luận về Giới thí, Tinh Tiến, Khổ Hạnh, cả đến việc vào nước lửa, lên vòng gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm (Thiền). Thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo”.

Rõ ràng Ngài nói rằng 28 Tổ Sư đều lần lượt TRUYỀN TÂM ẤN cho nhau, và Ngài sang Trung Quốc cũng chỉ để TRUYỀN cái TÂM đó, không cần đến những pháp khác- KỂ CẢ THIỀN ĐỊNH - vì tất cả đó chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo. Nhưng phía Thiền Tông chỉ nhìn 9 năm diện bích của Ngài, rồi phong cho Ngài là TỔ SƯ THIỀN, cho rằng thời gian đó là Ngài Ngồi Thiền. Quên rằng Ngài đã được truyền Y Bát và sang Trung Quốc để phổ biến Phật Pháp, không phải nhờ diện bích mới đắc đạo.

c) MỘT SỐ CÔNG ÁN TRONG QUYỂN VÔ MÔN QUAN

Thay vì trong Đạo Phật, THIỀN được xem như một phương pháp để tĩnh tâm để tập trung tư tưởng mà quán sát các pháp, thì qua các nhà Thiền, Thiền đã trở thành thứ gì đó bí hiểm, thâm sâu, không giải thích được, nên có nhiều người chấp nhận “Thiền là Thiền, không cần phải giải thích hay nói gì thêm nữa”.

Các Thiền Sư thời xưa thường đưa ra Công Án để Thiền Sinh Tham. Các Thiền Sinh không còn nghĩ đến những vấn đề khác của Đạo Phật nữa, mà chết sống chỉ biết cố gắng Tham Công Án để “Ngộ” thôi! Sự ham mê khám phá Công Án làm cho người hành trì mê mẩn đến độ như người trong mơ. Như trường hợp Ngài Vô Môn Huệ Khai, sáu năm công phu chỉ để khai thông một chữ VÔ, thề quyết không ngủ. Thế rồi lúc trình kiến giải cũng chỉ đọc lên 4 câu Kệ:

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Mỗi câu là 5 chữ Vô, chẳng có nghĩa lý gì cả, thế mà cũng được ấn chứng! Có lẽ nhà Thiền cũng quên là liên quan đến chữ VÔ còn có HỮU, RỒI PHI HỮU PHI VÔ... gọi là Tứ Cú rồi còn BÁCH PHI và rất nhiều chữ khác cần khám phá nữa. Có thấy được chữ VÔ cũng chưa có nghĩa là hiểu hết, huống chi câu Kệ bằng 20 chữ Vô càng chứng tỏ là người làm chưa thấy gì về nó! Được ân chứng dễ dàng như thế, nên sau đó ông đã sưu tập được 48 Công Án viết ra quyển Vô Môn Quan. Ngay lời đề tựa cũng đã thấy ngạo mạn, coi Phật Tổ chẳng ra gì: Gọi Đức Thích Ca là “Lão Cồ Đàm mặt vàng”, gọi Tổ Đạt ma là “Lão già Hồ sún răng” “truyền thụ cho một người lại không đủ Lục Căn“ mà người đó là Nhị Tổ, vì cầu pháp mà sẵn sàng chặt tay!. Trong đó có Công Án “Nam Tuyền chém mèo” cho ta thấy người Thiền sư sát sinh mà chẳng mảy may thấy đó là phạm Giới, hay người thầy ruợt đổi chặt ngón tay học trò vì dám bắt chước mình trong Công Án “Ngón tay của Câu Chi”! Chưa hết, có những Công Án xem Phật là “Que cứt khô”, là “Ba cân mè”, dạy người tu nếu giữa đường gặp người đắc đạo thì cứ tống cho một đấm vào mặt! Thậm chí có Công Án: “Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của kẻ ấy”… Đó là những lời xúc phạm Phật của những kẻ ngông cuồng mà lẽ ra nếu là một con người bình thường, với người khác cũng chưa bao giờ nói nhưng lời thô lỗ đến như thế. Rõ ràng Thân, Khẩu Ý của các Thiền Sư đó 3 Nghiêp chưa thanh tịnh.

Việc khám phá được Công Án không thể xem là sự chứng đắc của Đạo Phật. Bởi chứng đắc của Đạo Phật là phải Thấy Tánh, trong khi mỗi Công Án chỉ nêu ra một trong vô số vấn đề mà người tu Phật cần khám phá. Hơn nữa, mục đích của Đạo Phật là để giải quyết vấn đề Sinh Tử, trong đó bao gồm rất nhiều pháp như Vô Thường, Vô ngã, Có, Không, Trung Đạo, Bát Nhã, Tử Diệu Đế, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Nhiếp, Luân Hồi, Nhân Quả vv… Người tu nào cũng cần phải hiểu cho rõ ràng để đưa vào hành dụng. Nhiều Công Án của nhà Thiền đôi khi rất vu vơ, chẳng đưa người Tham mở mang trí huệ gì liên quan đến con đường hiểu biết Đạo Phật, thí dụ như: “Tiếng vỗ của bàn tay”. “Tên Hồ không râu”. “Hề Trọng tạo xe” “Triệu Châu khám phá bà lão”… Thì giờ bỏ ra để suy nghiệm những Công Án đó chỉ phí phạm, và theo Đạo Phật thì đó gọi là TÀ QUÁN.

Vì sao gọi là Tà Quán?

Vì người tu Phật được xem là người đang bị chìm đắm trong bể Khổ, đang tìm mọi cách để Thoát ra. Muốn Thoát được nó thì phải có những sự tìm tòi liên quan đến điều gì để ràng buộc? phương pháp nào để tháo gỡ? Theo Đạo Phật, sự ràng buộc đó ở nơi Tâm của mỗi người, nên phải quay vào Tâm mình để tìm, gọi là “Nội quang phản chiếu”. Tất cả thì giờ và những trăn trở phải tập trung vào đó. Đâu phải để làm thơ, làm Kệ, hay để xét coi tại sao tên Hồ không râu? Triệu Châu rửa bát. Vân Môn sẩy lời... Toàn là quay ra. Toàn xét việc phàm tục, chẳng dính líu gì đến việc tu hành!

Trong khi người tu Phật sở dĩ khác với người phàm phu là bởi GIỚI, HẠNH, bởi CHÁNH NGỮ, bởi Tứ Đại Giai Không, bởi Lục Căn Thanh Tịnh… thì ngôn ngữ của Thiền Sư trong Vô Môn Quan thật hết sức là cao ngạo. Thế mà các Chùa vẫn xem quyển đó là một trong những tài liệu để “Chấn Hưng Thiền Học”!

Tưởng tượng các Thiền Sinh sau khi học thì bắt chước những ngôn ngữ, thái độ ngông nghênh như thế thì người đời sẽ nhìn các bậc tu hành ra sao. Chẳng lẽ càng tu Thiền nhiều thì lại càng trở thành kiêu mạn, tự phụ? Như thế là hoàn toàn trái ngược với Hạnh của người tu Phật!. Đọc suốt quyển sách không hề thấy các vị khuyên nhau bắt chước Hạnh của Đức Thích Ca trong Kinh Kim Cang: Sau khi đã thành Phật, đã giảng dạy, có đông đảo đệ tử, Ngài vẫn theo thứ tự mà đi khất thực, không đòi ưu tiên, không bắt đệ tử phải khiêng, không hề đòi ngồi kiệu… vẫn tự cất y bát, tự trải tọa cụ mà ngồi, không đòi được phục vụ!

Các Tông phái Thiền ngày xưa do được ngưỡng mộ, kính trọng nên các Thiền Sư cũng tự cho mình là ghê gớm, không thể hiện những tính chất Chân, Thiện, Mỹ của người tu Phật. Cách truyền đạt cũng mơ hồ. Không thật sự có Chánh Pháp. Chính vì vậy mà không tồn tại được lâu dài. Từ buổi đầu rầm rộ, chia ra đến 5 TÔNG, là PHÁP NHÃN TÔNG, VÂN MÔN TÔNG, TÔNG QUY NGƯỠNG, TÀO ĐỘNG, LÂM TẾ, nhưng khi Thiền Sư Nguyệt Khê liệt kê lại thì: PHÁP NHÃN TÔNG truyền sang Cao Ly. VÂN MÔN TÔNG thất truyền đã lâu. chỉ còn 3 Tông: Quy Ngưỡng, Tảo Động Lâm Tế, nhưng con cháu của các Tông chỉ lấy cội nguồn gia phổ để truyền thừa với nhau, ghi tên trên pháp quyển là Thiền Sư đời thứ mấy mà thôi. Nếu hỏi về gia phong Tông chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời! (Cội Nguồn Truyền Thừa của Thiền Sư Nguyệt Khê tr. 53).

Lẽ ra những vị tự xưng là Thiền Sư phải là người như Đức Thích Ca, “đắc đạo” nhờ Thiền, và hướng dẫn cho các Thiền Sinh cũng đắc đạo như mình. Và một điều quan trọng mà lẽ ra người tu Thiền nào cũng cần biết là: Đức Phật Thích Ca được xem là người đầu tiên đắc đạo nhờ Ngồi Thiền thì chỉ mất có 49 ngày đêm. Tại sao người thời nay ngồi mãi, làm đủ cách, Thiền nằm, Thiền chạy, kể cả chấp nhận bị ăn hương bảng chết bỏ như ở Chùa Cao Mân, thế mà cũng không đắc đạo? Vậy thì sự khác biệt đó ở chỗ nào trong khi cùng một kiểu NGỒI xếp tay chân, mắt khép hờ trong tư thế Kiết Già hay Bán Già như nhau? Chúng ta thử nhìn một vòng qua một số cách hành Thiền bị quở trách trong Kinh xem sao.

V.- MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THIỀN SAI ĐƯỢC CHỈ RA TRONG CHÍNH KINH:

1)- Trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA: Ngồi xếp bằng Thân và Tâm không động.

Kinh viết về Phật Đại Thông Trí Thắng “Đức Phật đó khi trước lúc Ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp đặng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng chánh giác mà Phật Pháp chẳng hiện ra trước. Như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp ngồi xếp bằng, thân và tâm không động mà Phật pháp còn chẳng hiện ra trước” (tr. 206)

2.- Kinh DUY MA CẬT : Ngồi sững ở đó

Ngài Xá Lợi Phất kể lại: “Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng, ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây. Khi ấy Ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: “Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bất tất ngồi sững ở đó mới là Ngồi Thiền! Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi mới là ngồi yên lặng, không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu mới là ngồi yên lặng. Tâm không trụ ở trong, cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết Bàn mới là ngồi yên lặng. Nếu Ngồi được như thế mới là chỗ Phật ấn khả vậy: (tr. 36)

3.- PHÁP BẢO ĐÀN KINH: Ngồi xem cái Tâm, quán tưởng tâm cảnh vắng lặng

L ục Tổ dạy: “Chư Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi xem cái tâm, quán tưởng tâm cảnh vắng lặng, ngồi yên chẳng dậy, bảo y theo đó mà lập công phu. Người mê chẳng hiểu, cố chấp làm theo rồi thành điên dại. Số người như thế chẳng phải là ít. truyền dạy nhau như vậy thiệt là lầm to. (tr. 72)

Trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi không nằm

Khi Chí Thành vâng lệnh Sư Thần Tú đến trộm pháp ở Chùa Bửu Lâm của Lục Tổ bị Ngài phát hiện và hỏi về phương pháp dạy Ngồi Thiền của Sư Thần Tú thì Chí Thành nói: Thường chỉ dạy đại chúng “trụ tâm quán tịnh ngồi mãi không nằm”. Lục Tổ bảo: “Trụ tâm quán tịnh ấy là bịnh chẳng phải Thiền. Thường ngồi là câu thúc cái thân, đối với đạo lý có ích chi đâu” và Ngài đọc Kệ:

Khi sống ngồi chẳng nằm

Thác rồi nằm chẳng ngồi

Thiệt đồ xương thịt thúi

Sao luống lập công phu” (tr. 111)

Tu Phật được gọi là TU TÂM,vì thế,người tu học cần tìm cho được CÁI TÂM để sửa, Thiền chỉ là phương tiện buổi đầu mà thôi. Vì vậy, nếu đã không hiểu Thiền, thì Ngồi chỉ là “câu thúc cái thân”, chẳng sinh được ích lợi gì dù có Ngồi lâu bao nhiêu.

VI.- LỤC TỔ GIẢI THÍCH VỀ THIỀN

Lục Tổ giải thích trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH: “Chư Thiện tri thức, sao gọi là THIỀN ĐỊNH? Ngoài lìa tướng là THIỀN, trong không tán loạn là ĐỊNH. Nếu ngoài trước tướng thì trong tâm tán loạn. Bằng ngoài lìa tướng thì trong tâm không tán loạn. Bổn tánh vốn tự Định, chỉ vì thấy cảnh rồi nghĩ cảnh nên mới tán loạn. Nếu thấy các cảnh giới mà tâm chẳng tán lọan thế mới là thiệt ĐỊNH”.

VII - GIAI THOẠI VỀ THIỀN TRONG MÃ TỔ BÁCH TRƯỢNG NGỮ LỤC

Lúc Mã Tổ Bách Trượng còn là Thiền Sinh, đang Ngồi Thiền, thì Hòa Thượng Hoài Nhượng lượm một viên gạch mang mài trước am của Ngài.

Mà Tổ lấy làm lạ hỏi:

- Mài gạch để làm gì ?

- Đáp: Để làm kính

- Hỏi: Gạch mài sao thành kính được?

- Đáp: Gạch mài không thành kính được, tọa Thiền há thành Phật được sao ?

- Hỏi: Vậy sao mới phải ?

- Đáp: Như bò kéo xe, xe không đi thì đánh xe hay đánh bò là phải? Ông học tọa Thiền hay tọa Phật? Nếu học tọa Thiền thì Thiền không dính chi tới chuyện nằm ngồi. nếu học tọa Phật thì Phật vốn không có tướng nhất định. Cái pháp vô trụ không nên buông bắt. Nếu chấp cái tướng Ngồi thì không đạt được lẽ đó.

VIII.- KINH VIÊN GIÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ THIỀN ĐỊNH

BIỆN ÂM ÔNG NÊN BIẾT

CÁC TRÍ HUỆ THANH TỊNH

CỦA TẤT CẢ BỒ TÁT

ĐỂU DO THIỀN ĐỊNH SANH

THIỀN ĐỊNH LÀ CHỈ QUÁN

VÀ CHỈ QUÁN SONG TU

THIỀN ĐỊNH được Kinh VIÊN GIÁC giải thích: là CHỈ QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU.

CHỈ tức là dừng lắng những tạp niệm. QUÁN là tư duy kỹ càng về một Pháp nào đó của Đạo Phật để nhận rõ giá trị của nó. Muốn CHỈ, QUÁN thì phải nhờ phương pháp NGỒI THIỀN. Đó là bắt cái Thân ngồi một chỗ, trói tay chân lại nên nó không còn hoạt động, mắt không nhìn ngó tứ phương, tám hướng nữa. Khi Ngồi yên một chỗ, tay chân không hoạt động mắt không nhìn thấy cảnh vật ta mới thấy cái TÂM nó nhảy nhót tứ tung. Do đó, giai đoạn đầu người Ngồi Thiền được hướng dẫn kềm cái Tâm bằng cách SỔ TỨC tức là đếm hơi thở, để bắt Cái Ý tập trung ở đó. Khi nó đã bớt chạy nhảy rồi thì sau đó từng bước tìm cách điều phục nó, bắt nó phải tìm hiểu, Soi, Quán, xét những vấn đề trong Đạo mình cần hiểu theo bốn giai đoạn KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

THIỀN ĐỊNH được xem là phương tiện tối cần cho người tu Phật, bởi nếu không có Trí Huệ thì làm sao biết muốn tu hành cho thành công cần phải làm gì? Làm như thế nào? Nghĩa của TU PHẬT tức là SỬA CHỮA BẢN THÂN MÌNH ĐỂ THÀNH PHẬT. THÀNH PHẬT cũng có nghĩa là được GIẢI THOÁT. Như vậy, nếu ta muốn “Thành Phật” thì phải hiểu Phật là gì? Làm thế nào để Thành Phật? Thành Phật để làm gì? Ngồi Thiền bao lâu thì thành Phật? Đương nhiên, Phật không thể hiểu đó là Đức Thích Ca. Bởi làm sao ta tu làm sao cho thành Ngài được? Do đó, ta nên hiểu Phật là một tình trạng, một địa vị nào đó mà mọi người có thể hành trì theo những phương pháp được Đạo Phật hướng dẫn thì cũng sẽ đạt tới một kết quả giống như Đức Thích Ca đã đạt. Vi thế, nếu ta muốn “Tu Phật” mà ngay nghĩa Phật và cách thức nào để “Thành Phật” chúng ta chưa nắm được thì tu cách nào? Kết quả về đâu?

Chính vì vậy mà rất cần đến TRÍ HUỆ. Muốn có TRÍ HUỆ thì không có cách nào khác hơn là phải nhờ phương pháp THIỀN ĐỊNH.

IX.- ĐỨC THÍCH CA ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ ĐẮC ĐẠO QUA PHƯƠNG PHÁP THIỀN ĐỊNH?

Chúng ta đều biết: Đức Thích Ca bỏ ngai vàng đi tu hành vì trông thấy cảnh SINH, LÃO, BỊNH, TỬ đang hoành hành trên cái Thân con người. Suốt Sáu năm dài, Ngài theo học với Lục Sư ngoại đạo để hy vọng tìm lời giải đáp: “Làm sao để thoát được những nỗi Khổ vì SINH LÃO BỊNH TỬ đang đè nặng trên cái thân người, nhưng họ chỉ dạy cho Ngài những thần thông, phép mầu, làm cho Ngài thất vọng. Cuối cùng, Ngài bỏ họ và tự trải tòa cỏ, ngồi dưới cội cây Bồ Đề với lời phát nguyện: “Chỉ đứng dậy khi nào tìm ra nguyên nhân của Sinh Tử Luân Hồi”. Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài tìm ra, nên đứng dậy hân hoan tuyên bố: Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Hỡi kẻ làm nhà, từ đây ta đã gặp được người rồi. Ngươi không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của người đã gảy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến vô thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn giải thoát”.

Hành trình Sáu năm trăn trở của Ngài được kết thúc sau 49 ngày đêm NGỒI THIỀN cho ta thấy: Thời gian NGỒI THIỀN là thời gian Ngài tập trung để tìm thủ phạm đã gây ra SINH TỬ LUÂN HỒI và cuối cùng Ngài đã gặp. Lời tuyên bố lúc xả Thiền cho ta thấy là Ngài không “ngồi sững ở đó”, hoặc thả hồn đi các cõi, hay chỉ đếm hơi thở hoặc xem cái bụng mình phồng, xẹp như thế nào? Bởi nếu chỉ làm các động tác đó thì chắc chắn không thể có cái kết quả GẶP CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT hay là ĐẮC ĐẠO được, vì Nhân Quả đương nhiên: Đếm nhiều thì được nhiều số. Xem cái bụng phồng xẹp thì xả thiền vẫn là phồng, xẹp... làm sao GẶP được CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT? Có TÌM CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT thì mới GẶP được nó. GẶP CON ĐƯỜNG là dịch từ tiếng Tàu: ĐẮC ĐẠO.

X.- CÓ BAO NHIÊU LOẠI THIỀN?

Đạo Phật phân ra nhiều loại THIỀN, nhưng theo tôi, chúng ta chỉ cần phân biệt một số như sau:

1)- Thiền ngoại đạo là sử dụng phương tiện Thiền để xuất hồn để luyện khí công, mở luân xa vv... Gọi là ngoại đạo vì không đưa lại kết quả Giải Thoát như Đạo Phật dùng phương tiện Thiền để hướng tới.

2)- Thiền Chánh Đạo hay là CHÂN THIỀN. tức là Người Ngồi Thiền sử dụng phương tiện Thiền để đạt kết quả: tìm được Con Đường Giải Thoát như Đức Thích Ca đã làm.

3)- THIỀN CÓ TƯỚNG tức là phải NGỒI đúng theo hình thức Bán Già hay Kiết Già.

4)- THIỀN VÔ TƯỚNG là như Ngài Huệ Năng, dù thân lo việc giả gạo, chẻ củi, nhưng cũng tập trung tâm ý để tìm cái BỔN TÁNH và Ngài cũng đã thấy được nó qua bài Kệ:

“Bồ Đề Bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhá trần ai”

5)- NHƯ LAI THIỀN tức là dù Thân có đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, họat động đủ thứ nhưng vẫn là THIỀN vì vẫn an nhiên, tự tại.

XI.- NHỮNG HIỆN TƯỢNG NGƯỜI THIỀN ĐỊNH CÓ THỄ ĐẠT ĐƯỢC

Theo Đạo Phật, người NGỒI THIỀN với cái Tâm an định có thể có được những hiện tượng:

l)- Mở được thần thông, Tức là có thể biến hóa, lớn, nhỏ, chui xuống nước, xuống đất vv…

2)- Thiên nhĩ thông. Là nghe được tiếng của các cõi.

3)- Tha Tâm thông. Là biết được sự suy nghĩ của người khác

4)- Túc mạng minh. Là biết kiếp trức, kiếp sau của mình

5)- Thiên nhãn minh. Là thấy được cõi Thiên

6)- Lậu tận minh.

Chính cái LẬU TẬN MINH là cái sáng suốt, để Biết rõ về KHỔ và con đường DIỆT KHỔ. Đó mới là CÁI BIẾT mà Đạo Phật muốn người tu đạt tới qua phương pháp THIỀN ĐỊNH.

XII.- ĐỂ NGỒI THIỀN THÀNH CÔNG THEO ĐẠO PHẬT THÌ NGƯỜI NGỒI CẦN LÀM NHỮNG GÌ ?

Mọi người đều biết mục đích của Đạo Phật là để “Độ Khổ” hay còn gọi là “Giải Thoát”. Nhưng đa phần chúng ta chưa hiểu thế nào là KHỔ, vì sao mà có Khổ, thì đâu có muốn Thoát? Đức Thích Ca trước khi Ngồi Thiền đã biết trước mục tiêu của Ngài cần tìm, là thủ phạm đã gây ra SINH TỬ LUÂN HỒI nên Ngài đã dùng THIỀN ĐỊNH làm phương tiện để tìm Phần chúng ta chỉ nghe nói Đạo Phật, nghe ca tụng Phương tiện Thiền của Đạo Phật là cao, là siêu, nên mến mộ rồi cũng muốn Ngồi Thiền thử cho biết. Vì thế nên không thành công được.

Muốn tìm gì thì cũng phải biết cách thức, phải có đối tượng. Phải có đề tài. Phải biết mình tìm cái gì? Đâu phải cứ NGỒI THIỀN là “đột nhiên hoát ngộ”. Đâu phải cứ tập trung cái Ý. rồi suy nghĩ lung tung, thấy được cái gì đó cũng là “đắc đạo”? Bởi các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, họ cũng tập trung, nhưng cái họ tìm không giống mục đích của Đạo nên kết quả họ đạt được đâu thể nói là “đắc đạo”?

Suy nghĩ, Quán Sát, tư duy trong lúc Ngồi Thiền gọi là THIỀN MINH SÁT. Người muốn hành THIỀN MINH SÁT lại cần có đề tài liên quan đến Đạo Phật gọi là CHÁNH TƯ DUY để phân biệt với những người cũng tập trung, nhưng suy nghĩ những việc không liên quan đến Đạo Phật, gọi là TÀ TƯ DUY.

Đức Thích Ca đã có những bức xúc về SINH TỬ LUÂN HỒI, cho nên bằng đủ mọi cách Ngài phải tìm cho ra. Người hành Thiền như chúng ta, có người còn không biết mình muốn gì? Cần tìm gì? Chỉ NGỒI khơi khơi thì gặp cái gì? Làm sao gặp? Do chỉ bắt chước được cái TƯỚNG THIỀN mà không nắm được nội dung, không biết NGỒI rồi làm gì nữa, thì chắc chắn là sẽ không đi đến đâu. Kể cả cái thanh tịnh - nếu không khống chế được cái Tâm - cũng chưa chắc sẽ có được. Ngồi Thiền như thế thì suốt cả đời cũng chẳng “Được Đạo”, bởi có TÌM ĐẠO đâu mà Được Đạo?

Không thể có một người phạm đủ thứ GIỚI rồi chỉ cần NGỒI THIỀN là có TRÍ HUỆ. Người muốn hành THIỀN trước hết phải GIỮ GIỚI, nhờ GIỮ GIỚI mới có sức ĐỊNH. Nhờ sức Định như người tập trung được đèn rồi dùng đó để soi mọi vật. Soi kỹ chứng nào thì thấy rõ chừng đó. THiền Định là “Độ” thứ 5 trong Lục Độ, vì thế, không thể bỏ qua mấy độ khác, chỉ chọn riêng Thiền, mà phải làm đầy đủ các độ kia để hỗ trợ cho Độ Thiền thì người Ngồi Thiền tiến bộ được.

Có Sức Định, nhưng nếu không Quán sát, tư duy thì cũng không hiểu biết được gì. Hoặc như người Ngồi Thiền rồi nghĩ lung tung, không biết hôm nay giá vàng, giá đô bao nhiêu? thị trường chứng khoán lên xuống thế nào? thì có ngồi cả đời cũng chẳng được lợi lạc gì. Hoặc Ngồi đó rồi ý thức bẳng đi mất thì đâu có khác gì người ngủ ngồi. Xả Thiền ra có biết được chi.

Muốn biết nên làm gì trong khi NGỒI THIỀN thì trước hết chúng ta phải biết rõ mục đích của mình muốn tìm gì trong pháp này. Muốn mở luân xa, muốn xuất hồn, muốn luyện khí công thì mỗi môn có phương pháp khác nhau. Tốt nhất là nên tìm người thầy có kinh nghiệm đối với phương pháp mình muốn học để nhờ hướng dẫn, đừng tự Ngồi rất nguy hiểm, vì dễ bị “tẩu hỏa nhập ma” trở thành điên loạn. Nếu muốn NGỒI THIỀN theo Đạo Phật thì buổi đầu cũng phải có người hướng dẫn, để cho biết ta cần tư duy cái gì trong lúc cái Thân Ngồi yên, không họat động, không suy nghĩ đến chuyện được thua của đời kia. Không phải cứ Ngồi là Thiền, và Ngồi lâu thì thành Thiền Sư!

XIII.- SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI TU PHẬT VÀ NGƯỜI TU THIỀN

Theo như hướng dẫn của 2 quyển sách dẫn chứng ở phần trước, ta thấy người tu THIỀN chỉ chú trọng THAM Công Án. Khai được 1 Công Án thì xem đó là sự chứng đắc. Không thấy nói về GIỚI, không thấy đề cập đến Hạnh của người tu. Không thấy nói đến TÂM, đến TÁNH là hai môn chính mà người tu Phật phải Thấy mới bước sang giai đoạn điều phục, gọi là “Kiến Tánh khởi tu”.

Mục đích của Đạo Phật là để THOÁT KHỔ, không phải là để Chứng Đắc. Người phát tâm chân chính vào tu Phật vì muốn Thoát Khổ, không phải để tìm quả vị, chứng đắc. Phương pháp của Đạo Phật là Tứ Nhiếp (Bố thí, Lợi Hành, Ái Ngữ, Đồng Sự) để hướng dẫn. Cái chứng đắc của Đạo Phật là “Không còn Mình”, tức là thấy cái Thân này là giả tạm, nên không còn vì nó mà Tham, Sân, Si, mà tiếp tục tạo Nghiệp.

Một bên Phát Tâm chân chánh là muốn Thoát Khổ, rồi dùng GIỚI ĐỊNH HUỆ như phương tiện để thấy cái VỌNG TÂM rồi cố gắng sửa nó. Tập xả bỏ Tham, Sân, Si. Càng tu càng mài mòn Ngã Chấp. Một bên phát tâm mong cầu chứng đắc - đó là đã dùng Vọng tâm mà phát.- rồi cố gắng đi tìm nghĩa của Công Án để chứng đắc. Càng thấy mình chứng đắc thì Ngã chấp càng to. Thậm chí còn thấy mình hơn các vị Phật, Tổ! Như thế, hai bên khác nhau rất xa dù xuất phát từ một Gốc là Đạo Phật.

XIV.- KẾT LUẬN:

THIỀN là phương tiện của Đạo Phật dùng để sinh TRÍ HUỆ. Có Trí Huệ mới chiếu phá được VÔ MINH. Mục đích THIỀN của Đạo Phật nhằm tập trung Thân và Tâm. Khoanh chân lại, ngoài hình tướng cũng mang một ý nghĩa là DỪNG, không chạy theo các pháp. Khoanh tay cũng có nghĩa là không chụp bắt, không ôm giữ các pháp. Thân ngưng chạy theo trần cảnh. Mắt cũng không thu trần cảnh vào để cái Tâm được an tịnh mà suy nghĩ những vấn đề cần hiểu trong Đạo. Với những ai buổi đầu vào Đạo Phật một cách mơ hồ, chưa xác định được mục tiêu thì cần nương hướng dẫn của Thầy hay của Kinh để biết bắt đầu như thế nào?. Còn muốn Ngồi Thiền để xuất hồn gặp Tiên, gặp Phật, thì những cảnh đó trong Kinh đã cảnh báo là: Ma cảnh. Người tin theo những gì được thấy, được nghe giảng dạy trong lúc thiền đa phần lần hồi trở nên bất thường và trở thành điên loạn, chúng ta nên cẩn thận.

Người đã nắm được mục đích, hiểu rằng Thiền là phương tiện, bước đầu để Quán soi các pháp. Hiểu được như vậy thì không cần phải Thiền bằng Tướng, mà có thể Thiền Vô Tướng, như trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài vẫn giả gạo, chẻ củi mà vẫn Quán Soi, vẫn Thiền. Chủ yếu là tập trung được cái Ý rồi dùng nó mà tư duy, quán sát. Có rất nhiều Pháp cần phải Soi, Quán, và người đã đi trước, có kinh nghiệm sẽ chỉ cho ta biết nên quán pháp nào trước, pháp nào sau. Đừng tham vọng biết được nhiều thứ qua Thiền, bởi Thiền là tĩnh lặng, là lóng cái Tâm. Khi cái Tâm đã thanh tịnh rồi thì có thể có được những cái Thông như Kinh đã nói. Tuy nhiên, người tu Phật đã biết được mục tiêu mình cần đạt thì không chú ý đến những thứ thần thông đó làm gì. Cũng giống người đi đào vàng, đã biết mục đích của mình, biết giá trị của vàng rồi, thì nhắm thẳng nơi cần đào mà tiến, không dừng lại giữa đường để hái hoa, bắt bướm vì chỉ mất thì giờ! Lo tu hành để Thoát Khổ, Thoát Phiền Não, Sinh Tử, thì giờ đâu còn ham đọc được tâm địa người khác hay biết chuyện gì sắp xảy ra? Muôn biết kiếp sau mình sẽ như thế nào thì cứ nhìn kiếp hiện tại mình sống ra sao? Không Sát Sinh thì sẽ được sống lâu. Không làm ác thì sẽ không gặp ác. Không dối lừa người thì sẽ không bị lừa dối. Giúp người thi người sẽ giúp lại. Cuộc sống cứ huân tập theo các đường nào thì chắc chắn khi bỏ cái thân sẽ theo thói quen đó mà đầu thai, cứ thế mà suy ra, chẳng cần phải có túc mạng minh gì cả. Hơn nữa, nếu cái Tâm cứ móng khởi, thì như nước càng khuấy càng đục thì càng không thấy gì.

Dù ai cũng biết rằng Đức Thích Ca đắc đạo nhờ THIỀN ĐỊNH, nhưng đừng quên rằng Ngài đã từng làm bao nhiêu Hạnh khác, cũng như đã như biết rõ mục tiêu của mình trước khi NGỐI THIỀN. Phần những người chuyên tu THIỀN về sau, do muốn tu tắt, tới mau mà không quan sát kỹ. Cũng giống như người thấy người khác dùng ghe máy để qua sông nên họ quan sát rất kỹ, thấy là bộ phận chính để vận hành chiếc ghe là cái Máy, nên họ bỏ hết thân thuyền, tay lái, bánh lái, cho là dư thừa, chỉ ôm chiếc máy, là chỉ “NGỒI THIỀN” mà thôi, còn Bố Thí, Trì Giới vv... thì họ không thèm quan tâm tới. Liệu như thế thì cái Máy dù mạnh đến mấy có giúp họ qua sông được hay không thì chắc ai cũng có thể tự kết luận được Có vị ngày trước đã dùng các bức tranh gọi là “Thập Mục Ngưu Đồ” để mô tả những giai đoạn của công việc tu hành. Thoạt đầu, người chủ phải tìm con trâu, lần theo từng dấu vết của nó. Cho đến lúc gặp được nó, khống chế được nó. Sau đó thì thỏng tay vào chợ, không phải kềm chế con trâu nữa, vì nó đã được thuần hóa. Cuối cùng là cả trâu và người chăn đều không còn. Con Trâu tượng trưng cho cái VỌNG TÂM mà mỗi người tu hành cần tìm, cần thấy và điều phục nó. Phải đâu chỉ cần nghe nói đến Cái Tâm hay vô chùa, cạo tóc, đắp Y thì làm gì thì cũng đắc đạo!

Tóm lại, muốn tìm vật gì thì ít ra trước đó cũng phải hình dung nó ra sao? Phải tìm ở đấu? Tìm cách nào? Bởi vì không ai có thể tìm được vật mà anh ta chưa từng biết bao giờ? Hơn nữa, chúng ta có thể dựa vào Nhân Quả để biết rằng Thiền mà nhiều người đang dạy có đưa đến kết quả của Đạo Phật hay không: Mục đích THIỀN ĐỊNH của Đạo Phật là để sinh TRÍ HUỆ để thấy công việc cần phải làm trong con đường tu hành, cũng như biết kết quả về đâu. Vì vậy:

- Nếu chỉ ngồi bất động và diệt hết mọi tư tưởng thì cỏ cây, gỗ đá cũng đã thành Phật!

- Nếu ngồi xem bụng mình phồng xẹp như thế nào thì xả ra nó vẫn phồng xẹp, làm sao có thêm hiểu biết gì có ích lợi cho đường tu tiến?

- Nếu chỉ đếm hơi thở thì cột được cái tâm trong thời gian Ngồi, nhưng xả Thiền ra nó vẫn trở lại đường cũ. Mê vẫn hoàn Mê!

- Đức Thích Ca đã bức xúc về cảnh sinh lão Bịnh tử đè nặng lên kiếp người và đã dùng thời gian THIỀN ĐỊNH để tập trung tư tưởng để tìm cách Giải Thoát. Cuối cùng Ngài đã gặp, gọi là Đắc Đạo. Vì thế, nếu ta dùng thời gian THIỀN ĐỊNH như Ngài, thì mới có thể có kết quả giống như Ngài.

- Có TÌM ĐẠO thì mới có thể ĐƯỢC ĐẠO. Không biết mình muốn tìm gì mà hy vọng “đột nhiên hoát ngộ” là chuyện của những người không hiểu về Thiền đã tưởng tượng. Điều đó cũng chứng minh vì sao người thời nay ngồi mãi mà không thấy có ai đắc đạo. Phần những người hướng dẫn Thiền, ai đến cũng cứ dạy Ngồi, không cần biết họ muốn tìm gì? không cần biết họ có Giới hay không, chứng tỏ người dạy cũng chưa hiểu rõ về THIỀN ĐỊNH.

Trên đây là chút nhận định và hiểu biết của tôi về Thiền. Có thể chưa đầy đủ, nhưng cũng hy vọng nêu ra một cái nhìn khái quát về Thiền của Đạo Phật, để thấy rằng tại sao người thời nay Ngồi Thiền mãi, Thiền đủ cách mà không thấy có ai Đắc Đạo, có chăng là chỉ được an ổn, thanh tịnh trong giờ Ngồi mà thôi.

Xin nói thêm là tôi sẽ cho bài này vào trang WEB www.giaimakinhphat.com, nếu quý vị có cần để nghiên cứu thêm thì có thể thể tải về để xem. Tôi cũng rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp, để việc nghiên cứu của tôi thêm sáng tỏ.

Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe.

Trân trọng.

TÂM-NGUYỆN

(Thành viên C.L.B. Sách Xưa & Nay)

Hồi ký một chuyến đi

Thế là cuối cùng tôi cũng nhận được tấm giấy mời dự Hội Nghị Quốc Tế sau bao ngày thấp thỏm mong đợi với hy vọng mong manh. Vì Chủ nhiệm Vũ Anh Tuấn cho biết họ đòi hỏi mỗi người phải có 3 tác phẩm dịch đã ấn hành để triển lãm, cho biết tên tác phẩm, tên nhà xuất bản và năm nào trước khi họ gửi giấy mời. Mà tôi thì mới chỉ có 1 tác phẩm, lại dịch chung với người khác, còn truyện Kiều thì đang dịch dở dang.

Cầm tấm giấy mời, tôi xúc động đến run cả tay. Đi Hà Nội mà mừng hơn cả xưa kia được đi nước ngoài. Cám ơn Trời Phật, cám ơn Cụ Nguyễn Du đã phù hộ cho con! Con nguyện sẽ cố gắng hết mình và hy vọng 300 năm sau ngày Cụ đi vào cõi vĩnh hằng, nếu Trái Đất còn tồn tại, thiên hạ sẽ không còn một ai không biết đến Truyện Kiều của Việt Nam và tâm sự của Tố Như. À, còn một người nữa mà tôi phải thực sự cám ơn, đó là chủ nhiệm Vũ Anh Tuấn, người đã giới thiệu và cho đăng bản dịch Truyện Kiều của tôi trên Bản Tin Xưa & Nay. Không có ông, chắc Truyện Kiều dịch dở dang của tôi sớm muộn cũng sẽ nằm trong sọt giấy cân ký của bà ve chai. Cũng may tôi tiếc rẻ, gửi cho ông vài đoạn, nói là “để anh xem chơi”, vì thỉnh thoảng ông có tặng tôi những tập thơ thật đẹp ông dịch cho người khác, tuy hơi ít vần nhưng dùng từ rất chuẩn, tôi ngắm mà phát thèm.

Có giấy mời rồi nhưng còn bao việc phải lo. Trước hết là đường đi nước bước. Đi bằng gì? Đi cùng với ai? Chủ nhiệm Vũ Anh Tuấn cho biết chưa chắc ông đã đi vì ông sợ rét không chịu nổi. Điều này làm tôi thấy run, đấng mày râu mà còn sợ không chịu nổi cái rét đậm của Hà Nội, làm sao phụ nữ yếu ớt như tôi không lo? Nhưng rét thì mang nhiều áo lạnh, tôi quyết không nản chí.

Vài hôm sau, ông lại cho biết ông quyết định không đi vì kẹt chuyện nhà, phải đón con trai ở nước ngoài về chơi. Tôi hỏi ông trong CLB mình còn có ai được mời, ông giới thiệu cho tôi để tôi liên hệ chứ đi một mình tôi không dám, vì tôi rất hay bị lạc, không phải bây giờ mà từ hồi còn trẻ cũng vậy, từng khổ vì bị lạc giữa phi trường London và Paris. Cứ đi vào chỗ lạ là lúc ra đáng rẽ phải thì tôi rẽ trái, càng đi tiếp càng lạc vào mê cung! – “Chờ chút có ngay”, ông liền cho tôi số điện thoại của Ông Nguyễn Huỳnh Điệp. Một cái tên lạ hoắc tôi chưa từng nghe bao giờ, nhưng mừng quýnh, tôi liên hệ ngay. – “Alô! Xin lỗi, thưa có phải ông là Nguyễn Huỳnh Điệp được mời đi dự Hội Nghị Quốc tế tại Hà Nội phải không ạ?” – “A, chị Thùy Dương đó hả?” – “Ủa, sao ông biết tên tôi?” – “Thì tôi vẫn đọc bài của chị trên bản tin Xưa & Nay mà, Truyện Kiều chị dịch tôi chịu lắm.” – “Ồ, may quá! Thế ra cũng người quen cả. Vậy anh đi bằng cách nào, cho tôi theo với, vì tôi rất sợ bị lạc.” Thế là chúng tôi dự tính sẽ lấy vé máy bay HK Airlines khứ hồi đi và về cũng chuyến bay. Hôm sau tôi lại hỏi: “Này, hình như CLB mình còn có ông Thiếu Khanh được mời nữa thì phải. Anh có quen ông Thiếu Khanh không? Hay mình rủ ông ấy đi cùng chuyến cho vui.” – “Thiếu Khanh là tôi đấy chứ ai.” – “Ủa!” Vài hôm trước khi đi tôi lại hỏi: “Này, mình hẹn đi cùng 1 chuyến nhưng tôi chưa biết mặt anh, làm sao ra sân bay gặp anh được? Vậy anh phải cho tôi biết anh cao hay thấp, hôm ấy sẽ mặc quần áo màu gì, đội nón gì và đặc điểm gì rõ nhất để tôi nhận ra. – “Hiện giờ tôi chưa biết hôm ấy tôi sẽ mặc quần áo màu gì. Thôi để tôi sẽ đeo một cái bảng thật lớn trước ngực để chữ thật to “Đón chị Thùy Dương”, được chưa?” – “Ôi, thôi tôi không dám đâu. Chắc anh đã biết mặt tôi rồi chứ gì, để tôi sẽ đứng ngay ở cửa vào chính cho anh trông thấy.” – “Nhưng tôi đâu đã biết mặt chị.” Thế là cả hai chúng tôi đều bế tắc! Cuối cùng, phải đến sáng mồng 5 tháng, trên chuyến xe từ khách sạn Tây Hồ đến Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình để dự lễ khai mạc Hội nghị, thấy tôi đi lủi thủi một mình ngơ ngác, mọi người hỏi: “Chị ở Sài Gòn ra à? Có ai đi cùng không?” – “Tôi có ông bạn đồng hành nhưng mới chỉ liên hệ bằng điện thoại, tới nay vẫn chưa biết mặt nhau.” – “Thế ông ấy tên gì?” – “Bút danh ông là Thiếu Khanh.” – “Ông ấy đang ngồi ngay sau lưng chị kia kìa!” Rồi họ kéo ông ra cho tôi nhận diện. Thấy câu chuyện hi hữu ngộ nghĩnh, mọi người cười vang đến nổ cả xe!

Còn việc thứ hai tôi phải lo trước khi đi là Truyện Kiều. Tuy chắc chắn mình sẽ đi rồi, không ai đòi hỏi gì, nhưng chính vì Truyện Kiều mà tôi được mời nên dù chưa hoàn tất, tôi cũng muốn mang theo để họ xem làm bằng chứng. Tôi liền gọi điện thoại cho ban tổ chức hỏi: “Tôi mới có một tác phẩm được ấn hành thôi, còn Truyện Kiều đang ở dạng bản thảo photo, có cần mang ra không?” – “Có, chị cứ mang hết ra”. Thế là tôi phải nhờ anh Đoàn đánh giúp cấp tốc những phần tôi đã dịch mà chưa đăng. Nhưng anh bảo trễ quá không kịp đâu, vì anh còn đi nghỉ mát Vũng Tàu cuối tuần, thứ hai mới về, mà thứ hai tôi đã phải lên máy bay rồi. Tôi hỏi: “Thế bà xã có đi không?” – “Không” – “Vậy nhờ anh động viên chị ấy đánh giúp tôi một tay với sự điều khiển từ xa của anh. Nếu không kịp thì anh làm ơn bỏ lại khúc giữa và đánh hết khúc cuối giùm tôi.” Thế là cuối cùng tôi đã có được hai tập Kiều photo, tập 1 và tập 2, mỗi tập độ 50 trang A4, với lời tựa rất trang trọng, đóng bìa hoa màu xanh ngọc, trình bày rất trang nhã, mát mắt. Nếu đọc riêng mỗi tập thì liên tục, nhưng giữa 2 tập có một đoạn thiếu chưa đánh máy kịp, và tập 2 cũng chưa kết thúc, còn để “to be continued”. Sợ người ta phát hiện ra sẽ lắc đầu, nên tôi không dám chơi trò ăn gian làm thiếu mà phải viết thêm ở phía dưới trang đầu của mỗi tập chữ (UNACHIEVED) thật nhỏ để cho không ai trách được mình. Hôm khai mạc cuộc Triển Lãm Sách Giao lưu văn học quốc tế tại 31 Tràng Thi, tôi đưa ngay cho nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn và là Trưởng Ban tổ chức Hội nghị, 2 tập Kiều cùng với 1 tác phẩm đã ấn hành của tôi (dịch chung với vài người) cuốn Danh lam nước Việt – Vietnam’s Famous Pagodas – in rất đẹp, nhưng ông trả lại cuốn này và chỉ lấy 2 tập Kiều của tôi để triển lãm. Tôi cũng đã in thêm 1 bản 2 tập như thế để đưa các bạn xem. Tuy là đứa “con thiếu tháng” nhưng trông bề ngoài nó khá khôi ngô và nhìn thoáng cái tên KIỀU và NGUYỄN DU ai cũng biết nó là “con nhà nòi” và quan tâm hỏi han. Có người còn nôn nóng hỏi: “Thế bao giờ thì xong đây? Bao giờ thì tôi được đọc cuốn sách? Và cuối cùng Kim có tìm được Kiều không?” Tôi cười và hẹn đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, nếu quý vị có dịp trở lại Việt Nam. Họ bảo: “Tôi hy vọng sẽ trở lại.” Về đến Sài Gòn, mở hộp mail đã có 1 vị đại biểu người Mỹ viết cho tôi:

Dear Madame Thuy Duong,

Nice to meet you and hear of your ambitious work with the Tale of Kieu…
Wonderful to share with the world…
I found out these ways you can receive the Cua So Van Hoa of The Gioi Publishers…
The Vietnam Cultural Window magazine…
Because now, sadly, you cannot purchase in HCMC.
First, call 84.4.38253841 / 39343196 or website: www.thegioipublishers.com.vn
Or E-mail: thegioi@hn.vnn.vn
You can call and subscribe… they will take care of you…

Take care,

All the best,

....

Cám ơn các bạn đã cho tôi niền phấn khởi để sớm hoàn thành bản dịch Kiều một cách tốt đẹp. Một ngày gần đây, nếu Truyện Kiều của Nguyễn Du đến với các bạn qua bản dịch tiếng Anh của tôi, chắc chắn trong đó không chỉ có tình cảm của tôi, của Nguyễn Du và dân tộc Việt Nam mà có cả tình cảm của các bạn nữa đấy!

Thật ra từ lâu Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được thế giới biết đến và tôn ngưỡng, nhất là từ khi Nguyễn Du được UNESCO công nhận là Đại thi hào (1965). Nhưng được đọc qua Truyện Kiều thì có lẽ cũng ít, vì một lẽ đơn giản là các nước đã dịch Truyện Kiều thường dịch ra tiếng nước họ nên chỉ có người nước họ được đọc. Như gần đây có Hàn Quốc, Trung Quốc và vài nước nhỏ khác. Còn tiếng Anh thì ở Việt Nam gần nhất có dịch giả Lê Văn Qua (tôi không nhớ chính xác họ có phải là Lê) dịch ra văn xuôi, có tuyên bố ở Hội nghị, hiện chưa in, còn đăng trên mạng. Xa hơn nữa thì có “Kim Vân Kiều” của Lê Xuân Thủy, in lần 2 năm 1968, dịch xuôi với lời văn rất mượt mà và rất chính xác đến cả nghĩa đen từng chữ. Trong bài giới thiệu ở đầu sách, Dr. Nguyễn Văn Thọ, Winner of Lecomte du Noiiy Literary Prize 1960 (1), đã phải dùng đến thành ngữ Pháp nhập vào tiếng Anh Fait accompli (2) để khen ngợi bản dịch của ông: “Mr. Thủy has presented the world with a fait accompli that can only be labeled priceless.” (Ông Thủy đã trình bày với thế giới một sự đã rồi, không nên bàn cãi nữa mà chỉ có thể gắn cho cái nhãn là vô giá.)

(1) Người đoạt giải văn chương Lecomte du Noiiy (Pháp) năm 1960

(2) Fait accompli: (Fr) sth. done and, for this reason, not worth arguing about (theo Tự điển Advanced Learner’s – Oxford University Press)

Nhưng không biết tất cả những bản dịch tiếng Anh ở Việt Nam nói trên đã được lưu hành ở nước ngoài chưa hay chỉ mới người Việt Nam được đọc mà sao bây giờ nó biến mất không còn một cuốn nào trong các nhà sách cả. Trong dịp Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam này, bên cạnh những sách tặng cho các đại biểu quốc tế, giá như Hội Nhà văn ta xin phép các dịch giả photo thêm một số những bản dịch Kiều, Chinh Phụ ngâm, Cung Oán… để tặng cho các đại biểu nước ngoài thì hay biết mấy.

Ấy, mải nói chuyện đi đứng rồi Truyện Kiều, quên mất diễn biến Hội nghị. Đã định đẩy cho ông Thiếu Khanh viết nhưng ông từ chối đây đẩy và cứ than “ăn bữa cỗ, lỗ buổi cày”. Bây giờ về ông phải ra sức cày bù để khỏi trễ hợp đồng lớn phải bồi thường. Còn tôi chẳng ghi chép gì cả vì cứ tin xong Hội nghị, họ sẽ có kỷ yếu in ra đầy đủ. Thôi thì nhớ đến đâu ghi đến đấy.

- Sáng 5-1 : Buổi khai mạc Hội nghị tại Mỹ Đình mở đầu bằng chương trình văn nghệ chào mừng với những màn vũ dân gian thật lộng lẫy hoành tráng. Tiếp đến phần Hội nghị, chủ tọa đoàn gồm 13 nước trên một bàn dài với cờ của mỗi nước trước mặt: 1) Việt Nam, 2) Mỹ, 3) Pháp, 4) Nga, 5) Ấn Độ, 6) Hàn Quốc, 7) Trung Quốc, 8) Mông Cổ, 9) Thái Lan, 10) Lào, 11) Campuchia, 12) Rumani. Còn 1 nước nữa hình như là Bỉ, nhưng không dám chắc, chỉ 60% thôi (mới biết trí nhớ mình cũng không tệ). Mở đầu là diễn văn khai mạc của nhà thơ Nguyễn Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời là Trưởng Ban tổ chức Hội nghị. Được biết có tất cả 150 đại biểu quốc tế đến từ 35 nước tham dự Hội nghị. Số tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài là 570 so với 13.700 tác phẩm văn học của thế giới được xuất bản ở Việt Nam (theo thống kê chưa đầy đủ tính đến 2007), một sự chênh lệch quá lớn. Tiếp theo là phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Lát sau, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cũng đến phát biểu mừng Hội nghị. Kế tiếp là phần tham luận của mỗi nước. Buổi chiều: khai mạc Triển lãm Giao lưu Văn học Quốc tế tại Thư viện Quốc gia 31 Tràng Thi, Hà Nội.

- Sáng 6-1 : Thảo luận theo các nhóm chuyên đề: Văn học Cổ điển Việt Nam, Văn xuôi Việt Nam hiện đại, Thơ Việt Nam hiện đại, Gặp gỡ các nhà văn trẻ. Riêng tôi có nhận được thêm một giấy mời từ hôm ở Thành phố Hồ Chí Minh, dự buổi Văn học Cổ điển này, có lẽ để mình chuẩn bị ý kiến trước, nhưng tôi chẳng biết gì mà chuẩn bị. Đến đó được họ mời đọc bài tham luận của mình đã gửi trước (có đăng trên bản tin 44 Xưa & Nay), nhưng bị Chủ tọa cắt bớt một nửa vì phải dành thời gian ưu tiên cho đại biểu nước ngoài. Cũng may ông không cắt những phần cơ bản. Trong buổi này, thơ Hồ Xuân Hương được dịch giả nước ngoài rất tôn sùng. Trước đây nghe ai nói thế tôi không tin. Hồi còn học cấp 3, chỉ nghe Thầy đọc thơ Hồ Xuân Hương thôi, tôi đã muốn độn thổ. Tôi tự hỏi tại sao loại thơ này lại được đưa vào chương trình giáo khoa cho học sinh cấp 3 học? Tôi bất mãn và không tin Hồ Xuân Hương là phái nữ, có thể một tay mày râu nham nhở nào đó giả danh tên nữ để len lỏi vào làng thơ quậy phá, làm nhục nữ giới. Mãi sau này có mấy người bạn gái thân bảo tôi: “Chị dịch thơ Đường của các danh nhân Việt Nam mà không có thơ Hồ Xuân Hương là thiếu sót đấy, người nước ngoài rất thích thơ Hồ Xuân Hương.” Tôi đành chiều ý dịch vài bài cho có. Trong buổi này có bà Lady Borton, dịch giả Mỹ có dịch thơ Hồ Xuân Hương, được mời phát biểu. Trong tập thơ rời tôi mang theo có 3 bài của Hồ Xuân Hương tôi dịch, tôi liền tặng bà hết: Cái Quạt (2 bài) và Phận Lẽ Mọn. Chúng tôi quen nhau từ đấy. Bà cũng tặng tôi nhiều thơ của nữ giới Việt Nam mà bà dịch chung với mấy dịch giả Việt Nam. Buổi chiều: tiếp tục thảo luận. Nhiều bài tham luận của Việt Nam không đọc hết phải bỏ lại. Tối: Bộ Trưởng Văn hóa Thể thao Du lịch chiêu đãi tại Khách sạn Sheraton

- Ngày 7-1 : làm việc với các nhà xuất bản. Lễ ký kết hợp tác xuất bản. Chiều: tham quan Bảo tàng Dân tộc học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Tối: Chủ tịch Thành phố Hà Nội chiêu đãi tại Biệt thự Hồ Tây.

- Ngày 8-1 : Sáng: Hội Nhà văn Việt Nam làm việc với đại biểu nước ngoài. Chiều: 14 giờ đi Quảng Ninh. Tối: Đêm thơ Quốc tế tại Lâu Đài Trắng – Tuần Châu, Quảng Ninh, nghỉ đêm tại nhà nghỉ Tuần Châu, Quảng Ninh.

- Ngày 9-1 : Sáng tham quan Vịnh Hạ Long, lên thăm các hang động rất đẹp. Xuống dạo chơi và ăn trưa trên du thuyền. Nhìn ra ngoài chỉ thấy sương mù. Đáng lẽ họ còn định đưa đi thăm một vài hòn đảo, nhưng thời tiết hôm ấy không đẹp, buổi sáng đã phát cho mỗi người 1 áo mưa, nhưng chỉ mưa bụi nên không dùng đến. Bù lại, họ cũng tặng mỗi người 1 túi sách và 1 tập hình ảnh Vịnh Hạ Long về xem đã. Ngồi trong du thuyền cũng có cái thú riêng. Mọi người, khách quốc tế và Việt Nam có thì giờ trao đổi tìm hiểu lẫn nhau. Bỗng một người khởi xướng lên một chương trình Văn nghệ Quốc tế mini (có micro sẵn). Nhiều khách quốc tế biết tiếng Việt lên hát, kể chuyện tiếu lâm bằng tiếng Việt, cười đến vỡ cả thuyền. Mấy chị Lào thì lên múa hát với bàn tay thật dẻo. Thấy nước chủ nhà chưa có màn nào, vài bạn đẩy tôi lên hát nhưng tôi run quá không dám. May có nhà thơ Nguyễn Duy cũng được mời lên đọc mấy bài thơ rất độc đáo của ông. Kế đó tôi mới liều bước lên xin đóng góp một bài hát tự biên “A bird astray over a strange land” (Cánh chim tha phương). Thấy tôi run quá, mọi người phải gõ bàn đánh nhịp để động viên, tôi mới vững giọng hơn. Cuối cùng, Ban tổ chức mời mọi người ai thích thì lên bầu cho Vịnh Hạ Long là Kỳ quan Thế giới bằng cách ghi tin và nhấn nút, nhưng có nhìn thấy gì đâu mà bầu với bán. Tối: Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ninh chiêu đãi tại Khách sạn Sài Gòn – Hạ Long. Nghỉ đêm tại Nhà nghỉ Tuần Châu – Quảng Ninh.

- Ngày 10-1 : Sáng đi Yên Tử. Leo mấy trăm bậc đá khá cao và qua mấy chặng cáp treo nối lên đền đỉnh núi Yên Tử. Nghe nói lên tới Chùa trên sẽ được đãi một tiệc chay, nhưng có chay mà có cả mặn, có lẽ để khách tham quan lấy lại sức sau khi leo dốc đá mệt bở hơi tai. Chiều: Thăm Phủ Thành Chương, khu Bảo tàng Dân tộc học. Tối: Tiệc Liên hoan Bế mạc do Hội Nhà văn chiêu đãi, có văn nghệ. Trước khi về, còn đi xem cá heo biểu diễn làm xiếc. 21 giờ 30 trở về khách sạn Tây Hồ, Hà Nội nghỉ một đêm chót.

- Ngày 11-1 : Các đoàn về nước.

Kết thúc một chuyến đi tốt đẹp, đối với tôi quả là đáng giá. Một chuyến đi ngắn ngủi trên đất nước mình mà quý hơn một chuyến du lịch dài trên thế giới. Trước hết thấy vui vì mọi người đều tốt với mình. Về phía Việt Nam, từ đại biểu cho đến Ban tổ chức, các cô nhân viên văn phòng, các cô sinh viên tình nguyện, ai cũng nhiệt tình ân cần giúp đỡ. Khách quốc tế thì rất hòa đồng, nhiều người biết tiếng Việt, người già thì chân tình, tế nhị, các cô cậu trẻ thì nói năng lễ phép. Một cậu cao ngồng, mũi lõ tóc hung mà giọng nói thì không khác gì con trai Hà Nội. “Dạ thưa Bác, cháu đã học tiếng Việt được 2 năm rồi ạ. Tên Việt Nam của cháu là Toàn ạ.” Tưởng là các cô cậu sinh viên, nhưng xem danh thiếp thì toàn là những Tiến sĩ Văn chương, Giảng sư Đại học… Họ đến từ những phương trời xa xôi, với nền văn hóa và sắc tộc khác mình, nhưng đã phấn đấu đạp đổ rào cản ngôn ngữ để tìm đến những cái gì khác với mình, những điểm son của thế giới tư tưởng. Mà lạ quá, xưa kia mình cũng đã được đi đây đi đó, quen với nhiều bạn quốc tế còn hơn bây giờ mà sao không thấy vui như bây giờ? À có lẽ vì các bạn hồi xưa chẳng ai biết tiếng Việt và thích Truyện Kiều của Việt Nam như bây giờ.

THÙY DƯƠNG

Tháng 01-2010

Phụ Bản IV

Làng văn hiến Phượng Vũ

Hàng ngàn, hàng vạn những câu thơ của những người con làng Phượng Vũ qua bao thế hệ đã ra đời trong tình yêu quê, yêu người đẹp như thế. Phượng Vũ là một ngôi làng có chiều sâu văn hiến lâu đời, cho đến nay dù cuộc sống có tấp nập, hối hả, thì quang cảnh nơi đây vẫn bình dị, hiền hòa.

Đây là quê hương của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn, hai danh sĩ Bắc Hà đầu thế kỷ XX. Con trai lãng tử của Phạm Duy Tốn là nhạc sĩ Phạm Duy. Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp là con trai Nguyễn Văn Vĩnh với bài thơ nổi tiếng Đi chùa Hương được phổ nhạc mà bao thế hệ người Việt Nam vẫn hát. Tất cả làm nên bộ mặt của ngôi làng hội tụ nhiều danh sĩ tài ba, cống hiến cho đất nước cả giá trị vật chất và tinh thần. Đặc biệt hơn, con cháu cụ Nguyễn Văn Vĩnh đầy đàn, có người lập nghiệp ở nước ngoài, vẫn ngày ngày nhớ về quê hương bản quán, muốn được đóng góp sức lực của mình để làm đẹp quê hương.

Làng Phượng Vũ, thuộc xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên. Xưa làng mang tên Phượng Dực. Các cụ trong làng bảo rằng vì kỵ huý vua Dực Tông (Tự Đức) nên Cánh Phượng (Phượng Dực) biến thành múa Phượng (Phượng Vũ) để tỏ lòng tôn kính, mà không mất đi cái hay cái đẹp của một cái tên làng. Phượng Vũ- múa phượng, dư thừa hấp dẫn để cuốn hút những giáo sư, học giả sau này về thăm thú, nghiên cứu. Ngày xưa, các cụ chia làng thành 12 giáp. Mà giáp thì cũng là xóm, nghĩa là một đơn vị cư trú theo địa vực. Ngày nay, làng vẫn giữ 12 xóm, mỗi xóm đều được dẫn bằng đường bê tông, hoặc lát gạch nghiêng, đi vào sạch sẽ. Người đến làng sẽ thật ngạc nhiên, là lần đầu tiên được thấy một quả chuông đồng mà “bồ lao chuông” là 4 đầu rồng đúc nổi, tạo nên một hình chữ thật đẹp tuyệt, lại rất chắc chắn khi treo chuông. Chuông có niên đại Cảnh Thịnh thứ nhất, Quý Sửu 1793, là một quả chuông hiếm, một văn vật quý của thời Tây Sơn.

Đình làng Phượng Vũ toạ lạc tại xóm Đình, giữa làng, kiến trúc thuộc nửa cuối thế kỷ XIX, được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích vào năm 1993. Nay nhà nước đầu tư tiền, cộng với tiền dân đóng góp, làng đang tích cực tu sửa. Cho đến ngày nay, không người dân nào của làng là không tự hào vì làng mình đã tham gia kháng chiến chống quân Mông-Nguyên xâm lược, với hai vị đại vương tối linh là biểu tượng tâm linh của Phượng Vũ là Đại vương Nguyễn Kỳ và người anh em kết nghĩa Hàn Vỹ (Hải Dương). Cả hai đều xem nhiều sách kim cổ, riêng Nguyễn Kỳ còn thông thạo võ nghệ. Ông Nguyễn làm quan Tán trị Đại phu, ông Hàn làm thượng sĩ Hàn Lâm viện. Thời Trần Nhân Tông, giặc Mông-Nguyên sang xâm lược nước ta, hai ông đều làm tướng đi đánh giặc, thủ hạ là 50 trai tráng trong làng. Hai vị sau này về dưỡng già ở Phượng Vũ, khi mất, vua cho phép làng lập đền thờ cúng.

Theo các vị lão làng, Phượng Vũ có 8 di tích lịch sử nghệ thụât (đình, chùa Hưng Long, văn chỉ, hai miếu Đông Tây, hai miếu Quan Quận, và lăng đá cụ Tiến Xương). Nay chỉ còn lại 3, là Lăng đá cụ Tiến Xương, đình, miếu Quan Quận. Một làng quê văn hiến, và hơn thế nữa, người làng - nhất là danh sĩ Đinh Danh Bá, Đồng tri phủ Gia Hưng. Rất nhiều người giỏi nho-y-lý-số, lại nhiều người giỏi kiêm văn võ. Điều đặc biệt là các khoa danh thời Nho được “phân phối” rất đều cho các họ và các ngõ xóm của làng chứ không chỉ tập trung vào một họ nào. Đó cũng là một đặc trưng của làng văn hiến Phượng Vũ, khiến cho các họ cả làng đều cảm thấy vinh dự như nhau. Và sự đố kỵ, vốn khá phổ biến ở các làng quê đã không in vào tâm thức người Phượng Vũ. Họ hòa nhã, quý trọng người hiền tài, đoàn kết tương thân tương ái…

Là một ngôi làng bình dị, Phượng Vũ còn giữ được khá nguyên vẹn sự hiếu đễ tôn kính người cao tuổi, thầy giáo, học giả… Những người có học cũng tỏ ra khiêm nhường. Tuy nhiên, họ sống với tinh thần của thời đại mới, làng mới mở rộng đường trục chính, đổ bê tông, thênh thang rộng, trải dài gần 2 cây số. Những con ngõ song song nhau, như những bậc của cây thang. Mỗi ngõ là một xóm, và thường có cổng xóm riêng. Người dân của làng đi đây đi đó nhiều, làm văn nghệ cũng nhiều. Nhiều người trong làng yêu văn chương, nhạc họa. Có người chơi được những loại nhạc cụ như đàn bầu, sáo, nhị. Họ du dương tiếp đãi nhau khi tụ họp, khi gặp một ai đó đi xa về. Coi như đó là một món quà quý hóa tặng nhau. Bên ấm trà nóng thơm, thưởng thức âm nhạc, giữa chốn thanh bình, thật tuyệt vời biết bao. Về việc ứng xử hàng ngày, đi ra ngoài, người làng cũng chú trọng giáo dục cho con cháu phải sống đạo đức. Việc tổ chức hiếu, hỷ tiết kiệm mà chu đáo. Những điều đó khiến nhiều nơi phải học tập. Về Phượng Vũ, là nhận được sự ấm cúng của tình người, của làng văn hóa đượm hồn quê.

Nguyễn Văn Học

Lịch GREGORIAN


Năm Tây vừa qua, năm Ta sắp đến, ngoài đường chỗ nào cũng thấy bán lịch. Chúng ta hãy tìm hiểu nguồn gốc của lịch.

Cuốn lịch hiện nay ta dùng không phải được làm một cách dễ dàng, mà là do sự đóng góp của nhiều nền văn minh, của các khoa học gia, toán gia, thiên văn gia qua các thời đại, và đã được sửa đổi nhiều lần.

Ai Cập là một trong những nước dùng lịch sớm nhất, khoảng 5000 năm trước Công Nguyên. Trung Hoa cũng theo sau Ai Cập, có lịch khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Những lịch đầu tiên là theo Âm lịch, có lẽ do mặt trăng dễ quan sát hơn mặt trời, mặt trăng có khi đầy, khi vơi, nhìn mặt trăng không bị đau mắt như nhìn mặt trời.

Cuốn lịch ngày nay ta dùng (lịch Gregorian) có nguồn gốc từ La Mã. Năm 753 trước Công Nguyên, vua Romulus cho làm lịch. Lịch này có 304 ngày chia làm 10 tháng, không kể 61 ngày của mùa đông vì mùa đông là thời gian nghỉ ngơi của nhà nông, không cần phải có lịch. Mỗi năm bắt đầu vào ngày Xuân Phân, hết 10 tháng là hết năm, phải đợi 61 ngày cho đến năm mới.

50 năm sau, tức 713 trước Công Nguyên, vua Numa Pompilius cho sửa lại lịch bằng cách thêm hai tháng nữa vào đầu năm. Vì sự thêm hai tháng này mà ngày nay có sự hiểu lầm: SEPTember, OCTober, NOVember, DECember nguyên thủy có nghĩa là tháng thứ 7, 8, 9, 10 bây giờ lại là tháng 9, 10, 11, 12.

Năm 45 trước Công Nguyên, dưới thời vua Julius Caesar, một quyển lịch khá hoàn chỉnh được ra đời, gọi là lịch Julian để vinh danh ông vua này. Tháng Bảy, là tháng mà Caesar sinh ra, được đổi thành Julius và thêm một ngày (lấy từ tháng Hai) để trở thành tháng nhuận. (Sau này vào năm 8 trước Công Nguyên, vua Augustus cũng đặt tên mình cho tháng thứ tám và cũng lấy một ngày của tháng Hai, vì thế mà tháng Hai chỉ còn 28 ngày mà thôi). Lịch Julian có 365 ngày trong một năm và cứ bốn năm một lần lại có một năm nhuận với tháng Hai được thêm một ngày để thành 29 ngày. Như thế mỗi năm trung bình có 365,25 ngày, tức là 365 ngày và 6 giờ chẵn. Nhưng trên thực tế ngày nay ta biết chính xác rằng chu kỳ của Trái đất quay quanh mặt trời là 365 ngày 5g58’46’’. Như vậy là lịch Julian thừa 11’14’’mỗi năm. Tuy con số này nhỏ, nhưng sau mười mấy thế kỷ nó đã trở nên đáng kể, khoảng 10 ngày. Nhà nông không tính được ngày chính xác để gieo trồng, thủy thủ không định hướng các ngôi sao một cách chính xác nữa. Ngày lễ Phục Sinh không còn gần ngày Xuân Phân nữa. Điều sau cùng này rất làm cho Hội Thánh La Mã quan tâm. Đức Giáo Hoàng Sixtus IV lệnh cho nhà toán học kiêm thiên văn học Johannes Muller xem xét vấn đề và sửa đổi lại ngày Phục Sinh cho thích hợp. Ít năm sau một cuốn lịch mới được ra đời mà người ta gọi là lịch Gregorian vì nó ra đời dưới triều đại của Đức Giáo Hoàng Gregory XII. Đây chính là quyển lịch mà ta dùng ngày nay. Lịch Julian chấm dứt vào ngày 4/10/1582. Lịch Gregorian bắt đầu ngày hôm sau, được sửa lại là ngày 15/10/1582.

Sự chuyển tiếp từ lịch cũ sang lịch mới gặp phải nhiều khó khăn, chống đối. Phái Tin Lành và Chính Thống Giáo không hưởng ứng ngay. Một số giáo phái ngày nay vẫn dùng lịch Julian. Các quốc gia Đông Âu như Nam Tư, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Lỗ Mani, qua thế kỷ 20 mới chịu dùng lịch này. Trung Hoa đến năm 1949 mới dùng. Vẫn còn những nước ở vùng Trung Đông không dùng lịch Gregorian mà dùng lịch riêng của họ. Các ngày lễ tôn giáo cũng không thống nhất.

Ngoài việc lấy thêm 10 ngày, lịch Gregorian còn ấn định rằng những năm chia chẵn cho 100 như 1700, 1800,… không phải là năm nhuận trừ khi con số năm đó chia chẵn cho 400 (như 1600, 2000)

Khuyết điểm của lịch Gregorian: các tháng không có cùng một ngày (từ 28 đến 31 ngày) do đó mỗi quý cũng không đồng đều (90 – 92 ngày). Nửa năm đầu cũng không có cùng số ngày với nửa năm sau, mà ít hơn 2 – 3 ngày. Số tuần lễ trong các quý cũng không đồng đều. Những việc này làm cho việc tính toán lương bổng, sổ sách, tiền lời, thuế má gặp khó khăn, thống kê không chính xác. Mỗi năm những ngày lễ, ngày nghỉ không rơi vào cùng ngày trong tuần lễ. Điều này làm cho các nhà cầm quyền phải ấn định hàng năm những ngày nào là ngày lễ, ngày nghỉ trong đó.

Năm 1923 Hội Quốc Liên (sau này là Liên Hiệp Quốc) bắt đầu khuyến khích nỗ lực thiết lập một quyển lịch hoàn hảo hơn, để được mọi quốc gia , tôn giáo chấp nhận. Để đáp lời kêu gọi này, Hãng Eastman – Kodak đưa ra quyển lịch 13 tháng, nhưng không được chấp nhận. Rồi thì năm 1930, một phụ nữ Mỹ là Elisabeth Achelis (1880 – 1973) đưa ra một quyển lịch gọi là “Lịch Thế Giới” với nhiều cải tổ. Là một người phụ nữ yêu hòa bình, có tâm huyết và phương tiện, bà vận động rất mạnh với các quốc trưởng, với tổ chức Hội Quốc Liên / Liên Hiệp Quốc, nhưng không có kết quả. Nhóm của bà vẫn tiếp tục vận động, họ hy vọng sẽ được Liên Hiệp Quốc chấp thuận vào năm 2012. Chúng ta hãy chờ xem.

N.C.T

THIÊN VĂN HỌC

Người viết xin nói về Trái Đất trước khi nói về những thiên thể khác

Trái Đất là một trong tám hành tinh thuộc Thái Dương Hệ (tức hệ mặt Trời). Kể từ 2006 Diêm Vương Tinh (Pluto) không được coi là một hành tinh nữa. Trái Đất nằm ở vị trí thứ ba tính từ vị trí xa dần từ mặt trời.

Bản đồ thế giới, vào khoảng năm 500 trước Công Nguyên

Từ thời thượng cổ người ta cho rằng đất (chứ không phải Trái Đất) là một đĩa tròn nằm giữa biển. Người Trung Hoa cho rằng đất hình vuông, bầu trời hình tròn. Quan niệm này của người Trung Hoa còn tồn tại cho đến thế kỷ 17 khi văn minh Âu châu tràn sang. Pythagoras vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên nói rằng Trái Đất có hình cầu, nhưng ông không chứng minh được. Người đầu tiên chứng minh được Trái Đất có hình cầu là Aristotle vào năm 330 trước Công Nguyên (như đã nói trong bài trước). Nhưng ông không được mấy ai tin qua nhiều thế kỷ. Cho đến thế kỷ thứ 15 nhiều người vẫn còn nghi ngờ. Christopher Columbus, người được coi là đã tìm ra Mỹ châu năm 1492, đã góp phần chứng minh rằng Trái Đất có hình cầu bằng những chuyến thám hiểm của ông: nếu đi mãi về một hướng ta sẽ trở về nơi cũ, và tàu không bị rớt khỏi đất (ông tính toán sai lầm, tưởng rằng mình đã đến vùng biển của nước Nhật và cuối cùng đến Ấn Độ. Nhưng thật ra ông đã không đến Ấn Độ mà đến vùng eo biển Carribean (gần Cuba), thuộc Mỹ châu. Vì thế vùng này được gọi là West Indies và thổ dân Mỹ châu vẫn bị gọi nhầm là Indians)

Cũng từ thời thượng cổ, người ta vẫn tin rằng đất là trung tâm của vũ trụ (hệ địa tâm, geocentrism). Đất không di chuyển, mặt trăng, mặt trời và các tinh tú quay quanh đất. Người đầu tiên bác bỏ quan niệm này là Aristarchus. Năm 220 trước Công Nguyên ông đưa ra thuyết mặt trời là trung tâm của vũ trụ, Trái Đất và các hành tinh khác quay quanh mặt trời (hệ nhật tâm, heliocentrism) nhưng không mấy ai tin, và cái thuyết địa tâm vẫn còn đứng vững được gần 18 thế kỷ nữa! Lý do người ta không tin rằng mặt trời là trung tâm vũ trụ là vì:

1/ Người ta và đồ vật sẽ bị rơi khỏi Trái Đất khi ở vị trí chổng ngược.

2/ Nếu Trái Đất quay thì ta phải cảm thấy có gió thổi vào mặt.

3/ Khi một vật rơi từ trên cao xuống thì tại sao nó không bị lệch đi, nếu Trái Đất quay?

Nhưng lý do chính mà người ta không tin là vì sự chống đối của Hội Thánh Công Giáo La Mã. Hồi đó Giáo Hoàng, Hồng Y… có rất nhiều quyền hành, nhiều vị đã lạm dụng quyền hành và làm những điều sai trái. Giáo hội bị tai tiếng, bị chống đối, chia rẽ. Muốn chấm dứt tình trạng này, Giáo hội có khuynh hướng khắt khe với những ai chống đối, có những tư tưởng không phù hợp với những điều ghi trong Kinh Thánh. Hai nhà thiên văn học đã bị đem ra xử vì tội dị giáo, tức là tuyên truyền những điều không đúng với Kinh Thánh, là:

- Geordano Bruno (1548 – 1600), ông là một linh mục và cũng là một nhà thiên văn học. Ông ủng hộ thuyết nhật tâm (mặt trời là trung tâm vũ trụ) và giảng dạy rằng vũ trụ là vô tận, mặt trời chỉ là một ngôi sao nhỏ, có những hành tinh như Trái Đất trên đó có người ở. Chúng ta không phải là độc nhất do Chúa sinh ra. Ông bị tù 7 năm về tội mạ lỵ Giáo hội, và dị giáo. Để tránh bị xử tử hình ông được phép rút lại toàn bộ lý thuyết của ông, nhưng ông từ chối, và bị hỏa thiêu năm 1600 (một hình thức xử tử hay dùng hồi đó là trói tội nhân vào cột, để củi chung quanh và đốt cho đến chết).

- Galileo Galilei (1564 – 1642), một thiên tài về toán, vật lý và thiên văn. Ông còn có tài hùng biện và rất khéo tay. Ông tự mài kính để làm kính viễn vọng, kính của ông là tốt nhất và có độ phóng đại lớn nhất thời bấy giờ. Với kính này ông có thể thấy được các vệ tinh của Mộc Tinh (Jupiter). Ông khám phá ra rằng Kim Tinh (Venus) cũng có lúc đầy lúc khuyết như mặt trăng; Trái Đất cũng như các hành tinh khác không phát ra ánh sáng mà chỉ phản chiếu ánh sáng từ mặt trời; vùng tối của mặt trăng nhận được “ánh sáng đất” tương tự như ánh sáng trăng mà ta thấy ở Trái Đất (người viết sẽ viết thêm về “sáng đất” trong bài tới, khi nói về mặt trăng). Những khám phá trên làm ông quả quyết tin rằng mặt trời là trung tâm của thái dương hệ. Ông bị Hội Thánh La Mã cho là dị giáo và đưa ra tòa. Ông được chọn một trong hai điều: rút lại những gì đã viết và thuyết giảng, hoặc bị tử hình. Ông chọn con đường sống, bị quản thúc tại gia cho đến khi chết.

Năm 1992, 350 năm sau khi ông chết, Đức Giáo Hoàng John Paul II chính thức công nhận lỗi lầm của Giáo Hội.

BỐN MÙA TRÊN TRÁI ĐẤT

21/3

Đông

Xuân

Qũy đạo của Trái Đất quay quanh mặt trời là hình bầu dục. Phải chăng khi Trái Đất ở gần mặt trời thì lúc đó là mùa Hè? Không phải vậy: ngày 4/1 là lúc Trái Đất ở gần mặt trời nhất (147 triệu cây số) mà lại là lúc rất lạnh; trái lại ngày 3/7, lúc mặt trời ở xa nhất (152 triệu cây số) mà lại là mùa Hè. Lý do gây ra bốn mùa là vì trục của Trái Đất (bắc – nam) không thẳng góc với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất, mà lệch đi một góc 23,5o. Nếu trục này không lệch thì lúc nào mặt trời cũng chiếu thẳng góc vào Xích Đạo; ngày nào cũng dài bằng nhau, hai miền Nam, Bắc bán cầu nhận được ánh sáng mặt trời bằng nhau quanh năm; không còn bốn mùa nữa. Cái góc 23,5o này làm cho Bắc bán cầu nhận được nhiều ánh sáng mặt trời hơn vào các tháng 6, 7, 8 nên nóng hơn, đó là mùa Hè. Ngược lại, mùa Hè là mùa lạnh ở Nam bán cầu . Chỉ có 11% nhân loại sống ở Nam bán cầu, khi ta nói mùa Hè thì ta hiểu là mùa Hè của 89% nhân loại ở Bắc bán cầu, chứ không để ý đến mùa Hè ở Nam bán cầu, khi trời rất lạnh. Học sinh ở Úc thường nhập học vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2, và nghỉ hè vào những tháng 11, 12, 1 (những tháng nóng nhất)


Mùa Xuân bắt đầu từ ngày 21/3 (Xuân Phân) vào ngày này, mặt trời chiếu thẳng góc vào Xích Đạo. Nếu bạn đứng ở xích đạo lúc 12 giờ trưa thì mặt trời ở ngay đỉnh đầu bạn, cái bóng của bạn nằm gọn giữa hai bàn chân. Những ngày kế tiếp, nếu bạn muốn tiếp tục có mặt trời trên đỉnh đầu thì bạn phải đi dần lên phía Bắc. Ba tháng sau, ngày 22/6 (Hạ Chí) bạn phải lên đến vĩ độ 23,5o Bắc thì mặt trời mới ở trên đỉnh đầu của bạn lúc 12 giờ trưa. Ngày này là bắt đầu của mùa Hạ. Sau ngày này, mặt trời thôi không lên nữa mà trở xuống, và đến Xích Đạo ngày 23/9 (Thu Phân) và mùa Thu bắt đầu từ đấy. Mặt trời bắt đầu xuống đến Nam bán cầu, đi dần về phía Nam cho đến vĩ độ 23,5o Nam, lúc đó mùa Thu tàn tạ (hàng cây khô, tình bơ vơ…) và nhường chỗ cho mùa Đông từ ngày 21/12 (Đông Chí)

Tóm lại ta có bốn ngày cần nhớ:

- Xuân Phân (21/3) mặt trời chiếu thẳng góc vào Trái Đất ở vị trí Xích Đạo

- Hạ Chí (22/6) mặt trời chiếu thẳng góc vào Trái Đất ở vĩ độ 23,5o Bắc. Đường song song với Xích Đạo qua vĩ tuyến 23,5o Bắc gọi là Hạ Chí Tuyến

- Thu Phân (23/9) mặt trời cũng chiếu thẳng góc vào Trái Đất ở vị trí Xích Đạo

- Đông Chí (21/12) mặt trời chiếu thẳng góc vào Trái Đất ở vĩ độ 23,5o Nam. Đường song song với Xích Đạo qua vĩ tuyến 23,5o Nam gọi là Đông chí tuyến

Những ngày này có thể xê xích chút ít (sai lệch không quá một ngày tùy theo năm, nhưng thường rơi vào những ngày trên)

Ngày Hạ Chí (22/6) có ngày dài nhất, đêm ngắn nhất tại Bắc bán cầu, ánh sáng chiếu vào Bắc bán cầu nhiều nhất. Nhưng tại sao ngày này không phải là ngày nóng nhất? Là vì còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến nhiệt độ. Những yếu tố này là băng tuyết, nước, cây cỏ, đất đá… Những thứ này tác dụng như một cái máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ, khiến Trái Đất chậm bị nóng vào mùa Hè và chậm bị lạnh vào mùa Đông. Khoảng 6 tuần sau ngày Hạ Chí thì nhiệt độ ở Bắc bán cầu mới thực sự lên cao, lúc đó là khoảng đầu tháng 8, băng tuyết đã tan nhiều, cây cỏ bắt đầu chết, sông ngòi cạn dần. Ngược lại, sau ngày Đông Chí (21/12) độ 6 tuần, đến đầu tháng 2 thì nhiệt độ mới thực sự xuống thấp.

Ngoài Hạ Chí Tuyến và Đông Chí Tuyến còn có hai đường tưởng tượng nữa, cũng song song với Xích Đạo. Đó là Đường Vòng Bắc Cực (Arctic Circle) ở vĩ tuyến 66o33’ Bắc, và Đường Vòng Nam Cực (Antarctic Circle) ở vĩ tuyến 66o33’ Nam

Vào ngày Đông Chí (21/12) tại vĩ tuyến 66o33’ Bắc mặt trời không mọc, cũng không lặn, chỉ ở chân trời và quét một vòng chung quanh Trái Đất trong 24 giờ.

Vào ngày Hạ Chí (21/3) hiện tượng này cũng được thấy ở vĩ tuyến 66o33’ Nam.

CÁC VÙNG CỦA TRÁI ĐẤT:

Bắc Bán Cầu được chia là 3 vùng:

- Vùng Nhiệt Đới: Từ Xích Đạo đến Hạ Chí Tuyến

- Vùng Ôn Đới: Từ Hạ Chí Tuyến đến Vòng Đai Bắc Cực

- Vùng Hàn Đới: Từ Vòng Đai Bắc Cực trở lên

Đối xứng qua Xích Đạo, Nam Bán Cầu cũng được chia làm 3 vùng như vậy.

P.C.T

Nụ Cười Xuân

Trước và Sau

Trước ngày đám cưới …

Chàng : Ui ! Cuối cùng thì ngày này đã đến ! Anh đã chờ mong quá lâu !

Nàng : Anh có muốn em ra đi không ?

Chàng : Không ! đừng có nghĩ tới chuyện huyển hoặc !

Nàng : Anh có yêu em không ?

Chàng : Dĩ nhiên rồi ! Cả ngàn lần cũng không đủ !

Nàng : Anh có bao giờ lừa dối em không ?

Chàng : Không ! Tại sao em hỏi câu ngớ ngẩn !

Nàng : Anh có muốn hôn em không ?

Chàng : Mổi khi anh có cơ hội.

Nàng : Anh có đánh em không ?

Chàng : Em điên hả ? Anh đâu có phải loại người đó !

Nàng : Em có thể tin tưởng nơi anh được chớ ?

Chàng : Ừ!

Nàng : Anh yêu !

Và sau ngày cưới năm năm xin đọc ngược lại từ dưới lên trên

CÃI VÃ SIÊU KINH ĐIỂN

Đã bao giờ bạn nghe được một cuộc cãi vã mà toàn là những câu hỏi, mà không hề có câu trả lời chưa?

Câu chuyện xẩy ra vào một buổi tối, người chồng về nhà muộn…

- Sao anh về muộn thế?

- Mấy giờ rồi mà cô bảo muộn?

- Anh không có đồng hồ à?

- Cô tưởng cái đồng hồ rẻ rách của tôi không bao giờ chết à?

- Thế sao anh không hỏi người ta?

- Người ta là ai? Cô định ám chỉ người nào?

- Anh tưởng là tôi không biết gì ư? Thế anh lê la ở những xó xỉnh nào mà đến bây giờ mới vác mặt về nhà?

- Cô học ở đâu những cách ăn nói với chồng như vậy?

- Thế anh bảo tôi phải ăn nói với anh như thế nào?

- Cô không thể tìm được lời lẽ có văn hóa hơn một chút hơn so với trình độ của cô hay sao?

- Thế anh tưởng rằng anh có văn hóa lắm ư? Anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?

- Liên can gì đến cô?

- Tại sao anh cứ trả lời câu hỏi của tôi bằng câu hỏi của anh?

- Tại sao lại không?

- Tôi hỏi lại: anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?

- Tiền cô giữ hết rồi, lấy đâu mà bia với rượu?

- Thế thì lương mới lĩnh đâu hết rồi?

- Cô tưởng rằng lương tôi nhiều lắm à?

- Anh đưa hết tháng lương cho con nào vậy?

- Cô cho rằng ngoài cô ra, mọi người phụ nữ khác đều là con cả hay sao?

- Không phải là gái thì tại sao lại đưa hết tiền cho nó? Hả…? Hả…?

- Tại sao cô lại tru tréo, gào lên như con điên thế?

- Không tru tréo lên để anh muốn làm gì thì làm à?

- Bơn bớt cái mồm đi có được không?

- Tôi không bớt thì anh định làm gì tôi?

- Cô không thách thức tôi đấy chứ?

- Anh có dám không?

- Đến nước này thì tại sao tôi lại không dám?

Bốp…. --> Mở màn cho một trận chiến khác .

M Đ st

ĐỐ VUI

¶ Bạn có 30 giây để trả lời mỗi câu hỏi sau đây:

Một chiếc máy bay bay một vòng chung quanh trái đất, luôn luôn bay ở độ cao 1km phía trên xích đạo. Bán kích trái đất là 6400km. Hỏi chiếc máy bay đã phải bay một khoảng cách dài hơn đường xích đạo là bao nhiêu?

A/ 6,28 km

B/ 62,8 km

C/ 628 km

D/ 6280 km

¶ ¶ Giả thử đường kính của trái đất chỉ là 1600km thì đáp số của câu hỏi trên là bao nhiêu?

A/ 1,57 km

B/ 6,28 km

C/ 31,4 km

D/ 628 km

P.C.T

 


L
Ư

I
G
Ư
Ơ
M
ĐẪM MÁU

Chuyện tôi sắp kể với bạn là chuyện tên Đức, kẻ chuyên sống bằng nghề cho-vay-nặng-lãi.

Hắn có khoảng vài trăm con nợ. Vài người trong số đó vì quá tuyệt vọng, vì không chịu nổi lãi suất kinh hồn của hắn, đã đi đến chỗ tự tử để tự giải thoát khỏi bàn tay đẫm máu của hắn. Số người bị lãi mẹ đẻ lãi con làm tán gia bại sản cũng không ít.

Các nạn nhân của hắn nguyền rủa hắn một trăm ngàn lần, hắn vẫn tỉnh bơ và vui cười ngoác cả miệng với họ miễn là đừng có bớt số “phân” của hắn. Lạ thay, lời nguyền rủa thứ một trăm ngàn lẻ một đã kết thúc đời hắn một cách hết sức kỳ lạ.

Tôi nợ hắn hai triệu đồng, hắn tính tôi một số lời tóe máu, nhưng ác hại hơn cả là hắn lại coi tôi như một bạn thân… Điều này làm tôi bực mình, vì là bạn thân, tôi phải về hùa với hắn để dửng dưng trước những giọt lệ khóc than, những lời van xin của các nạn nhân của hắn.

Bây giờ tôi đã hết buồn về chuyện này, vì lỡ là bạn thân của hắn, tôi đã được chứng kiến cái chết kỳ dị của tên chủ nợ tàn nhẫn nhất đời này.

***

Sáng hôm đó tôi thấy hắn ngồi ở bàn giấy, trước mặt hắn là một người trẻ tuổi, nước da tái mét, nhưng rất đẹp trai.

Người tuổi trẻ đang năn nỉ: - “Bác Đức ơi, tôi thật không thể trả nợ bác ngay được, nhưng tôi van bác, xin đừng vội siết nợ. Mẹ tôi đang đau, nếu bà biết bị đuổi khỏi nhà, chắc bà chết mất. Bác làm phước cho tôi gán bức tranh này. Đây là tác phẩm quý giá nhất của tôi mà tôi mong sẽ để đời, tôi đã vẽ đi vẽ lại cả trăm lần mà vẫn chưa thật vừa ý, và cũng chưa hoàn tất hẳn. Tôi cảm thấy như vẫn còn thiếu một cái gì đó. Chưa biết rõ là cái gì, nhưng rồi tôi sẽ tìm thấy và sẽ hoàn tất tác phẩm tuyệt vời này. Xin bác tạm nhận tranh này để trừ vào món nợ của tôi.”

Đức cười gằn. Thấy tôi, hắn gọi tôi vào và chỉ cho xem bức tranh khổ trung bình đang đặt dựa vào tủ sách. Xem tranh tôi phục quá; ít khi tôi gặp một bức tranh đẹp như vậy. Tuy đề tài rất tầm thường: một người tráng sĩ, tay vung một lưỡi gươm, đằng sau là khói lửa từ một kinh thành đang cháy.

Thấy tôi thích, nhà họa sĩ nghèo cho biết anh đã nằm mơ thấy mình là người tráng sĩ trong khói lửa đó từ lâu lắm, bây giờ coi như vẽ gần xong mà anh vẫn chưa quyết định đặt tên cho bức họa…

“Ông thiếu tôi hai cây rưỡi vàng, ông Trọng Cư”, Đức bỗng lên tiếng. “Nhưng bức tranh của tôi giá trị có thể gấp đôi!” “Có lẽ, nhưng phải trong cả trăm năm nữa, tôi đâu sống tới lúc đó!”

Tôi chợt nhận thấy ánh mắt hơi có vẻ chịu của Đức. Hắn phán: “Thôi được, tôi thương cậu lắm nên tạm nhận và gia hạn cho cậu ba tháng nữa phải trả đủ cho tôi số vốn, số lãi coi như đổi bức tranh.”

Trọng Cư nói như muốn khóc: “Bức tranh để đời của tôi mà chỉ được số tiền lãi thôi sao? Nhưng thôi, cũng được vì bây giờ tôi không lựa chọn gì được.”

Người họa sĩ buồn bã bước ra cửa, Đức còn nói với theo: “Khi trở lại thanh toán, nhớ đặt tên cho bức tranh nhé!”

Bức tranh sau đó được treo lên tường ngay sau bàn giấy của Đức.

***

Ba tháng qua mau như gió thoảng. Trọng Cư không kiếm được tiền trả.

Chàng cầu khẩn, van xin, hứa hẹn đủ điều nhưng không lay chuyển nổi lòng Đức, tên vua cho vay nặng lãi. Ngày thừa phát lại mang “giấy tống xuất” lại căn nhà của họa sĩ nghèo, viên chức này thấy hai mẹ con nhà họa sĩ nằm chết cong queo trên chiếc võng duy nhất, bên cạnh một nồi cháo gà.

Trên bàn có một lá thư gửi cho tên Đức: “Tôi đã hứa đặt tên cho tranh, vậy tên nó là TUỐT GƯƠM TRẢ HẬN.”

Đức không hài lòng, hắn bảo: “Tên bức tranh này không hay, hơn nữa bây giờ thằng họa sĩ ngỏm rồi, trả hận bằng cách nào?”

Hắn không biết rằng hắn vừa thốt lời thách thức quỷ thần!

***

Một buổi sáng lại chơi, tôi thấy Đức có vẻ bồn chồn, nóng nảy.

- Này, cậu nhìn bức tranh xem có thấy gì lạ không?

Thấy tôi trả lời “Không”, hắn có vẻ hài lòng và giơ tay vuốt trán, tôi chợt thấy trán hắn ướt đẫm mồ hôi.

- Tôi thật là hay tưởng tượng, cậu có biết không, tối hôm qua tôi khó ngủ quá nên thức dậy đi ra văn phòng. Đêm qua sáng trăng, căn phòng được chiếu sáng, cậu biết tôi thấy cái gì không? Tôi bỗng thấy như tay tráng sĩ trong tranh động đậy, động đậy… rồi khiếp quá, tôi có cảm tưởng như hắn thò tay ra muốn nắm lấy cổ tôi…

Tôi bảo: “Anh khùng quá, làm gì có chuyện kỳ quái đó!” Nếu thấy không thích thì lấy dao rạch quách bức tranh là xong!”

- Xong sao được, ai đền tôi hai cây rưỡi vàng, đây, rồi còn bao nhiêu là phần trăm lời nữa!

***

Ba ngày sau, tên Đức mà tôi gặp không còn là tên Đức quen thuộc với nụ cười ngoác tận mang tai. Hắn già đi ít ra vài chục tuổi. Hắn run rẩy nhìn tôi bằng đôi mắt lạc thần: - “Trời ơi, quỷ quá ông ạ, đêm qua thằng tráng sĩ bước ra hẳn khỏi tranh để chực chém tôi, nhìn xem kìa, nhìn xem kìa, thanh gươm bây giờ NẰM NGANG trong khi lúc trước nó được giơ lên! Nhìn xem! Nhìn xem! Ghê rợn quá!

Tôi thấy lạnh xương sống. Mình cũng điên như hắn chăng? Thật phi lý, nhưng sao thanh gươm giờ đây lại NẰM NGANG trong tay người tráng sĩ thật!

***

Tôi thúc Đức đem rạch nát ngay bức tranh, nhưng óc biển lận của hắn đã thắng cả sự sợ hãi. Hắn không tin tranh có thể hại hắn thật.

***

… Đức đã chết.

Người ta tìm thấy hắn ngồi chết ở trên ghế, cổ bị đứt gần lìa khỏi người; lưỡi gươm đã chém vạt cả vào thành ghế.

Tôi sợ hãi liếc mắt nhìn lên tấm tranh: lưỡi kiếm vấy máu tới gần cán.

VŨ ANH TUẤN

Viết lại theo một chuyện rùng rợn của Jean Ray.

MỤC LỤC

Vài chi tiết cuộc họp ngày 09/01/2010 ................................ 1

Vài dòng về cuốn “Một chiến dịch ở Bắc kỳ” ..................... 3

Bài thơ “Cánh rừng Việt Bắc” của Bác Hồ ........................ 11

Năm con Hổ ...................................................................... 15

Cải cách hành chính... ...................................................... 18

Nhà Tây Sơn ..................................................................... 21

Bản chất xã hội qua Tú Xương .......................................... 32

Tìm hiểu Thăng Long – Hà Nội ......................................... 43

Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh ................................................... 47

Bước nhảy của hùm trong truyện Kiều .............................. 49

Mùa Xuân bất tận của Đạo Phật ........................................ 57

Văn hóa trong việc thưởng Xuân ....................................... 58

Sớ Táo Quân (thơ) ............................................................. 64

Hờn Xuân (thơ) ................................................................. 66

Chào Xuân 2010 (thơ) ...................................................... 67

Tết Canh Dần (thơ) ........................................................... 67

Chúc Xuân Canh Dần (thơ) .............................................. 67

Xuân tự tại (thơ) ................................................................ 68

Xuân vô vị (thơ) ................................................................ 68

Sài Gòn đêm Xuân (thơ) ................................................... 69

Cũng là chuyện… tình già (thơ) ........................................ 69

Thành Thăng Long (thơ) ................................................... 71

Bài ca người gảy đàn cầm ở Thăng Long (thơ) ................... 72

Một thời tuổi Xuân (thơ) ................................................... 74

Cũng là chuyện… ngày xưa ............................................... 74

Điếu văn như luận thời cuộc ............................................. 76

Bài ca vãn của Cụ Phạm Phú Thứ

điếu Cụ Phan Thanh Giản ............................... 81

Một cái nhìn về Thiền trong đạo Phật ................................ 85

Hồi ký 1 chuyến đi .......................................................... 107

Làng văn hiến Phượng Vũ ............................................... 117

Lịch Gregorian ................................................................ 119

Thiên Văn Học (kỳ 2) ...................................................... 122

Nụ Cười Xuân ................................................................. 128

Đố vui ............................................................................. 131

Tết Việt Nam (nhạc) ........................................................ 132

Truyện dịch ..................................................................... 133

|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
|  06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
|  11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
|  21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
|  26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
|  36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
|  41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
Netadong.com thiết kế