Hiện có 6 người xem / 1098555 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 13/01/2018

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA & NAY

Khác với mọi lần, để mở đầu phiên họp Dịch giả Vũ Anh Tuấn luôn giới thiệu với các thành viên hai cuốn sách mới mà ông mới có, lần này không phải ông giới thiệu, mà là ông trình bày với các thành viên hai câu chuyện về hai cuốn sách đó, mà ông muốn kể để các thành viên cảnh giác trong việc in ấn các tác phẩm của mình trong năm mới này, đơn giản chỉ vì năm nào CLB cũng có các thành viên in ấn các tác phẩm của chính mình.

Khi kể câu chuyện thứ nhất ông có đưa cho các thành viên xem một tờ nguyệt san được in ấn rất đẹp, và cho biết, bốn năm trước, một hôm trong lúc đi chơi ông bắt gặp tờ nguyệt san đó, và thấy nó được in ấn đẹp và dễ thương quá. Thế là khi về nhà, ông gửi ngay cho nguyệt san đó truyện ngắn Hảo Mộng của ông, và vui thay, chỉ mấy hôm sau ông được cho biết truyện ngắn của mình sẽ được in trong số mới sau số đã phát hành. Mấy tuần sau, khi biết số báo trong có truyện ngắn của mình đã được bán, ông hỏi lung tung để biết chỗ có bán là một nhà sách ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, ông lập tức đi taxi tới nhà sách rước tờ nguyệt san về, giá tiền phải trả cho nguyệt san chỉ có 60 đô mít, bây giờ từ mới là 60 k, nhưng tiền taxi thì ông phải trả gấp 4 lần. Cầm cuốn sách trong tay, và giở bên trong thấy truyện ngắn của mình được đăng trên 11 trang, lòng dạ ông hân hoan vui sướng, chỉ mong chóng về tới nhà để mở đọc. Rất tiếc là niềm vui khi thấy truyện ngắn của mình được đăng tải trên một nguyệt san đẹp của ông đã không tồn tại lâu. Về đến nhà, sau khi ăn qua loa một bát cơm, ông vác tờ nguyệt san đẹp ra đọc truyện ngắn của mình, để thấy niềm vui của mình vụt biến mất, và được thay thế bằng một sự bực bội khó tả. Lý do là truyện ngắn của ông được đăng trên 11 trang, mà cứ từ cuối trang này sang đầu trang kế tiếp, đôi khi cả ở cuối trang kế tiếp, chỗ thì thiếu vài chữ, chỗ thì thừa có khi cả gần 20 chữ, và có tổng cộng 8 lỗi như vậy trên 11 trang giấy, đơn giản chỉ vì người sắp trang đã cắt xén để các trang in ra được vuông vắn đều đặn và đẹp mắt, mà chẳng quan tâm tới việc truyện ngắn bị cắt xén lung tung chỗ thừa, chỗ thiếu, và biến thành một… món lẩu rất ít ngon! Cố nhiên là sau khi xảy ra sự việc đó, ông đâu dám gửi bài tiếp cho tờ nguyệt san đó nữa. Ông kể chuyện này cho các thành viên chỉ để nhắc nhở các thành viên là cần cẩn thận khi in ấn các tác phẩm của mình trong năm mới này.

Câu chuyện thứ hai ông kể liên quan tới cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến của Nguyễn Vỹ, một tác giả trước năm 75, do nhà xuất bản Văn Học in, trong đó có chứa đựng một sai lầm tai hại khiến cho ngoại nhân nó cười người mình viết ẩu, mà ông thì ông tối kỵ việc để ngoại nhân nó có cơ hội cười người mình. Năm 1999, ông tình cờ được một người bạn tặng cuốn này, và ông đã thấy tác giả nhầm khi cho rằng câu thơ “Đi là chết ở trong lòng một ít” (Partir, c’est mourir un peu) là của ký giả - nhà văn Pháp Roland Dorgelès (1885-1973) tác giả cuốn “Trên Đường Cái Quan” (Sur la route mandarine), trong khi trên thực tế câu thơ nói trên là của nhà thơ, cũng là người Pháp, Edmond Haraucourt (1856-1941). Thực ra ký giả - nhà văn Roland Dorgelès chỉ mượn câu thơ trên để lên trang mang tựa đề (trang nằm ngay sau bìa sách) giúp cho người đọc có một ý niệm về nội dung cuốn sách là một cuốn du ký, và câu thơ đó không phải do chính tác giả viết ra. Còn về nhà thơ Edmond Haraucourt thì ông được tất cả các Tự Điển Văn Học Pháp cho biết là chỉ có một câu thơ được người đời biết và nhớ tới (un seul vers connu) và đó chính là câu “Đi là chết ở trong lòng một ít” (Partir, c’est mourir un peu) do đó việc râu ông nọ cắm cằm bà kia này là cần phải được chỉnh sửa để ngoại nhân không cười người mình viết không chính xác. Năm 1999 khi thấy sự nhầm lẫn này trong cuốn sách, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã thông báo cho chi nhánh nhà xuất bản Văn Học ở Tp.HCM biết và đã được hứa khi tái bản chuyện sai lầm này sẽ được chỉnh sửa. Nhưng tới năm 2007, là năm cuốn sách được tái bản, và cũng là cuốn sách hôm nay ông cho các thành viên xem, nơi trang 128, các dòng 3, 4, và 5 (từ dưới lên) mấy chữ “là lấy nguyên vẹn câu của nhà văn Pháp Roland Dorgelès để trên trang đầu cuốn phóng sự hồi kí “Sur la route mandarine”… vẫn còn y nguyên như trong bản in năm 1999, tóm lại sai lầm vẫn chưa hề được chỉnh sửa. Dịch giả Vũ Anh Tuấn hy vọng rằng sai lầm tai hại này sẽ có ngày được đính chính, nhưng ngay lúc này, ông chỉ muốn các bạn thành viên trong CLB của mình biết rõ về tác giả của câu thơ nổi tiếng đó mà thôi.

Sau khi Dịch giả Vũ Anh Tuấn kể chuyện xong, thành viên Nhựt Thanh lên nói về chuyến du hành sang Singapore mà ông vừa đi về qua một số nhận xét và cảm nghĩ về nơi này. Tiếp lời anh Nhựt Thanh, anh Phước Hải lên kể cho các thành viên nghe một truyện ngắn. Anh Phước Hải kể xong, anh Thanh Phong lên ngâm tặng các thành viên một chùm thơ về tình yêu. Tiếp lời anh Thanh Phong, Thùy Hương lên ngâm tặng các thành viên bài thơ Tình Muộn mô tả cuộc tình của cô và nhà thơ Hải Âu. Sau Thùy Hương, Kim Mai lên hát tặng các thành viên bài “Đoàn người lữ thứ” của Lam Phương. Tiếp lời Kim Mai, anh Tấn Thuận lên hát bài “Anh đưa em sang sông”. Sau anh Tấn Thuận, nhà thơ Hải Âu lên ngâm tặng các thành viên bài thơ “Kỳ duyên”. Sau Hải Âu, anh Minh lên hát tặng các thành viên một ca khúc bằng Pháp văn mang tựa đề là “Tôi nghe tiếng còi tàu hỏa” (J’entends siffler le train). Anh Minh hát xong, anh Phùng Chí Tâm lên tặng các thành viên mấy bài thơ về Tết. Sau anh Tâm, anh Lê Nguyên lên ngâm tặng các thành viên ba bài thơ. Tiếp lời anh Lê Nguyên, anh Lang Nguyên cũng lên ngâm tặng các thành viên hai bài thơ. Sau anh Lang Nguyên, anh Vĩnh ngâm tặng các thành viên bài thơ “Cảm Xuân”. Anh Vĩnh ngâm xong bài thơ, anh Phùng Chí Tâm hát tặng các thành viên thêm bài “Em hãy còn mê ly”. Anh Tâm hát xong, Hoài Ly lên và cũng ngâm tặng các thành viên một bài thơ. Sau Hoài Ly, Lệ Ngọc đăng đàn hát tặng các thành viên bài “Mùa hoa anh đào” của Thanh Sơn. Lệ Ngọc hát xong, Kim Sơn lên chúc Tết các thành viên trẻ mãi không thèm già và hát tặng các thành viên bài “Xuân đã về”. Sau Kim Sơn, thành viên mới lên nói về sức khỏe và giáo dục. Cuối cùng anh Thanh Châu với tiếng hát át tiếng bom quen thuộc lên hát tặng các thành viên một bài của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, và buổi họp kết thúc thật vui vào lúc 11g20 cùng ngày.

VŨ THƯ HỮU


VÀI DÒNG VỀ CUỐN

THƠ TÌNH VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

CỦA ÔNG KHAI TRÍ NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG

Trong đời chơi sách của tôi, chuyện những cuốn sách ở với tôi đi về không có gì là mới lạ. Mấy tháng trước, tôi đã mời các bạn trong CLB xem cuốn sách chứa đựng hai truyện võ hiệp bằng hình vẽ từ năm 1933, mà tôi đã mua năm 1956, đã bỏ tôi đi mấy chục năm trước, và mới trở về. Hôm nay tôi lại rất vui được kể về sự trở về của hai cuốn một lúc, một cuốn của một người rất nổi tiếng là ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, và một cuốn của chính tôi tặng cho ông Khai Trí.

Tôi gặp lại hai cuốn này tại nhà bà vợ ông nhà báo đã quá cố. Sau khi thấy tôi lựa được trong tủ sách của ông xã bà một số sách tiếng Việt, bà cho biết ở trên cái kệ ở trong phòng của ông ở trên lầu còn một cuốn rất dày và một cuốn bằng tiếng Anh mà tôi có thể thích. Cho biết xong, bà đi lên lầu và mang xuống hai cuốn sách mà vừa trông thấy tôi đã thích mê. Đó là cuốn Thơ Tình Việt Nam và Thế Giới của ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, và cuốn Việt Nam, Văn Minh và Văn Hóa mà chính tôi đã dịch từ Pháp văn sang Anh văn vào năm 1992. Cả hai cuốn này tôi đều rất thích vì năm 1993 khi cuốn Thơ Tình được in, ông Khai Trí đã có tặng tôi một cuốn với lời đề tặng, nhưng tới Năm 2000, một mẫu hậu của tôi ở Pháp về đã xin tôi để mang sang Pháp, và tôi đã phải cho, vì khi về, nàng mang về biếu gia đình tôi rất nhiều thuốc tây. Nay lại gặp lại nó tôi vui quá, còn cuốn sách tôi dịch ra Anh ngữ thì lúc này đã tuyệt bản ở Việt Nam, và giá bán trong các nhà sách cũ ở Mỹ lên tới trên 100 đô mẽo. Nhưng điều tuyệt vời hơn cả là khi mở ra tôi gặp lại chính lời đề tặng của tôi hồi năm 1996 khi tôi tặng nó cho ông Khai Trí và được ông yêu cầu viết lời đề tặng bằng Anh ngữ. Tôi đã viết lời đề tặng và cả lời giải thích là tôi đã ký tên con gái tôi thay vì tên tôi vì nhóm xuất bản lúc đó không chịu điều đình về quyền tác giả với tác giả, và Trường Viễn Đông Bác Cổ. Khi nhận ra đây là cuốn sách tôi đã tặng ông Khai Trí năm 1996 khi nó được tái bản lần thứ ba, tôi mừng quá và mua ngay cả hai cuốn. Ông Khai Trí, một người bạn tốt của tôi đã mất năm 2005, nhớ tới ông, hôm nay tôi mở cuốn Thơ Tình Việt Nam và Thế Giới của ông ra đọc lại, và xin có vài lời giới thiệu quý thư này với những bạn yêu thơ tình của tôi.

Cuốn sách khổ 16x30 cm, dày 1115 trang, được nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1993 khá đẹp. Nội dung gồm 11 bài ca dao, 550 bài thơ của 550 nhà thơ Việt Nam từ cụ Nguyễn Trãi hồi thế kỷ thứ 15 cho tới nay, và 79 bài thơ của 79 nhà thơ thế giới mà ông Khai Trí đã cất công chọn lựa với sự trợ giúp và cộng tác của một số bạn bè. Với những ai yêu thích thơ tình thì đây là một tuyển tập đầy đủ nhất về các nhà thơ Việt Nam. Ông Khai Trí đã khéo chọn những bài đáng nhớ nhất của mỗi nhà thơ. Sau đây là một vài thí dụ: như cụ Á Nam thì có bài Anh Khóa, cụ Phan Khôi thì có bài Tình già, cụ Tản Đà thì có bài Tình non nước, Thế Lữ thì có bài Giây phút chạnh lòng, Hàn Mặc Tử với bài Âm thầm, Lưu Trọng Lư có bài Tiếng thu, Nguyễn Nhược Pháp có bài Chùa Hương, Xuân Diệu có bài Tương tư chiều, Vũ Hoàng Chương có bài Đời vắng em rồi, T.T.K.H có bài Hai sắc hoa ti gôn, Nguyễn Bính có bài Lỡ bước sang ngang, Phạm Thiên Thư thì có bài Ngày xưa Hoàng thị v.v… Còn về các nhà thơ thế giới thì Félix Arvers có bài Tình Tuyệt Vọng, Lamartine có bài Hồ xưa (Le lac) v.v… Trong số 550 nhà thơ Việt, người viết biết độ gần 100 người và có độ 12 người là bạn vừa già vừa trẻ, còn trong số 79 nhà thơ thế giới người viết biết độ 20 người và cũng chẳng muốn biết về những người khác.

Tóm lại sự trở về của hai cuốn sách đã mang lại cho người viết một niềm vui nho nhỏ trong lúc đang… đau lưng!

Trích “Hồi ký 60 năm chơi sách, chương VI”
VŨ ANH TUẤN


CÓ TẬN THẾ KHÔNG?

THỰC PHẨM BẨN

(Tiếp theo số 140)

24. Đừng chết vì liều! Báo Thanh Niên ngày 3/12/2015 (Ban CTBĐ tổng hợp):
- “Nguy hiểm, ác quá, liều quá…” là những gì bạn đọc đã thốt lên sau khi Thanh Niên số ra ngày 2/12 đăng bài “Săn” cá trong hồ nhiễm dioxin.
- “Bao nhiêu người đã ăn cá nhiễm dioxin?” (Nguyễn Thùy Dương, thuyduong32@yahoo.com).
- “Ý thức quá tệ” (Huỳnh Trần Minh Long, P.4, Gò Vấp, Tp.HCM).
- “Ớn lạnh - Loại cá nhiễm độc. Họ ăn vào chắc sẽ bị ‘hỏng đời’, rồi con cái họ sẽ ra sao, một hệ lụy khủng khiếp từ việc làm vô ý thức, bừa bãi của một nhóm người tàn ác” (Đào Minh Nguyệt, Long Xuyên, An Giang).
- “Rùng rợn” (Trần Nguyễn Phương Lan, Tân Biên, Biên Hòa, Đồng Nai).
- “Làm sao biết rõ nguồn gốc cá được nuôi ở đâu hay lại bắt ở những hồ nhiễm dioxin này? Sao bây giờ con người cứ phải đi hại nhau chỉ vì chút lợi lộc bé nhỏ như vậy?” (Nguyễn Thị Chín, Vĩnh Cửu, Đồng Nai).

25. Hô biến mỡ bản thành mỡ ăn.
Báo Thanh Niên ngày 15/12/2015 (btv. N.Tú, Hà An, Minh Chiến): Trưa 14/12, Phòng Cảnh sát môi trường, Chi cục Thú y Tp.Đà Nẵng đã đình chỉ một lò nấu mỡ bẩn của bà M.T.K.A (37 tuổi). Tại thời điểm kiểm tra, bà A. đang chế biến 170 kg mỡ động vật không rõ nguồn gốc, để dưới nền nhà, mặc cho ruồi bu đầy, hôi thối nồng nặc. Ngoài số mỡ trên, bà A. còn tồn trữ 600 kg mỡ tươi, 2 tấn mỡ nước thành phẩm. Theo khai nhận, mỡ bẩn sau khi mua gom được chế biến thành mỡ nước, cung cấp cho các bếp ăn, quán xá dùng thay dầu ăn, tóp mỡ khô bán làm thực phẩm còn mỡ tươi phế phẩm bán vào Tp.HCM làm thức ăn chăn nuôi cá. Cùng ngày, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49 - Công an Tp.Hà Nội) phối hợp với Đội Quản lý thị trường số 6 (Chi cục Quản lý thị trường Tp.Hà Nội) kiểm tra, phát hiện hơn 1 tấn hàng hóa thực phẩm (tim lợn, chân gà, mề gà... đông lạnh, được đóng thùng) đã hết hạn sử dụng 5 tháng, bốc mùi hôi thối, thâm đen tại kho hàng của Công ty cổ phần kinh doanh và chế biến thực phẩm Hà Nội (Q.Bắc Từ Liêm).

26. Hàng chục học sinh bị nôn ói sau khi ăn sữa chua.
Báo Thanh Niên ngày 15/12/2015 (btv. Nguyễn Long): Trưa 14/12, Trung tâm Y tế H.Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) tiếp nhận hơn 20 học sinh Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng (xã Đá Bạc) để cấp cứu trong tình trạng nôn ói, đau đầu. Sau khi ăn xong, khoảng 20 phút sau, các em vào lớp học thì có hơn 60 em bị đau đầu, nôn ói, đi tiêu nên nhà trường đã báo cho trung tâm y tế đưa xe cấp cứu và y, bác sĩ đến trường chăm sóc cho các em. Hơn 20 em bị nặng đã được chuyển ra trung tâm y tế.

27. “Tinh chất” biến nước lã thành cà phê.
Báo Thanh Niên ngày 22/12/2015 (btv. Nguyên Nga): Không cần công thức pha chế bột bắp + bột đậu nành cháy + hương liệu để làm nên những ly cà phê bẩn, giờ chỉ cần vài giọt “tinh chất cà phê”, người ta có thể biến nước lã thành ly “cà phê” thơm lừng.
“1 lít pha được dăm chục lít cà phê nước”: “Chỉ cần vài ‘chấm’ (giọt) là có ly cà phê thơm lừng rồi. Mấy quán cà phê văn phòng toàn lấy loại này, hương cà phê ‘thật’ mà lời nhiều” (bà X. chủ sạp tại chợ hóa chất Kim Biên).
“Không đầu độc thì báo chí đâu có rảnh tốn giấy mực nói hoài vậy?”: “Ba cái hóa chất này đều có công thức từ lâu đời của ‘tụi’ Trung Quốc, làm gì đến lượt mình. Mấy cơ sở ở VN chỉ là nhập về đóng gói thôi. Cái này là tôi nói thật… Đặc biệt, nhiều người bán còn phù phép thêm dăm hóa chất khác như phẩm nhuộm vải sợi màu đen, chất tạo bọt sodium lauryl, caramel… thì người tiêu dùng ‘mù’ hoàn toàn. Cứ thế mà nghiện”.

Tích tụ dần và phá hủy một số chức năng gan, dạ dày: Theo Hội Hóa học Tp.HCM, “tinh chất cà phê” chế biến sẵn chủ yếu làm từ hóa chất công nghiệp, chứa nhiều tạp chất, kim loại nặng độc hại như chì, thủy ngân... rất hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Nếu sử dụng thường xuyên, sẽ tích tụ dần và phá hủy một số chức năng gan, dạ dày, tiền căn của bệnh ung thư. Bs. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Phó khoa Dinh dưỡng an toàn thực phẩm cho biết, những tinh chất tạo bọt làm hấp dẫn cho ly cà phê là sodium lauryl sulfate, đã bị nghiêm cấm dùng trong thực phẩm. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, đây là chất độc không được ăn, uống, hút vào cơ thể người. Nếu sử dụng sẽ gây tổn hại cho đường ruột và gan.

28. Báo Thanh Niên ngày 29/12/2015:

  • Bếp ăn không phép làm hơn 460 công nhân ngộ độc: Hơn 460 công nhân viên nhà máy may mặc nội y Regina Miracle ở khu công nghiệp VSIP H.Thủy Nguyên, Hải Phòng, đã bị ngộ độc sau bữa trưa 28/12 với triệu chứng nôn ói, đau bụng, ngất xỉu. Các bệnh nhân đã được cấp cứu tại Bv. Quốc tế Hải Phòng (btv. Thành Trí, Lê Tân).
  • Xe khách chở gần 1,2 tấn thịt hôi thối: Sáng ngày 28/12, trên QL.14 đoạn qua xã Ea Nam, H.Ba Hleo (Đắk Lắk), Đội quản lý thị trường cơ động thuộc Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Đắk Lắk cùng lực lượng liên ngành kiểm tra xe khách BKS 47B-013.59 đang lưu thông, phát hiện trên xe có 14 thùng chứa 1.177 kg thịt động vật không có giấy tờ hợp lệ, nhiều thùng bốc mùi hôi thối. Trưa 28/12, Trạm cảnh sát giao thông cửa ô Hòa Nhơn, Đà Nẵng dừng kiểm tra xe tải 43S-7422 do NQH (31 tuổi, ngụ Tp.Đà Nẵng) điều khiển trên đường tránh phía nam hầm đường bộ Hải Vân. Trên xe có 13 thùng xốp, tương đương 300 kg lòng heo đã ngả màu vàng, bốc mùi hôi thối (btv. Ngọc Quyền, Nguyễn Tú).

29. Người Việt ăn gì để không chết. Báo Gia Đình & Pháp Luật số 2 ngày 7/1/2016 (btv Hoàng Việt): Hãi hùng chuyện thu mua mỡ bẩn “găm” hàng chờ… phục vụ Tết - Hơn 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán. Đây cũng là thời điểm các cơ sở sản xuất, chế biến các mặt hàng phục vụ Tết rục rịch vào mùa. Các dây chuyền sản xuất quy mô nhỏ lẻ và “siêu” bẩn bắt đầu hoạt động hết công suất.
Mỡ bẩn… vào mùa: Giáp Tết cũng là lúc các lò chế biến mỡ thành phẩm ở ngoại thành Hà Nội phải làm việc hết công suất để có đủ hàng phục vụ nhu cầu của các cơ sở SX thực phẩm phục vụ Tết.

30. Chúng tôi lên tiếng: Báo Gia Đình & Pháp Luật số 2 ngày 7/1/2016 (btv. Hoàng Việt):

  • 400 vụ thực phẩm bẩn trong 1 tháng, người Hà Nội đang ăn gì?: Các vụ việc điển hình là những vụ chặn giữ các đối tượng chế biến, vận chuyển, kinh doanh thực phẩm bẩn, chủ yếu là thịt gia súc, gia cầm bị bệnh... Một trong những câu hỏi được người tiêu dùng chia sẻ với nhau nhiều nhất, không phải là ăn món gì cho ngon mà là ăn gì cho an toàn? Trong tháng cao điểm 12/2015, các đội nghiệp vụ Phòng PC49 phối hợp với các lực lượng chức năng thành phố đã khám phá 436 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Lợn bệnh được thu gom từ Hưng Yên mang về Hà Nội tiêu thụ: Cơ sở sản xuất của chị T. ngay mặt đường liên thôn nên mỗi khi lò nổi lửa là mùi khét lẹt của mỡ cháy, mùi hôi thối của nguyên liệu bốc lên khiến ai đi ngang qua cũng thấy khó chịu. Thịt mỡ mà chị P. nói thực chất là những đám mỡ bèo nhèo được các lò mổ cắt ra từ những mảng thịt thừa, trong đó bao gồm cả nội tạng, lòng mề còn chứa cả phân. Nguyên liệu này sau khi mua về được mang ra rán trực tiếp trong các chảo lớn rồi lọc lấy mỡ, tóp mỡ cũng được gom lại để bán cho cơ sở sản xuất nhân bánh, patê…

31. Báo Tuổi Trẻ & Đời Sống số 456 ngày 7/1/2016 (btv. Thể Huyền-Đức Cường):

  • Hãi hùng 800kg thịt, nội tạng thối chuẩn bị “tuồn” vào các nhà hàng: Trong 3 tủ đông lạnh, cơ sở này nhét vào hơn 780 kg thịt các loại và nội tạng. Đặc biệt, có 167,1 kg vú heo đang trong thời kỳ thối rữa, đã chuyển màu tím xanh và bốc mùi hôi nồng nặc.

Không có hóa đơn, mập mờ nguồn gốc: Cơ sở kinh doanh này do ông TVĐ (SN 1960, quê Hà Tĩnh) làm chủ và đã hoạt động hơn 1 năm qua. Làm việc với cơ quan chức năng, ông Đ. thừa nhận cơ sở của mình chưa có giấy phép kinh doanh, tất cả nguồn sản phẩm cũng không có hóa đơn chứng từ nguồn gốc xuất xứ. Nguồn thịt, nội tạng trên chỉ có một số ít đã được đóng mộc kiểm dịch, nhưng lại không có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật. Nguồn gốc số thịt, nội tạng trên, được chủ cơ sở khai rằng đã mua từ các cơ sở trên Tp.HCM, sau đó chuyển bằng xe về Cần Thơ. Do giá tất cả mặt hàng này khá rẻ, nên ông mua nhiều dự trữ để bán cho các nhà hàng lớn, các quán nhậu ở quận Ninh Kiều, quận Cái Răng với giá từ hơn 130.000 đg/kg. Hơn một năm hành nghề, ông Đ. đã qua mặt được các cơ quan chức năng để tuồn số hàng bẩn này vào quán nhậu, nhà hàng hạng vip trên địa bàn, nhất là các quán nhậu bình dân, quán cháo lòng chuyên bán cho thợ hồ, công nhân trên quốc lộ 91B, đường Lê Hồng Phong… Từ những đống ruột thối, mớ vú heo bốc mùi, qua chế biến, phi hành tỏi và ướp gia vị, tất cả đều thành những món đồ nướng, xào mùi thơm ngào ngạt!

Chia sẻ mối quan ngại về VSATTP và động vật chưa qua kiểm dịch, một người dân lắc đầu ngao ngán: “…Nhỡ thịt, nội tạng chưa rõ nguồn gốc đó là lấy về từ những ổ dịch bệnh thì sao? Mình ăn vào chưa chắc bệnh liền, mà nó tích dần trong người, khi phát ung thư, gan, thận… thì cũng chẳng biết kêu ai!”. Một thanh niên bức xúc: “Mấy quán vỉa hè thì không nói tới, nhưng nhiều nhà hàng hạng sang cũng nhập hàng bẩn, không rõ nguồn gốc rồi về phù phép để bán giá cắt cổ… Đúng là ăn ở ngoài hàng quán là đánh cược với sức khỏe, đồ ăn không bẩn thì cũng toàn hóa chất”.

  • Mối nguy hại khi ăn các món được chế biến từ bì lợn: Trước đây, những người làm nghề mổ lợn thường đun nước sôi để cạo lông lợn. Nhưng hiện nay, để đẩy nhanh tiến độ, các lò giết mổ lợn thường cạo sống. Vì vậy, chân của lông lợn vẫn còn ở lại bì và nó gây nguy hiểm cho ruột. Tất nhiên lông được cạo rất sạch nhưng chân lông trên da lợn thì không thể sạch được.

Các món ăn được chế biến từ bì lợn phải kể đến nem chua, nem thính, nem chạo… Phần của chân lông sót lại ở bì lợn rất cứng, khi ăn vào ruột sẽ cắm vào màng nhầy ở ruột non và dạ dày có thể gây tổn thương màng ruột, dạ dày. Các chuyên gia hóa thực phẩm cho hay, ngoài tẩy trắng bì bằng oxy già, còn có các hóa chất tẩy khác dùng cho công nghiệp như hydrosunfit, kalisunfit hay sulfur dioxide... Nhóm sunfit đều có lưu huỳnh là gốc tẩy vô cơ mạnh, có khả năng tẩy trắng nhanh. Các chất này là chất khử dùng trong công nghiệp nhuộm, tẩy trắng... Nó còn có nhiều tạp chất là kim loại nặng như chì, asen, thiếc tồn dư trong cơ thể, gây bệnh. Nếu chất này có trong thực phẩm thì gây hại cho sức khoẻ như hại niêm mạc dạ dày, vón ruột. Oxy già chỉ có tác dụng tẩy trắng, khi dùng nồng độ quá đậm đặc, thời gian ngâm tẩm quá lâu gây hại sức khoẻ.

(còn tiếp)
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết

(Tổng hợp nguồn báo chí và các phương tiện truyền thông)


TU PHẬT THỜI NAY
(tiếp theo số 140)

4. Về vấn đề Cư Sĩ có thành Phật được hay không? Đây là một câu hỏi lớn, cần phải hiểu lại cho đúng về nghĩa của PHẬT thì sẽ giải quyết được nhiều thứ, kể cả việc Tu Phật, Thờ Phật. Thật vậy, từ xưa đến nay hầu hết Phật Tử thấy Kinh viết Phật có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại thiên thế giới” thì đều cho rằng Phật là Thần Linh, nên đúc hình, tạc tượng để tôn thờ, cầu xin. Vì thế họ nghĩ rằng việc “Thành Phật” phải là cái gì đó lớn lao, ghê gớm, đòi hỏi phải độc thân, phải là bậc tu hành khả kính, người phàm không thể lên được địa vị đó. Nhưng nghĩa thật sự của PHẬT chỉ là Giải Thoát. Người giải thoát được cho mình hết phiền não, đau khổ thì gọi là thành Phật. Tả về Phật, Kinh viết: “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”, có nghĩa là người tu hành phải giải thoát từng việc, từng phần, cho đến khi giải thoát rốt ráo thì gọi là thành tựu con đường giải thoát hay Thành Phật. Cái kết quả Giải Thoát đó đâu có tướng, đâu có phép mầu để có thể phù hộ cho ai được. Trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất có người hỏi: “Hàng Áo Trắng (Bạch Y) dâm dục không trừ, bằng vào đâu mà thành Phật được?”. Tổ Đạt Ma đã trả lời: “Tôi chỉ nói Thấy Tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ cần Thấy Tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối dứt trừ, mà cũng chẳng mắc vào dục lạc”. Tổ giải thích thêm về Tánh: “Cái Tánh vốn thanh tịnh, dù ở trong sắc thân ngũ uẩn, nhưng ngũ uẩn không nhuốm dơ được nó. Bổn lai nó vốn tự có, không do ai ban, không xấu tốt, khổ vui, dài ngắn, mạnh yếu. Nhưng vì chấp có Sắc Thân này nên mới có nóng lạnh, đói khát, các chứng bệnh đủ thứ. Nếu chẳng chấp thì mặc tình đi đứng, được tự tại ngay giữa dòng sống chết, cùng với thánh nhân tự tại, vô ngại như nhau”.

Có lẽ cũng cần phải mở ngoặc ở đây để bàn thêm một chút về chữ DÂM. Dâm không nói riêng về Dâm Dục, mà nói về sự muốn không biết đủ về mọi vấn đề. Nhưng sở dĩ nhiều người không chấp nhận Cư Sĩ cũng có thể tu hành, thành Phật được vì họ hiểu lầm Phật là Thần Linh, nên họ nghĩ rằng muốn thành Thần Linh hay lên Thánh Vị thì phải là người thanh tịnh, không có vợ con, vì cho rằng người có gia đình thì phạm vào Giới Dâm, mất thanh tịnh. Họ quên rằng người độc thân hay có gia đình thì cũng đều có Phật Tánh, cũng đều có nhu cầu Thoát Khổ như nhau. Do đó, nếu tu hành thì vẫn có thể Giải Thoát như nhau không khác. Người có gia đình thì việc vợ chồng là Chánh Dâm, không có phạm Giới. Chỉ có Tà Dâm mới phạm Giới. Những gì pháp luật đời không cấm thì Đạo Phật cũng không cho đó là tội. Hơn nữa “Chư Phật Ba Đời không nhàm chán xác thân”. Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát thệ: “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được độ. Con thề không ngồi vào ngôi Vô thượng Chánh Giác”. Chư Bồ Tát luôn luôn theo dõi chúng sinh để giáo hóa, không có rời bỏ chúng sinh để an hưởng Niết Bàn. Và cũng chính nhờ những người có vợ, có chồng, mà con người mới có điều kiện sinh sôi, Chư Phật mới có nơi để vào đời mà giáo hóa con người. Nếu tất cả đều diệt dục hết thì Chư Phật muốn nhập thế để giúp đời sẽ nhờ phương tiện nào? Cho nên việc có gia đình, sinh con, đẻ cháu không phải là vô ích mà lại rất cần cho xã hội, cho Chư Bồ Tát nhập thế giúp đời. Thử tưởng tượng một xã hội chỉ toàn những người già chờ theo ông bà, không có lớp kế thừa thì sẽ ra sao? Hơn nữa, người tu tại gia tự làm mọi nghề để sống mà tu tập. Giả sử họ có tu sai thì cũng không mang nợ của bá tánh. Người vô Chùa, hưởng dụng của bá tánh mà tu không thành công thì món nợ đó trả không biết bao giờ mới hết.

Chẳng cần phải độc thân, không được có gia đình mới tu hành được. Vấn đề quan trọng là THẤY TÁNH. Tổ Đạt Ma dạy: “Nếu Thấy Tánh, chiên đà la cũng thành Phật được”. Và: “Nếu thấy Tâm mình là Phật thì chẳng cần cắt tóc, cạo râu. Hàng Bạch y vẫn là Phật. Nếu không Thấy Tánh, cắt tóc, cạo râu vẫn là ngoại đạo”.

Thấy Tánh là sự Chứng Đắc của Đạo Phật mà Chư Vị Cổ Đức cho là: “Kiến Tánh khởi tu”, hay “Thấy Tánh thành Phật”. Thấy Tánh hay thấy được Bản Thể Tâm là thấy được cái TA THẬT của mình. Trước đây ta cứ tưởng cái Thân giả tạm nầy là Ta, bởi mọi cảm xúc nóng lạnh, đói no, vui buồn, thương ghét… đều dựa vào nó. Vào Đạo Phật, chúng ta được dạy rằng cái Thân này là giả tạm, do Tứ Đại kết hợp, đến lúc nào đó phải tan rã. Cái TA THẬT là cái Thường Hằng, Bất Sinh, Bất Diệt đang song hành với cái Ta Giả này. Nhưng giai đoạn đầu, dù được giải thích nhưng chúng ta không thể hiểu, không thể Thấy được. Qua một thời gian hành trì, Soi, Quán, Xả bỏ những thứ chấp nhất, tập giữ Giới, tập làm những Hạnh của Phật. Đến lúc đầy đủ công đức thì người tu sẽ nhận ra cái Bổn Thể Tâm của họ. Tất nhiên người đã nhận ra cái Ta Thật rồi thì không bao giờ giữ y nếp nghĩ, nếp sống cũ, mà mọi suy nghĩ, hành động cũng theo cái Ta mới gặp lại đó. Đã nói Thân này là giả, là không phải Ta, thì đâu có chìu theo mọi sở thích của nó để Tham, Sân, Si, giận hờn, yêu ghét, tích lũy của cải như trước nữa, mà cuộc sống từ đó cho đến hết kiếp là để thể hiện cái Chân, Thiện, Mỹ, nối tiếp con đường của Chư Vị Giác Ngộ, mồi ngọn Vô Tận Đăng để tất cả mọi người đều được Giải Thoát, được hạnh phúc, an vui. Đó mới là người thật sự Thấy Tánh.

Tại sao phải Thấy Tánh thì mới Thành Phật được? Tại vì người chưa biết được cái Ta Thật, thì còn bị lệ thuộc, bị cái Ta Giả nó khống chế. Gây tội, tạo Nghiệp cũng vì nó. Cho đến khi nào Thấy Tánh hay gặp được cái Ta Thật thì mới có thể bỏ giả, về Chân, lúc đó mới hết bị ràng buộc, mới Giải Thoát hay Thành Phật được.

5. Đạo Phật được mở ra là vì tất cả mọi người. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có nói chỉ riêng Tu Sĩ hay chỉ những người độc thân mới có quyền Thành Phật? Nếu người nào thực hiện được Ý Nghĩa của những việc Cạo Tóc, Đắp Y, mặc Y hoại sắc như phần trước đã trình bày, và thực hiện đúng ý nghĩa của các việc sau thì người đó chính là đang tu hành:
- Xuất Gia là Ra khỏi Nhà Lửa Tam Giới, tức là rời bỏ Tham, Sân, Si.
- Xa lìa cha mẹ là rời bỏ Vô Minh và Tham Ái, vì hai thứ này từ bao đời sai khiến chúng ta như cha mẹ sai con.
- “Xa rời quyến thuộc ngu si”, hay “Độ cho Bảy Đời quyến thuộc”: Đó là Ba Nghiệp của Thân và Bốn Nghiệp của Khẩu. Vì những Nghiệp này mới là quyến thuộc theo ta từ kiếp này đến kiếp khác. Còn quyến thuộc bên ngoài thì khi bỏ cái thân mạnh ai nấy đi theo nghiệp riêng của mình, không thể theo nhau được.
- Cất Chùa là biến Đất Tâm đầy phiền não trở thành Thanh Tịnh Địa.
- Dùng những Hạnh Phật để đúc, tạc Tượng Phật của chính mình, không phải Đúc bằng những vật liệu trần gian, vì Phật là vô Tướng, được hình thành bởi những công đức.
- Hành để có 32 Tướng Tốt cho Phật của mình.

6. Về nơi chốn để tu hành thì từ xưa, mọi người quan niệm rằng phải “Ly Thế Gian” theo nghĩa văn tự thì mới tu được. Trong khi đó, Lục Tổ dạy: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác. Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là “Giải Thoát phải tìm ở ngay tại thế gian”, bởi vì ở trong thế gian mới có va chạm, tiếp xúc với các pháp thuận, nghịch, phải đối phó với cơm áo, gạo tiền, được mất, hơn thua… diễn ra hàng ngày. Đó là môi trường để cọ xát, rèn luyện. Vô Chùa, núp sau cánh cửa Chùa, không phải kinh doanh, làm ăn, không đụng chạm, tiếp xúc với người đời, mọi thứ đã có người cung phụng thì đâu có gặp pháp nào để vướng mắc mà cần Giải Thoát? Do đó Lục Tổ cho là “Rời trần gian mà tìm Giải Thoát giống như đi tìm sừng thỏ”! Vì vô Chùa đâu có gì ràng buộc mà cần Giải Thoát? Cái gọi là “Thế Gian” mà người tu cần Ly, đó là Tham, Sân, Si, Thương, Ghét, là những tính Ác, những tính xấu xa, độc ác, ti tiện, gọi chung là Chúng Sinh, đã đeo bám mỗi người từ vô lượng kiếp đến nay. Chỉ cần “Diệt Độ” những chúng sinh đó, thì sẽ được Giải Thoát tức Thành Phật.

Muốn tu hành thì Lục Tổ dạy: “Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”. Kinh VIÊN GIÁC có Kệ: “Nếu người đoạn Thương, Ghét. Cùng với Tham, Sân, Si. Chẳng cần tu gì khác. Cũng đều được Thành Phật”. Đâu có phân biệt đối tượng, nơi chốn, cũng đâu phải làm điều gì lớn lao không thể làm nổi?

Và chúng ta nghĩ sao khi Phật dạy là “Nhân thân nan đắc”. “Số người chết rồi được trở lại làm người như chút đất dính trên đầu móng tay so với đất trên trái đất”, thì cơ hội được làm người khó khăn biết bao? Vậy mà chỉ vì nghe Đạo Phật nói rằng đời là Vô Thường rồi cả một kiếp sống không làm gì, chỉ dành để tụng kinh, Niệm Phật chờ chết về Tây Phương Cực Lạc, trong khi hàng ngày vẫn hưởng dụng thành quả lao động của biết bao nhiêu thành phần trong xã hội? Hơn nữa, Phật có dặn dò người tu đền TỨ ÂN, tức là phải giúp đỡ, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ để báo hiếu. Cống hiến cho xã hội. Đóng góp công sức để đền ơn chúng sinh đã cung cấp cho mình mọi phương tiện để tồn tại, thì chúng ta không thực hiện điều đó trong khi vẫn còn trẻ, sức khỏe còn dồi dào, trí óc còn minh mẫn, lẽ ra có thể làm được nhiều việc tốt đẹp cho đời, lại biến mình thành gánh nặng của xã hội, chỉ nhân danh tu hành. Nếu là người có ý thức Nhân Quả ắt sẽ suy nghĩ lại, bởi vì mỗi người tự làm, tự chịu, Phật không có chịu thế cho ai được.

7. Mọi người cứ tưởng rằng Như Lai là Phật Tổ Như Lai, có toàn quyền thưởng phạt nên đã tạc tượng để thờ! Nhưng Kinh Viên Giác viết: “Đây là phương tiện đầu tiên tu hành của hành giả tức là Ba Pháp Quán (CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU). Nếu chúng sanh tinh tấn siêng tu Ba pháp Quán này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy”. (Mục 9 Chương Viên Giác). Qua đó, chúng ta được gián tiếp giải thích là Như Lai chỉ là người tu hành bình thường, nhờ Chỉ, Quán và Chỉ Quán Song Tu mà hiểu rõ về Các Pháp để có được cái Thấy các pháp đều NHƯ. Nhờ vậy mà đến, đi, đều không động tâm với các Pháp nên gọi là Như Lai.

8. Một hiểu lầm cũng cần thay đổi đó là Nhân Quả. Người hiểu lý Nhân Quả thì không cầu xin, mà tự gây Nhân Thiện để có Quả Lành. Thay vì Cầu An thì Nhẫn Nhục, hiền hòa, không gây hấn, trái lại phải tôn trọng mọi người. Không vi phạm, không hại người khác, thì người khác cũng đâu có làm khó dễ ta? Thay vì CẦU SIÊU thì hãy sống cuộc sống tốt đẹp theo Bát Chánh Đạo. Hiếu thuận với ông bà cha mẹ. Không tham lam, không hại người, không lừa dối người, thì chắc chắn khi qua đời sẽ siêu thăng về cõi tốt đẹp. Ngược lại, cả đời sống gian tham, hại người, làm toàn việc ác. Lúc qua đời thì Thầy nào tụng để đưa về Tây Phương Cực Lạc được? Phật đã không phải là Thần Linh thì làm sao rước? Giả sử Phật có là Thần Linh đi nữa thì chẳng lẽ Thầy Tu còn cao hơn Phật, có quyền ra lệnh cho Phật và Thánh chúng đổi Quả xấu thành tốt cho vong linh được? Cho nên những việc đó là Mê Tín, không phải là của Đạo Phật, cần phải bài trừ, và người khuyến khích Cầu An, Cầu Siêu không khác nào gián tiếp cổ xúy cho mọi người tha hồ ở ác vì đã có Phật bảo kê, sống thế nào mặc kệ, lúc chết có Thầy tụng là sẽ siêu thăng về Tây Phương Cực Lạc!

9. Cúng dường và Bố Thí: Nhiều người ngay cả làm phước cũng tính toán để thế nào phước báo trả lại càng nhiều càng tốt. Nghe nói “cúng dường cho người tu, cho Chùa thì phước báo vô lượng”, nên Chùa cần bao nhiêu là cũng sẵn sàng bỏ ra không tiếc, trong khi đó, với người nghèo thì dửng dưng, hoặc bỏn xẻn. Năm vừa qua báo chí đưa tin một số trường hợp vì bế tắc mà tự vẫn, như một giáo viên ngoại ngữ người Đức ở An Giang đã treo cổ chết. Khi mọi người phát hiện thì trong túi ông chỉ còn có 20.000đ! Có người phụ nữ ôm con nhảy xuống sông cũng vì bế tắc trong cuộc sống. Cách đây vài năm cũng có một phụ nữ, con thi đậu Cao Đẳng mà không có tiền đóng tiền học cho con, vay tiền nhà nước cũng không được nên tự tử, để lại thơ trối lại, mong dùng tiền phúng điếu để đóng học phí cho con. Còn xót xa nào hơn! Tất cả vì họ tuyệt vọng mà không có bàn tay nào chìa ra để cứu vớt! Mọi người đánh giá sai về cúng Dường, Bố Thí. Kinh Duy Ma Cật viết: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ, xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng bình đẳng, không cầu quả báo. Đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”. Nếu Bố Thí mà tính toán thì đâu còn là Bố Thí nữa! Họ quên rằng “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”. Bố thí cho người nghèo là Bố Thí cho “Phật vị lai”, phước báo cũng đâu có mất. Ông bà ta cũng nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người”. Vậy mà phù đồ ngày càng hoành tráng. Người khổ lại không được cứu đúng lúc, để đến lúc xảy ra hậu quả nặng nề mọi người chung quanh mới thấy ân hận là đã quá vô tâm! Giữa xây cầu cho dân có phương tiện đi lại làm ăn và xây Chùa tốn kém để Thờ Tượng Phật, trong khi Phật không phù hộ được cho ai, chỉ là hiểu lầm Phật là Thần Linh, thì cái nào có ích cho con người hơn? Mong rằng người muốn tích lũy phước báo cũng thay đổi cách suy nghĩ để người tuyệt vọng bỏ đi suy nghĩ tiêu cực vì biết rằng còn có người đưa tay giúp đỡ, không ai nỡ bỏ rơi mình.


Kết luận:
Đạo Phật phân ra hai Thừa: Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy hay Tiểu Thừa. Mỗi bên có cách hiểu, cách hành, kết quả khác nhau. Đại Thừa thì cho rằng tất cả mọi người không phân biệt Tu Sĩ, Cư Sĩ, hay Phật Tử. Nếu “đúng như pháp tu hành” thì đều thành Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì người tu phải Ly Gia, Cắt Ái, phải tập trung ở trong Chùa, phải đầy đủ hình tướng, không được có gia đình mới có thể tu hành, đắc quả. Quả vị cao nhất của Phật Giáo Nguyên Thủy là A La Hán. Người đắc A La Hán thấy các Pháp đều Không. Cái mâu thuẫn bên Phật Giáo Nguyên Thủy cho rằng “Các Pháp đều là Không”, thì lẽ ra không có Phật, không có ta, không cả mọi người. Vậy mà lại cất Chùa, dựng Tượng hoành tráng, tập họp Phật Tử để thờ ai? Rõ ràng là nói KHÔNG, mà hành CÓ!

Giữa hai Thừa, Phật Tử có quyền chọn lựa để tu học đều có ích, vì ít ra cũng được dạy Thập Thiện. Dù vậy, không phải tất cả Tu Sĩ bên nào cũng đều thật tâm tu hành, hoặc có thể thông hiểu Phật Pháp để giảng dạy đúng Chánh Pháp. Hơn nữa, Đức Thích Ca cũng bắt đầu như tất cả chúng ta, thì ai cũng có thể làm được như Ngài. Vì vậy, người khuyến khích xây dựng Chùa Chiền để thờ Phật càng chứng tỏ họ là người chưa hiểu đúng về Phật. Kinh dạy: “Phật là vô tướng, do vô lượng công đức mà thành”. Mỗi việc làm Tốt tượng trưng cho một Tướng của Phật thì việc tạc tượng để thờ lại càng không đúng với Chánh Pháp vì “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tổ Đạt Ma và Tổ Huệ Năng cũng dạy rằng muốn tu Phật thì không cần bỏ nhà vô Chùa. Cũng chẳng cần sống độc thân. Người nào chịu sửa tính xấu, cải Ác hành Thiện, đi trong Bát Chánh Đạo, thì người đó đã là Tu sĩ, cần gì phải đắp Y, cạo tóc cho nghiêm trọng? Quả vị trong kinh có đề cập đến - nhưng nói rằng đó chỉ là “Hóa thành dụ” để cho người lười mỏi nghỉ ngơi rồi đi tiếp, sợ họ tu lâu năm mà không thấy có kết quả gì sẽ thối tâm - Vì thế, Quả vị chỉ là phương tiện để cho những người bỏ được cái Tham của cải trần gian, nhưng lại tham Chứng Đắc, muốn thành Thánh, Thành Phật! Tây Phương, Đông Phương chỉ để dẫn dụ con người vì ham về đó mà bớt tham đắm của cải thế gian để bớt cảnh tranh giành, chém giết nhau, mọi người được sống yên vui mà thôi.

Cuộc đời đâu có làm gì mà ta chê là ô trược? Chỉ tự con người làm xáo trộn cuộc đời rồi chê chán. Hoặc nghe nói thế gian là trần tục đã vội bỏ đời, vô Chùa, cho rằng mình đã Thoát Tục! Nhưng nói rằng thoát tục mà từ tương chao, rau đậu, cơm áo, tọa cụ, chi phí, thậm chí cả Chùa chiền toàn là phẩm vật của trần tục, người tu vẫn phải dùng hàng ngày để duy trì cuộc sống. Vậy thì thoát tục chỗ nào?

Mặc con người sống tốt hay xấu, yêu hay ghét… Cuộc đời lúc nào cũng như người mẹ vĩ đại với tấm lòng rộng mở. Vẫn vô tư cung cấp cho con người mọi thứ. Nào là trái đất với biển rộng bao la. Núi non hùng vĩ. Rừng xanh bạt ngàn. Thác ngàn uốn lượn. Hoa cỏ xanh tươi bốn mùa khoe sắc. Trái cây ngon ngọt quanh năm. Thức ăn dồi dào, lúc nào cũng sẵn. Chỉ cần con người đừng tham lam rồi tàn phá thiên nhiên, tàn sát lẫn nhau, mà biết yêu thương, san sẻ với nhau, cùng nhau giữ gìn và tôn tạo trái đất, và yêu thương, giúp đỡ nhau để cõi đời vốn đã đẹp lại càng đẹp thêm, thì cảnh trần có khác gì cảnh Tiên hay Niết Bàn? Niết Bàn chỉ có nghĩa là “Ra khỏi rừng phiền não”. Ai cũng có Niết Bàn của mình, cần gì vọng về Niết Bàn của Phật nào khác?

Kinh Duy Ma Cật dạy: “Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ”. Thật vậy, thay vì chế tạo bom đạn để tiêu diệt nhau thì sao không nghiên cứu để chế ngự bệnh hoạn, tiện nghi để mọi người dùng? Thay vì vơ vét để bản thân, gia đình thụ hưởng một cách xa hoa thì nghĩ tới nhiều người còn đang khó khăn mà san sẻ. Thay vì giành giật nhau từng tấc đất để gây họa chiến tranh, làm dân tình điêu linh, thống khổ thì nhường nhịn nhau, bởi biết cuộc sống Vô Thường, có giành được mai kia chết cũng không mang theo được. Đó là ta chuyển cái Tâm từ tội lỗi sang thanh tịnh. Chính vì vậy mà có Đạo Phật xuất hiện để nhắc nhở con người ý thức điều đó.

Dù Giáo Pháp của Đạo Phật dùng đủ thứ phương tiện nhưng chỉ nhằm mục đích “cứu Khổ” cho con người ở tại kiếp sống mà thôi. Không phải đề thành Phật, thành Thánh gì hết. Đạo Phật cũng không phải là một Tôn Giáo để dạy Thờ Phật, mà là một giáo trình dạy con người cách sống để được hạnh phúc, an vui trong kiếp sống tạm trăm năm. Dù vậy, việc tu hành không phải vô ích, vì hiện đời được an vui. Không gây Nghiệp nên qua kiếp khác cũng không phải đọa. Đó là mục đích, là những gì mà Đạo Phật muốn “cứu độ” cho con người. Bao giờ con người hiểu biết để tu sửa bản thân, không còn Tham Sân Si, tranh giành với nhau để khắp nơi không còn cảnh Khổ hành hạ. Mọi người biết yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ nhau, tất cả đều được an vui trong cuộc sống, cái tâm được nhẹ nhàng, thanh tịnh, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Hết kiếp lại được về nơi tốt đẹp. Có tái sinh thì cũng sẽ được hưởng phúc Nhân Thiên hoặc lên các cảnh giới tốt đẹp hơn thì Đạo Phật mới hoàn thành sứ mạng của mình. Do đó, không cần thay cảnh đổi tướng, cũng chẳng cần giữ hàng mấy trăm Giới. Người nào chịu quay vô tu sửa Thân, Tâm. Cải Ác, Hành Thiện, thì người đó đã là TU SĨ rồi vậy.

Tháng 12/2017
Tâm Nguyện



Phụ Bản I

3 Truyện ngắn
của Ivan Turghenev (1805-1883)

GÃ ĐẦN

Ngày xửa ngày xưa có một gã đần.
Một thời gian dài gã sống sung túc, no đủ, nhưng dần dà những lời đồn đại bay đến tai gã, rằng ở khắp mọi nơi gã nổi danh là kẻ đốn mạt đần độn.
Gã đần bối rối và bắt đầu rầu rĩ nghĩ ngợi về chuyện làm thế nào chấm dứt được những lời đồn đại kia.
Một ý tưởng đột nhiên lóe sáng, cuối cùng, cái trí óc bé nhỏ tăm tối của gã... Và gã, không một giây trễ nải, đem cái ý tưởng kia ra thực thi.
Một người quen gặp gã đang đi trên phố - và người ấy lên tiếng ca ngợi một họa sĩ vốn lừng danh...
- Xin ông thôi đi cho! - gã đần thốt lên. - Họa sĩ này từ lâu được xếp vào kho lưu trữ rồi... Ông không biết chuyện ấy ư? Vậy mà tôi không ngờ điều đó lại ở trong ông... Ông - là người lạc hậu rồi.
Ông người quen sợ hãi - thế là lập tức đồng ý với gã đần.
- Hôm nay tôi vừa đọc xong một cuốn sách tuyệt vời! -một ông người quen khác nói với gã đần.
- Xin ông thôi đi cho! - gã đần thốt lên. - Ông không thấy xấu hổ hay sao? Cuốn sách ấy chẳng là cái thá gì cả; từ lâu người ta đã phẩy tay vứt nó đi. Thế ông không biết gì ư? Ông quả là người lạc hậu.
Và cả ông người quen này cũng hoảng sợ - và đồng ý ngay với gã đần.
- Ông bạn N.N. của tôi là con người mới tuyệt diệu làm sao kia chứ! - Ông người quen thứ ba này nói với gã đần. - Đấy mới là một tạo vật cao thượng thực sự!
- Xin ông thôi đi cho! - gã đần thốt lên. - N.N. là tên đê tiện hiển nhiên! Hắn tước đoạt cả họ hàng ruột thịt của hắn. Ai mà còn không biết điều ấy! Ông - quả là người lạc hậu
Ông người quen thứ ba cũng sợ hãi - và đồng ý với gã đần, từ bỏ người bạn mình.
Và bất cứ người nào mà được khen ngợi trước gã đần - gã đều đưa ra lời phán quyết tương tự.
Có chăng là đôi khi thêm cả một lời trách móc:
- Thế mà ông vẫn còn tin vào thần tượng ư?
- Người bẳn tính! Hay gắt gỏng! - Mọi người quen biết bắt đầu bình phẩm về gã đần. - Nhưng phải nhận bộ óc ông ấy thật ghê gớm.
- Và lời lẽ mới sắc sảo! - những người khác bổ sung thêm. - Ôi, ông ta là một đại tài!
Kết cục bằng việc một ông chủ một tờ báo đã đề nghị gã đần phụ trách bộ phận phê bình ở báo ông ta.
Thế là gã đần bắt đầu phê phán mọi người và mọi chuyện, không mảy may thay đổi cung cách, cũng như những lời hò hét của mình.
Bây giờ gã ta, một thời phê phán chống lại các thần tượng, - thì bản thân gã trở thành thần tượng - còn giới trẻ sùng kính gã - và sợ hãi gã.
Mà cũng phải thôi, đám trai trẻ đáng thương biết làm sao khác được? Cho dù có không đi theo, nói chung là như thế, sùng kính gã... nhưng như thế thì, kẻ không sùng kính - rơi vào hạng người lạc hậu!
Những kẻ ngu đần sống giữa đám hèn nhát.

Tháng Tư năm 1878

CUỘC GẶP GỠ CUỐI CÙNG 1

Đã có một thời hai chúng tôi là bạn gần gụi, thân thiết của nhau. Nhưng đến một thời điểm chẳng lành - thế là hai chúng tôi chia tay như những kẻ thù.
Qua đi nhiều năm tháng... Và một lần, trên đường đi rẽ vào một thị trấn, nơi anh ta sống, tôi được tin anh ta đang ốm nặng không phương cứu chữa và muốn được gặp tôi.
Tôi tìm đến chỗ anh ta, bước vào căn buồng của anh ta... Hai cái nhìn của chúng tôi gặp nhau.
Tôi khó khăn lắm mới nhận ra anh ta. Trời! Bệnh tật đã làm anh ta đến nông nỗi này ư!
Vàng vọt, khô héo, đầu hói trụi thùi lụi, với một chòm râu bạc thưa thớt, anh ta ngồi đó mặc mỗi một tấm áo thụng cố tình sẻ tà... Anh ta không còn sức mang nổi trên thân mình áo quần nhẹ nhất. Anh ta run rẩy chìa ra cánh tay gầy guộc thảm hại dường như bị dóc trơn hết, gắng gượng thều thào mấy lời không hiểu nổi - phải chăng là câu chào hỏi, hay lời trách móc, ai mà biết được? Tấm ngực trơ xương thoi thóp - và trên cặp mắt nhòe nhoẹt đôi tròng cháy sáng lên, hai giọt lệ ít ỏi, đau đớn chảy ra.
Trái tim tôi hụt hẫng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế tựa bên cạnh anh ta - và bất giác cụp mắt nhìn xuống trước tình cảnh khiếp đảm và dơ dáy chừng ấy, và đưa tay ra.
Nhưng tôi cảm thấy, không phải bàn tay anh ta nắm lấy tay tôi
Tôi cảm thấy rằng ngồi giữa hai chúng tôi là một người đàn bà cao, lặng lẽ, trắng toát. Tấm vải bao trùm người đàn bà kín từ chỏm đầu đến gót chân. Cặp mắt của bà ta sâu hoắm, trắng nhợt nhạt không nhìn đi đâu, cặp môi nhợt nhạt, nghiêm khắc của bà ta không nói năng gì.
Người đàn bà này đã liên kết bàn tay hai chúng tôi. Bà ta đã làm hòa chúng tôi mãi mãi.
Phải. Thần chết đã làm hòa hai chúng tôi.

Tháng Tư năm 1878

------------------------------------------

1 Cuộc gặp gỡ cuối cùng: nói về việc tác giả lần cuối cùng gặp lại nhà thơ Nikôlai Alekseevits Nekracov (1821-1878) sắp sửa qua đời, thời trẻ hai người từng là bạn bè và cộng sự thân thiết, nhưng sau đó đã cãi nhau do mâu thuẫn kịch liệt về hệ tư tưởng trong quan hệ với các nhà văn cách mạng dân chủ Nga N.Dolerolưubov (1836-1861), và A.Tsernưshevski (1828-1889)


ĐÔI CHIM BỒ CÂU

Tôi đứng trên đỉnh ngọn đồi thoai thoải, trước mặt tôi đồng lúa mạch đen đã chín trải rộng và rập rờn như mặt biển vàng, biển bạc.
Nhưng trên mặt biển này không có sóng gợn, không lan tỏa mùi hương, một cơn giông bão mạnh đang hình thành.
Bên cạnh tôi mặt trời đang còn chiếu rọi - bức bối và âm u, nhưng đằng kia phía sau biển lúa mạch đen, không quá xa lắm, một đám mây đen xám tụ lại cả một khối lớn chiếm nửa chân trời.
Mọi vật ngưng trệ, tất cả đều kiệt quệ mệt lử dưới ánh sáng điềm dữ của những tia mặt trời cuối ngày. Không nghe, không thấy một cánh chim nào. Thậm chí cả bầy sẻ cũng đã ẩn trốn biệt tăm biệt tích. Chỉ có ở gần đầu đó tầu lá ngưu bàng đơn độc xòe to kiên trì đập thì thụp.
Trên các bờ ruộng mùi ngưu bàng sực nức. Tôi đưa mắt nhìn khối mầu xanh hồ thủy... và trong lòng cảm thấy bồn chồn bất an. Nào, thì mau chóng, mau chóng bắt đầu đi (- một ý nghĩ thoáng hiện), - hỡi con rắn vàng lóe sáng lên, đội lên tiếng sấm! Khởi động đi, loan truyền đi, tưới nước xuống, hỡi đám mây đen hung dữ, chấm dứt đi cơn bải hoải chán chường!
Nhưng đám mây đen không chuyển động. Vẫn như cũ nó đè nặng mặt đất lặng tờ... và chỉ dường như nở ra với lại tối thêm.
Và kia kìa trên nền trời một màu duy nhất xanh lơ một vật gì nhịp nhàng và khoan thai chợt hiện ra; không biết có phải một chiếc khăn trắng hay một cục tuyết. Thì ra một con chim bồ câu trắng bay từ phía trong làng ra.
Nó bay, cứ bay thẳng, bay thẳng... và mất hút sau cánh rừng.
Chỉ sau mấy giây lát, - vẫn trạng thái tĩnh lặng nghiệt ngã... Nhưng nhìn kìa! Bây giờ đã là hai tấm khăn chấp chới, hai nắm tuyết lao trở lại, ấy là hai con chim bồ câu trắng bay nhịp nhàng về nhà.
Và rồi, cuối cùng, cơn giông bão bùng ra - thế là cuộc giải trí bắt đầu!
Tôi ba chân bốn cẳng kịp chạy về tới nhà. Gió rít lên, lồng lộn như điên cuồng, những đám mây lung tung, sà thấp, dường như bị xé bung ra từng cụm lao đi vùn vụt, mọi vật quay cuồng, xáo trộn, trận mưa rào quất mạnh, chao đảo thành cột nước đáp trả, những vệt chớp chói lòa ánh lửa xanh lè, sấm dậy như súng thần công bắn ra, trời đất sặc mùi lưu huỳnh...
Nhưng dưới mái hiên nhà, trên mãi thành cao nhất của khung cửa sổ khô ráo, đôi chim bồ câu trắng đứng nép bên nhau - Chính con chim đã bay đi đón bạn về, và con chim đã được dẫn về, có thể, là đã thoát được cơn nguy biến chết chóc.
Đôi chim cùng sù bộ lông lên - và con nọ choàng chạm cánh con kề bên.
Chúng thật hạnh phúc! Và cả tôi cũng thấy tuyệt vời, đưa mắt nhìn chúng... cho dù tôi chỉ có một thân một mình, một thân một mình - như bao lâu nay.

Tháng Năm 1878
Thúy Toàn dịch


NGÀY TẾT

NÓI CHUYỆN CÂU ĐỐI

Phong tục người Việt Nam ta thường dùng câu đối để mừng tặng nhau trong các dịp hiếu hỷ, hoặc những ngày lễ lạc khánh tiết, như mừng tân gia, mừng thọ, mừng đăng khoa hoặc viếng người quá cố. Câu đối có thể viết trên giấy đỏ (như câu đối tết), trên vải, lụa, hoặc chạm khắc, cẩn trên gỗ tốt, như các liễn thờ ở đình miếu, các tổ đường vọng tộc.

Câu đối là một hình thức văn hóa độc đáo, một trò chơi trí tuệ đặc trưng của dân tộc ta, mỗi câu đối phải thể hiện được nghệ thuật cao về từ, ý. Trong hai vế của một câu đối, từng chữ, từng lời phải đối nhau cả nghĩa đen và nghĩa bóng, cả hình thức và nội dung.

Câu văn trong hai vế đối có thể dài ngắn không hạn định. Những câu đối thật hay được lưu truyền như một giai thoại văn chương có rất nhiều, nhưng số người thưởng thức bị hạn chế, do đa số các câu đối các Cụ xưa thường viết bằng chữ Hán. Trong bài này, tác giả nặng về phần giới thiệu các câu đối bằng chữ Nôm, mong góp chút cống hiến nhỏ cho các bạn yêu cổ văn thưởng thức trong dịp đầu Xuân.

1. Câu đối mừng thọ Bác Hồ:
Xuân Canh Tý (1960) cụ Nguyễn Văn Từ có đăng câu đối mừng thọ 70 tuổi Bác Hồ trên Báo Quân Đội Nhân Dân như sau:
- Lo vì dân, nghĩ vì dân, vui khổ cũng vì dân, dốc chí thờ dân, công Bác với dân thiên thu bất tận.
- Bố gọi Bác, con gọi Bác, cháu chắt lại gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng dân mong Bác vạn thọ vô cương.
Trong vô số câu đối ca ngợi công đức Bác Hồ, mỗi câu mỗi vẻ, thể hiện từng cung bậc khác nhau của từng tác giả, nhưng cho đến nay, câu đối này vẫn được coi là hay, vì thể hiện được tình cảm trọn vẹn của Bác với dân, của dân với Bác.

2. Câu đối thử tài giữa hai nhà thơ:
Trong kho tàng văn học nước ta còn lưu truyền những câu đối nổi tiếng cùa các bậc tài hoa. Kẻ xuất đối ra một vế thật hiểm hóc, người đối lại cũng phải ngang tài mới làm nổi. Như nữ sỹ Hồ Xuân Hương đã ra một vế đối cho Chiêu Hổ:
“Cây xương rồng trồng đất rắn, long vẫn hoàn long”
Xuân Hương đã cố ý dùng các từ lắt léo như: rồng và trồng cùng vần, rồng và rắn cùng loài, long vừa có nghĩa là rồng vừa có nghĩa là lung lay.
Chiêu Hổ cũng chẳng vừa gì, ông đã đối lại vế sau rất chỉnh:
“Quả dưa chuột tuột cẳng dơi, thử chơi thì thử”
Chuột và tuột cùng vần, chuột và dơi cùng loài, thử vừa có nghĩa là chuột, vừa có nghĩa là nếm thử chơi.

3. Câu đối giữa nhà Vua yêu nước và tên thực dân đầu sỏ:
Tương truyền Vua Duy Tân lúc mới 12 tuổi, một hôm ngự yến ở Tòa Khâm sứ. Tại bữa tiệc có tên chánh mật thám Sogny, hắn tự phụ là giỏi chữ Hán và thạo chữ Việt. Thấy Vua ít tuổi và lanh lợi, hắm mới đem trình Vua một vế đối:
“Rút ruột Vua tam phân thiên hạ”
Câu ra mang hình thức chiết tự: chữ Vương (王) = Vua, nếu bỏ đi sổ dọc ở giữa (rút ruột) sẽ trở thành chữ Tam (三) = ba.
Ngoài ra tên mật thám Pháp còn ngụ ý nói xỏ Vua là hiện nay Vua không còn thực quyền, đã bị Tây móc hết ruột gan và chia nước ta ra làm 3 kỳ.
Trước câu xuất đối xấc xược của Sogny, Vua Duy Tân ứng khẩu đối lại:
“Chặt đầu Tây, tứ hải giai huynh”
Chữ Tây (西) nếu bỏ ngang trên đầu thì sẽ thành chữ Tứ (四) = bốn. Thật là một cái tát đích đáng! Chỉ có chặt đầy bọn Tây thì bốn bể mới bình an! Tên thực dân huênh hoang khoe chữ nghĩa đã nhận được một bài học của ông Vua trẻ dạy cho nhớ đời!

4. Câu đối nên duyên vợ chồng:
Tương truyền Vua Lê Thánh Tông khi còn là hoàng tử, sống ẩn tích với mẹ ở làng quê. Một hôm dạo chơi trên bờ sông vùng Tống Sơn (Thanh Hóa), nhìn xuống bến sông thấy một cô gái đang ngồi vo gạo, hoàng tử đọc thử một vế chơi, có ý thả lửng chữ cuối câu, người nghe tất ngầm hiểu:
“Gạo trắng nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả…”
Cô gái cũng vừa vo xong, bưng rá gạo bước lên bờ, vừa ứng khẩu đọc lên vế đối:
“Cát lầm gió bụi, lo đời chưa đủ đã lo cho…”
Sau này dò hỏi mới biết cô gái tên là Ngọc Hằng, con một vị Quốc công, gặp cảnh nhà trắc trở phải lưu lạc đến chốn dân dã. Hoàng tử thầm phục vế đối cũng như lời khuyên ngụ ý trong câu đối, nên sau khi lên ngôi, Vua đã cho mời nàng về cung lập làm quý phi.

5. Câu đối để kén chồng:
Sử còn ghi chuyện cô Miên nêu vế đối để kén chồng:
“Cô Miên ngủ một mình”
Câu ra có ý chơi chữ: Cô Miên (tiếng Việt là danh từ riêng) - Cô Miên (Hán văn) có nghĩa là ngủ một mình.
Câu thách đối ra đã khá lâu, chẳng có ai đối được. Sau đó có ông Cai Vàng (tức Tổng Thịnh) ông ta lấy ngay tên mình để đối lại:
“Tổng Thịnh tóm nhiều đứa”
Tổng Thịnh vừa là danh từ riêng theo tiếng Nôm, nghĩa Hán văn: Tổng = tóm, Thịnh - nhiều, đông.
Cô Miên đã chấp thuận làm vợ ba cho Tổng Thịnh và trở thành tham mưu cho nghĩa quân Cần Vương do chồng bà lãnh đạo. Trong một cuộc giao tranh với giặc Pháp, Tổng Thịnh trúng đạn hy sinh, bà đã thay mặt các bà vợ làm câu đối khóc chồng:
“Chị thưa chị! Một tiếng đùng, kiếp phù sinh ông lớn đã xong rồi, trị mà chi, loạn mà chi, ngơ ngẩn sống thừa em với chị”
“Con ơi con! Ba đời dõi, gương thế phiệt chúng bay coi lấy đó, vinh là thế, nhục là thế, ngậm ngùi chết điếng mẹ cùng con!”
Rõ ra giọng của bà nữ tướng khóc chồng và dạy con hãy noi gương hào kiệt của người cha, thà chọn lấy cái chết vinh hơn sống nhục nhằn nô lệ.

6. Câu đối trong đêm tân hôn:
Xưa có anh nho sinh lấy vợ nhà gia giáo, có học thi thư. Đêm tân hôn lúc tân lang đến gõ cửa xin động phòng, tân nương đã đóng chốt chặt, chỉ đút ra khe cửa một mảnh giấy có ghi:
“Hang Thiên Thai cài khóa động đào
Đóng chặt lại kẻo chàng Lưu quen lối cũ”
Anh nho sinh cũng là tay mẫn tiệp. Anh lấy ngay tích Bái Công dẫn quân ra cửa Hàm Cốc để đối lại tích Lưu thần nhập Thiên Thai.
Anh gõ cửa lần thứ hai và nhét qua khe cửa tờ giấy ghi vế đối:
“Cửa Hàm Cốc lỏng then tạo hóa
Mở toang ra cho ông Bái dẫn quân vào”
quả nhiên cửa phòng liền mở, đón tân lang vào vui hợp sắt cầm.

7. Câu đối châm biếm bọn bán nước, cầu vinh:
Hai tên Việt gian nổi tiếng về tàn ác trong việc đánh dẹp các phong trào Cần Vương, lúc vinh thăng cũng như khi chết đi, đều nhận được các câu đối châm biếm chua cay của các sỹ phu yêu nước. Tổng đốc Đỗ Hữu Phương trong lễ mừng thọ, y đã vênh vang khoe:
“Hạt Chợ Lớn có nhà họ Đỗ, đỗ một nhà ngũ phước tam đa”
Mấy hôm sau, có người gởi tới một vế đối lại như sau:
“Cù lao Rồng có lũ thằng phung, phung cả đám cửu cùng bát khổ”
Tên Việt gian thẹn thùng xấu hổ! Bia miệng ngàn năm quân bán nước!
Ở ngoài Bắc khi Hoàng Cao Khải mất, các sỹ phu Nghệ Tĩnh đã gởi viếng câu điếu:
“Ông ra Bắc là may, quyền kinh lược, tước quận công, bốn biển không nhà mà nhất nhỉ!”
“Cụ về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài thôn dã, một lòng vì nước có hai đâu!”
Mới đọc qua nghe tưởng như câu tán dương. Xét kỹ lại thì thật là mai mỉa, “ra Bắc là may”, nếu ông làm quan ở quê nhà thì chắc dân Nghệ Tĩnh không để yên cho ông tự do tung hoành đâu. Bốn biển không nhà, ngầm chỉ ông là tên lang bạt kỳ hồ. “Về Tây cũng tiếc” về Tây tức là chết (Tây phương). Nhưng ở đây chỉ có bọn Tây là tiếc, còn người Việt thì mừng. Một lòng vì nước. Nước nào? Nước Nam hay nước Pháp? Thật là mỉa mai!

8. Câu đối nhân cái chết của tên toàn quyền Đông Dương:
Năm 1934, Toàn quyền Pasquier chết cháy trong tai nạn máy bay, có người đã dùng Pháp văn để làm câu đối nhân cái chết đáng đời của tên đầu sỏ thực dân như sau:
“Tous les annamites sont si joyeux
Ce bel incendie nous venge bien!”
“Chaque colonial est vraiment triste
Mille danger semblables vous attendent”
Tạm dịch:
“Mọi người Việt Nam đều rất hân hoan
Trận lửa đẹp kia trả thù cho chúng tớ!”
“Mỗi chú thực dân hẳn là buồn bã
Nghìn tai nạn thế vẫn đang đợi lũ mày!”
Thật là ngộ nghĩnh! Ai bảo luật bằng trắc và lối văn biền - ngẫu, song quan không áp dụng cho tiếng Pháp được.

TRẦN ĐÌNH THÂN - BÙI ĐẸP st.


NHƯ NƯỚC TRONG NGUỒN

1. “Cao cao chi tổ, viễn viễn chi tông, thúc bá đệ huynh, cô di tỷ muội nhà bây ra nghe tao chửi thơ nè...” Tư bề yên lặng. “sóng bủa thuyền câu lướt dập, nhà sập bìm bìm leo, đéo mẹ tổ… chó đẻ nó cũng leo theo... Tổ cha ông bà nó... chơi với khỉ, khỉ vỗ đít, chơi với con nít, con nít lờn mặt, không bằng tuổi lẻ của tao mà bây bày đặt nói ra nói vô để gia đình tao hục hặc xáo xào...

Tiếng chửi của bà Hương giáo Hải ngọt như tiếng ca của mấy cô danh ca Ba Bé, Tư Sạng trong dĩa hát Asia cất lên đằng kia, lan trong gió chiều, tỏa ra phía đầu nầy cù-lao đánh dấu sanh hoạt đặc biệt của xóm mà má tôi xác định rằng thì là “đi bốn biển chín châu cũng không dễ dầu gì gặp”. Mỗi lần bà Hương trổ tài là mỗi lần tôi và bàng dân thiên hạ ở đây khoái chí tử: Vừa giải trí vừa đổi thay không khí nhàm chán của một nếp sống trầm trầm - trong vùng đất nhỏ bằng bụm tay lọt giữa con sông rộng - kéo dài trước đó. Sồn sồn người nhưng du dương giọng, bà Hương có tiếng chửi không khác mấy tiếng hát ru em trưa nắng, mùi mẫn như bài ca dạ cổ hoài lang từ phu tướng lên đường, đã điếu còn hơn nghe mấy con nhỏ xóm dưới kéo vút lên cao ngất, nhọn lễu như kim chích nhè nhẹ, nhột nhột vô tim, lăn tăn tới từng sợi dây thần kinh trên khắp cùng thân thể, mấy tiếng chót của một câu hò ruột. Nói có hơi quá, nhưng còn khoái hơn nghe trai gái mèo mỡ đối đáp trửng giỡn lúc giã gạo đêm trăng. Chứng kiến tụi nó ỡm ờ trao tình bằng miệng hò mắt liếc tôi khoái lỗ tai thì có mà bằng bụng thì không. Tôi nhớ tới tấm thân tôi. Con trai khi dễ coi như chẳng cùng loài cùng lứa, kiểu thằng Lai, thằng Chệt nào lạc loài trong xóm. Con gái đi ngang qua không cần biết tôi đương đứng đó, đương có mặt. Không đứa nào ngó thẳng vô mặt tôi mà biết mắc cở bối rối, trong khi đó đối với mấy thằng khác cỡ tuổi tôi, mấy con nhỏ nầy thường khi hành động kiểu như bị hớp hồn: quýnh quáng, tiếng được tiếng mất, cà lăm cà lập, vuốt vuốt tóc, kéo kéo áo, đỏ mặt cúi đầu ngó ngó xuống chưn... thấy mà phát nực. Có đứa còn lấy ngón cẳng cái chà chà dưới đất thiếu điều chết cha khoảnh đất chỗ đang đứng, trí óc bay bổng mất tiêu, mười điều hỏi trả lời ăn trét hết tám, chín. Lũ quỷ nầy một trăm đứa như một, đi ngang tôi như bước qua khúc cây mục nằm chận đường đi, như đi vòng một vũng nước dơ cần tránh, ngó tôi như ngó một gò mối, một đống đất, một cục đá tảng, tỉnh rụi. Tôi hỏi, tôi chào tụi nó cũng trả lời bả lả bô lô vài ba câu vậy, nhiều khi vui vẻ thân mật nữa là khác, nhưng mà qua con mắt vừa nháy nháy vừa suy nghĩ của tụi nó, chém chết tôi cũng thấy chàng ràng trước mặt một điều gì đó như là tội nghiệp, như là thân mật bằng tình anh chị em chòm xóm láng giềng nổi lên trong lòng.

Tôi với tụi nó đồng trang lứa chớ bộ, mặc dầu tôi không xổ người bự xộn như thằng Quang, nhưng đâu phải teo nhách không nên hình nên dạng đâu. Chỉ hèn đứa một chút vì bận bịu cặp nạng thôi. Làm gì có cái tình tinh khiết đó giữa trai tân gái mọn không cùng máu mủ! Đứa nào mà có dính líu một chút xíu bà con, thứ đồ bà con xa mút tí tè chống bảy sào không tới, vừa đi vừa nhai rồi liệng cả chục miếng trầu cũng còn xa lơ xa lắc, kiểu má tôi với thiếm của nó cùng một đầu ông cố, mà hễ phải đối đáp thân thiết tới câu thứ nhì thì tụi nó dở giọng xa xa, gần gần, kiểu cật ruột máu mủ, lại còn làm bộ ngây thơ thân tình theo kiểu bà con. Nực thiệt, nhiều khi ước sức tôi muốn đá cho một đá hay xáng cho một bạt tai mới đã nư.

Bởi vậy tụi nó trai gái hát hò, nghe thì nghe chớ tôi không kết cho lắm. Bà Hương giáo chửi thì lại là chuyện khác à nhe! Lạ lạ, hay hay. Thưởng thức mà không thấy tức tức ghét ghét ganh ganh bụng, nghe mà thanh thản, thơ thới lòng. Tôi tỉnh táo uống hớp từng âm thanh giai điệu, tôi bàng hoàng lạ lẫm về sự phong phú thần sầu của làn hơi con người ta trong việc vuốt tiếng lái giọng. Đó là chưa kể về mặt ý nghĩa, câu chửi ở đây như ẩn hiện chập chờn một yếu tố đặc biệt gì đó khiến cho mình khoái rơn, nhiều khi muốn nhảy dựng lên, muốn cười thật lớn. Nếu lâu ngày mà bà ta không lên tiếng tôi dám cá một ăn mười là nhiều người thấy thiếu thiếu thèm thèm lỗ tai kiểu như bữa nào bà ngoại lật đật đi xóm, quên đem theo ô trầu chắc lưỡi than thèm miệng.

Tôi ra chỗ ngạch cửa ngồi chống mỏ vảnh tai về mé nhà bà Hương. Cả tháng nay sức mấy mà được thanh nhàn! Bữa nào như bữa nấy, cơm nước rồi ngồi xạo sự chưa đầy một tiếng đồng hồ, ghế chưa nóng đã lo dở mùng chun vô, mấy bả hối còn quá cha chạy giặc. Trong mùng ánh sáng lờ mờ đọc lén giỏi lắm hết một hồi truyện mắt đã nhướng hết lên, buông xụi sách, chỏng cẳng ngáy.

Cả tháng nay giận chuyện gì không biết mà ba tôi ăn dầm nằm dề bên Mỹ Tho, cuối tuần cũng không thèm đi đò về thăm má tôi với ngoại. Má tôi thì bỏ lúng nhà cửa ở bển cho chó chạy, qua ở bên nầy với bà ngoại tôi chỗ tôi ở thuở giờ, mặt một đống, lầm lầm lì lì. Má tôi và bà ngoại, hai người đàn bà nầy tối ngày xầm xì nhỏ to. Khác với mọi lần, không ai thèm hỏi han, đếm xỉa gì tới tôi hết. Nhà như có đại tang, ai cũng ngồi đâu ngồi đó một đống, chù ụ. Mất vui. Lúc trước nhiều khi hứng chí, tôi thường làm tuồng hay hát hò nghêu ngao theo mấy bộ dĩa làm cho căn nhà như có nhiều người tùng tam tụ ngũ đập bồn đập bát, bây giờ cả ngày tôi nằm bẹp trên ván ngựa ngốn tới ngốn lui tới rách nát cả chục trang trước, văng mẹ nó năm sáu tờ sau mấy cuốn Gia Long Tẩu Quốc, Hoàng Tử Cảnh Như Tây, Giọt Máu Chung Tình của cái ông Tân Dân Tử nào đó, nhiều khi mấy giờ đồng hồ làm biếng không thèm mở miệng, cần lắm thì ậm à ậm ừ cho qua. Thằng Quang anh tôi thì coi mòi kỵ hai người đàn bà đó hơn, không cho chạm mặt. Nó tránh nhà trên, móc võng dưới bếp, đưa tòn ten kẽo kẹt, lâu lâu làm xấu kéo cẳng lên gãi sồn sột, thở dài thườn thượt như đầu thảo hụi bị tay em giựt tới tán gia bại sản nằm tiếc của thở ra. Cái thằng mới buồn chuyện gì có vài ba bữa mà coi bộ xuôi cò, như chết chưa chôn, luôn luôn thủ sẵn chai dầu gió trong túi, độ chừng mười lăm phút, nửa giờ thì móc ra quẹt một cái lên lỗ mũi, mặt dàu dàu. Nó hết còn vảnh mỏ hí hửng khoe mình từng làm tưới xượi đám con gái ở xứ nầy ngay khi tụi nó trái tràm vừa mới lu lú độn vải, theo cái câu rộng đồng thì gió thổi lên, khi vui con chị khi buồn con em. Tôi tò mò muốn biết chuyện gì xảy ra trong cái nhà nầy nên vừa hỏi vừa chọc nó tại sao không lội đi nữa, lội vô vườn thiên hạ làm cái chuyện hoa thơm nhổ cả cụm, không để lọt con nào như nó từng tuyên bố mà nằm lê lết như chó què ở nhà. Hỏi gì hỏi. Nói gì nói. Chọc gì chọc. Đá gì đá. Nó day mặt chỗ khác giả câm giả điếc không trả lời trả vốn gì hết. Tôi phải sử dụng cách tam khí Châu Do ngâm nga sông dài con cá lội biệt tăm... rồi nín thinh, dềnh dàng. Nó ngó tôi, chờ đợi câu tiếp. Ngu sao? Tôi chuyển mục Sàigòn xa chợ Mỹ cũng xa, rồi lại làm thinh một hồi lâu ớn, từ từ rót nước, uống từng ngụm nhỏ theo dõi sự khoái trá trong lòng mình bằng “nỗi đợi chờ và bực tức của địch thủ”. Nó theo dõi tôi từng cử chỉ tôi biết chứ sao không, nhưng giả đò không biết. Phải dạn miệng mới được. Tôi đưa tay quẹt mỏ, liếc mắt ngâm câu kế, đâm thấu vô tim nó “Em dông xứ Huế thành đô, như cá biển hồ bao thuở gặp nhau”. Thằng lăn lộn nhiều, bị chạm nọc, phản ứng chì lắm: chụp chiếc guốc lòng mức nặng chình chịch phang lẹ như bà xẹt về phía tôi bất kể trúng trật. Hú vía! Nếu không lẹ tay đưa cây nạng lên đỡ thì chắc lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc bữa đó chứ hỏng chơi. Vậy là trúng ngay boong rồi. Tôi bưng miệng cười lén. Nó ngậm cán búa rồi, thất tình con Nhàn vì nàng đã cuốn gói ra đi.

Bữa nay nó đi xứ lai xứ đế nào ngay sau khi dằn ba hột cơm chiên hồi tưng bửng sáng, chắc là đậu chến ghiền ăn từng xu nhỏ tiền xu ở đâu đó đằng nhà mấy chị đàn bà góa vô công rồi nghề sống bằng huê lợi vườn. Má tôi thì đi đò qua bển coi chừng chừng hễ ổng thiếu gì thì lo, bỏ lúng xót ruột. Nhà vắng vẻ trống trải vậy mà tự do, vừa hóng gió mát chập tối vừa nghe bà Hương chửi thơ thì đã như tiên. Mới dứt bữa còn no nhưng muốn ngồi lâu mà không buồn miệng tôi lọc cọc xuống bếp lục lọi. Có năm sáu củ khoai lang nóng hổi, tôi quơ đại quơ đùa mấy miếng lá chuối khô đâu đó bọc lại ơ hờ, ngó dáng bên ngoài lòi cái vỏ tim tím bên trong. Tôi cạp nhẹ lớp vỏ tim tím, bùi bùi, thơm thơm. Bẻ hai củ khoai ra, ngó khói trắng bốc lên từ giữa lớp ruột trắng bóc đầy bột, tôi hé răng cắn một miếng nhỏ, lim dim mắt, ngậm miệng chịu đựng cái nóng muốn lột lưỡi rớt răng. Vậy đó, ở đời có những cái khoái đau đớn mà cứ theo đuổi hoài, con người ta thiệt kỳ cục không hiểu nổi. Thằng anh tôi xiểng niểng vì điếm cờ bạc đốt cháy túi, vì bị con gái cho leo cây thoa mỡ bò. Và tôi, mấy cái chuyện lặt vặt như ăn khoai lang nóng nghe chửi nghe hò, dòm con gái rồi nghĩ bậy tới tức tức d. phải bụm mà chịu.

Vợ anh Bảy Nhành, thợ đẽo cối, bưng tô cơm bự chảng ra ngồi ở ngoài hàng ba vừa nhai nhép nhép vừa tủm tỉm cười một mình thấm ý. Mấy đứa con nít đã xúm xít như đâm thịt trâu toi đông nghịt ngoài hàng rào nhà bà Hương, lấn xô đẩy háy kêu réo vui còn hơn nhóm chợ. Thiên hạ ở xóm Cây Dừa nầy cũng ưa nghe chửi dữ tợn ha? Đâu phải riêng một mình tôi đâu?

Vậy mà Bà ngoại tôi nghe tiếng nạng lọc cọc lên xuống trên nền nhà, ngó ra đã thấy tôi ngồi tréo ngoải hóng mỏ, đã lật đật réo ngược réo xuôi biểu đi vô. Bà già lo xa kiểu mấy người gần đất xa trời! Nghe thiên hạ chửi mình, mới bực mới tức, chớ nghe thiên hạ chửi thiên hạ thì khoái lỗ tai chớ có hại gì đâu? À! Tới chỗ vui! Bà Hương giáo quẹo vô chỗ chánh... Ví von nhiều, tôi nghĩ là không ai đủ trí nhớ để kịp thời ghi lại. Tất cả đều nhằm vô “con chó đẻ đa sự em chồng của bà”. Cô ta động mồ động mả nên thèo lẻo ton hót gì đó cho ông Hương giáo đổ thừa bà về trách nhiệm chuyện con Nhàn cuốn gói ra đi. Giọng bà hay lắm, chữ nghĩa lại bất ngờ, ví von theo kiểu vè các thứ bánh, các thứ trái, các thứ cá... nhiều khi tôi buột miệng tính khen phải lẹ tay bụm, sợ bà ngoại ngầy. Cũng là tại con Nhàn hết, tôi thấy nó cặp bồ với thằng Quang lâu lắm rồi. Nhiều đêm hẹn hò ngoài bụi chuối sau hè nhà lớn, xế xế bụi môn, chờ cho trăng lặn anh chị mùi mẫn, cụp lạc. Không biết tại sao mà nửa chừng con nhỏ bỏ nhà trốn đi để cho thằng anh tôi há mỏ thở dài chết đứng chết ngồi, để cho má nó lớn họng chửi... hết cả xóm.

Xóm nầy vậy không, đụng chuyện gì đâu không biết của hai người cũng ong óng lên như giặc chòm. Tháng rồi bà Năm Tỷ giao mận cho thiếm Hai Rê đủ thiếu sao đó, hai đàng cãi cọ ba chục bội năm chục bội, đằng nầy nói đằng kia lật lọng, đằng nọ nói đằng kia làm bộ quên... Vậy là cả xóm nghe chửi đầy lỗ tai. Đầy trời thiên hạ ở đây vậy đó, tin nhau bằng lời, không lẽ gạch chữ thập, lăn tay hay chạy lại mượn người biết chữ viết trên giấy tín chỉ, đến chừng có chuyện, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, dậy giặc hoài hoài. Có điều dễ thương là năm bảy bữa nửa tháng hai đàng lại chị chị tui tui, cười mơn nói ngọt. Có lẽ ở cái cù lao nhỏ bằng hột mít nầy, quanh đi quẩn lại cũng có bấy nhiêu người, không nói ra nhưng ai cũng thấy một điều là giận cách mấy cũng thấy mặt nhau thường bữa, kéo thẳng ra thì ông bà xưa hai đàng không bà con cũng là anh em bạn. Để rồi coi, chuyện nầy không kéo dài đâu, êm ru bà rù liền bây giờ. Tiếc là tiếc con Nhàn ra đi, mà ra đi kiểu nầy thì có trời mới biết chừng nào nó mới trở lộn về. Uổng thiệt. Ngồi trong nhà thấy nó thấp thoáng bên kia, ngực một ngực, lồ lộ thiếu điều căng xé áo nhảy ra ngoài, tôi cũng đã cảm nhận nỗi vui vui tràn ngập lòng, đời thiệt thòi như được trút bớt vài phân.

Bà ngoại nắm tay tôi kéo vô nói hay ho gì mấy cái chuyện chửi lộn mà phải chạy tuốt ra sân vảnh lỗ tai ra hứng. Vừa thôi chớ bà nội! Ở ngoài nầy với ở trong nhà có khác gì đâu? Nghe thêm vài câu chửi bậy thì cũng đâu tới nỗi hư thân mất nết. Thân tôi mà còn sợ hư cái nỗi gì chớ? Trời bắt vậy thì nó vậy, không hư mà cũng không tốt lành gì đó. Đời tôi kể như bỏ rồi. Bỏ từ lúc mới biết khóc đêm tủi thân thua sút chúng bạn. Biết bao nhiêu chuyện tụi bạn trang lứa làm được dễ dàng mà tôi thì cố gắng trầy vi tróc vảy cũng ạch đụi lẹt đẹt; leo cây là một, lội sông là hai, u mọi, đá lon, đá banh, đá cầu là ba, bốn... Ối thôi, đủ thứ thua sút người. Tôi nhe răng cười, trì lại. Không phải không nghe lời, dể duôi. Tôi muốn chứng tỏ với bà tôi đã lớn, có quyền hưởng những tự do cần thiết. Thằng Quang đó, lớn hơn tôi có hai tuổi chớ mấy, giỏi rầy la nó đi. Đường ngách nào cũng biết, chuyện chơi nào cũng nhúng tay. Cả ngày xạo sự đầu trên xóm dưới, mười một mười hai giờ đêm đã đời tơi ống ngoáy mới bò về, khi thì chui đằng nhà đẳng ngủ vùi, khi thì vô nhà nầy lục cơm, xin tiền rồi đi nữa. Có ai rầy la mắng mỏ gì đâu? Nó chỉ trên chưn tôi có cái thân hình thôi còn tật xấu thì ấp lẫm, nói láo dàn trời ai cũng chạy mặt mà ai cũng làm thinh, coi như chuyện đương nhiên. Tôi chê nó đục chưa chắc tôi đã trong, nhưng tức quá, không sao khỏi nghĩ tới sự khác biệt giữa hai anh em chỉ sanh ra trước sau không đầy hai năm mà số phận vô cùng chinh lịch. Trong khi tôi không bao giờ có tới năm đồng dằn bóp, nó phải có vài tờ giấy con công mới chịu êm, không thì nẹo trèo trẹo. Phân bì thì mười miệng như một nói nó khác tôi khác. Tại sao khác mới được chứ? Tôi cũng người vậy chớ bộ cây cỏ sắt đá hay thú cầm gì sao? Tôi trì mạnh hơn khi nghĩ tới đó. Miệng tôi vẫn cười cười. Bà ngoại tôi giá giá tính đánh vô tay tôi. Nói nào cho ngay, nếu có đánh bà đánh như phủi bụi chứ gì, tôi biết quá còn lạ gì chuyện nầy, nhưng mà cũng làm bộ năn nỉ cho bà vừa lòng nại cớ ngồi ngoài trước sân cho mát, đi ngủ bây giờ đâu được, nóng quá, người chứ đâu phải gà mà mới đỏ đèn đã chun vô chuồng, thêm nữa tiếng chửi dọng vô lỗ tai ai mà chợp mắt được. Bà ngoại buông tôi ra, không quên điểm mặt dọa một dọc đủ thứ, nào là liệu hồn, lớn rồi có thân phải giữ, ngồi đây muỗi tha, nghe chửi bậy bạ không nên... Tôi khựng ngang. Lớn? Con nít? Không biết rõ lắm. Nhưng tôi muốn mình là con nít hoài hoài. Lớn mà làm cái quỷ gì?

Vậy mà có được cho đâu! “Chuối non giú ép chát ngầm, trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm”. Tôi không khóc thâu đêm nhưng hai năm gần đây như cọp chạm mồi, quen với thịt người, tôi bị ma đưa lối quỷ dẫn đường lúc nào không biết mà sống với thói hư tật xấu buông thả theo sự dậy giặc của xác thịt. Nhiều đêm vô mùng lạo xạo, ngọ ngoậy vọc nát tấm thân khổ sở thèm khát của mình cho đến khi đã đời mệt thiếp nằm ngủ vùi mới chịu!

Tiếng chửi thình lình ngắt ngang như máy hát đứt dây thiều, như lò lửa đương bừng bừng mà ai đó hắt vô cả thùng thiếc nước. Vậy là có ai đó báo ông Hương giáo đã về gần tới. Cứ hễ ổng về tới xa xa thì bả tắt giọng chửi ngang xương như vậy đó. Còn hễ bả đã miệng thì xuống giọng từ từ, kéo dài giọng chã chẹt như hết dây thiều, uống một ngụm nước, thở vài ba cái rồi bắt trớn lại như cũ. Tôi đợi một lúc hơi lâu, thấy êm re. Chắc chắn là mình đoán trúng. Tự nhiên tôi thấy thương thương ông Hương giáo. Cả đời ở khít bên người vợ biết chửi có vần có điệu, có ca có kệ mà không bao giờ được thưởng thức. Giống như ông già tôi ổng có bộ dĩa hát tuồng “San Hậu, Nguyệt Kiểu thứ ba” mà không bao giờ có thời giờ nghe vì còn phải bận bịu với mớ sách tiếng Tây tàu sắt chở qua cả thùng mỗi tháng.

Lắm khi tôi nghĩ bắt tức cười khan một mình, ông Hương giáo lo ăn ở cho đàng hoàng để xóm giềng làng xã nể vì dầu sao mình cũng ở trong ban hội tề nên bị mất một cái hứng thú ở đời là nghe chửi bằng thơ. Tôi biết nếu có ai mét rằng bà Hương giáo chửi rủa thiên hạ dữ lắm thì chắc ổng cũng bán tín bán nghi. Mấy chục năm nay có nghe bả chửi câu nào đâu? Chuyện kỳ thiệt, trong nhà không rõ ngoài ngõ đã tường. Như chuyện con Nhàn ổng tuyên bố tới chừng đám cưới ổng sẽ làm tiệc thiệt linh đình, đãi đằng bà con họ hàng ba bữa phủ phê, hạ ba con bò, heo gà vịt cá tôm cua không thèm kể. Bây giờ trớt da me, nó ôm gói dông tuốt theo trai, muốn đãi một bữa cơm thường cho có vị cũng lấy con đâu ra làm cớ.

Nghĩ tới con Nhàn tôi nhớ tới con Bông con của vợ chồng Bảy Sự, tá điền của ngoại tôi. Tuần rồi không biết mắc mớ gì mà nó rảo qua lượn lại nhà nầy hoài. Hễ thấy dạng nó từ đằng xa là tôi lật đật men men ra cửa ngóng. Nó đương sùng thằng nào chọc nên coi bộ ngúng nguẩy, miệng lầm bầm, cặp môi nó chúm chím chu chu dễ thương cách gì. Không phải như tụi khác bị chọc buông tiếng nặng nề kiểu hàng tôm hàng cá. Cặp mắt nó tròn tròn, gò má nó phính phính hây hây coi hấp dẫn như trái mận hồng đào sắp chín tới, hườm hườm với mấy sợi gân nhỏ lí-tí thấy bắt thèm cắn. Nó qua khỏi nhà một đỗi xa ớn mà tôi cũng còn bị bà giục, ngó theo lom tom thiếu điều rớt con mắt. Ôi! Tròn trịa và hấp dẫn. Ôi! Hai cái tay đánh đồng xa dịu nhiễu. Ôi! Cái bất hạnh lớn lao của tôi. Tôi tức ba má tôi hồi đó không lo săn sóc con cái cho đàng hoàng tử tế, giao khoán cho kẻ ăn người làm dốt nát không biết chuyện bịnh tật thuốc men liều lượng nên tôi đến đỗi...

Con Bông con nhà bần hàn, không chưn giày chưn dép cao sang như mấy cô đi học bên chợ Mỹ nhưng mà được ớn. Lại khôn nữa. Nói năng đâu ra đó, ai cũng mến chuộng. Ba nó, Bảy Sự, dân làng nhậu, bị ma men hành té mang bịnh hậu cả năm nay liệt giường không ra khỏi nhà. Má nó bán xôi cả ngày ở cầu bắc, một mình nó lo chuyện nhà cửa, em út mà nghe nói sạch sẽ vén khéo lắm, ai tới cũng chắc lưỡi khen ngầm. Nó là loại ở nhà giúp mẹ giúp cha, lớn lên theo chồng thì sẽ là kiểu người đàn bà đi đâu thì kêu chồng đưa gói thiếp mang, đưa gươm thiếp vác cho chàng đi không. Nội cái dung đã thấy đáng đồng tiền, thêm cái hạnh đó đốt đuốc kiếm đỏ con mắt cũng không có tới hai, mấy cậu công tử nhà giàu bên chợ Mỹ mới xứng, thứ đồ cắc ké ở hóc bà tó nầy nhằm nhò gì. Bởi vậy tôi chỉ dòm theo thôi đã đủ mãn nhãn, mãn ý. Dòm theo. Không dám sỗ sàng dòm từ đằng trước chiếu tướng như đối với mấy đứa khác. Cặp nạng ngáng chưn cẳng vói tay không tới đâu hết nên tôi chào thua, đứng xa xa mơ ước. Cây sào nối tay người ta dài ra để hái trái chín. Cái dầm tạo khả năng cho con người di chuyển ghe xuồng lướt trên mặt nước dễ dàng. Cặp nạng trái lại khiến tôi ngượng nghịu khổ sở, chêm khoảng cách vĩ đại giữa tôi với tụi cùng trang lứa. Mà lạ! Cả tháng nay má con Bông ưa qua rù rì với má tôi, mỗi lần đứng dậy xin phép về đều đỏ hoe cặp mắt. Má tôi nói vợ Bảy Sự qua năn nỉ mượn tiền chạy thuốc cho chồng và sang cái quán cơm ở cầu bắc để làm ăn sẵn dịp có người dọn nhà lên Sài Gòn, bán rẻ. Lạ thiệt chớ! Mượn, nói một hai lần chớ sao lại ngày nào cũng qua khóc lóc như nằm vạ, như bắt đền cái gì. Mà lần nào thím cũng qua tay không, không còn quà cáp biếu xén của ngon vật lạ trê nọng, trê vàng, nhãn chày, chôm chôm tróc như hồi nẳm. Muỗi nhiều quá, tôi đưa tay đập lốp bốp vô mặt, vô đùi.

Mắc nghĩ lơ quơ quên là bà Hương giáo nín đã hèn lâu rồi. Bà ngoại tôi đã vặn đèn xuống nhỏ hơn, luôn miệng cằn nhằn tôi giống con gái mẹ, làm gì cũng chùng chình lớ rớ, vô thì vô, ở ngoài đó mà đập, lại còn mở cửa toác hoác cho muỗi vô nhà. Bà dài dòng dây nhợ về chuyện vợ thằng Bảy Sự, theo bà, bà giải quyết cái một, đưa chút đỉnh nó làm gì nó làm, kéo dài làm chi cho vợ chồng cắn đắn. Nghe thì nghe vậy mà mù mờ như người đi trong sương sớm, bù trớt không biết đầu đuôi ngọn ngành ra làm sao, tôi chỉ còn biết lõ mắt ếch ra ngó. Hình như là bà chê trách má tôi thiếu thông minh, không biết giải quyết công việc cho phải cách hay gì gì đó tương tợ... Chịu thua bà! Cho tiền thằng nầy cũng không dám binh bổ nói chi làm tài khôn cự lại bà để binh mẹ. Mà nghĩ cho cùng, cũng hơi oan. Biết đâu má tôi đương kiếm cách nói sao cho ba tôi vui lòng giúp thiếm Bảy đủ số thiếm cần. Thiếm hồi nhỏ ở đợ cho ông bà ngoại tôi, lo giặt giũ, cơm nước và bầu bạn với má tôi. Chắc hai người hồi đó mến tay mến chưn nên bây giờ bà già còn nghĩ chút tình, như ông ngoại tôi hồi nẵm nghĩ chút tình nhín cho hai vợ chồng họ cái thẻo đất góc vườn để cất nhà. Cái khó là ba tôi chê vợ chồng Bảy sự dốt nát rượu chè nên không bao giờ chịu nói chuyện quá một câu. Chuyện giúp đỡ tôi thấy có đường lỏ trớt, xa vời như nhiều đêm tôi nằm cong mình, ước ao đủ thứ, khi tỉnh dậy thấy mọi chuyện hoàn không...

(còn tiếp)

San Marcos, Texas, March 1997
NGUYỄN VĂN SÂM


XUÂN ĐÃ VỀ,

TA HÁT VANG CHÀO MỪNG XUÂN SANG!

Phối cảnh Linh vật Mậu Tuất 2018 ở cổng chính của đường hoa Nguyễn Huệ.

Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán là dịp lễ lớn, quan trọng của người Việt Nam từ trước đến nay, hòa cùng với văn hóa Tết âm lịch của các nước phương Đông. Dưới đây là các ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán:

1. Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (người TQ gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).

Do cách tính của Âm lịch Việt Nam có khác với TQ cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người TQ và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa TQ khác.

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (DL). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 DL và sau ngày 19 tháng 2 DL mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 DL. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

2. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán
Theo lịch sử TQ, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng 1 cho đến hết ngày mồng 7.

3. Ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán là dịp lễ lớn, quan trọng của người Việt Nam từ trước đến nay, hòa cùng với văn hóa Tết âm lịch của các nước phương Đông. Đây là khoảng thời gian được xem là vui nhất, nhộn nhịp nhất và ấm áp nhất của cả một năm.

Mọi người có cơ hội sum họp, đoàn tụ, quây quần bên nhau, cùng nhau tận hưởng những khoảnh khắc tài lộc, náo nức, thiêng liêng, nồng ấm của mùa xuân, của những ngày đầu năm đầy phấn khởi.
Những bộn bề, lo toan của công việc sẽ tạm gác lại, thay vào đó là sự thoải mái, sự thư giãn tâm hồn và hòa mình vào không gian hân hoan của tiết xuân nồng thắm.

Ngày Tết Nguyên Đán là thời khắc giao hòa giữa năm cũ và năm mới, là sự khởi đầu cho những hương sắc tân niên, cây trái đâm chồi nảy lộc, nhà nhà phát tài, sung túc, Thiên - Địa - Nhân hài hòa cùng sự trường tồn vĩnh cửu. Đồng thời, Tết còn là những ngày người Việt ta hướng về cội nguồn, tổ tiên.
Chính vì là một dịp quan trọng cho sự khởi đầu, cho biết bao niềm tin yêu, sự may mắn cùng những mong ước, nguyện cầu chân thành nên ngày Tết Nguyên Đán mang nhiều ý nghĩa nhân văn và sâu xa nhất so với những ngày lễ khác trong năm:

- Tết Nguyên Đán là ngày giao hòa giữa trời đất, con người với thần linh
Ngày Tết Nguyên Đán mang ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, được xem là một ngày tốt đẹp, là dịp giao hòa giữa trời đất, con người với thần linh. Do đó, nhiều người tin tưởng rằng những ý nghĩ, những mong ước, hành động của mình sẽ được các vị Chư Thần nghe thấy, thấu hiểu và ban cho phước lành. Vì vậy, trong ngày Tết Nguyên Đán, mọi người thường làm việc thiện như tặng quần áo mới, chia sẻ miếng ăn, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn…

- Tết Nguyên Đán là ngày sum họp, đoàn viên
Tết Nguyên Đán là một dịp nghỉ có lẽ là dài nhất trong năm. Vì vậy, mọi người có thời gian tạm gác công việc chính, về quê thăm gia đình, cùng sum họp, đoàn viên bên nhau sau một năm dài xa cách bôn ba vì miếng cơm manh áo. Những khoảnh khắc sum vầy, đoàn tụ thành viên trong gia đình thật quý báu và hạnh phúc làm cho ngày Tết Nguyên Đán càng thêm ý nghĩa biết dường nào!

- Tết Nguyên Đán là ngày hướng về cội nguồn
Trước khi Tết đến, vào những ngày cuối năm, mọi nhà có tập tục tảo mộ là để tưởng nhớ đến những người đã mất. Sau đó, đến đêm giao thừa, trên bàn thờ của ông bà tổ tiên luôn nghi ngút khói hương thể hiện sự hướng về nguồn cội của thế hệ đi sau dành cho thế hệ đi trước qua hình thức rước ông bà. Trong những ngày Tết, chúng ta thường thấy trên bàn thờ ông bà, tổ tiên luôn đầy ắp bánh mứt, trái cây, mâm xôi, đĩa thịt nói lên được lòng kính yêu, hiếu đạo vốn có của người Việt ta.

- Tết Nguyên Đán là ngày rước tài lộc
Ngày Tết Nguyên Đán được nhiều người quan niệm là ngày ông Thần Tài gõ cửa từng nhà để ban tiền tài, sự thịnh vượng, sung túc. Vì vậy, đây là dịp để mọi người tranh thủ mở rộng cửa rước tài lộc vào nhà, rước những điều may mắn, tốt đẹp, giàu có nhất từ ông Thần Tài. Nhiều gia đình thường mở cửa suốt ngày để chào đón niềm vui, sự phấn khởi cùng những hy vọng về tiền tài của cải đầy ắp.

- Tết Nguyên Đán là ngày khởi nghiệp cho năm mới
Ngày Tết đánh dấu sự khởi đầu cho cả một năm dài với những cơ hội, thử thách và sự vận hành mới. Nhiều người thường đi xem giờ tốt, ngày lành, tháng tốt để khởi nghiệp, khai trương cho công việc trong năm mới với hy vọng may mắn, thuận lợi, thành công hơn năm cũ. Vì vậy, ngày Tết mang ý nghĩa không kém phần quan trọng cho sự khởi đầu của công việc trong năm mới.

- Tết Nguyên Đán là ngày may mắn
Nhiều người quan niệm rằng những ngày đầu năm thường là những ngày may mắn, tốt đẹp. Sự may mắn ấy hòa quyện trên những cánh hoa mai, hoa đào, trên những chiếc lá non xanh, trên những mâm ngũ quả. Vì vậy, nhiều người thường ngắt một vài cành hoa tươi mang về với hy vọng thu thập được sự may mắn của mùa xuân.

- Tết Nguyên Đán là ngày cầu duyên
Trong tâm tưởng của nhiều người, ngày Tết cũng là ngày ông Tơ bà Nguyệt, ông Mai bà Mối se duyên cho những người còn đang độc thân, dang dở trong chuyện tình cảm. Hòa trong không khí sum họp, vui tươi của mùa xuân là niềm hân hoan, hạnh phúc lứa đôi của những mối lương duyên cầu được, ước thấy. Chính vì ngày Tết thường là ngày cầu duyên, nên duyên và đẹp đôi nên ở tại nhiều nơi, chúng ta không những được nghe bao câu hát xuân nhộn nhịp mà còn rất phấn khích bởi những bài nhạc đám cưới náo nức, tưng bừng rộn vang.

- Tết Nguyên Đán là ngày của sự đổi mới, lạc quan và hy vọng
Người Việt Nam ta tin rằng ngày Tết Nguyên Đán khởi đầu cho một năm mới, là ngày của sự đổi mới với những niềm tin mới, tạm biệt những quá khứ của năm cũ. Vì vậy, mọi người thường tân trang lại nhà cửa cho thật sạch đẹp, ngăn nắp, mới mẻ để chào đón cái mới của năm mới. Những gì không may mắn, không thuận lợi của năm cũ sẽ được xua đi để đón nhận những điều lạc quan, đầy hy vọng, đầy đẹp tươi trong năm mới đến.

- Tết Nguyên Đán là ngày để yêu thương, hòa thuận
Ngày Tết Nguyên Đán là cơ hội để mọi người thể hiện sự yêu thương, quan tâm lẫn nhau, gửi đến nhau những lời chúc chân thành, tốt đẹp nhất. Hiển nhiên, vào những ngày này, người lớn nên hạn chế la rầy trẻ em, hạn chế cãi vã nhau để tạo nên một không gian thuận hòa, gần gũi, nồng ấm trọn vẹn nhất. Những hiềm khích, mâu thuẫn nên tạm gác lại để thay bằng những lời thân thương, ấm lòng nhau nhằm tạo cho nhau sự thiện cảm, chan hòa cho cả một năm mới đến.

- Tết Nguyên Đán là ngày của sự tạ ơn
Người Việt Nam ta thường chọn ngày Tết làm ngày của sự tạ ơn. Hòa trong không gian sum vầy ấm cúng, hân hoan, con cái tạ ơn sinh thành dưỡng dục của bố mẹ, cha mẹ tạ ơn tổ tiên qua đĩa thịt, mâm ngũ quả, nhân viên tạ ơn cấp trên qua những lời chúc chân thành, kính trọng, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng Tết…

Trên đây là 10 ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán rất đỗi nhân văn và sâu sắc của người Việt Nam. Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hóa vừa lưu giữ được những giá trị truyền thống, vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ, phát huy ngày Tết truyền thống này để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Miền Bắc thích hoa Đào, miền Nam thích hoa Mai

Mỗi vùng có một phong tục khác nhau, một truyền thống khác nhau, nhưng đã bao giờ chúng ta thắc mắc lại có sự khác biệt này chưa?

Điều đầu tiên hiện lên trong đầu chúng ta khi được hỏi câu trên có lẽ sẽ là do “thời tiết - khí hậu”. Cùng thuộc nước Việt Nam nhưng 2 miền Nam Bắc lại có khí hậu khác hẳn nhau - kể từ Đèo Ngang (xưa kia là ranh giới cũ giữa Đại Việt với Chiêm Thành và cách Sông Gianh 27km là giới tuyến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nay Đèo Ngang nằm ở ranh giới của 2 tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình).

Trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, khiến thời tiết trong năm phân thành 4 mùa rõ rệt thì miền Nam lại có khí hậu nhiệt đới với mùa mưa và mùa khô rõ rệt.
Với 2 loại thời tiết khác biệt trên, cộng với sự khác nhau của thổ nhưỡng mỗi vùng, chúng ta có 2 loài hoa đặc trưng cho 2 vùng rõ rệt.

Cây hoa đào của miền Bắc khó có thể sinh trưởng trong khí hậu nóng quanh năm của miền Nam, ngược lại hoa mai cũng khó lòng “sống tốt” với sự khắc nghiệt của mùa đông miền Bắc. Nhưng ngoài các yếu tố về thời tiết, đất đai ra, sự khác biệt đó còn đến từ các truyền thuyết, quan niệm dân gian của mỗi miền:

- Miền Bắc: Hoa đào dùng để trừ tà, đuổi quỷ, mang lại hạnh phúc, an lành
Cũng từ đó mà mỗi năm khi tết đến xuân về, người người, nhà nhà đều cố chọn cho mình những cành đào, cây đào thật đẹp, thật uy nghi.
- Miền Nam: Hoa mai là biểu tượng của phú quý, giàu sang

Hoa mai màu vàng, màu của hoàng tộc, tượng trưng cho vua, do đó hoa mai cũng là biểu tượng của sự vinh hiển, thành đạt.

Trong quan niệm về ngũ hành, màu vàng là hành Thổ, nằm ở vị trí trung tâm, quy tụ cả Kim, Mộc, Thủy, Hỏa có chức năng sinh sản, duy trì nòi giống.

Hoa mai còn tượng trưng cho tinh thần lạc quan và quật cường, vượt qua mọi chướng ngại của hoàn cảnh - phẩm chất tinh thần tối cần thiết của bao thế hệ “mang gươm đi mở đất” phương Nam.


Hoa đào Nhật Tân Hoa mai

LỜI KẾT
Đường hoa Tết Mậu Tuất 2018 - “Khát vọng vươn xa” - trên phố đi bộ Nguyễn Huệ sẽ chính thức khai mạc vào ngày 28 tháng Chạp.

Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) đơn vị thực hiện đường hoa Tết Mậu Tuất 2018 cho biết, năm nay đường hoa tết được tổ chức trên phố đi bộ Nguyễn Huệ (Q1, Tp.HCM) từ ngày 13/2/2018 (28 tháng Chạp) đến ngày 19/2/2018 (mùng 4 Tết).

Theo đó, đường hoa Tết Mậu Tuất 2018 dài 720m trên phố đi bộ Nguyễn Huệ với linh vật là những chú chó Phú Quốc. Các chú chó Phú Quốc sẽ được trang trí xuyên suốt đường hoa với tính cách nổi bật nhanh nhẹn, thông minh, gan dạ và đều trong tư thế đang chuyển động, đầu ngẩng cao, dáng chạy dũng mãnh. Chiều cao trung bình của linh vật là 2m.

Ở khu vực cổng chính của đường hoa là hình ảnh một gia đình chú chó hạnh phúc cùng nhau chào đón năm mới, một mùa xuân mới.
Xuyên suốt Đường hoa dài 720m có những đại cảnh, tiểu cảnh đa dạng với ba phân đoạn chính thể hiện chủ đề của Đường hoa: Mùa xuân thành phố, Hội nhập và phát triển, Vươn tới tương lai.
Trên đường hoa Tết sẽ có những hình ảnh quen thuộc trong ngày Tết cổ truyền như câu đối, bánh chưng, bánh tét, dưa hấu đỏ cùng với cảnh thuyền chở hoa cúc vàng óng sẽ được dựng lên. Ngoài ra, trên đường hoa còn có bộ ấm trà khổng lồ và những viên đường, bánh mứt cách điệu lạ mắt trong ngày tết đến.
Theo ban tổ chức, đường hoa năm nay tiếp tục ứng dụng công nghệ chụp hình thực tế ảo và được bổ sung nhiều tính năng mới như: chức năng quay video ngắn, nâng cao chất lượng hình ảnh, tăng cường tính năng chia sẻ trực tiếp, trải nghiệm thực tế ảo.

Xuân 2018 về, kính chúc quý Thân hữu và Huynh đệ
THÂN TÂM AN LẠC!


Bài hát: Xuân Đã Về - Minh Kỳ

Xuân đã về, xuân đã về!
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Trên cánh đồng, chim hót mừng,
Đang thướt tha từng đàn tung bay vui say
Xuân đã về, xuân đã về!
Ngàn hoa hé môi cười vui đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về!
Ta hát vang lên câu ca mừng chào xuân

ĐK:
Ngoài trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp
cười trông xinh như hoa
Lập lòe tà áo xanh xanh chen bông tím vàng đẹp hơn tiên nga
Vài bầy em bé rúc rích, khúc khích tiếng cười rủ nhau vui ca
Từng đàn chim non xinh xinh tung bay khắp trời cùng ríu rít ca
Một bài ca đón chào mừng hòa theo tiếng pháo đì đùng
Mừng xuân nay đã về rồi và đông đã vượt qua
Ngập trời bao tiếng chào mừng, nàng xuân duyên dáng về rồi
Về gieo bao thắm tươi vui lòng ta thấy yêu đời

Xuân đã về, xuân đã về!
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Xuân đã về, trên cánh đồng,
Bao bác nông ngưng cày ruộng vui say xuân
Xuân đã về, xuân đã về!
Ngàn cô gái quê cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về!
Ta hát vang chào mừng xuân sang, xuân sang...

PHẠM VŨ

(Tham khảo: Sách báo - Internet)



Phụ Bản II


KÝ ỨC VỀ XUÂN

Con người chưa bao giờ thôi nói về Mùa Xuân, bởi mỗi cuối năm, mỗi người đều có những kỷ niệm, những tâm trạng khác nhau khi Xuân về, cũng như cách thức chuẩn bị chờ đón mùa Xuân mới sắp đến.

Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng nhỏ miền Tây Nam Bộ. Thuở nhỏ thì tôi không để ý, không cần biết cha má tôi hay những người lớn trong làng chuẩn bị hay làm như thế nào để đón Xuân, nhưng giờ ôn lại thì tôi nhớ như in, vì tuy không quan tâm, nhưng nó đã âm thầm tự lưu giữ vào ký ức không bao giờ quên.

Khi những tờ lịch vơi dần, là lúc mà những người mẹ, người chị ở quê lo chuẩn bị sẵn những nguyên liệu để làm bánh, làm mứt để đón Xuân. Họ lấy những bẹ chuối, rọc thành từng sợi nhỏ rồi mang phơi khô để dành cột bánh tét. Nhà nào không có trồng chuối thì tới những nhà có trồng chuối để dặn chừa lá cho mình, chừng nào gói bánh thì sẽ đến rọc để lấy. Họ mua nếp, hay nhà nào có nếp thì cũng mang ra, ngồi lựa từng hột, loại những hột gạo còn sót trong nếp, để khi ăn thì cái bánh dẻo đều, không phải vướng những hột gạo làm sượng, mất ngon. Họ muối dưa hành, làm củ kiệu, làm mứt, quết bánh phồng, làm bánh tổ… Những ngày cuối năm thì cả xóm rộn ràng, nhà nào nhà nấy tất bật. Họ chuẩn bị sẵn để đón Tết, một phần để chờ những đứa con đi làm, đi học xa trở về. Càng cận Tết là việc sắm sửa càng tưng bừng hơn. Nhà nào nhà nấy khoác lên một màu sắc khác hẳn bình thường, trong bếp bao giờ cũng treo lủng lẳng nhiều cặp bánh tét. Bánh Phồng xếp đống trên bàn, những hũ dưa kiệu, dưa hành ngâm chua, những mẻ mứt dừa, mứt bí, mứt gừng, mứt khóm đang xên thơm lừng cả gian bếp. Những đứa trẻ được dịp bốc chỗ này một miếng, chỗ kia một miếng rồi bỏ chạy, vì bị la, để dành Tết mới cho ăn… Vui làm sao.

Càng sát Tết thì những đứa con đi xa cũng trở về với quà cáp, tay xách nách mang. Cả một Mùa Xuân đang về với làng quê vốn quanh năm im ắng. Những ngày tháng trước đây, mọi người sáng sớm mạnh ai nấy ra đồng làm việc của mình, thỉnh thoảng đi trên đường gặp nhau thì trao đổi đôi câu. Học trò thì đi học. Mỗi sáng sớm ở quê tôi quen thuộc với tiếng chuông nhà thờ, báo hiệu Thánh lễ Misa, rồi vài tiếng sau là tiếng trống trường vang dậy để dục học sinh nhanh bước đến trường. Cuộc sống thật là thanh bình, yên ả, chỉ rộn ràng vào hai ngày lễ, là Noel và ngày lễ được chuẩn bị kỹ càng nhất là ngày Tết. Quanh năm mọi người chân lấm, tay bùn, nên dồn tất cả cho ngày đầu năm. Mọi thứ quý nhất, tốt nhất đều được bày ra. Từ rèm cửa cho tới khăn trải bàn đều được thay mới. Có nhà còn sơn nhà để ăn Tết. Hàng rào có hư cũng sửa cho tươm tất, không để lô xô như ngày thường! Nhà nào có chén dĩa đẹp thì ngày đó cũng lấy ra để dọn ăn. Họ chưng dọn cho căn nhà với những chậu hoa vàng, đỏ, hai màu này càng nhiều càng tốt để cầu mong phước, lộc cho năm mới. Bàn thờ thì lộng lẫy hơn bao giờ hết với dĩa trái cây đủ màu: màu vàng của đu đủ, màu xanh của cam, của xoài, màu đỏ của trái bom, màu hồng của trái khóm non. Hai bên là cặp dưa hấu dán giấy đỏ, cộng với hai bình hoa rực rỡ nên bàn thờ cũng trang trọng hẳn ra. Bộ lư, chân đèn cũng được đánh bóng sáng choang.

Còn nhớ năm tôi mới lớn, lần đầu tiên ngày Tết được may cho cái áo dài màu tím nhạt, có in hoa tím trên đó với chiếc quần trắng mới tinh kèm theo đôi guốc mới. Chiều hôm trước là tôi ủi thẳng, ngắm nghía, ướm thử lên người. Đêm đó không ngủ được, trằn trọc trông cho mau sáng để mặc bộ áo dài mới đi nhà thờ. Sáng sớm Mồng Một, tôi thức dậy, rửa mặt sạch sẽ, chải tóc gọn gàng xong là mặc bộ áo quần mới vô ngay. Bước tới gương soi, tôi thấy mình lớn hẳn, đẹp hẳn lên như một người xa lạ. Mặc bộ đồ mới tinh, mang đôi guốc mới đi tới nhà thờ mà lòng phơi phới, có cảm giác như mọi người đang nhìn mình. Lễ xong, tôi về nhà, cùng chị em mừng tuổi cha mẹ xong là đi mừng tuổi bà con. Tôi sung sướng nhận được những bao tiền lì xì, nhìn những đám trẻ khác như tôi cũng đang tung tăng đi chúc Tết mà lòng rộn ràng. Phải nói là cái không khí Tết ở quê rất đặc biệt, hoàn toàn không giống với mọi ngày, bởi ai cũng diện đồ mới. Thuở đó thì xe gắn máy chưa có nên đa phần đi bộ, nhiều lắm là xe đạp, mọi người xuôi ngược đi chúc Tết họ hàng tạo thành một bức tranh sinh động nhiều màu sắc. Ngang qua nhà ai cũng thấy bày bông hoa trước cửa. Nhìn vô thì nhà nào nhà nấy chất đầy bánh trái trên bàn cộng với bộ bình trà để chờ khách.

Lớn lên, tôi được cho lên Saigon để tiếp tục học. Cứ mỗi dịp Tết lại về quê ăn Tết với cha mẹ, lúc trở lên Saigon chỉ thấy những đống rác ngồn ngộn ngoài đường, xác pháo thì vương vãi khắp nơi. Đường phố còn thưa thớt bởi những cư dân đã về quê ăn Tết chưa lên. Hết mấy ngày Tết thì thành phố mới trở lại nhịp sống tấp nập thường nhật. Lớn thêm chút nữa, có gia đình, con cái, tôi không còn về quê để ăn Tết nữa, mà sắm Tết tại nhà, cũng bông hoa, bánh trái, nhưng không thấy được cái không khí rộn ràng, ấm áp, nô nức như Tết ở miền quê thời tuổi nhỏ.

Tưởng chỉ riêng mình do không hợp với bầu không khí bon chen, náo nhiệt của thành phố mà luyến tiếc những cảnh đón Tết thanh bình êm ả với những sản phẩm “cây nhà lá vườn” của những bà mẹ quê. Không ngờ, Tết năm vừa qua tôi đọc thấy những nhà văn Miền Bắc cũng có những hoài niệm như tôi. Họ viết say sưa về những vại cà, chum tương do mẹ làm. Những cảnh cỡi trâu, bắt cá với những đám bạn ở quê, mà giờ dù đã trưởng thành, giàu sang hơn, đầy đủ hơn, nhưng họ vẫn tiếc nuối thời xa xưa đó.

Vừa rồi, nước ta đốt pháo bông mừng Tết Tây. Sáng hôm sau báo chí đưa lên: Hình ảnh vườn hoa Hà Nội xơ xác do mọi người dẫm đạp lên để giành chỗ đứng xem pháo hoa. Ở Tp.HCM thì hình ảnh đưa lên chỉ thấy lúc nhúc người là người, mới nhìn qua đã có cảm tưởng ngột ngạt, và thật sự thì đã có người bị xỉu. Và rồi cuối cùng mọi người kết luận là Tết… nhạt, vì chỉ kéo nhau, chen lấn để xem pháo bông nổ trên trời, xong rồi nhà ai nấy về, bỏ lại đường phố những vỏ chai, bao ny lon tràn ngập. Những người công nhân quét đường lại thêm một phen vất vả gom, hốt, thu dọn! Và đến Tết ta thì cũng nhà ai nấy ăn. Nhà giàu thì khuân về những món mắc tiền, những chậu hoa lớn. Nhà nghèo thì chờ trưa Ba Mươi đi mua những giỏ hoa mà đường phố chuẩn bị dọn dẹp đón Tết nên bán rẻ thay vì phải tốn tiền chở về. Qua Mồng 4 thì tất cả được đẩy ra đường, những chậu Vạn Thọ chen lẫn những cành Đào, cành Mai xơ xác, cộng với những thứ đã tiêu thụ trong ba ngày Tết. Tết thành phố chỉ có thế, bởi mọi người xa lạ với nhau. Ra đường thì mạnh ai nấy phóng xe vù vù. Trong khi ở nhà quê mọi người xem nhau như bà con, ngày nào cũng gặp, cũng chào hỏi. Khi có giỗ, hay cưới xin thì đều mời nhau. Thảo nào người từng sống ở quê đều tiếc nuối những cái Tết sum vầy bên ông bà, cha mẹ, anh chị em, cộng thêm không khí rộn ràng của cả làng.

Từ lúc đi làm, có điều kiện, cứ chiều Thứ Bảy, tan sở ra là tôi ghé đường Tạ Thu Thâu, lúc đó có những cửa hàng chuyên bán hàng soie, mousseline mới nhập, để mua một xấp vải áo dài. Ngày Chủ Nhật là ngồi cắt may. Sáng Thứ Hai lại diện áo mới... Vậy mà cũng không thấy vui sướng, háo hức như chiếc áo dài đầu đời được cha mẹ may cho. Thức ăn cũng thế. Thành phố đâu có thiếu món gì? Bánh Phồng, bánh Tét, bánh Ít, bánh Bò ngày nào chẳng có? Vậy mà vẫn thua đòn bánh Tét do mẹ nấu hay cái bánh Bò chén do chị Út hàng xóm đổ, cứ trưa trưa là cho con bưng đi bán. Buổi trưa, đang đói, cắn miếng bánh bò còn nóng hổi, chấm với nước cốt dừa sao mà nó ngon gì đâu! Bây giờ không còn tìm được cảm giác đó nữa. Chẳng hiểu do cuộc sống no đủ làm cho hết thèm thuồng, nên khi ăn cũng mất ngon, hay là cái không khí, cái tình cảm chân quê làm cho miếng bánh thêm quyến rũ để nhớ mãi không quên?

Tôi chợt nghĩ, mai kia, lớp con cháu mình, kêu nó tả về Tết chắc chẳng có gì để nói, vì cứ ra Siêu Thị mà khuân về, họ nấu nướng ngon dở ra sao thì khi ăn vô mới biết. Mới vài hôm trước đây thôi, báo mạng có đưa hình ảnh có người mua phải một chiếc bánh chưng, mở ra có kèm một con rít to đùng. Chẳng hiểu sao mà người gói không thấy, vì nếp thì từng hột nhỏ, rời rạc,trong khi con rít nó dài cả tấc. Chắc họ làm nhanh để còn tính số lượng, nên lấy cái chén lường nếp, chẳng cần biết trong đó có gì, cứ thế khỏa đều, cho nhân vô rồi gói lại! Mẻ bánh chưng đó chắc nhiều người được thưởng thức vị Rít, vì khi nấu, nước Rít sẽ loang ra cả nồi! Khiếp! Chắc sau đó ai muốn ăn bánh chưng có nước mua lá, mua nếp, đậu, ba rọi để tự gói lấy cho chắc ăn! Từ đó, mọi người mới có dịp so sánh giữa bánh nhà gói và bánh mua ở hàng. Bởi vậy mà thành phố thời gian gần đây đã có những tiệm cơm để bảng hiệu là “Cơm mẹ nấu”, nhưng chắc chắn cũng không thể có cái Hồn như những bữa cơm quê do chính bàn tay mẹ nấu với những trái bầu, bí hay những đọt rau, cây cải vừa cắt ngoài vườn vô, còn đậm đà vị ngọt. Cũng như không khí Tết ở miền quê, không xa hoa, không diêm dúa, mà nó có cái gì đó làm cho những người con dù lưu lạc phương trời nào, hay như tôi, dù nay tuổi đời cũng đã hơn 70 cũng không thể nào quên được.

Tháng 1/2018
Tâm Nguyện


CÁC PHONG TỤC TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT

1. TỤC CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO
Ngày 23 tháng Chạp hàng năm là ngày ông Táo lên trời để trình với Thượng Đế mọi việc tốt xấu trong năm qua. Theo quan niệm của người Việt ngày này là ngày bộ ba Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ vắng mặt ở trần gian nên công việc lúc này tạm ngừng. Mọi người lo việc đón Tết. Hệ thống triều đình, làng xã, các con dấu, triện sẽ không xác nhận giấy tờ, văn bản gì nữa. Nho sinh làm “lễ tạ Trường”, thợ sơn trắng làm lễ “đóng cửa rừng” v.v… Nhà nào cũng mua cá chép làm ngựa cho ông Táo lên trời. Ngày hôm đó, gia đình nào cũng làm mâm cơm cúng thật thịnh soạn, khấn trước bàn thờ, kể rõ mọi việc trong năm và mong muốn trong năm mới mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tục cúng ông Công, ông Táo liên quan tới câu chuyện về sự tích ông đầu rau. Chuyện kể rằng vợ chồng Trọng Cao, Thị Nhi không có con, buồn phiền thường cãi nhau. Một lần vì cáu giận, Trọng Cao đánh vợ, Thị Nhi tức giận bỏ đi. Thị Nhi gặp Phạm Lang và họ thành vợ thành chồng. Mãi thấy vợ không trở về, Trọng Cao hối hận bỏ nhà đi tìm vợ. Hết tiền ăn đường, Trọng Cao phải xin ăn. Một ngày kia, Trọng Cao vào đúng nhà Thị Nhi xin ăn, Thị Nhi nhận ra chồng cũ liền hậu đãi. Đúng lúc ấy Phạm Lang về. Sợ chồng hiểu nhầm Thị Nhi liền dấu Trọng Cao vào đống rơm. Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao chết cháy. Thương người chồng cũ, Thị Nhi nhảy vào đám lửa chết theo, Phạm Lang thấy vậy, nhảy vào cứu cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng cảm kích, cho ba người làm Táo quân. Bởi vậy sau này, trong lễ cúng ông Táo, ông Công bao giờ cũng có một mũ đàn bà màu vàng để giữa hai mũ đàn ông màu đen để hai bên, tượng trưng cho hai ông một bà. Cũng có nơi chỉ đặt một mũ nam và một đôi hia. Cỗ mũ đặt trên chiếc kệ bằng mã.

Dưới mỗi mũ để 100 vàng thoi. Trong thực tế, mũ áo này màu sắc thay đổi theo màu sắc của ngũ hành.

Năm hành là:
kim mũ màu vàng
mộc mũ màu trắng
thủy mũ màu xanh
hỏa mũ màu đỏ
thổ mũ màu đen.

Bài vị ở bàn thờ Thổ Công thường ghi như sau: “Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Thổ Địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”.

Khi sửa lễ cúng ông Công, người ta đều đốt bài vị cũ, thay bài vị mới. Sau khi lễ xong thì hóa vàng, hóa luôn cả cỗ mũ năm trước và thả một con cá chép còn sống xuống ao, cá sẽ hóa rồng để ông Công cưỡi lên chầu trời.

2. TỤC “GỬI TẾT”
Theo tục của người Việt, con cái trong gia đình đã lớn, ra ở riêng hết, tết đến phải quy tụ về nhà anh cả (con trưởng) để cùng nhau làm mâm cơm cúng vái tổ tiên. Bởi vậy, các con thứ hoặc ngành thứ tết có tục phải gửi lễ hoặc gửi cỗ cúng tới nhà anh cả để cùng tưởng niệm Tổ Tiên gồm gà, hoa quả, vàng hương.

3. TỤC BIẾU TẾT
Vào đầu năm, người ta có tục biếu quà nhau: họ hàng, bạn bè thân thích, những người quen biết đã giúp đỡ mình để tỏ lòng tri ân.

4. TỤC TRỒNG CÂY NÊU
Nêu là một cây tre để cả ngọn cắm ở trong sân nhà. Trên ngọn nêu là túm lá dừa, lá lông gà, lá thiên tuế hoặc những chiếc bánh, những con cá bằng đất nung cùng một tán tròn bằng tre, nứa dán giấy đỏ. Cạnh cây nêu, vôi bột được rắc theo hình cung tên, mũi tên hướng ra phía cổng để xua đuổi quỷ.

Tục này được gắn liền với một câu chuyện kể về cuộc tranh giành đất đai giữa người và quỷ. Nhờ có chiếc áo cà sa của Phật, người đã thắng. Áo cà sa được treo trên ngọn cây nêu, áo tỏa trùm đến dâu, quỷ phải lui tới đó. Cuối cùng quỷ phải chạy ra biển Đông ở. Nhưng nuối tiếc vùng đất xưa, quỷ vẫn muốn quay về. Bởi vậy, để dọa quỷ, người trồng cây nêu trước sân nhà vào năm mới nhằm xua đuổi quỷ suốt cả năm.

Ngoài ra, theo Alechxăngđrôt trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng ngoài” thì ở Bắc Kỳ, người ta trồng cây nêu bên cạnh nhà, “cột nêu cao hơn nóc nhà trên ngọn buộc một cái thúng hay cái hộp nhỏ có đục nhiều lỗ, bên trong đựng thoi vàng giấy, bạc giấy để cha mẹ khi cần thiết vào cuối năm có thể dùng tiền đó để trả nợ”.

5. TỤC ĐỐT PHÁO
Giao thừa là khoảng thời gian năm cũ đi qua, năm mới tới. Khoảnh khắc thời gian ấy được người Việt coi là thiêng liêng. Để đánh dấu thời điểm đầy xúc động đó, bên cạnh các nghi lễ cúng tế, người ta còn có tục đốt pháo. Tiếng pháo nổ vừa là âm thanh vui tai chào đón mùa xuân vừa nhằm xua đuổi tà ma, điều xấu rủi ro đi.

6. TỤC HÁI LỘC
Sau giao thừa, người Việt thường có một cuộc “du xuân” ngay để cầu may. Người ta thường đến đền, chùa làng để làm lễ. Khi ra về ngắt một cành hoa hoặc một nhánh cây gọi là hái lộc. Về nhà, cành lộc thường được giắt dưới mái tranh tại gian nhà chính và gìn giữ trọn một năm mới bỏ đi. Người Việt tin tưởng rằng họ hái lộc để lấy may. Cành lộc thường là cành đa, cây đa lại là cây sống rất lâu. Chọn cành đa họ mong muốn sẽ trường thọ, nhiều tiền bạc, đông con nhiều cháu.

7. TỤC XÔNG ĐẤT
Vào ngày mồng một Tết, ai là người bước chân vào đất hoặc nhà người khác đầu tiên là người xông đất. Theo quan niệm của người Việt, người xông đất là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vện mệnh của gia chủ trong một năm. Nếu người xông đất tốt thì mọi việc trong năm sẽ thuận buồm xuôi gió, ngược lại, người xông đất xấu sẽ gặp rủi ro.

“Xấu” và “tốt” ở đây có nghĩa là hợp duyên hợp vía. “Duyên” và “vía” ở đây cũng có thể là tính tình, đạo đức tư cách của người tới xông đất; cũng có thể là người xông đất năm đó có tuổi hợp với tuổi của gia chủ hay không. Vì vậy người Việt cố tránh đến nhà nhau vào sáng sớm mùng một tết, còn ai được gia chủ ngầm có nhã ý mời tới xông đất thì khi đến cũng phải rất cẩn trọng. Trước hết, trước khi bước vào đất của gia chủ, người xông đất phải đốt một tràng pháo, sau đó mới bước chân vào nhà chào hỏi và biếu quà.

8. TỤC KIÊNG TRONG NGÀY MÙNG MỘT TẾT
Theo quan niệm của người Việt, ngày mùng một tết là ngày đầu tiên trong năm. Ngày hôm ấy, nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mùng một tết, người ta chỉ chúc nhau những điều hay. Cùng với những lời chúc tụng, người Việt có tục kiêng làm một số việc như sau:

Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mùng hai mới hốt đổ đi vì sợ Thần Của theo rác ra đi, không phù trợ cho gia đình nữa.
Kiêng cho lửa, xin lửa vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn”. Cho lửa là cho đi sự may mắn.
Kiêng làm vỡ bát đĩa ấm chén vì sợ sự đổ vỡ.
Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hòa.
Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mùng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm.
Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.
Kiêng khóc than để tránh sự ảm đạm trong cả năm.
Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.
Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của”, hệt như việc trả nợ.
Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình.
Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mùng một vì sợ đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.
Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành” phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.

9. TỤC GÁNH NƯỚC ĐẦU NĂM
Người Việt quan niệm rằng đầu năm mà có người gánh nước tới nhà thì có nghĩa là tiền vào nhà như nước. Bởi vậy, những người gánh nước thuê đầu năm được gia chủ đón tiếp rất niềm nở và được thưởng tiền nhiều gấp mười lần ngày thường.

10. TỤC SĂN CUỐC
Thường tổ chức vào ngày mồng 3 hoặc mồng 5 tết ở một số làng thuộc Nam Hà. Chiêng trống nổi lên, dân làng kéo nhau ra đình dự săn bắt cuốc. Ai bắt được nhiều thì được thưởng nhiều tiền và đồ vật. Tục săn cuốc ngay đầu năm này được duy trì với mong muốn mùa màng tươi tốt, không bị con vật nào quấy phá.

11. TỤC ĂN TẾT LẠI
Ở một số nơi, người ta tổ chức ăn tết hai lần gọi là ăn tết lại. Ăn tết lại xuất phát từ một sự tích nào đó. Ví dụ tục ăn tết lại ở Thăng Long vào ngày mùng 5 tết. Tục này liên quan tới chuyện Quang Trung đại phá quân Thanh. Giặc bỏ chạy. Dân tộc về vớt bánh lên ăn tết lại để kỷ niệm ngày chiến thắng. Một số nơi khác cũng có tục này nhưng hiện nay tục này đã mất.

12. TỤC TRỒNG CÂY NGÀY TẾT
Tục trồng cây ngày tết do Bác Hồ khởi xướng ra từ năm 1959. Đây là một mỹ tục rất phù hợp với truyền thống gieo trồng ngày xuân của nhân dân ta. Tục này có hiệu quả rất to lớn và nhanh chóng được hưởng ứng rộng rãi mỗi khi xuân đến.

13. TẾT THANH MINH
Trong tiết tháng Ba, ngày thượng tuần (ngày 5, 6), người Việt có tục họ hàng, anh em tập trung ra đồng tảo mộ, thăm viếng mộ phần của ông bà tổ tiên nhất là ngôi mộ tổ. Họ đắp đất, phát cỏ, thắp hương trên mộ. Xong việc, họ kéo về lễ tổ ở nhà thờ họ và làm lễ cúng gia tiên.

14. TẾT ĐOAN NGỌ
Vào ngày 5 tháng Năm âm lịch. Tết này được người Việt coi trọng bởi xưa có câu “Tết mùng năm, rằm tháng bảy”, ý nói tết này không thể bỏ được.

Khi trẻ nhỏ còn chưa dậy, người ta bôi hồng hoàng vào ngực, vào thóp, vào rốn của chúng để khử trùng, đeo cho trẻ nhỏ những túi bùa tết hình quả đào, quả khế, quả ớt và nhuộm đỏ móng chân tay cho chúng. Ngay từ sáng sớm người ta ăn rượu nếp, rượu mận, ăn đào để nhằm giết sâu bọ. Có làng còn có tục ăn trứng luộc, ăn kê.

Nhà nào cũng làm lễ cúng gia tiên, nhiều nơi cúng bắt buộc phải có dưa hấu và đường cát.
Giữa buổi trưa, người ta đi hái lá mùng năm, bất cứ lá gì, ưa chuộng nhất là lá ngải cứu, lá đơn, lá ích mẫu, lá cối xay, lá vối đem về phơi khô, nấu nước uống cho lành.

15. TẾT TRUNG NGUYÊN
Tết vào ngày rằm tháng Bảy. Theo quan niệm của sách Phật, đó là ngày xá tội vong nhân. Vào ngày này, người Việt làm lễ cúng gia tiên, mua vàng mã đốt. Ngoài ra, họ còn làm lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà v.v… cúng các cô hồn ma đói. Lễ cúng các cô hồn gồm bánh đa, bánh bỏng, ngô, khoai lang, cháo hoa, gạo, muối, tiền vàng, quần áo. Những nhà có người mới chết trong vòng một hai năm thường đốt mã, làm cơm chay.

16. TẾT TRUNG THU
Tết vào ngày rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ em. Người Việt thường làm cỗ cúng, làm nhiều thứ bánh trong đó có bánh nướng bánh dẻo để bày cỗ trông trăng. Ngoài bánh ra, cỗ trung thu còn có hoa quả, các con giống nặn bằng bột, nhuộm các màu. Ở thành phố, vào dịp tết này, người ta còn múa sư tử rước rồng với những vũ khúc ngoạn mục, những điệu nhạc độc đáo gồm một trống một não bạt. Ngoài ra người ta còn làm các loại đèn: đèn lồng, đèn xếp, đèn ông sao, đèn đẩy, đèn kéo quân v.v… trong thắp nến để cho trẻ em rước.

17. TẾT CƠM MỚI
Sau vụ gặt, cuối tháng Chín sang đầu tháng Mười, nhiều nơi có tục ăn tết cơm mới và không nhất định vào ngày nào. Có làng còn làm lễ tế tiên nông và nhiều nhà làm lễ cúng gia tiên. Cũng nhân tết này con cháu mua quà và gạo nếp mới cùng những đặc sản như chim cu ngói biếu ông bà cha mẹ.

18. TẾT NGUYÊN TIÊU
Tết vào ngày rằm tháng Giêng. Ngày này người Việt thường làm cơm cúng gia tiên, đi lễ chùa đầu năm và họ quan niệm đây là ngày rất quan trọng bởi từ xưa đã có câu “Cúng cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng”.

19. TẾT HÀN THỰC
Tết Hàn Thực vào ngày 3 tháng ba âm lịch. Tết này có nguồn gốc từ Trung Hoa và phổ biến ở Việt Nam từ lâu. Vào ngày này, người ta thường ăn đồ ăn nguội, tượng trưng bằng bánh trôi bánh chay nhưng người Việt không kiêng lửa như ở Trung Hoa. Sau này, người Việt gọi tết Hàn Thực bằng một tên khác giản dị hơn là tết bánh trôi bánh chay.

20. TẾT TRÙNG CỬU
Còn gọi là tết Trùng Dương, ngày 9 tháng Chín âm lịch. Theo tục truyền, tết này gắn với một sự tích ở Trung Quốc. Hoàn Cảnh theo Phi Tràng học phép tiên. Phi Tràng một hôm bảo Hoàn Cảnh 9 tháng Chín nhà Hoàn Cảnh có nạn to, nếu mang túi lụa đựng thuốc thù du, lên núi uống rượu thì khỏi nạn. Hoàn Cảnh làm theo và thoát chế. Từ đó, ngày 9 tháng Chín người ta làm lễ lên núi bẻ cành thù du và uống rượu cúc.
Tết này cũng du nhập vào Việt Nam. Các văn nhân người Việt vào dịp này cũng uống rượu hái hoa đi chơi núi và ngâm vịnh thơ phú.

21. TẾT TRÙNG THẬP
Tổ chức vào ngày 10 tháng Mười để tết thầy lang, các ông đồng bà cốt; những người làm nghề bói toán để tạ ơn thần thánh đã giúp cho khỏi bệnh.
Nói chung, dân chúng không quan tâm mấy đến tết này, họ thường gộp tết Trùng Thập và rằm tháng Mười vào làm một để cúng tế.

22. TẾT VÙNG CAO
Dân tộc Tày có tục múa “gánh nước hoa” từ sau giao thừa đến sáng đầu xuân. Họ ra suối lấy nước và thả vài bông hoa rừng quẩy về vừa đi vừa múa, những “gánh nước hoa” ca ngợi hạnh phúc của tuổi trẻ. Gặp các bạn trai bản, họ cất lời ca mừng. Điệu múa bén duyên bắt đầu từ đây. Sáng đầu năm bà con người Tày rủ nhau mở hội xuống đồng. Khăn phải đẹp, áo thêu mới, váy xòe rực rỡ. Con trai một bên, con gái một bên, động tác cày cấy mùa xuân như múa. Trên ruộng sư tử nhảy lượn theo tiếng trống giục. Các cô gái hát bên cây lúa, cây cỏ khắp châu đều vui vẻ, bản làng vui vẻ bóng kỳ lân.

Đồng bào Dao có các điệu nhảy “múa gươm”, “múa bắt ba ba”, “xúc tép”, “đẵn gỗ” vào dịp năm mới. Một cụ già múa đi trước, tám hoặc mười hai thanh niên múa theo sau. Khí thế rộn rã trong ngày đầu xuân.
Đồng bào Nùng có hội “Lùng tùng”. Ông già bản tung quả còn bổng qua cây nêu mở đầu cuộc vui sau mới đến thanh niên nam nữ. Quả còn chuyền tay như đón sự tốt lành. Điệu múa còn sinh động và nhộn nhịp bắt nguồn từ trò vui truyền thống.

Đỉnh núi cao vời có dân tộc Mông vui hội “sải sán”. Các thiếu nữ Mông váy mới hoa văn rực rỡ, tay mang ô mềm mại say trong điệu khèn với con trai bản, hết điệu múa khèn đón xuân, từng cặp trai gái che chung ô đi về những rừng đào thắm thiết để tâm tình lứa đôi. Đồng bào Mông còn có tục mùa xuân đua tài leo núi để rèn thêm sức phát rẫy trồng lúa, trồng màu. Dọc đường lên đỉnh núi cao, người leo núi phải qua các cuộc thi cưỡi ngựa bắn nỏ… Các chàng trai thắng cuộc, thường là những người làm nương giỏi, và mùa xuân ấy, ngoài giải thưởng bằng nông sản, người thắng cuộc còn chiếm được tình cảm của các cô gái đẹp.

Lên Tây Bắc, gặp mùa xuân đồng bào Thái múa xòe giữa rừng hoa ban nở trắng. Múa xòe tưng bừng trong tiếng quả nhạc sao của các cô gái, trong tiếng đàn tính của các chàng trai. Biết bao điệu xòe: xòe vòng, xòe nhạc, xòe nón, xòe quạt.

Trên bản mường Tây Bắc, mùa xuân về là mùa chơi “đâm đuống”. Đuống là máng gõ để giã lúa. Người ta chọn đuống tốt kê hai dãy dài. Các thiếu nữ đẹp nhất bản, áo thêu ngũ sắc, cầm chày ghép thành đôi giã gạo. Tiếng chày nhịp nhàng vui tai như điệu nhạc xuân. Ước mơ muôn thuở không chỉ mùa xuân, mà là quanh năm đuống không hề vơi hạt thóc mới thơm mùa nương rẫy.

Múa rôông chiêng là buổi vui xuân nhộn nhịp nhất của đồng bào Gia Rai. Một chàng trai khỏe mạnh, lưng thắt dây bạc, đầu cắm lông chim, dẫn đầu đoàn người. Vừa múa, anh ta vừa vỗ vào chiếc trống treo lủng lẳng trước bụng. Tiếp đó là 8 cụ già quắc thước, giỏi nghề nông, múa gậy dài phô trương sức mạnh. Sáu người nữa khiêng chiếc trống lớn cùng đội nhạc chiêng và chũm chọe. Một đoàn thiếu nữ đi sau, áo váy rực rỡ, múa hát uyển chuyển. Lời ca kể về một năm qua, các chàng trai đã dũng cảm bắt được bao thú rừng, đã vỡ được bao vạt đất mới, các cô gái đã tra bao hốc lúa. Và mùa xuân này, buôn rẫy Tây Nguyên hoa nở cũng chưa nhiều bằng lúa trên nương…

Với dân tộc Ba Na, Ê Đê, Xê Đăng… ở Tây Nguyên đêm xuân đến tưng bừng trong vũ hội. Tiếng đàn Klông-pút, đàn Tơ-rưng, tiếng khèn dinh năm, đàn môi Ca-thinh hòa vào các điệu múa khỏe khoắn, xen lẫn các trường ca dạt dào tình nghĩa. Từ những điệu múa đó, mùa xuân mới theo về, thêm lúa, thêm ngô, ấm làng vui xóm.

Đón xuân phương Nam, các cô gái Chăm kiếm lá “Chà Niềm” nhuộm đỏ móng tay, móng chân làm duyên. Con trai lên rừng hái hoa Mli về tặng người yêu cài lên mái tóc, tết dây đeo quanh cổ, hoặc pha chế nước gội đầu thơm thảo. Các chàng trai cô gái Chăm khỏe mạnh, duyên dáng trong điệu múa “dội nước”, “chèo thuyền”, “múa nhảy lửa”… xen vào những điệu múa là âm vang những bản trường ca. Theo lời ca, điệu múa, mùa xuân cũng nhẹ nhàng đến, mang niềm vui sự no ấm tới mọi nhà.

ĐỖ THIÊN THƯ st.


CÓ MỘT MÙA XUÂN

Có một mùa xuân không cần đốt pháo
Mà âm vang giãi dọc dải Thiên Hà
Mà mắt nồng vẫn ngát vạn lời hoa
Mà lửa ấm vẫn thắp hồng đôi má.

Có một mùa xuân không cần kẹo mứt
Chỉ bàn tay quấn quýt với bàn tay
Chỉ khóe nghiêng đã ắp cả tim đầy
Chỉ môi gió đã say ngày hương phấn.

Có một mùa xuân không cần tấm vé
Mà cửa thiên đường mở khắp nhân gian
Mà trái tim ngân giai điệu mơ màng
Và lấp lánh tâm can vàn tinh tú.

Mùa xuân ấy đã đôi lần ghé lại
Trong mỗi cuộc đời ai cũng phút xuân ca
Mùa xuân ấy có thể không là vĩnh cửu
Nhưng nhất định là xuân ấm nhất trong tim.

ĐÀM LAN


TÂM SỰ ĐỜI CÂY

Có ai hiểu được đời cây
Rễ con bám đất thân vươn lên trời
Lá xanh non nhú đầy cành
Đón mưa đợi nắng
Nụ nhỏ ra hoa
Hoa trắng rung rinh trên cành
Tỏa hương thơm ngát
Sân vườn nhà ai
Đời hoa sớm nở chóng tàn
Rực rỡ khoe sắc sáng bình minh
Tàn lụn chiều hoàng hôn
Một làn gió thoảng
Cánh hoa rơi rụng
Lá xanh non
Thay đổi theo mùa
Lá vàng như màu nắng úa
Một làn gió thoảng qua
Lá rơi rụng khắp sân vườn
Đời cây vẫn sống
Tuần hoàn theo thiên nhiên
Lá non như nhú hoa chờ ra hoa
Một người vẫn đợi giữa sân vườn ngắm hoa.

HUỲNH THIÊN KIM BỘI


CHÚC XUÂN

Lá hoa tươi thắm đón Xuân về
Bên thềm Năm Mới tiễn đông đi
Hồng Lan Đào Cúc cùng khoe sắc
Bình minh đua nở dáng xuân thì.

Nắng hồng đôi má bé ngây thơ
Vui mừng đón Tết ngỡ như mơ
Áo quần xúng xính bên ba mẹ
Thong thả chơi Xuân dạo chợ hoa.

Thiếu nữ bâng khuâng áo lụa là
Thẫn thờ mong nhớ bóng người xa
Tết về rồi đấy, người đâu nhỉ
Cây Đào trước ngõ thắm màu hoa.

Vạn lần cầu cuộc sống an hòa
Sức khỏe bình an đến với ta
Năm cũ vừa qua năm mới tới
An khang - Phước - Lộc - Thọ hằng hà

Cùng nhau ta hát khúc Xuân ca
Chúc nhau trăm tuổi mãi không già,
Yêu đời yêu mãi Nàng Xuân mới,
Tiếng cười vang, rộn rã muôn nhà...

Phạm Thị Minh-Hưng


LÁ MAI CUỐI ĐÔNG

Em, chiếc lá Mai cuối đông,
Nắng mưa dầu dãi cùng dòng thời gian,
Đông đi tuyết lạnh đang tan,
Ai hay lá úa vương mang nỗi sầu,
Lìa cành một sớm về đâu,
Nghẹn ngào, tan tác, tình sâu héo mòn,
Thì thôi... cũng thể như còn...
Cho đời, có một nụ hôn mặn nồng,
Lá sầu, tơi tả chiều đông,
Xuân về rực ánh Mai vàng, Hoàng Hoa,
Tìm đâu chiếc lá đã xa,
Cành cao Mai đã mượt mà sắc Xuân.

Phạm Thị Minh-Hưng


CHÚT THAY ĐỔI NHỎ

Chỉ là thay đổi nhỏ mà thôi
Ngày xưa : mình hạc đựng xương mai
Giờ thì mình hạc còn nguyên đó
Khác chăng, trong lại chứa… xương voi !

Tâm Nguyện

XUÂN ĐẾN

XUÂN ĐI !

Xưa biết gì đâu, cứ ngóng chờ
Mùa Xuân nhanh đến để mà mơ !
Rồi Mùa Xuân đến, nhiều Xuân đến
Nhìn lại đời mình thấy xác xơ !

Từ đó, ta van Xuân đứng lại
Để ta đừng có vội mau già !
Nhưng Xuân nào có thèm nghe thấy
Cứ hết mùa Đông lại bước qua !

Xuân đến, mang theo thời tuổi trẻ
Chừa đây, nhan sắc đã phai tàn
Với màu sương muối pha trên tóc
Và hằn lên mặt, vết thời gian !

Chẳng trước thì sau, cũng lấy đi
Chẳng thèm nhân nhượng, chẳng chừa chi !
Cỏn mấy chiếc răng, dành húp cháo
Chắc rồi… trơ lợi lúc Xuân đi !

Tâm Nguyện

KHI LÒNG CHAI ĐÁ

Giữa mùa Xuân rộn rã
Sao ta vẫn thờ ơ
Sao ta vẫn hững hờ
Trong nắng hồng óng ả
Phải chăng lòng chai đá
Nên hoang vắng tịch liêu
Phải chăng tim quạnh hiu
Nên đã ngừng thổn thức
Ta không còn cảm xúc
Hay tẻ nhạt dửng dưng
Trong không khí tưng bừng
Của một ngày giáp tết
Ngày ba mươi sắp hết
Ngày mồng một sắp sang
Sao ta lại ngỡ ngàng
Lòng không hề rung động
Bầu trời cao lồng lộng
Muôn chim hót líu lo
Những đôi bướm hẹn hò
Bên hoa khoe sắc thắm
Ôi nàng Xuân say đắm
Quay bước lại trần gian
Sao ta thấy bẽ bàng
Tim hoàn toàn vô cảm.

(30 tết - 06/02/2008)
NGÀN PHƯƠNG


TỪ BUỔI TA VỀ

Từ buổi ta về biết mất nhau
Và trăng non chết khuất chân cầu
Hoa xuân bao cánh thơ ngây rụng
Cánh hạ bấy lần khắc khoải đau
Chấp chới sao huyền, đêm lạc lõng
Ngập ngừng sương nõn mộng xanh xao
Và trăng non xế chân sầu khuất
Từ buổi ta về biết mất nhau.

HẢI ĐĂNG - TRẦN VĂN HỮU

• Một bài thơ là tâm sự vui buồn của người đã âm thầm viết ra bài thơ nầy cho “AI ĐÓ” hiểu được nỗi lòng mình, mà chỉ người trong cuộc mới biết thấu đáo được nỗi lòng người viết.


ĐÍNH CHÍNH
Do sự sơ suất bài thơ “Chờ xuân” của Hải Đăng - Trần Văn Hữu đã đăng trong số 81 Tháng 2/2013, được đăng lại trong số 140 (tháng 1/2018) nhưng để tên Ngàn Phương. Bài này đã in trong cuốn “Mây Bạc” của CLB trong phần tác giả Hải Đăng - Trần Văn Hữu (trang 78).
Xin thứ lỗi.

Ban biên tập CLB Sách Xưa & Nay


MƯA XUÂN SÀI GÒN

Mưa xuân Sài Gòn
Mưa xuân Sài Gòn
Tươi vui biết bao
Yêu thiên nhiên
Xuân ấm ngọt ngào
Cho hoa trái
Tình yêu thêm mới
Đầy sức xuân
Hạnh phúc dâng trào
Mưa xuân ơi
Mát lòng cây cỏ
Bầu trời âu
Nồng thắm bên nhau
Vui lên đi
Sài Gòn xuân trẻ
Nụ cười xuân
Sức sống dâng trào
Nụ cười xuân
Hạnh phúc dâng trào.

Sài Gòn 11/02/2009
PHÙNG CHÍ TÂM


EM DỆT MÙA XUÂN

Tay vàng may gấm thêu hoa
Thiên thần em hóa kiêu sa
Thanh xuân bừng lên nét đẹp
Bộ cánh thời trang nở hoa

Áo mới… em may rực rỡ
Thời trang dáng đẹp như hoa
Hương thơm bừng lên trong gió
Đóa Hồng rực rỡ thăng hoa

Áo mới bay đi khắp nẻo
Thời trang vui tới mọi miền
Thành nụ cười tươi khen tặng
Em dệt mùa xuân thần tiên.

Sài Gòn, 11/2009

PHÙNG CHÍ TÂM


NGÔI CHÙA CỦA MỖI CON NGƯỜI

“Trái tim là ngôi chùa thiêng của mỗi người”
ĐẠT LAI LẠT MA

Bởi tịnh tâm nên đất trời như tranh vẽ
Lá biếc xanh hơn hoa tỏa hương say
Qua cổng chùa ngạt ngào hương khói
Bao tấm lòng thành kính nguyện cầu
Cho tình thương sẽ mau làm biến đổi
Hận thù và nước mắt khổ đau
Nếu Đức THÍCH CA còn hiện hữu trên đời
Chắc cũng không thể yên lòng tĩnh tọa
Khi còn bao phận người chịu bất công đầy đọa
Còn những hồi chuông vĩnh biệt máu rơi

Tôi dừng chân nhặt cánh hoa đại trắng
Chợt thấy dòng đời vẫn sinh diệt luân hồi
Cài lên ngực nơi ngôi chùa thầm lặng
Của mỗi con người giữa trái tim tôi.

Nguyên tiêu TẾT GIÁP THÂN 2004
LÊ NGUYÊN


DUYÊN THƠ

Thân tặng Hải Âu & Thùy Dương
14.01.2018 (28-11 Đinh Dậu)

Hải Âu sải cánh vượt trùng dương
Kiếm bạn tri âm tiếp đoạn trường
Chuộng sắc mến tài chim hạ cánh
Bên cành dương liễu dáng Thùy Hương
Tâm đầu ý hợp duyên giai ngẫu
Anh xướng em tùy nợ vấn vương
Tình bạn duyên thơ xây mộng đẹp
Chung chăn, chung gối ngủ chung giường.

Cầu chúc:
Chúc đẻ sòn sòn ngay một đứa
Chẳng thằng lục bát cũng ca trù.

Trào phúng:
Nghiệp chướng thi nhân

TRAI TÀI
Trai tài kén vợ làm THƠ
Hết tiền đong gạo đem THƠ đi cầm
Nếu mà thiên hạ không nhầm
Đem THƠ về hầm hoặc nấu cà ri, sợ gì ?

GÁI SẮC
Gái ngoan thì có lo gì
Lấy chồng thi sỹ tiếc gì dung nhan
Chẳng may gặp cảnh cơ hàn
Đem THƠ đi bán chợ tan không người
Đói bụng khó cười.

ĐỒ BỔNG HÀNH THIỆN


CHÚC MỪNG HAI EM THÀNH HÔN

Hoàng Hải Âu - Vũ Thùy Hương

Ông Tơ bà Nguyệt se duyên
Thùy Hương gặp phải rồng thuyền Hải Âu
Hải Âu quý chở Thùy Hương
Đến nơi mơ mộng con đường trăm năm
Kết duyên chồng vợ chắc trăm
Sống nhau hạnh phúc xa xăm tiến hoài
Hai em xây dựng lâu đài
Cao sang phúc hậu tương lai huy hoàng
Thương nhau như ngọc như vàng
Kết nhau giải trí trên đàng thơ văn
Không cần phải đạt tiếng tăm
Hòa vui thi hữu tình thân cả đời
Sống chung hạnh phúc tuyệt vời
Cùng chung chí hướng muôn đời hạnh sang
Thành tâm anh chúc lời vàng
Trăm năm hạnh phúc an khang suốt đời.

14/01/2018
Anh Hai Dương Ngọc Lạc
(Hồng Lạc)

HẸN THỀ

Ta còn một nửa rong rêu
Em còn một nửa những chiều tỉnh say
Hỏi Trăng ! Trăng vẫn lưu đày
Dòng sông xưa cũ ngô ngây tật nguyền
Nào biết Em dáng trinh nguyên
Để lưu giữ những ước nguyền tuổi Xuân
Ta còn ta giữa phong trần
Ngửa tay một nắm nợ nần nhân sinh
Trái tim đâu mấy cuộc tình
Thu ơi ! Đừng nữa dấu mình tương tư
Để gom mưa mộng hát ru
Bên thềm hoa vỡ lãng du kiếp người
Em còn Em nửa cuộc đời
Xanh xao ký ức bờ môi khô cằn
Vẫn tìm ! Tìm mãi thanh tân
Ta còn ! Ta những bước chân… đâu về
Ta và Em giữa cơn mê…
Chợt gặp nhau bỗng hẹn thề… trăm năm.

Saigon 02/9/2017
HẢI ÂU

Thì thầm

Thùy Hương với lại Hải Âu
Tưởng chừng xa lạ ngờ đâu chạnh lòng
Bút nghiên lưu dấu đôi giòng
Thơ văn tri kỷ long đong phận người
Giao lưu bè bạn nhiều nơi
Đi về hò hẹn đầy vơi nghĩa tình
Giờ đây như bóng với hình
Ngày nào không gặp… nhớ mình… nhớ ta
Ban đầu tình mới manh nha
Giờ đây tình đã… đậm đà ngất ngây
Chiều chiều tay nắm bàn tay
Lưu truyền cảm xúc mê say nồng nàn
Gửi anh nỗi nhớ vô vàn
Thôi đành chờ đợi ngút ngàn thương yêu.

Saigon - Mùa Hạ tháng 7
VŨ THÙY HƯƠNG

Mộng tưởng

Ta còn nửa góc liêu xiêu
Đời hoang kiếp bạc mộng chiều tỉnh say
Nhặt gom chiếc bóng ngô ngây
Gởi Trăng mấy khúc thơ gầy tình si
Nàng Thơ ơi ! Ai biệt ly
Sao Thu để lại trên mi lệ hồng
Trái tim nào đã hư không
Trái tim nào vẫn Xuân hồng chờ nhau
Em còn mấy cuộc bể dâu
Để quên năm tháng bạc sầu nhân sinh
Ta đã qua mấy cuộc tình
Ngoảnh trông còn lại bóng mình lẻ loi
Em còn Em mấy nụ cười
Hãy cùng Ta ! Nâng cốc mời Tình Yêu.

Saigon 02/9/2017
HẢI ÂU

ĐÓN XUÂN

Xuân này Ta đã có Em
Muôn hoa khoe sắc lưu tên cùng Nàng
Thùy Hương ơi ! Có mộng vàng
Hãy cùng Anh nhé viết trang sử tình
Nhớ thuở xưa ! Chuyện chúng mình
Anh còn Anh giữa phiêu linh kiếp người
Em còn Em nửa trang đời
Trái tim rỉ máu bờ môi quên hồng
Tình yêu lẻ bóng phòng không
Tháng năm gom nhặt những dòng thơ đau
Anh đời bạc trắng sinh cầu
Hành trang trĩu nặng bể dâu nợ nần
Gặp Em ! đời bỗng Thanh Tân
Trăm năm với cả Trời Xuân tuyệt vời.

Saigon 26/10/2017

VŨ THÙY HƯƠNG - HẢI ÂU

XUÂN 2018

Mưa bay lất phất gió run người
Cảnh vật xuân về khí tốt tươi
Lả lướt trúc đào hoa chớm nở
Tình đời rộn rã khắp muôn nơi
Trời đất vào xuân rộn mọi miền
Cuộc cờ chén rượu đấu liên miên
Cháu con tươm tất khoe đồng phục
Già lão xum xuê rước bạc tiền
Tuổi đến bảy mươi đã trải qua
Trầm ngâm vĩnh khúc khải hoàn ca
Bóng tùng tơ liễu chưa vinh được
Đợi lúc xuân về thỏa dạ ta.

LANG NGUYÊN


MỪNG XUÂN

Khoán Thủ Tâm và Vĩ

ĐÂY mấy câu MỪNG đến đệ HUYNH
TÔI nương vận CHÚC trải tâm MÌNH
GỞI khi đón TẾT tròn mơ ƯỚC
TẶNG lúc chào XUÂN vẹn thệ MINH
HỮU đắc muôn TÀI xây đạo NGHĨA
BẰNG thu vạn LỘC dệt ân TÌNH
BÀI chan chứa ĐỦ vần tươi MƯỢT
THƠ vẫn đong ĐẦY những ý XINH.

LANG NGUYÊN


EM, MÙA XUÂN VÀ...
Tặng người ấy
Rồi mùa xuân không anh về ấp ủ
Áo bay vàng sẽ tung gió cao nguyên
Trời mù sương rơi vào mắt hạt huyền
Lòng em chợt buồn tênh như bóng nắng
Rồi mùa xuân người nghìn phương hoang vắng
Cành lộc non ai hái lúc giao thừa
Ai dìu em bước nhẹ dưới cơn mưa
Cho áo mới không hoen màu thắm đó
Đừng xem nhẹ tình ta như lá cỏ
Giây chia xa ôi mấy vạn thu buồn
Bên trời nào người có nhớ em luôn
Người biền biệt cho lòng ai mong nhớ
Ước tình yêu không bao giờ dang dở
Anh đi rồi em vẫn mãi đợi chờ.
HOÀI LY


XUÂN THANH BÌNH

Dọn sạch khu vườn cỏ mọc hoang
Để lòng thanh thản đón xuân sang
Nhành lan mới nhú dăm chồi biếc
Khóm cúc vừa đơm mấy nụ vàng
Chó nhỏ đùa banh bên gốc mít
Mèo còm giỡn bóng dưới chân thang
Cụ già niệm Phật tay lần chuỗi
Đàn sẻ tung bay hót rộn ràng.

THANH PHONG


CUỐI NẺO

VÔ THƯỜNG

Bóng ai tha thướt bên thềm
Lưng thon dáng liễu, tóc mềm bờ vai
Bấy lâu cửa đóng then gài
Buồng xuân nỡ để cho ai lạnh lùng
Đàn ai phím lỏng, tơ chùng
Tim ai nhỏ giọt máu hồng vì ai
Muốn cùng gắn bó một hai
Trước sau tri kỷ còn ai chăng là
Tình riêng, riêng những thiết tha
Lòng riêng, riêng những xót xa bồi hồi
Lần dò tìm lối sang chơi
Hoa dường úa sắc, chim lơi giọng chào
Ngỡ ngàng như thể chiêm bao
Cuối tường một đóa anh đào đưa hương
Lần theo lối nhỏ mù sương
Thử xem cuối nẻo vô thường là đâu.

THANH PHONG


CHÚC TẾT

Cửa trước rồng đôi đứng phục chầu
Bảo tồn phúc lộc đến dài lâu
Hào con hiếu thảo như mong muốn
Gia cảnh phong lưu thật hảo cầu
Giao hảo vui lòng tình bạn trước
Ân cần tích đức nghĩa nhân sau
Ngày xuân chúc tụng niềm an lạc
Mạnh khỏe, cơ may trải nhiệm mầu.

Thanh Châu


A CẨU

Vốn bạn trung thành với chủ nhân
Lạ quen, phải quấy, biết cân phân
Chịu đòn, kêu cẳn, không hờn dạ
Sủa trộm, giữ nhà, chẳng quản thân
Miếng thịt hồng hồng luôn khoái khẩu
Cục xương trắng trắng vẫn ham phần
Dở ngon, nhiều ít, không đòi hỏi
Vui đón chủ về tợ múa lân.

Thanh Châu


Bài Xướng

XUÂN MẬU TUẤT

Một thoáng Dậu đi, Tuất lại về
Năm nay bão lũ lắm nhiêu khê
Than ôi, thủy điện cần lưng nước
Buồn quá, vuông tôm chực vỡ đê
Chẳng biết cơ trời nên hụt hẫng
Cho nên khổ ải chịu bề bề
Tân niên cầu chúc luồng sinh khí
Tràn đến muôn dân khắp nẻo quê.

Nhựt Thanh


Bài Họa

XUÂN MẬU TUẤT

Dậu đã ra đi, Tuất lại về
Chúc mừng năm mới hết nhiêu khê
Lo chi bão tố tuôn tràn nước
Vui vẻ nhân tình vững đập đê
Tiếng sủa vang trời xua quỷ ám
Lòng trung mát đất dẹp yên bề
Năm này sẽ khá hơn năm trước
Thắng lợi huy hoàng khắp nẻo quê.


Thanh Châu


TÔI ĐI TÌM TÔI

Lạc bước đi hơn nửa cuộc đời
Tôi đang lục lọi để tìm tôi
Giáo điều hào nhoáng mê nghe giảng
Lý tưởng hoang đường tiếc lỡ soi
Thà chịu làm người ngay thất thế
Còn hơn được tiếng giỏi xu thời
Lương tâm hú vía luôn treo giá
Thánh thiện linh hồn vẫn vững ngôi.

THANH VĨNH


TUỔI 84

Mậu Tuất về mình được tám tư
Mắt mờ chân yếu bước từ từ
Vẫn say hồn bút khơi thi tứ
Còn tiếp nàng thơ viếng thảo lư
Thư thả lộc trời chưa định mức
Thủ thường cuộc sống đã an cư
Dốc đời hì hục đang leo tiếp
Háo hức lên cao dẫu mệt đừ.

THANH VĨNH


Hội ngộ

Nghe điện thoại bạn gọi về cho tôi
Rằng sẽ về Việt Nam hai mươi ngày
Tôi mừng quá đến không biết nói gì ?
Vì những năm trước bạn đã ước mong
Khi các cháu lớn sẽ về thăm quê hương
Và bất ngờ vì nó đã tới
Tôi bồi hồi nghĩ tới ngày gặp gỡ
Sẽ hàn huyên tâm sự nhiều điều
Hai con người giống nhau ở tính nết
Bạn tên Mạc nên luôn mộc mạc giản đơn
Tôi cũng thế nhiều khi không trang điểm
Cùng yêu thơ văn hay của nước ngoài
Tối thứ năm vừa rồi chúng tôi đã đón bạn ở sân bay
Sẽ cùng nhau đi du lịch vài nơi
Đầu tháng hai năm hai nghìn mười tám
Bạn sẽ trở lại Mỹ về sum họp với gia đình
Khi gặp gỡ mừng vui, lúc chia tay lại buồn
Cuộc đời là thế thế.

12-01-2018
QUAN THÚY MAI



GƯỢNG GẠO

Người ta cứ bảo: có mùa xuân
Mà tôi dẫu đợi cả vạn lần
Chỉ thấy mai cho màu nhợt nhạt
Chỉ thấy đào buồn trong ngõ sương…

Ai bảo mắt tôi vốn rất buồn
Thưa không, tôi chỉ cứ phân vân
Rằng đời có tình yêu không, bởi
Ai đến với tôi cũng ngại ngần !

Sao cứ ghép tôi với nỗi sầu
Rằng: đời sống được có là bao ?
Tôi nghĩ, trời sinh tôi vốn thế
Chứ lòng ai chẳng muốn ngọt ngào !

Đã thế, nếu muốn có mùa xuân
Chắc phải bồi thêm ít phấn son
Chắc phải sắm xiêm y diễm lệ
Phải nhí nhảnh như… lũ trẻ con ?

Chỉ sợ son phai, má thôi hồng
Chỉ sợ áo tuồng bỗng nỉ non
Chỉ sợ lời trẻ ranh thút thít
Xuân rồi lại… xôi hỏng bỏng không !

18.11.2017
LAM TRẦN


SÀI GÒN

Là đô thị lớn nhất miền Nam
Quanh năm không lụt, bão
Sài Gòn mưa thuận gió hòa
và ẩn chứa nhiều tiềm lực quốc gia

Sài Gòn phồn hoa với bao niềm hy vọng
Là chốn bình yên của tuổi già
Nơi mơ ước của bao nhà trí thức
Miền đất hứa của những kẻ tha phương cầu thực

Trải lòng mình bao tháng năm khó nhọc
Giữa hỗn độn dòng người xe ngang dọc
Giờ tan tầm tất tả ngược xuôi
Bỗng khe khẽ tiếng thở dài não nuột

Đêm tràn về chùm lên con phố vắng
Cô gái miền ngoài mời mọc đặc sản quê
Vượt cả ngàn cây số với một ước mơ
Có ngày đổi đời và con cháu thoát khổ

Ánh đèn vàng xiên xiên hắt bóng
Rõi theo những đứa con xa xứ mưu sinh
và vỉa hè là chỗ tạm dừng chân
Mơ về một ngày từ quê ra phố

Sài Gòn ồn ào
Sài Gòn nắng nóng
Sài Gòn mộng mơ
có cho họ nỗi niềm hạnh phúc mong chờ ?

Cảm ơn Sài Gòn đã cưu mang tôi
Sài Gòn bao dung, ấm áp, ấm cả tình người
và cái nhân, cái nghĩa ở đời
Đã tạo nên mảnh đất đáng yêu như thế !

LÊ MINH CHỬ


NHỚ QUÊ

Nỗi buồn xa xứ chẳng nguôi ngoai
Con tim thổn thức nhớ quê hoài
Nắng sớm chiều buông ngoài hiên quê
Phố cũ đường xưa ngả đi về
Bước chân còn đó thắm tình quê
Hồ Gươm xanh ngắt ước mong về
Náo nức mừng xuân nơi chốn quê
Nhộn nhịp bước chân cùng gia quyến
Bằng hữu gặp nhau tình quyến luyến
Cung chúc cho nhau chén trà tiên
Đậm hương vị bắc vui đoàn viên
Bởi thế tâm tôi nhớ triền miên
Tuy nghèo xứ Bắc cõi thần tiên
Thấm đậm tình người duyên xứ Bắc
Ngàn năm văn hiến chắc nhớ hoài
Thiêm thiếp giấc nồng chẳng nguôi ngoai
Giật mình tỉnh giấc nhớ quê hoài.

THANH XUÂN


XUÂN KỶ NIỆM

Kỷ niệm sinh nhật 76 tuổi (25-6-2017)


Xuân cũ qua rồi, xuân mới lại
Trong tâm náo nức nhớ xuân hoài
Xuân cũ qua rồi, xuân mới tới
Người người hồ hởi, đón mừng xuân
Thấm thoát trôi qua bảy sáu năm
Buồn vui, sướng khổ giữ trong tâm
Chỉ biết hôm nay tràn hạnh phúc
Con cháu trong nhà, trọng chữ nhân
Quanh mình, bè bạn thật ân cần
Chia sẻ niềm vui trọn tình thân
Lời ca tiếng hát giúp tinh thần
Cho xuân vui mãi với tình quân
Cảm ơn bằng hữu đến với xuân
Ta cùng nâng cốc chúc mừng xuân
Thế gian xuân thắm đẹp vô ngần.

THANH XUÂN

 


ĐÓN XUÂN

Mừng đón xuân về vạn thọ mai
Đào sen huệ cúc lan hoa lài
Văn thơ chúc thọ cây nêu tết
Lạc bộ thi ca đều triển khai
Sương sớm mai vàng cùng nở rộ
Nắng mai đào trổ nét trang đài
Hân hoan náo nức vui đời sống
Năm đến chung lòng hướng thời lai.

QUANG BỈNH 2017


VUI XUÂN

Tết đến thêm vui một tuổi già
Chuyển màu tóc bạc sậm màu da
Làm thơ giao hữu cùng thêm ý
Bài viết câu văn lý tưởng xa
Cuộc sống tham quan cùng bạn hữu
Bon chen lận đận năm vừa qua
Hưởng xuân vui vẻ không buồn giận
Con cháu cùng nhau đến chúc nhà.

QUANG BỈNH 2017


LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

Chúc đời em như hoa
Nở đẹp mùa xuân thắm !
Gió lòng anh say đắm
Chở đầy hương bay xa !

Vũng Tàu, 1-1997
VŨ ĐÌNH HUY



NEW YEAR’S BEST WISHES

Wishing you a flower like life
Blooming in a gorgeous new springtime !
My passionate heart’s wind
Carried a full lot of scent that flew far, far away !

Vũng Tàu, 1-1997
VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN


MỘT KHỐI TÌNH

“Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan !”
Truyện Trương Chi

Nắng đến bên giường, sao đã lặn
Mộng tàn, em vẫn sáng lung linh
Trăm năm trọn kiếp dài hay ngắn ?
Chẳng thể tan đi một khối tình !

Vũng Tàu, 20-3-1997
VŨ ĐÌNH HUY


A LOVE

 

“The love debt had not been acquitted
A love one brings along with one into the grave !”
The Story of Trương Chi

 

The sunlight has reached the bedside, stars were down
Although the dream was finished,
You’re still sparkling
Is a hundred years existence long or short ?
A love simply cannot vanish !

Vũng Tàu, 20-3-1997
VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN


GÓI BÁNH CHƯNG

Gói bánh chưng nói dễ thì cũng dễ, nói khó thì cũng khó. Chỉ cần lên bác Gu-Gồ là bác ấy chỉ cho tất tần tật, có cả video xem hướng dẫn từng bước một.

Trước kia mỗi nhà đều tự gói lấy, ba má tôi bảo: “Gói để trong ba ngày Tết khi có khách đến nhà chơi thì chỉ cần bóc cái bánh, thêm vài lát giò thủ, ít củ kiệu tôm khô, lai rai với ly rượu chúc tết là vui vẻ rồi”.

Gói bánh chưng cũng là một cái thú. Gạo nếp thì đã được má tôi mua sẵn từ trước, thịt và lá khi nào gói thì mua, riêng phần lạt thì cứ mua một ống giang về nhà tự chẻ là buộc thoải mái. Ngày hôm trước rửa lá, chiều tối vo gạo xóc muối, nấu đậu… nhà con cái đông mỗi người mỗi việc. Riêng phần gói là dành cho ba tôi, ba tôi xếp lá và gói bộ chứ không dùng khuôn nhưng rất đẹp, vuông vức đâu ra đấy, chúng tôi chỉ được nhìn và cố gắng xin gói một cái nho nhỏ để xí phần. Sau này lớn lên tôi là người đầu tiên gói bánh chưng theo khuôn và từ đó hướng dẫn lại cho các em và ba tôi, hiện nay tất cả đều gói khuôn rất thành thạo.

Sau giải phóng, ba tôi và một bà nhà bên cạnh được tổ trưởng đề cử gói bánh cho bộ đội. Gói bánh xong cũng được chia một miếng thịt mang về ăn tết. Bấy giờ chỉ có bộ đội chăn nuôi heo mới có thịt mà ăn còn dân thì phải mua bằng tem phiếu nhiều ít tùy theo số nhân khẩu trong gia đình, cứ ới lúc nào là rủ nhau xếp hàng chờ đến phiên cho dù là nửa đêm cũng phải nhanh chân mà xếp hàng. Nghĩ đến xếp hàng mua lương thực có rất nhiều chuyện để kể: nếu tính từ khoai ra gạo thì mỗi người được bao nhiêu kg, nếu tính ra bobo thì bao nhiêu, tính ra bột mì thì bao nhiêu… nhất là cảnh mỗi người cầm dao theo xếp hàng để nhận khoai, nhận xong vạt ngay những chỗ khoai sùng, khoai hư… tại chỗ. Cái hay là mặc dù cầm dao đấy nhưng chả bao giờ có chuyện cãi cọ hay ẩu đả bao giờ. Sao lúc bấy giờ tình làng, nghĩa xóm lại thuận thảo với nhau đến thế?

Một năm nọ, anh Cả tôi đề nghị hai cha con tôi gần tết về Xuyên Mộc chơi ít bữa và gói bánh luôn vì trên đó gạo thịt đều rẻ, củi cà phê thì đầy chỉ không có người gói bánh thôi. Sau khi chúng tôi đồng ý thì má tôi đã dặn dò anh chị phải mua bao nhiêu gạo, bao nhiêu lá, bao nhiêu đậu… phần ba tôi đóng cho mấy cái khuôn, còn tôi lấy giấy tượng trưng những cái lá xếp vào khuôn làm mẫu cho các cháu tập gói. Thằng cháu Tí của tôi sau khi thấy tôi hướng dẫn kèm theo khuôn và xấp giấy mẫu, nó bô lô ba la: “Cái này quá dễ chỉ có người lười mới không làm được”.

Đến hẹn lại lên, tôi và ba tôi đinh ninh xuống đấy chỉ lo gói thôi. Nào ngờ thịt thì còn cả mảng lớn chưa ra miếng, có miếng còn sót cả lông; lá thì chưa lau… may quá vợ của cháu Tí sang tưới cà phê cho bố chồng, được chỉ đạo vào ngay khâu phụ nên rồi cũng đâu vào đấy. Về thịt thì: thịt được ướp hành ăn ngon hơn nhưng phải dùng ngay không để lâu được, và nếu kỹ hơn thì còn phải thấm khô thịt cho bánh để được lâu vì bây giờ heo hay bị bơm nước trước khi mổ...
Đến phần gói thì chỉ có tôi và ba tôi, còn anh tôi phải lo tưới cà phê, xin nói thêm là do hoa cà phê đang nở và tưới theo lịch tưới chung của bà con chung quanh - do nước không đủ cho mọi người tưới đồng loạt, nên anh tôi nhận canh nồi bánh chưng đêm, còn thằng cháu thì ngó qua rồi… thăng!

Chiều đến mọi việc rồi cũng xong, mỏi nhừ cả lưng vì sáng sớm từ Sài Gòn lái xe hàng trăm cây số mới đến, rồi lại ngồi gói đến chiều mới xong, rã rời cả người nhưng mà vui khi con cháu tề tựu đầy đủ, chung vui cùng ông nội bữa cơm tạm gọi là cuối năm. Anh Cả nhận phần chăm sóc nồi bánh, yêu cầu ba và tôi đi ngủ. Nửa đêm ba tôi dậy thăm nồi bánh thì ôi thôi nó tắt từ hồi nào, ông lại phải thổi cho lửa bùng lên; còn anh tôi biến vào giường ngủ từ bao giờ rồi. Gần sáng đủ thời gian cho bánh rền, ba tôi xuống vớt bánh ra, lấy ván đè lên và dằn thêm đá tăng thêm sức nặng cho nước thoát ra rồi nắn cạnh từng cái cho vuông vức. Ông ngắm từng cái bánh, thành quả công sức lao động mà lòng hân hoan phơi phới. Cái nào xấu nhất để riêng ra lát nữa xử…

Ở Sài Gòn muốn nấu bánh chưng phải để dành củi nhiều lắm vì sau khi sôi phải nấu thêm từ 10 đến 12 giờ nữa. Bây giờ mà nấu bánh chưng kể cũng hơi khó vì nhà nhà sát bên nhau không nấu được.

Có năm tôi gói bánh cho bên nhà vợ tương lai, anh Cả tôi nói đùa “nó phải thức đêm trông nồi bánh sợ bánh khét” nhưng anh tôi không canh bánh chưng nên không biết cái thú của nó nhìn ánh lửa bập bùng…

“Trông bánh chưng chờ trời sáng đỏ hây hây những đôi má đào”.

Các em tôi dạo này chúng cứ thích là gói, làm khuôn chừng 14cm thôi, để vào nồi áp suất được 3 hoặc 4 cái, đun chừng 1 giờ sau đó mở ra chuyển mặt bánh lại rồi đun liu riu khoảng 1 tiếng nữa là có bánh ăn.

Mấy năm gần đây, cứ mỗi năm tết đến tôi và các em tôi lại được gói bánh chưng giúp cho nhà thờ tặng cho người nghèo và các cô nhi viện… nhà thờ lớn nấu bằng củi, nhà thờ nhỏ nấu bằng gas. Cha xứ hô hào giúp đỡ cho những người có hoàn cảnh khó khăn là người người ủng hộ nhà nhà ủng hộ, người góp công người góp của, ai ai cũng rộn rã mừng vui vì mình đã có cơ hội để đem thêm nụ cười cho những người khác.

Nhớ lại ê kíp gói bánh lúc ban đầu toàn là các cụ cả, nhưng giờ thì các cụ một số đã thăng đường, một số cụ già cả ngồi đau lưng chịu không được nên mỗi năm mỗi đào tạo thêm vài người mới. Tuy nhiên người mới gói do chưa quen tay, chưa thuộc bài nên hay bị thiếu lá, thiếu đậu… chuyên môn gọi là răng môi lẫn lộn phải nhờ các chuyên gia sửa lại. Trung bình gói xong một cái bánh nặng khoảng 1.3 kg, đến khi nấu xong thì được gần 2 kg.

Dù khâu gói là khâu chính, nhưng những nhân vật phụ trách khâu phụ mà không có thì người gói cũng mệt lắm. Phải mua lá, gạo, thịt, lạt buộc, đậu xanh, rồi về vo, đãi, hấp, lau rửa lá từ ngày hôm trước… Có năm rất cần người cột bánh. Khi cột phải đan xen lạt với nhau, phải chọn lạt cho đẹp. Cuối cùng cột úp 2 cái lại để chúng khỏi đâm nhau, để khi vớt ra còn nóng sồn sột không bị phỏng tay… cả một khối kinh nghiệm của bao nhiêu năm gói bánh.

Khoảng 4 giờ chiều là khâu gói hoàn tất và các anh em canh thức bắt đầu kê nồi, lót nồi bằng những cọng lá bỏ lại phòng khi lửa to bánh bị xém, kế tiếp xếp bánh, chẻ củi và có thể “nổi lửa lên em” được. Khi lửa đã reo vui thì bàn nhậu cũng sẵn sàng lâm trận “trông bánh chưng chờ trời sáng nhậu lai rai…”. Nhiều quý vị sẵn sàng góp bia rượu “cùng quây quần ta vui vui vui”, một năm mới có một lần…

Thường thì nhà xứ lựa ra cặp bánh đẹp nhất dâng lên bàn thờ tạ ơn Thượng Đế đã ban cho một năm mới tràn đầy yêu thương, mọi người cùng chung tay góp sức xây dựng chính khu phố nơi mình ở tình tương thân tương ái và tràn lan qua những anh em chung quanh còn khó khăn hơn mình rất nhiều. Quà dành cho người nghèo không chỉ là bánh mà còn có gạo, dầu ăn, mì gói… tùy theo các nhà hảo tâm. Chia sẻ, chia sẻ và sẻ chia chính là thực thi tình yêu thương một cách hoàn hảo nhất.

Bánh chưng được vớt ra sau khi đun 12 tiếng chẳng thể nào có màu xanh đẹp được. Những nhà bán bánh danh tiếng phải làm thêm 1 công đoạn nữa là sau khi vớt bánh tháo bớt lớp lá ngoài ra, họ gói lại bằng lá mới phơi cho héo đi, cột dây rồi hấp sơ lại. Những kẻ gian ác thì bỏ cục pin vào nồi bánh khi nấu cho lá xanh, nhanh chín và làm nếp trong; nhẹ hơn là bỏ phèn chua vào cho bánh... rền khi sắp vớt hoặc bỏ hàn the cho săn bánh…

Thạc sĩ Trần Thị Thu Trà, khoa công nghệ thực phẩm Trường đại học Bách khoa Tp.HCM, giải thích: Môi trường chính của pin là kiềm. Trong môi trường kiềm, màu xanh chlorophyll của lá chuyển thành màu xanh đậm của chlorophyllin nên làm lá xanh hơn người ta vẫn ứng dụng điều này bằng cách khi luộc rau đậu cho thêm thuốc tiêu NaHCO3 tạo môi trường kiềm nhằm làm xanh rau đậu. Cũng trong môi trường kiềm, tinh bột hấp thụ nước tốt hơn nên bánh mau chín hơn cũng như khi nấu chè, người ta cho thêm thuốc tiêu NaHCO3 nhằm làm đậu mau mềm. Đồng thời, môi trường kiềm tạo độ trong cho sản phẩm tương tự khi làm bánh tro, ngâm nếp trong nước tro là môi trường kiềm nên bánh tro có độ trong. Như vậy, thực chất của vấn đề cho pin vào nước luộc chỉ là tạo môi trường kiềm nhằm làm xanh lá, bánh mau chín và nếp trong.

Ăn bánh chưng nấu bằng pin sẽ bị nhiễm chì làm hệ thần kinh luôn căng thẳng và rối loạn tập trung, nhiễm độc chì sẽ làm huyết áp tăng gây nhiều rủi ro về các bệnh tim mạch. Việc nhiễm chì mặc dù ở mức thấp cũng sẽ bị ngộ độc cao, rối loạn chức năng các cơ quan sinh dục, sau đó thấy đau dữ dội ở xương sống lưng và xương. Rối loạn các chức năng phổi. Cadmium cũng có thể là nguyên nhân gây ung thư. Thêm vào đó là ngộ độc mãn tính da mặt xám, tóc rụng, viêm dạ dày ruột, đau tai, đau mắt... nếu ngộ độc cấp tính thạch tín gây nôn mửa, đau bụng tiêu chảy, khát nước dữ dội, mạch đập yếu, bí tiểu và có thể dẫn đến tử vong.

Dù ở hàm lượng nhiều hay ít, người nấu bánh tuyệt đối không nên cho pin vào bởi pin là sản phẩm công nghiệp, không phải sản phẩm thực phẩm, nên hóa chất làm pin không tuân theo các tiêu chuẩn sản phẩm dành cho thực phẩm.

Tóm lại, để trở thành người gói bánh chưng giỏi và tuyệt vời thì ngoài những điều kể trên, còn một bí quyết cuối cùng: “Hãy tự bóc một cái bánh chưng”.

HÀ MẠNH ĐOÀN






Phụ Bản III

Cố nhân

- Bánh giò nóng đâ â â y….

Người phụ nữ với chiếc xe đạp cứ thế âm thầm đi qua những con hẻm ngoằn ngoèo quen thuộc. Giọng chị tuy không lớn, nhưng cũng đủ độ vang để ai đó đói lòng giữa trời khuya khoắt, mừng rỡ gọi vào, mua cho mình một hai cái. Chỉ là chiếc bánh dân dã, nhưng cái beo béo của nó, cùng với hơi nóng bốc lên từ cái chất trăng trắng ngà ngà, rung rung… cũng đủ cho nó có cái hương vị thơm ngon riêng biệt, khó quên. Cái thân bánh mềm mại, cái nhân sừn sựt của nó khiến ổ bụng đang đói giữa trời se se lạnh, cảm thấy ngon vô cùng.

Chưa kể, hành trình chị đi qua rất là lớp lang, nên có thể nói giọng rao của chị cứ như là một chiếc đồng hồ miễn phí cho cuộc đời vô tình. Này nhé, khi chuông nhà thờ gióng lên một tràng ngăn ngắn, thì y như người ta thấy chị đứng chắp tay lẩm bẩm điều gì đó, mắt hướng về Cây Thập Tự treo tít trên đỉnh tháp chuông. Hay khi chị vừa quành xe vào đầu hẻm, thì đã thấy một bà cụ móm mém chạy ra, tay lất phất mấy tờ bạc lẻ, miệng lua xua:

- Gớm, nãy giờ mong cô mãi.
Rồi cái miệng không còn chiếc răng nào của bà lại tươi lên nụ cười hiền hậu:
- Bánh của cô ngon lắm!

Chị nghe câu ấy cả ngàn lần mà không chán, vì chị biết người ta nói thật. Trên đời, có gì quý giá bằng sự chân thật đâu?

Chị ngừng xe. Cái pedal trụi lủi chẹt trên lề cho khỏi đổ. Tay lái chị tựa nhẹ vào vách tường, chỉ sợ trầy vách tường nhà người ta. Kê chiếc dép trên lề, chị ngồi xuống tạm nghỉ sau gần 2 tiếng xôn xao qua các xóm ngõ. Cần xế bánh đã vơi quá nửa. Hôm nay, có lẽ cũng như mọi khi chị sẽ về đến nhà lúc mười rưỡi đêm. Chị sẽ xem bộ phim gì đó trên TV để khi cơn buồn ngủ tới thì sẵn sàng cho phim đi đàng phim, mộng đi đàng mộng.

Ngẩng nhìn những dãy đèn chớp tắt trong đêm, chị chợt nhớ Noel đã đến gần. Rồi nỗi buồn bỗng dưng kéo tới…

Chị nhớ đã lâu lắm rồi. Cái thuở còn đi học. Cái thuở áo dài mực tím đầy mộng mơ thật dễ thương gì đâu! Tuổi tròn trăng làm cô bé ấy có cái má phinh phính thật là duyên. Hai túm tóc hai bên càng làm cho cô thêm xinh xắn. Thỉnh thoảng trong giờ học, cô vẫn lén soi khuôn mặt của mình vào chiếc gương bé tí trong bàn tay, và cô rất hài lòng về mình, nhất là về đôi mắt như hai vì sao tinh nghịch trên kia. Cô chợt thấy nóng ran trên má. Giật mình, chỉ sợ thầy bắt gặp đang soi gương. Nhưng không phải. Bây giờ thì nóng cả người…

Thật nhanh, cô thấy Vương đang nhìn mình qua… kẽ tay của nó. Nó sợ thầy thấy hướng nhìn nên giả bộ che mắt, nhưng kỳ thực là mắt nó bị thỏi nam châm bên kia hút không cách nào cưỡng nổi. Cô bực mình vì có kẻ dám nhìn mình lúc mình đang soi gương. Cô trợn mắt nhìn kẻ quan sát mình, cằm hếch lên nhè nhẹ.

Thằng khốn đã chả thèm sợ, lại còn bụm miệng cười tủm, khiến cô tức điên lên được. Nó lại còn giở trò, bắt chước cô khum bàn tay lại rồi nheo mắt nhìn vào lòng bàn tay ấy như nhìn vào chiếc gương vô hình, rồi nó len lén thầy giáo, giơ ngón cái về phía cô, ngầm khen cô là num bờ oăn. Thế mới chết chứ!

Giờ ra về, cô định ra chửi nó một trận nên thân cho bõ ghét, thì nó đã cao chạy xa bay như Tôn Ngộ Không. Những ngày sau đó, bộ mặt Vương càng trở nên lì lợm, đến độ có lần cô bật cười vì cái bản mặt nhơn nhơn đắc chí của nó. Chỗ ngồi của Vương gần lối ra vào, nên cô chẳng làm sao nói chuyện phải quấy với nó sau giờ học, vì nó đã co giò chạy mất xác, trước khi cô kịp chen ra khỏi lũ học trò hào hển tung ra như đàn chim vỡ tổ.

Rồi một hôm “thằng khốn” ấy không chạy trốn nữa, mà nó nấp sau cây phượng già vừa tàn màu hoa lửa. Cô vừa bước tới thì nó nhào ra hù cô khiến hồn vía cô lên mây. Nó chẳng thèm bỏ chạy, mà đứng cười ha hả, khoái trá. Cô nhéo nó một cái… tới nơi. Cái bản mặt cô vừa kịp nhận ra cũng khá đẹp trai chỉ hơi nhăn nhó một chút rồi giả lả:
- Bớt giận đi… em gái!
Cô nộ khí xung thiên:
- Ai là em của… mày!
- Ơ! Láo nhỉ! Đẹp giai như Vương đây mà dám gọi là mày cơ à! Thôi! Trẫm tha tội cho khanh đó! Có đi ăn chè không thì bảo.
Đó! Nó nhập đề thẳng băng như sợi chỉ vậy đó. Chẳng hiểu sao, cô gật đầu.
- Ăn ở đâu?
- Thì cứ đi hẵng biết…

Thuở ấy, có Honda Dame là oách lắm chứ chẳng chơi. Vương chở bạn ra mãi bến Bạch Đằng. Nó mua mấy con mực khô xay mềm xèo, chấm tương ớt cay xè. Cô bảo:
- Đưa đây coi!
- Đưa cái gì?

Chẳng nói chẳng rằng, cô kéo tay Vương lại, bẻ quặt tay anh chàng, để lộ ra mấy vết móng tay của cô lúc nãy đậm đà in trên cánh tay trắng như con gái. Vương chu miệng:
- Tác phẩm đẹp đấy chứ, em gái!
Cô thè lưỡi, liếm ngón tay của mình, rồi lấy cái ngón tay xinh xinh ấy, xoa lên tác phẩm điêu khắc của mình, cái miệng thật là duyên của cô nhẹ thốt:
- Xin lỗi nhé, anh giai!
Mẹ ơi! Nham nhở như Vương mà ngực nó như muốn vỡ tung ra khi đôi mắt bồ câu của nàng cười mát rượi.

Mùa Noel đến, như bao cặp tình nhân khác, họ cũng hò hẹn nhau một tối Noel thật nồng nàn. Lễ xong, họ cùng nhau rong ruổi qua bao phố xá rộn ánh đèn. Họ chẳng cần phải ghé vào đâu tìm kiếm cái gì bỏ bụng, vì họ có cần gì hơn cái dịu ngọt đang quấn đầy trái tim say đắm. Họ mơ màng đi trong ánh sao đêm huyền diệu, cho đến lúc cô tỉnh dậy thì cũng là lúc mẹ cô lay cô, giọng bà ràn rụa:
- Thúy, Thúy, con… con có sao không?

Cô kịp nhận ra cô đang trong bệnh viện. Mẹ cô đang run rẩy vì lo cho cô. Vương đứng bất động bên cạnh. Anh áy náy chẳng biết nói gì khi tai nạn xảy ra. May mà Thúy chỉ bị xây xát. Dù sao, thì trên má cô cũng còn lại chiếc sẹo to tướng, kỷ niệm cho một câu chuyện tình…

Sau tai nạn ấy, Vương chuyển trường đi đâu không rõ. Thúy mơ hồ cảm thấy tâm hồn mình hụt hẫng. Cô không tin chuyện tình sẽ vỡ tan như có những tích tắc cô mường tượng ra. Chỉ có điều, Vương không gặp cô nữa. Cô cũng chẳng dám đến nhà Vương, vì cô biết cha mẹ Vương không thích cô chỉ vì nhà cô nghèo. Nay thêm cái sẹo trên mặt, chắc là ông bà ấy lại thêm ghét mình! Cô xót xa vì ý nghĩ ấy cứ lởn vởn mãi trong đầu cô.

Rồi mẹ cô lâm bệnh. Bà phải bán căn nhà 2 mẹ con đang ở mà mua căn nhà khác bé hơn để lấy tiền trang trải cho chi phí thuốc men. Rồi bà cũng qua đời như phải thế. Chưa kịp lấy được cái bằng Tú tài thì Thúy phải nghỉ học để bươn chải với cuộc đời. Cô tránh xa mọi ánh đèn. Cô che đi mọi cảm xúc. Tình yêu đầu đời làm cô quên đi mọi niềm vui. Đến bây giờ, niềm an ủi duy nhất mà cô có được chính là lời ai đó khen, bánh cô ngon quá…

Định dắt xe đi, thì có tiếng mở khóa cổng:
- Cô ơi! Bán cho con 2 cái.
- Chờ cô chút…
Thối tiền cho cậu bé xong, cũng là lúc chị phát giác ra cái bánh xe xẹp lép. Chị buột miệng:
- Chết rồi!
Rồi chị tháo hai sợi thun cột cái cần xế ra, định bê xuống, thì trong nhà có ai đó chạy ra:
- Làm sao thế chị?
Người phụ nữ, chắc là mẹ cậu bé lúc nãy, vừa mau chóng mở cổng, vừa hỏi chị.
- Ơ! Xe em hư ấy mà!
- Chị định làm sao?
- Thì em bỏ bánh xuống, rồi sửa chị à. Thỉnh thoảng xe vẫn hư như thế nên quen rồi.
Nghĩ sao, chị chủ nhà hỏi:
- Chị còn bao nhiêu bánh vậy?
- Dạ chắc còn vài chục cái.
- Hay để em lấy hết cho…
- Thôi mà chị à. Cám ơn chị nhiều lắm, nhưng em sửa xe xong rồi đi bán vẫn còn kịp chán…
- Có sao đâu! Một phần vì chẳng bao nhiêu tiền, em chia cho mỗi nhà một hai cái là hết chứ lo gì. Mà cũng là cái quà làm quen với lối xóm, vì em cũng mới dọn về được vài hôm thôi.
Rồi chị gọi con trai lớn chị ra, bảo nó:
- Má nhờ con chở cô về nhà nhé. Còn xe để đây đi, sáng mai cháu sẽ mang sửa giúp cô. Đừng lo, chị em giúp nhau tí chút có sao đâu?
Thúy đứng như trời trồng. Chị ngạc nhiên vì ở đời còn thật nhiều người tốt. Chị lúng túng cầm lấy số tiền chủ nhà đưa cho mà chẳng biết nói gì. Những cánh sao dường như đang hấp háy trên bầu trời cao…

Một hôm, cũng trong một tối như thế, chị gõ cổng nhà ấy, với ý định đưa cho mấy cậu bé ít cái bánh cho vui. Chị nghĩ một chút thì cũng là tấm lòng…
- Ai đấy? Giọng chị chủ nhà
- Em đây! Thúy đây!
- Vào đây đã…
Định bước chân vào, nhưng chị chợt giật mình vì thấy ai đang ngồi trên ghế sa lông, coi TV.
- Không sao đâu chị… Ông xã em đấy mà!
Thúy cúi đầu, khẽ liếc mắt về phía người đàn ông ấy. Chị nhận ngay ra người ngày xưa chị từng yêu mến. Chị lí nhí:
- Thôi để em đi bán hàng kẻo trễ rồi, cho em gửi mấy cái bánh cho các cháu chị ạ…
Rồi Thúy đi thật nhanh ra cổng, không dám chào lại người phụ nữ hiền lành kia, khiến chị này ngạc nhiên, tròn mắt nhìn theo.

Thế là Thúy bỏ cái xóm ấy. Tiếng rao của chị không còn vang trong không gian tĩnh lặng ấy nữa. Người vợ buồn miệng nói với chồng mình:
- Chẳng hiểu sao mấy hôm nay không thấy cô bán bánh giò đi qua đây…
Vương chỉ ừ hử. Anh không quan tâm đến ba cái chuyện vớ vẩn ấy. Nhưng chị vợ vẫn cứ lèng èng:
- Chắc chị ấy bị làm sao rồi!
- Làm sao là làm sao, Hoàng?

Thế là Hoàng kể cho chồng nghe về Thúy, về cái hôm Thúy hư xe, hôm ấy Vương đi xa không ở nhà nên không biết. Hoàng kể về vết sẹo trên má Thúy… Lúc này, anh mới trố mắt nhìn vợ, quên đi trận banh đang hồi gay cấn trên truyền hình. Anh nói mà như mơ:
- Hay hôm nào vợ chồng mình đến thăm cô ấy vậy…
- Ừ! Vậy đi anh! Hay tối Noel mình đến nhà chị ấy, biếu chị chút quà cho vui…

Rồi đúng như ước hẹn, họ rủ nhau đến nhà Thúy. Căn nhà be bé, lọt thỏm trong một góc xóm, có thể nói vừa xinh xinh, lại vừa cô đơn. Hoàng bấm chuông trong khi Vương còn nấn ná với cái xe. Trong ánh chập choạng chớp tắt của dãy đèn xanh đỏ, Thúy hiện ra với vẻ mặt lạ lùng. Chị lúng búng:
- Mời anh chị vào chơi!
Hai người phụ nữ vào trước. Vương còn thập thò. Hoàng lấy làm lạ vì thái độ của chồng mình hôm nay, khác hẳn mẫu người chị kề cận suốt bao tháng năm. Thúy lí nhí:
- Mời anh vào…
Thúy quên cả rót nước mời khách. Cô quên tất cả mọi vật trên đời. Bất chợt, cô chú mục vào Hài Nhi bé nhỏ đang giơ hai tay trong hang đá. Cô mụ người đi. Cô chẳng biết mình vui hay buồn nữa. Hoàng lay cô:
- Chị làm sao vậy?
- Em có làm sao đâu! Thúy ú ớ như kẻ bị mộng du.
Hoàng đứng lên, tiến lại góc tủ, định rót cho Thúy ly nước. Chẳng thấy cái ly nào ngoài chai nước, chị hỏi Thúy:
- Ly ở đâu chị Thúy nhỉ?
- Dạ, đàng sau bếp chị ạ.
Hoàng ra nhà sau. Vương đỡ lấy vai Thúy, giọng anh đứt quãng:
- Anh… xin lỗi em, Thúy ạ…
Rồi mắt anh mờ lệ. Hoàng bước ra, ngạc nhiên nhìn chồng. Thúy lắp bắp:
- Em không sao đâu anh chị ơi! Cảm ơn anh chị đã đến chơi nhé.

Thúy chẳng trông mong vào điều gì cả, vì biết còn trông mong gì cho cuộc đời về chiều của mình. Nhưng sâu trong tâm hồn, chị thấy có le lói một niềm vui mơ hồ.
Ít ra, người ấy còn biết xin lỗi mình…

LAM TRẦN


TẢN ĐÀ KIẾM KHÁCH

Đó là vào một ngày đầu thu “lá sen tàn tạ trong đầm”, Nguyễn Tuân đi cùng Nguyễn Xuân Huy, Vũ Trọng Can, Lê Tràng Kiều vào Hà Trì (Hà Đông) thăm Tản Đà.

Hôm ấy, nhà thơ đãi khách một bữa rượu thật độc đáo: cá nướng Chuyên Chư: con cá dài hơn thước, trong bụng nhồi lòng lợn, mỡ, rau thơm, bọc lá chuối rồi lại bọc đất bên ngoài, đưa vào bếp lò nung như nung gạch.
Nguyễn Tuân kể “Tớp xong một hớp rượu có mùi khê khê, tay tôi gỡ cá ra từng mảnh nhỏ, miệng tôi nói với đám tiệc:
- Trước khi gần Tần Thủy Hoàng để hành thích, có lẽ người Chuyên Chư học nướng cá mấy năm ròng ở đất Ngũ Hồ cũng chỉ khéo đến thế này là cùng.
Cả bàn tiệc cười xòa. Ông Tản Đà giục mọi người cầm đũa:
- Anh em mình ăn ngay cho nóng, kệ lão ấy gỡ cá. Hắn có tài thì hắn phải làm đầy tớ bọn ta. Sự đời thường vẫn thế. Hề! hề!
Lúc gần triệt soạn, tôi nằn nì với chủ nhân:
- Người ta đồn cụ múa kiếm có nhiều đường đẹp lắm. Anh em hôm nay muốn được xem.
Tửu hứng đang nồng, Tản Đà đã chiều ý các bạn trẻ. Nhà thơ gọi người nhà lấy liếp che kín các cửa trước cửa sau rồi:

“Trong gian nhà tối lờ mờ, mọi người nhận thấy một cái bóng trắng lượn múa trên hai bộ ngựa ghép sát lại. Ông Tản Đà mặc áo trắng dài. Cũng tiến lên lùi xuống, bước đi gõ theo một luật pháp rất khắc khổ. Cũng múa trên đỡ dưới. Chưa bao giờ tôi tập đánh kiếm nhưng hồi còn ở lao, có mấy người tù đàn anh đã đi cho tôi xem cả môn độc kiếm, cả môn song kiếm và giảng sơ sơ cho tôi về môn kiếm thuật. Căn cứ vào những thời xa xôi ấy, tôi thấy ông Tản Đà hôm ấy múa tròn lắm, đường kiếm lúc nào cũng che kín người. Và có những đoạn loạn đả, ông Tản Đà có những miếng xả và tuốt cũng lợi hại lắm. Chả biết lúc thực sự phải cho đổ máu thì kiếm thuật sẽ như thế nào nhưng ở phút múa kiếm sau cơn rượu tôi thấy thi nhân đẹp lắm”.

Đó là bữa để Tản Đà từ biệt làng Hà Trì mát những ao bèo và xanh rợp bóng lá ra Hà Nội tìm chỗ ngụ, nhằm tránh sự thù hằn của viên tổng đốc sở tại. Nguyễn Tuân kinh ngạc trước phong cách Tản Đà:

“Vẫn không quên xắp hành lý để trảy ra Hà, thi nhân bỏ vào va li một cái nghiên mực, một đĩa son và một tập cổ thi. Cái va li ấy là một chiếc va li cũ kỹ đã bật cả khóa, chẳng khác gì cái va li của một ông đồ Nghệ mới ra Bắc làm thuốc. Say rượu rồi múa kiếm cất kiếm rồi hỏa tốc xắm va li lên đường như là một khách không nhà, sao người ta lại không sống vào thời trung cổ để làm một kẻ hiệp sĩ nhỉ?
(Tao Đàn số Tản Đà 1939)

Môn kiếm thuật là Tản Đà học được của một bạn thân. Đỗ Đình Đạt, con thứ tư của một đô thống Cần vương, Đỗ Đình Thuật, nên thường gọi là Tư Đạt. Ông Tư Đạt đón nhận nhà thơ và cả gia đình về ở ấp của mình, ấp Đồng Sành, huyện Cầu Rào. Tản Đà ở đây tới sáu tháng và được Tư Đạt dạy kiếm thuật. Tập thường về đêm. Sau khi đã thành thục, Tản Đà thường cùng Tư Đạt múa kiếm vào những đêm trăng, cả hai đều mặc áo gấm. Tư Đạt có cặp song kiếm, tặng nhà thơ thanh thư kiếm, còn giữ lại thanh hùng kiếm.

Hôm Tản Đà múa kiếm ở tiệc rượu, Tản Đà rút thanh kiếm đút trong ống tre dắt trên mái nhà cho các bạn xem, lại cất đi ngay và múa bằng dao phay.

Thanh kiếm ấy hồi nhà thơ mất ở Ngã Tư Sở đường Cầu Mới, vẫn còn, rồi Nguyễn Tố, một nhà thơ trẻ và là cháu Tản Đà (gọi nhà thơ bằng chú ruột), tác giả quyển Tản Đà thực phẩm, giữ lấy. Sau, ông Tố mất mà cũng không biết thanh kiếm này ở đâu?

ĐÀO MINH DIỆU XUÂN st.




NGÀY CUỐI NĂM

Như vậy là cũng hết năm...

Cái được là ta thêm được tuổi, cái mất là ta già thêm một năm...

Đời người nó ngắn lắm, giỏi lắm thì được 100 thu rồi thì phải yên giấc 1000 thu.

Thôi thì có mới là phải vui, năm mới là phải vui, già thêm cũng phải vui, gần về với cát bụi cũng phải vui... vì

niềm vui rồi cũng sẽ cạn kiệt dần theo năm tháng, nên ta phải an nhiên để tự tại như hiện tại.
Giờ cuối của ngày cuối, của tuần cuối và của năm cuối cùng 2017, thời gian thì cứ đi, con người thì phải già...

Kính chúc mọi nhà an lành - hạnh phúc!

Này bạn, bạn nhắn nhủ gì cho những ngày cuối năm?

Ngày cuối năm, sẽ thôi nhớ về yêu thương đã ngủ yên một góc nào đó trong trái tim còn lộn xộn để đón lấy những an yên dù ít ỏi nhưng là món quà cuối cùng của một năm cũ dù không trọn vẹn.

Trời cuối đông, gió lùa thốc vào mái phố rồi bất chợt nằm co ro. Những chuyến xe bus vội vã đến vội vã rời mang theo bước chân gấp gáp, bỗng thấy mọi thứ của ngày cuối năm chòng chành, chới với và xô bồ đến lạ.

Ngày cuối năm, vẫn như bao ngày bình thường khác đủ 24 giờ nhưng dường như có chút gì đó dùng dằng, níu kéo và thấy trống trải vô cùng.

Đếm chậm thời gian, lặng nhìn tờ lịch treo tường im lìm một mình, chẳng nỡ xé bỏ đi như mọi ngày vì sợ. Sợ thời gian trôi, sợ cuốn đi những điều cũ, những điều chưa kịp làm và cả vô vàn cảm xúc chưa nói thành lời.

Khi chiếc đồng hồ nhích dần từng tích tắc, khoảnh khắc kim giờ và kim phút chạm nhau trên một đường thẳng của ngày cuối cùng ấy đã là một khoảng cách rất xa. Là khoảng cách giữa năm cũ và năm mới, giữa điều đã cũ và điều sắp mới, giữa gần và xa; giữa những điều khó gọi thành tên...

Ngày cuối năm, phố chòng chành vụn vỡ những tia nắng đầu ngày còn lảng bảng sương sớm. Phố uống trọn những ánh nhìn, cả những tiếng thở dài thật khẽ khô khốc và cả bàn chân ai vội vã bước.
Ngày cuối năm, nhắn nhủ lòng mình sống chậm lại một chút để gói trọn cảm xúc yên bình khi một vòng tuần hoàn sắp khép lại...

Ngày cuối năm, ủ đầy trong lòng bàn tay mùa đông thật ấm, hít căng lồng ngực mùi vị tinh khôi của sáng sớm chòng chành nắng đợi gió bên song. Lắng nghe giọt café rơi tí tách chạm xuống đáy cốc, vỡ tan, như giây phút viên gạch nối giữa năm cũ và năm mới không còn giới hạn.

Ngày cuối năm, gói ghém lại những điều đã cũ để khép lại một giấc mơ của ngày hôm qua, mỉm cười đặt niềm tin cho lựa chọn ngày sau, sẽ là hạnh phúc theo đến suốt cuộc đời.

Khi những yêu thương đã trôi tuột khỏi tay thì cũng nên mạnh dạn vứt bỏ và tìm một yêu thương khác xứng đáng hơn. Thực tâm chẳng ai là quan trọng nhất đối với ai hết, chỉ có bản thân mới thực sự quan trọng với chính mình.

Học cách trân quý bản thân mình trong một năm mới sắp gõ cửa, biết đâu, hạnh phúc một lần nữa mỉm cười...
Ngày cuối năm, thèm được trở về nơi ấy, một nơi dù có đi hết cuộc đời vẫn khao khát được tìm lại. Đó là nhà.

Để được hít lấy vội vàng vị đất sỏi mằn mặn, nồng nồng in hằn những bước chân cha và giọt mồ hôi của mẹ.
Để biết rằng thời gian chẳng chờ đợi một ai khi không biết trân trọng. Mái tóc cha đã phủ đầy sương gió, đôi mắt mẹ ủ đầy nỗi lo toan. Dù thương, dù nhớ cũng chỉ nguyện cầu sự bình yên suốt quãng đời còn lại...

Ngày cuối năm, có những chuyến tàu mang tên trở về vẫn lặng lẽ chuyển bánh xình xịch đưa nỗi nhớ về nơi xa. Có những niềm hạnh phúc chỉ cần nghĩ đến và cảm nhận cũng thấy an yên vì ngày cuối năm là để nhìn lại mãn nguyện vì những điều sắp qua dù chưa được vẹn toàn.

Ngày cuối năm, khép lại một mùa cũ, một năm cũ, hãy để lòng mình trải rộng ra, nhẹ nhàng và mãn nguyện.
Có những điều chưa thực sự trọn vẹn, có những yêu thương đã vô tình đánh rơi và cả những dự định còn dang dở.

Năm cũ sẽ chẳng kịp cho chúng ta thực hiện hết, vậy sao không nạp đầy năng lượng và say mê để bước vào một vòng tuần hoàn mới...

Ngày cuối năm, nhắn nhủ với bản thân rằng có rất nhiều điều đang đợi chờ phía trước...

KIM SƠN st.


NHÀ VĂN VŨ BẰNG VIẾT VỀ BA TỜ

“TRUYỀN BÁ”, “PHỔ THÔNG”

& “ÍCH HỮU”

Thấy độc giả “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” đã vững rồi, tôi thảo một bức thư rất dài gửi cho ông Long (tôi viết thư mới giãi bày được ý kiến đầy đủ, chớ nói thì tôi rất vụng) đề nghị nên ra một tờ báo trẻ em. Lúc ấy tờ “Cậu Ấm” của Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong vừa đóng cửa, cả nước không có một tờ báo loại đó, nếu ra được thì không những có ích mà lại còn hy vọng chạy như “Tiểu Thuyết Thứ Bảy”, hoặc hơn thế.

Ba hôm sau, ông Vũ Đình Long không trả lời thư tôi. Nhưng đến ngày thứ bảy, ông trịnh trọng bấm chuông vào nhà tôi thăm, mang theo một tập giấy: ông ngồi sít lại tôi, thì thầm như buôn giấy bạc giả. Thì ra ông đã có ý kiến ấy từ lâu và bí mật cho tôi biết ông đã được phép xuất bản một tờ báo loại đó lấy tên là “Truyền Bá” từ hai tháng trước.

“Tôi đã vẽ ma-két rồi. Kế hoạch bán báo như thế này. Trình bày như thế này. Chữ in như thế này. Đoạn phụ lục giúp vui bạn đọc như thế này. Ông Bằng xem đi rồi cho tôi biết ý kiến, đồng thời cũng nên nghĩ luôn cả các mục vui ở trang bìa 2, 3 và 4, hay là ta để thêm 4 trang trong nữa để bạn đọc xem cho đã?...”

Suốt một tháng, tôi sang nhà báo chỉ thấy ông Long nghĩ về tờ “Truyền Bá”, và bất cứ chuyện gì cũng quy về “Truyền Bá”. Ông Long và tôi chia nhau ra viết quảng cáo, lời phi lộ. Báo in trước ba số để sẵn đấy, bắt đầu bán số 1 thì in số 4 (hầu hết các báo của nhà Tân Dân in như thế, vì vậy báo thứ bảy ra thì từ Nam Quan đến cà Mau, nhà đại lý nào cũng có từ chiều thứ sáu). Đúng như lòng mong mỏi, báo chạy dữ dội ngay từ số đầu. Ông vẫn trung thành với quan điểm cố hữu: tiểu thuyết, ai cũng thích đọc tiểu thuyết; bình luận, nghiên cứu khô khan lắm. Tờ “Truyền Bá” ra khổ nhỏ bằng bàn tay, đăng mỗi số một truyện, trừ 8 trang cuối đăng các bài ngắn, vui, giải buồn cho bạn đọc như “Đố Bạn”, “Truyện Tốc Hành”, “Kịch Vui”, “Ô Chữ”, “Nhịp Cầu”, “Truyện Lạ Thế Giới”, “Kỳ Lạ Nhưng Có Thực”…

Có thêm một cơ quan, anh em “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” chạy sang viết thêm cho “Truyền Bá”. Đồng thời, các độc giả bốn phương cũng gửi nhiều truyện về nhà báo, nhất là các mục vặt ở 8 trang cuối, nên chẳng mấy lúc chúng tôi lại thấy rằng có thêm tờ “Truyền Bá” cũng chẳng giải quyết được việc gì cho anh em.

Ông Vũ Đình Long làm đơn xin thêm một tờ báo nữa, tờ “Ích Hữu”, làm một cơ quan sưu tầm, bình luận để làm chỗ phát biểu ý kiến của anh em, nhân tiện cũng là để nói lên quan điểm văn nghệ, văn hóa, xã hội của nhóm Tân Dân (và ít lâu sau này, phe Tự Lực Văn Đoàn vẫn riễu ông Long là lái sách, chỉ lo vét tiền chớ không có quan tâm gì đến văn nghệ cũng như văn hóa).

Trong khi chờ phép tờ “Ích Hữu”, ông Long đưa ra thêm một sáng kiến: thay vì tờ “Phổ Thông” ra mỗi tháng một số đăng trọn một truyện dài (loại bìa xanh), ông cho ra thêm một loại nữa (loại bìa vàng). Thực ra, truyện của hai loại này không cách biệt nhau nhiều lắm, nhưng ra thêm loại vàng, chúng tôi có ý kết hợp thêm nhiều nhà văn, nhà báo, mà cũng là để cho báo chạy nhiều hơn nữa, vì loại này bán rẻ hơn. Về phương diện thương mại, sáng kiến ấy đem lại một kết quả tốt đẹp: “Phổ Thông Bán Nguyệt San” cả loại xanh, loại vàng đều chạy hơn. Hai loại này, đánh số 1, 2, 3… riêng biệt, có một cái lợi khác là ai đã mua báo cũng đều muốn cho đủ bộ để bày tủ sách gia đình, không thiếu một số nào. Vì thế, ai đọc quảng cáo của nhà Tân Dân đều thấy ông Long rất chú ý đề rõ giá báo và nhấn mạnh độc giả nên mua cho đủ số thứ tự, đừng để thiếu, e mất giá trị của tủ sách gia đình.

Về phương diện văn nghệ, nhờ hai loại này, anh em trong nước có dịp thi thố tài nghệ rộng rãi hơn, đồng thời cũng kiếm được nhiều tiền nhuận bút hơn khi trước. Nổi tiếng nhất trong bọn này là Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Thanh Châu, còn cuốn nọ kéo cuốn kia hầu hết đều sàn sàn bằng nhau, thành thử có những nhà văn không nổi tiếng mấy mà cũng được nhiều người đọc như những nhà văn nổi tiếng rồi, là nhờ các tập báo in ra đều chước số thứ tự 1, 2, 3, 4…

Trong tám năm trời, vì phụ trách đọc, sửa, chọn lựa bài vở và trông nom phần kỹ thuật của cả ba tờ “Tiểu Thuyết Thứ Bảy”, “Truyền Bá”, “Phổ Thông Bán Nguyệt San” (phần khảo cứu, sưu tầm và thơ do ông Trúc Khê Ngô Văn Triện phụ trách) của nhà Tân Dân, tôi mặc nhiên được cái may là giao thiệp với đủ mặt anh em văn nghệ sỹ lúc bấy giờ.

Bây giờ các anh em đã tản mác, mỗi người một ngả: người thì chết bịnh, người thì chết bom đạn ở ngoài mặt trận, người còn sống ở miền Nam, người thì chiến đấu ở chốn đèo heo hút gió, lại cũng có người sống ở nước ngoài, đôi khi được biết tin tức là nhờ có bạn quen cho biết… Có lẽ đây chưa phải là lúc kiểm điểm lại những người còn người mất, nhưng ngay lúc này, tôi có thể nói rằng số anh em văn nghệ sỹ góp công vào việc xây dựng ba tờ báo đó thật đông và thật kỳ lạ, y như một cánh vườn có trăm hoa, không hoa nào giống hoa nào, mà cả trăm hoa đều đua nở. Ngoài những vị đã biết từ trước như Nguyễn Đỗ Mục, (dịch Tam Quốc Chí, Liêu Trai), Dương Phượng Dực (dịch Les Mystères de Paris), Nghiêm Xuân Lãm, Ngô Văn Triện (tôi được biết từ khi ông làm “Thực Nghiệp”, thỉnh thoảng lại đến bán sách cho nhà tôi xuất bản) và những người bạn quen sau này như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Công Mỹ (tức Anh Mỹ), Lê Văn Trương, Thanh Châu, Nguyễn Trẩm Giự, Ngọc Giao, Thâm Tâm, Hiên Chy, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Kinh Kha, Tử Thạch, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Vũ Lang, Lan Khai, Nguyễn Dân Giám, Vũ Ngọc Phan… trong lúc làm ba tờ báo nói trên, tôi còn có cái may là tìm được nhiều bạn mới, trong số có nhiều anh hiện giờ nổi tiếng như Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Tất Thứ, Nguyễn Văn Nhàn, Lý Văn Sâm, Phan Du, Bùi Hiển, Kim Lân, Nguyễn Văn Xuân, Lê Công Thành, Lâm Mỹ Hoàng Ba, Nguyễn Duy Diễn, Văn Thu, nữ sỹ Ngân Giang, Trần Thanh Địch…

Nam Cao, cùng với tôi, nuôi cái ý thích là viết truyện không có chuyện. Tôi tiếc một điều là lúc ký hiệp định Genève, từ Bắc di chuyển vào Nam, tôi đã để lạc mất hàng ngàn bức thư trao đổi với các văn nghệ sỹ, nói lên sở trường, sở đoản và hoài vọng của từng người thành thực cởi mở cõi lòng với tôi. Tôi chỉ nhớ rằng qua những bức phúc thư, đối với mỗi người, tôi đều đề nghị hướng về một con đường chuyên biệt: như với Nam Cao, tôi đề nghị nên chuyên viết về những bạn trí thức nghèo, Tô Hoài về loài vật, Nguyễn Tất Thứ về các phong tục và đồng dao miền Trung, Lý Văn Sâm về những chuyện đường rừng Trung Nam, Phan Du về bọn quan lại đế kinh xuống dốc và các lề lối ăn chơi ở sông Hương núi Ngự, Nguyễn Văn Nhàn về đời giáo học ở tỉnh nhỏ, Nguyễn Duy Diễn về đời sống của người bịnh hoạn quanh năm, Kim Lân về các cách ăn chơi lọc lõi của các vị con quan thất thế, như đá gà, chọi trâu, chơi chó, chơi chữ, chơi cây, đấu kiệu… Tóm lại, tôi có ý muốn đề nghị với các anh em chú ý hướng về một đường đi riêng biệt, để cho mỗi anh em có một “dấu” độc đáo, dễ làm cho người viết văn nổi tiếng, cũng như ở Pháp nói đến văn kỳ ảo, bí mật thì phải kể đến Simenon, dâm thư viết thực mê ly có Pierre Louys, mà nói về bọn anh chị có Francis Carco chẳng hạn…

Hầu hết các anh em thỉnh thoảng lại về trụ sở “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” để hội với nhau, mỗi khi có việc quan trọng như ra số Tết, hay ra số đặc biệt; nhưng vì bịnh tim nên ông Long ít khi thù tiếp được. Đại diện có Nguyễn Khánh Đàm (em Nguyễn Tuân), Trần Kim Dần, phụ trách trị sự những tờ báo của nhà Tân Dân và coi về nhà in, cùng tôi, đưa các bạn ấy đi ăn, đi hát hay đi hút. Vì ít trực tiếp giao thiệp với ông Long; nhiều anh em không hiểu ông và tưởng ông là một ông lái sách. Thực ra, ông là một người cần mẫn, có tài, có học và có nhiều kinh nghiệm về nghề làm báo. Tôi học được ông rất nhiều trong tám, chín năm hợp tác.

“Truyền Bá” đóng cửa lúc Nhật Bản đánh Pháp cùng với “Phổ Thông Bán Nguyệt San”. Nhà in Tân Dân dọn về Mục Xá (Hà Đông) tức là quê ông Vũ Đình Long. Cọc cạch chỉ còn lại “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” ra khổ 45x30, nghiêng về chánh trị, rồi lại ra khổ 7,5x11 chuyên về nghiên cứu văn học, nhưng trong suốt thời gian Nhật thuộc, “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” không còn cách nào sống lại được những buổi huy hoàng khi trước nữa.

Sở dĩ như vậy, một phần lớn là vì đa số anh em văn nghệ trong nhóm Tân Dân xếp bút nghiên theo kháng chiến. Thực ra không phải đến lúc đó anh em mới theo kháng chiến; ngay từ hồi Nhật tới, Pétain lên cầm quyền ở Pháp thì nhiều anh em trong nhóm đã bí mật hoạt động rồi, nhưng vẫn viết bài thường trực. Phải chờ đến lúc Pháp tiến vào thủ đô, dân ta tiêu thổ kháng chiến, lúc ấy anh em mới ra bưng thật sự. Trong khi đó, hầu hết dân chúng Hà Nội và các tỉnh cũng như các thành phố lớn cũng đi theo kháng chiến, không ai buồn đọc báo, thành ra làng báo có vẻ hoang vắng, xác xơ, buồn nản. Ngoài những người ra đi, các nhà văn nhà báo còn ở lại khoanh tay nhìn thời cuộc, thay vì viết văn viết báo, hoặc cạo trọc đầu nằm đọc truyện kiếm hiệp Tàu ở tỉnh nhỏ như Lãng Nhân Phùng Tất Đắc.

Ông Vũ Đình Long, tuy không nói ra lời, nhưng cũng ở trong tâm cảnh ấy. Thêm nữa, từ lúc này bịnh tim làm cho ông nhọc mệt hơn bao giờ, nên ông chỉ làm báo cầm chừng, và thừa lúc ở Mục Xá, ông nghỉ ngơi nhiều hơn làm việc, và mỗi khi tôi về thăm, ông sung sướng vô cùng, trịnh trọng làm một cử chỉ hiếm có: mở rượu sâm banh ra, để cùng nói chuyện về tình hình đất nước, mà cũng là để tiễn đưa một thời gian làm báo vàng son.

Thôi, từ đây không còn những ngày dài tháng rộng tương đối được viết lách và xuất bản tự do: Nhật đến, chế độ kiểm duyệt được lập ra ngay dưới quyền điều khiển của một người Cao Ly theo Nhật. Nhà báo bị hiến binh nửa đêm đến bắt có hàng trăm, hàng ngàn. Dân chúng sống trong sự hãi hùng rùng rợn. Cùng lúc đó, Việt Minh nổi lên hoạt động ngay trong lòng địch, đánh thức dậy lòng uất hận đối với cả “Pháp thực dân” và “Nhật phát xít”. Kết luận: văn chương lùi xuống hàng thứ yếu, người nào cũng thấy bừng lên trong lòng ngọn lửa thiêng chống xâm lăng và muốn xông ra tiền tuyến. Cố nhiên, ở vào một giai đoạn như thế, làm báo văn nghệ không thể nào sống được. Người ta chỉ muốn tìm đọc những tờ báo nói lên uất hận và nguyện vọng của người dân, những tờ báo gào thét lên những tội lỗi tầy đình của thực dân và phát xít, nhưng ai dám nói?

Chỉ nói bóng nói gió một chút thôi cũng đủ làm cho những kẻ thống trị bắt giữ, cho đi tù đày hay đánh đập cho đến chết và đóng cửa báo liền. Báo bí mật của kháng chiến được hinh hương như sấm truyền. Những người không có gan đọc báo lậu, đành trùm chăn, tìm những tờ báo khảo cứu, sưu tầm để đọc tiêu sầu và cũng muốn nhân lúc quốc gia đa sự, học hỏi thêm để mở mang trí óc. Tờ “Tri Tân” của ông Nguyễn Tường Phượng, có nhiều nhà văn lớp cũ hợp tác như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Triệu, Nguyễn Quang Oánh nhờ đó cứ sống dai dẳng mãi. Tờ “Thanh Nghị” của nhóm Đặng Thai Mai, Đinh Gia Trinh cũng được nhiều người lưu ý, nhưng trội hơn hết trong thời gian này là tờ “Trung Bắc Chủ Nhật” của Nguyễn Doãn Vượng.

HOÀNG KIM THƯ st.


CỦA TÌM NGƯỜI

(chuyện cổ tích)

Ngày xưa có một gia đình ông bà không có con, mà có tiền bạc tài sản, tại số nghiệp của hai người không được hưởng, thường khi ăn món ngon vật lạ thường bị “Tào Tháo rượt”, chỉ ăn cần, ở kiệm thì khỏe mạnh. Một hôm bà bàn với ông: Vợ chồng mình có tài sản mà không được hưởng, còn đem cho, kẻ có, người không thêm mích lòng. Tôi bàn với ông như thế này, bạc vàng mình thả trôi sông ai nhận được thì người đó hưởng.

Ông đồng ý với bà, ông mới lấy khúc dong đục một lỗ để vàng bạc vào thả trôi sông ai nhận được của người đó.
Có nhà anh thợ rèn ở ven sông thường ngày anh hay vớt cây củi trôi để phụ lò. Một hôm anh vớt khúc dong bỏ nơi sân. Đến lúc khô anh bổ ra gặp vàng bạc anh nói với vợ muốn trả lại cho chủ, nhưng biết ai đâu mà trả.

Một hôm có hai ông bà đi khất thực đến nhà anh dừng chân nghỉ mới tâm tình cho anh nghe: cuộc sống của vợ chồng tôi không phải đê tiện nhưng số phần không hưởng được tài sản. Tôi có của ăn không được nên đem thả trôi sông ai nhận được thì hưởng, anh nghe ông bà thuật lại đem lòng yêu thương, có ý định muốn nuôi ông bà trọn đời như cha mẹ ruột, ông nói số vợ chồng tôi trời đã định, định sao chịu vậy không cãi lại được số trời.

Anh chị nói ông bà không ở lâu được xin ở lại với con một hôm. Anh chị bàn tính mình nhận vàng là của ông bà, trả lại để ông bà độ thân, mình gói bánh để vàng bên trong ông bà ăn gặp vàng, bán độ nhựt. Trong đêm vợ anh gói bánh ú có vàng bên trong. Sáng ra anh chị lo hành lý, tiễn ông bà lên đường chúc thượng lộ bình an.

Ông bà đi được một khoảng đường, gặp chị bán trầu cau, tôi muốn ăn trầu mà không có tiền, chị làm ơn đổi bánh ú cho tôi lấy trầu.
Sự thật lòng chị muốn tặng trầu cho ông bà, nhưng bà bảo đem về cho con ăn, tôi ăn chẳng đặng để nó thiu bỏ uổng.

Chị đi về đến nhà anh thợ rèn định mua dao, mới ngồi thuật lại gặp ông bà xin đổi bánh lấy trầu, đem về con ăn, tôi đâu có con, anh lấy đi cho mấy đứa nhỏ ăn. Còn chị dùng mấy con dao cũng được.

Kết luận: Của tìm người, người không giữ của được.

PHƯỚC HẢI st.
Mạnh Thu, Đinh Dậu 2017


VỀ QUÊ ĂN TẾT

Càng sát đến tết, ông Khôi càng mong ngóng. Hầu như mỗi lần được vợ đẩy xe lăn ra ngoài sân tắm nắng hay hóng mát, ông đều hướng mắt tận xa xăm. Chẳng cần hỏi, bà Khôi cũng hiểu bởi tâm trạng bà cũng y như chồng nhưng bà không dám nói ra, sợ ông thêm suy nghĩ.

Có buồn vui gì, bà Khôi chỉ biết tâm sự với cô con dâu hụt, mỗi khi đi ngang quán tạp hóa của Thảo. Cô gái đẹp nết đẹp người lại siêng năng, hiếu nghĩa, khiến bà tiếc mãi khi con trai chọn người khác làm vợ. Nếu không có Thảo, bà Khôi chẳng có ai hàn huyên, bởi quanh đây không có họ hàng nào. Các con bà từ lâu cũng đã lên thành phố sống.

Diệp ở nhà chồng, sinh liền ba năm hai đứa con, ít về quê, bà Khôi không trách, cho đó là lẽ đương nhiên, “con gái là con người ta”. Nhưng Phúc ở nhà vợ, ít về, bà cũng không trách, cũng cho đó là… lẽ đương nhiên.

Nhớ con, bà chỉ ngậm ngùi rồi tự trách mình không lo được như người ta. Các con bà vào đời, phải tự thân tự lực kiếm sống, trải không ít gian nan mới vươn lên được như hôm nay. Bà âm thầm đem tình thương bù đắp “thiếu sót” ấy. Nhưng chỉ thương thôi chưa đủ, dường như người ta sống ngoài tình thương còn cần vô vàn điều khác nữa.

Từ ngày các con rời quê, ông bà thường đón tết cô đơn, thiếu vắng. Vắng con cháu chứ không thiếu tiền bạc. Các con khấm khá, gửi tiền về dư giả, mà ông bà cũng có cần mua sắm gì nhiều đâu. Nhất là hai năm nay ông Khôi bị tai biến mạch máu, thì bữa cơm ngày tết càng đơn giản. Nhu cầu ăn mặc, vui chơi của người già gần như không có.

Với người trẻ thì trái lại. Dư ăn thừa mặc rồi thì đi đó đi đây, những chuyến du lịch gần hay xa cũng kéo dài đến hết những ngày Xuân, như để bù cho quanh năm cắm mặt kiếm tiền. Ông bà Khôi cảm thấy vui khi nghĩ: giai đoạn bao cấp nghèo khó tiếp theo thời chiến tranh gian khổ của mình giờ đã được đền bù cho con cháu.

Tuy thế, nhớ đến đứa cháu ngoại thứ hai đã hơn một tuổi mà chưa gặp mặt, ông bà sao khỏi chạnh lòng? Diệp giải thích con bé yếu phổi, viêm đường hô hấp luôn nên chồng cô không cho đi xa. Con rể rất gia trưởng, con gái chẳng dám làm sai ý chồng bao giờ, ông bà cũng hiểu. Tính Diệp nhu nhược, trái ngược với chị dâu chỉ thích nắm quyền chỉ huy chồng.

Chưa năm nào vợ Phúc đồng ý cho con về ăn tết với bên nội cả. Luôn luôn là một ngày gần tết, Phúc khi đi một mình, khi chở theo con, đem về quê xấp tiền cùng vài túi quà, rồi ngồi chưa bao lâu đã vội vã quay về, sợ trời tối đường xa nguy hiểm.

Có lần nghe vợ hàm ý trách móc sui gia ích kỷ (vợ chồng Phúc “trẻ người non dạ” thì người lớn phải biết nhắc nhở chứ. Thế nào là “nó lú, có chú nó khôn”?), ông Khôi đã an ủi:
- Tết ở quê sao bằng Tết thành phố? Tội nghiệp, các con vất vả quanh năm, chỉ có mấy ngày tết để vui chơi, bà ạ…

Bà Khôi thấy chồng nói cũng phải: từ lâu, chúng quen sống nhà cao cửa rộng rồi nên chẳng mặn mà với căn nhà lá chật chội ở vùng quê còn nghèo này, là nơi chúng đã từng ngày lớn lên. Lâu dần cũng quen đi, bà không còn cho thế là bất công hay vô lý nữa.

Nhưng đó là lúc ông Khôi còn khỏe mạnh kia, khi căn bệnh dai dẳng chưa làm tinh thần ông sa sút. Dù ngày ngày kiên trì với thuốc thang chữa trị, cả tập vật lý trị liệu rồi châm cứu đến bấm huyệt… ông vẫn lệ thuộc vào vợ và chiếc xe lăn. Bà Khôi hiểu, từ lâu, khát khao cháy bỏng của ông là có thể đứng lên khỏi xe lăn, dù chỉ một lần hay một phút. Có buông bỏ được nó, ông Khôi mới buông bỏ mặc cảm phế nhân đang hành hạ ông suy sụp, đau khổ. Vẫn biết bà là nguồn an ủi lớn, nhưng là động lực cần chứ chưa đủ nâng đỡ ông thoát tâm trạng u uất ấy. Còn thiếu bàn tay con cháu san lấp hố sâu trống trải trong lòng ông.

Đã 23… rồi 25 tháng Chạp… vẫn chưa có tín hiệu nào cho thấy Diệp và Phúc sẽ về cả.

Bà Khôi chẳng tha thiết mua sắm gì. Lớn tuổi không ăn uống nhiều, các món khoái khẩu trước kia giờ chỉ sinh đầy hơi chướng bụng, nhìn thôi đã ngán ngẩm nên tết cũng giống ngày thường, bà bày vẽ nấu nướng làm chi, chăm sóc ông đủ mệt mỏi lắm rồi.

Nỗi niềm ấy của ông bà, chỉ mình Thảo thấu hiểu vì cô luôn là người đầu tiên và duy nhất được bà Khôi tin cậy, tỉ tê.

Đã một lần, khi nghe kể về Phúc, Thảo vô ý bật ra một phê phán thì bà Khôi phật lòng, phản bác ngay, trách cô đặt bà và vợ Phúc lên hai dĩa của một chiếc cân thế là “khập khiễng lắm”! Đã có gì sai nếu Phúc nghiêng về vợ? Thiên hạ vô số đấy! Bởi muốn cưới được vợ, anh con trai phải tốn hao bao nhiêu tiền bạc lẫn thời gian để ve vãn, mua chuộc, giành giật từ các tình địch khác. Cưới rồi đâu đã xong chuyện: để cung phụng và giữ vợ, lại phải tiếp tục hao tâm tổn sức nhiều hơn… Trong khi mẹ thì ngay phút đầu đời đã thấy! Con chẳng cần mảy may khó nhọc gì, mẹ vẫn có sẵn đấy, vẫn hiện hữu và có thể còn hiện hữu rất lâu!

Thảo không rõ đó là những lời gan ruột hay chỉ phát tiết từ phút dỗi hờn của một bà mẹ? Cô đã ngồi lặng, không biết nói sao, lòng ngổn ngang cảm xúc thương - trách - giận - buồn...

* * *

Bất ngờ, bà Khôi trúng vé số cặp. Gọi bất ngờ là vì hiếm khi bà mua vé số. Bà không tin cũng không thích trò chơi may rủi ấy. Hai tuần trước chỉ vì thương đứa nhỏ cứ bám theo chìa tập vé mời mãi, bà mua cho nó vài tờ. Mua xong quên luôn, mới đây mới nhớ ra nhờ Thảo dò kết quả giùm. Ai dè lại trúng, giá trị nhỏ thôi nhưng đủ làm bà vui lắm, cho là vận may đã khởi đầu, từ nay không gặp buồn phiền, xui xẻo nữa.

Có đúng vận may khởi đầu thật không mà ban ngày bà Khôi nhờ Thảo chở đi lãnh tiền thì ngay tối đó, Phúc rồi Diệp cùng lần lượt gọi điện về, bảo chiều 30 sẽ đưa gia đình về quê ăn tết.

Hạnh phúc và bất ngờ, hai ông bà vui đến mất ngủ. Sáng ra, bà Khôi tất tả đi chợ thật sớm, è ạch khuân về bao nhiêu thứ. Ông Khôi đã nhắc bà nhiều món ngày trước các con rất thích. Chẳng cần ai nhắc thì bà vẫn nhớ, làm sao quên?

Nhìn ông Khôi mới tội chứ, như trẻ con, như thành một người nào khác: mắt lấp lánh, da hồng hào, cười lớn, nói nhiều, khỏe ra thấy rõ… Ông lăn xe đuổi theo bà xuống bếp rồi ra sân, nhìn việc gì cũng muốn xun xoe được làm giúp. Nhiều việc quá! Ờ, 29 tết nhà nào chẳng nhiều việc? Lâu lâu được dịp vất vả (và được nhìn người khác vất vả) coi bộ cũng rất hứng thú. Chẳng hứng thú sao mặt ông bà tươi thế kia?

Bà Khôi dự định làm nhiều món lắm, phải nhờ Thảo đến giúp một tay. Ngoài gói mươi đòn bánh tét, bà làm thêm giò thủ, nem chua. Rồi chuẩn bị nướng gà, quay vịt… Rồi món trộn, món hầm... Rồi xôi rồi chè… ê hề. Thảo can nên giảm bớt lại, ông bà cùng gạt phắt. Bà còn vui vẻ tự nhận tính bà thế, “mắt to hơn bụng, chưa ăn đã lo thiếu”. Như thể bà bỏ đói con cháu lâu ngày, giờ phải “bù” lại. Hay bà muốn chúng không hối tiếc đã chọn về ăn tết với bà?

Ra ngoài sân thấy ông Khôi cặm cụi nhiều giờ chỉ để uốn đi buộc lại bốn chậu cúc Hà Lan mới mua, rồi vào bếp nhìn bà Khôi mặt ửng đỏ, mồ hôi ướt lưng áo, Thảo ái ngại quá. Cô băn khoăn không hiểu mình đúng hay sai?

Chiều 30, vợ chồng Phúc đưa con về trước. Vợ chồng Diệp về muộn hơn, lúc đã nhá nhem tối.

Ông bà Khôi tíu tít nắm tay từng đứa con, ôm hôn từng đứa cháu.

Ông ân cần hỏi đi xa có nhức đầu, có say xe, có mệt lắm không? Bà rối rít giục tắm rửa, thay quần áo. Ông bà rất quan tâm việc các con dự định ở lại bao lâu?
- Chừng nào ba má chán, vác chổi chà đuổi thì tụi con mới đi!
Con nói đùa, sao lòng ông bà vẫn gờn gợn, nao nao?
Bữa cơm tất niên thịnh soạn dọn ra, nhìn thôi đã thấy ngon. Phúc cười:
- Má mới trúng số, hèn chi ăn tết lớn, héng?
Vợ Phúc nhanh nhảu tiếp ngay:
- Má có nhiều tiền, nhớ chia cho tụi con đó.
Bà Khôi cười theo:
- Ba má có tiền thì chia cho các con chứ giữ lại làm chi?
Ông Khôi cũng gật gù cười.
Ai nấy đều hể hả. Ai nấy đều mãn nguyện.

* * *
Mồng 4 tết.

Không khí mấy ngày vừa qua hòa thuận, vui vẻ bao nhiêu thì hôm nay nặng nề bấy nhiêu. Con trai quạu cọ. Con dâu sưng sỉa. Con rể nhếch mép châm biếm. Con gái nửa thất vọng nửa dỗi hờn.

Bà Khôi áy náy quá, không hiểu đã vô tình làm gì phật lòng chúng? Ngờ vực chi, tức giận gì mà đang yên đang lành tự nhiên đùng đùng kéo nhau đòi về hết?

Thầm xét lại, bà Khôi thấy mình đối xử với đứa nào cũng công bằng, không phân biệt. Bà cũng chẳng giấu giếm gì, từ chuyện lặt vặt như nhờ Thảo đến phụ gói bánh tét, nhờ Thảo chở đi đổi mấy tờ vé số nhận món tiền chưa đủ mua mấy chậu cúc Hà Lan…

Hay con dâu ghen tuông vì thấy bà thân thiết với Thảo?
Vậy còn vợ chồng Diệp, thì lý do gì?
Bà Khôi loáng thoáng nghe vợ Phúc đay nghiến chồng:
- Vậy mà khoe… Hừ, lần sau đừng hòng tôi về đây nữa!… Cứ tưởng…
Và Phúc trả lời câu gì đó không rõ, mặt hậm hực.
Chạy ngang quán tạp hóa của Thảo lúc ấy đang mở cửa, Phúc ngừng xe lại, bỏ vợ con chờ ngoài đường, hùng hổ tiến vào quán.
Anh ta nhìn Thảo, hầm hầm hoạch họe:
- Cô âm mưu gì mà gạt tôi về đây, hả?... Điên!... Tâm thần!...

Thảo đứng lặng, mở to mắt nhìn người con trai có một thời rất yêu cô và cô rất yêu, yêu đến đã tính cưới nhau nếu Phúc không lên thành phố làm rồi ở lại luôn. Người yêu một thời ấy đang mắng mỏ cô tội gạt cho anh ta về quê ăn tết. Khiến mấy ngày rồi, anh ta phải miễn cưỡng chịu đựng, mệt mỏi vô ích. Cô làm anh ta xấu hổ với vợ một cách oan uổng…

Mặt đỏ bừng, Phúc nói luôn một hơi nhưng Thảo có còn nghe rõ đâu. Đầu óc cô ong ong, lỗ tai lùng bùng sau khi anh ta mỉa:
- Hiểu rồi!… Cô nhớ tôi nên dựng chuyện gạt cho tôi về…

Thảo có dựng chuyện gạt Phúc không? Bảo “có” cũng đúng, vì chính cô gọi điện, khéo léo nói với Phúc: ông bà Khôi mới trúng số cặp, giải đặc biệt. Bảo “không” cũng đúng vì Thảo không hề dựng chuyện. Cô chỉ lặp lại nguyên văn phần cuối lời bà Khôi:
- Thảo ơi, sáng nay bác trai bỏ xe lăn, một mình tự níu cửa sổ run rẩy đứng lên được rồi… Bác mừng quá, mừng chảy nước mắt… Như hai bác vừa trúng số cặp giải đặc biệt…

Lòng Thảo lại trĩu nặng nỗi niềm thương - giận đan xen. Thương ai giận ai, không rõ ràng. Nhưng cô biết chắc chắn một điều: con người bất nhân bất nghĩa ấy, cô tiếc nhớ làm chi?

GIÁNG NGỌC




Phụ Bản IV



MỘT CHUYẾN DU LỊCH SINGAPORE

Ra khỏi sân bay quấc tế Changi Singapore, trên đường về trung tâm Singapore, xe chở đoàn du lịch đi tham quan, hướng dẫn viên giới thiệu cây thông minh trồng hai bên đường. Thế rồi tới một đoạn dài không có cây đó nữa. Thay vô đó là cây, bông trang trí. Hướng dẫn viên nói rằng đó là đoạn mà ông Lý Quang Diệu dự kiến làm đường bay khi có chiến tranh. Cây hai bên đường chỉ dọn một hai ngày là xong. Nhưng sáng kiến này có lẽ phải nói là của ông Ngô Đình Diệm khi làm xa lộ Biên Hòa hồi cuối thập niên 50 đầu thập niên 60. Kế hoạch nầy bị phá vỡ khi ông Nguyễn Văn Thiệu thi hành chánh sách người cày có ruộng, nhóm kiêu phế binh đưa ra khẩu hiệu phế binh có nhà dù ông Thiệu đã cho xây một khu nhà ở Tân Quy nay là Quận 7 cho phế binh nhưng họ chê xa. Họ giành cả sân của nhà có sân rộng nữa. Nhà tôi cũng bị chiếm sân, phải viện mấy anh em quân đội tới đuổi mới được.

Singapore nước hẹp nên cảnh quan thiên nhiên đẹp không nghe nói tới. Họ tạo ra cảnh quan nhơn tạo cho khách du lịch tham quan như vườn siêu cây chẳng hạn. Đó là những trụ xi măng khổng lồ cao từ 25 tới 30 thước. Họ bố trí những cây nhỏ treo xung quanh với hệ thống nước tự cung cấp cho cây sống. Với mười tám siêu cây họ bố trí thành cảnh quan đẹp mắt. Chỗ nầy là hồ, chỗ kia là suối có cầu bắc qua… Đi dọc theo các bờ suối và khắp nơi trong vườn siêu cây tôi không thấy một miếng rác nào. Những con đường lớn ở thành phố Sing thì không có chỗ nào cho băng qua cả. Tốc độ xe ở thành phố cho chạy tới 100 cây số một giờ. Muốn băng qua lộ thì phải xuống hầm. Dưới hầm là khu buôn bán rất rộng. Có lẽ vì mới đi lần đầu nên qua rồi muốn trở lại để qua đường trở lại tôi phải hỏi mới tới được.

Đường phố ở Sing thật hiếm thấy rác. Đi ba ngày ở Sing, tôi chỉ thấy một lần có một hai bịt ni lông ở hai gốc cây xa nhau mà thôi.

Việc hút thuốc trên đường hay bất cứ ở đâu cũng bị cấm. Họ chỉ được hút thuốc ở gần một thùng rác nhưng sạch sẽ. Hút xong thì bỏ đuôi thuốc vô thùng rác rồi đi. Nếu hút thuốc hay bỏ chỗ khác đều bị phạt cả. Họ phạt cả việc nhổ nước miếng ngoài đường. Tôi có tật khạc nhổ nhưng nhịn riết thì cũng quen. Quá lắm thì nhổ vô khăn giấy rồi bỏ vô thùng rác là xong. Camera ở đường phố thì họ đặt khắp nơi. Cứ khoảng 20 thước một cái. Có nơi có một chùm camera quay ra bốn mặt nữa. Thấy ở ngoài đường tôi mới lờ mờ nhớ đến ở phòng ngủ của tôi ở khách sạn cũng có nhiều camera. Sau TV một cái, đầu giường ngủ đôi có hai cái hai bên đầu nằm đặt châu vô nhau. Có lẽ còn một cái nữa ở đâu đó để quay khái quát trong phòng cũng nên. Có người nói rằng những cái trong phòng không phải camera. Tôi không biết.

Đi tham quan khắp nơi trong ba ngày tôi không bị ai chèo kéo phải mua gì cả. Sao họ làm được việc nầy hả? Có phải chăng nhờ giáo dục. Dân ý thức được rằng không được làm điều gì tạo hình ảnh xấu làm mất sĩ diện của quấc gia dân tộc. Hay nhờ các quan có phong cách gương mẫu. Thời Đông châu liệt quấc, một năm nước Tấn mất mùa, trộm nổi lên khắp nơi. Quan nguyên soái Tuân Lâm Phủ dùng Khước Ung là người có tài bắt trộm. Mỗi ngày ông bắt được mấy chục tên. Một hôm Khước Ung đang đi… bị mấy chục tên vây đánh chết. Tấn Cảnh Công mời Dương Thạch Chức tới vấn kế. Chức nói là xin chúa công trọng kẻ thiện nhân trong triều, kẻ bất thiện thấy mà sửa ắt hết. Vua dùng Sĩ Hội là người Tín, Nghĩa, Liêm, Trực thay Tuân Lâm Phủ. Sĩ Hội bỏ hết những khoa điều bắt trộm. Ông chỉ khuyên dân làm điều thiện mà thôi. Nạn trộm hết và nước Tấn cường thịnh lên.

Việc giáo dục có lẽ không phải nói mà người ta làm theo mà phải giáo dục bằng cả tấm lòng, thái độ và hành động nữa đó.

Khánh Hội-Quận 4, Saigòn ngày 22-7-2017
PHẠM HIẾU NGHĨA


Điểm sách

Vài nét về phong tục Việt Nam

Đây là nghiên cứu và sưu tầm của tác giả Phạm Hiếu Nghĩa (Nhựt Thanh) thành viên của CLB Sách Xưa và Nay do NXB Hội nhà Văn xuất bản tháng 12/2017.

Sách dày 304 trang gồm có 6 phần:
- Mở đầu là Việt Nam phong tục luận
- Phần 1: Gia Đình
- Phần 2: Xã hội
- Phần 3: Thờ và Cúng
- Phần 4: Nghĩa vụ đối với phong tục và thuần phong mỹ tục
- Cuối cùng là Phụ lục

Như trong lời nói đầu tác giả muốn nói đến người Việt Nam với những ý hướng hay, những tập tục tốt đang tồn tại trong cuộc sống của cộng đồng. Phong tục cứ lần lần thích nghi với cuộc sống của xã hội… theo cái mới ở thành thị nhưng vẫn giữ cái cũ ở nông thôn. Có khi cái cũ vẫn tốt nhưng vì ít người theo, lần lần nó trở thành lố bịch cũng bị bỏ đi…

Xin giới thiệu đến các thành viên CLB và những người yêu sách, yêu những phong tục của dân tộc Việt Nam.

HÀ MẠNH ĐOÀN



CHỊ ĐỒNG

Chị có khuôn mặt đầy góc cạnh. Mới nhìn rõ ràng là không dễ cảm tình, thậm chí còn có cảm giác e dè chờn chợn. Không chỉ là gương mặt, tính cách chị cũng khá ngược ngạo với góc nhìn vốn mặc nhiên dành cho nữ phái. Đồng cũng không phải là tên thật của chị, mà từ câu ám chỉ “lạnh như đồng” của một số người gán đặt. Nói một cách khác, chị như một người đàn ông nấp trong cơ thể một phụ nữ. Có một điều thật vô lý, trong con mắt tự nhiên thì cứ như mọi sự trái khoáy của chị là một lỗi lệch, thậm chí là lố bịch. Họ thường cười cợt đàm tiếu sau lưng về những hành vi hay một số chi tiết ngoại hình của chị. Mặc dù, nói một cách công bằng, những điều đó chẳng ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân của bất kỳ ai. Hầu như chẳng ai nghĩ rằng, con người không được phép lựa chọn những yếu tố quan thiết cho cá nhân mình khi ra đời. Tất cả mọi liên quan đều được hình thành từ đâu đó mang tên Tạo Hóa. Vì vậy mà dù không muốn, mỗi con người đều phải tồn tại giữa cuộc đời này bằng một hiện trạng không thể thay thế được. Và dù với bất kỳ hình thể cùng tính cách thế nào, thì mỗi người đều hội đủ những yếu tố hay dở, dại khôn, xấu đẹp. Nhưng người ta luôn hành xử bằng một cảm quan sơ khởi và đơn thuần, bằng vào thang bậc mỹ cảm người ta có thể tùy nghi mà xét đoán mọi người qua lăng kính rộng hẹp của cá nhân. Tôi cũng đã từng như thế, hời hợt trong nhận định, nông nổi trong suy xét và cả hẹp hòi trong vị kỷ. Cuộc sống với những diễn biến bất kỳ của dở hay may rủi, lại là những điều kiện tối cần cho người ta nhận diện ra một phần từ mọi người và từ cả chính mình.

Đợt đi dự trại sáng tác lần này đoàn chúng tôi có 15 người. Hôm họp bàn các vấn đề cho chuyến đi, đến khâu bầu trưởng đoàn, không ai bảo ai, gần như đồng loạt đều giơ tay bầu chị. Chẳng phải họ tin tưởng gì vào một năng lực lãnh đạo tiềm ẩn trong chị, cũng chẳng phải họ yêu mến trọng vọng uy tín của chị vào một danh chức lâm thời ấy, bởi làm trưởng đoàn không có gì gọi là đặc ân hơn cả, chỉ mất thời gian và công sức cho những công việc vụn vặt mà ai làm cũng được, trong khi cùng một chế độ và quyền lợi như nhau, thì người phải bỏ công sức thời gian ra làm việc cộng đồng là người phải chịu ít nhất là một chút thiệt thòi. Đó là chưa kể, nếu có diễn biến gì bất lợi và hư hại, thì trưởng đoàn lại là người có nhiệm vụ giải quyết, khắc phục hay chịu trách nhiệm với tổ chức. Chính vì thế mà cái gánh giữa đàng được nghiễm nhiên choàng vào cổ chị. Chị không phản ứng, không từ chối, chỉ cười nhẹ. Tôi biết không phải chị ham hố gì cái chức danh ấy cả, chỉ là chị hiểu rõ mọi người nghĩ gì, và với bản chất gánh vác của nam tính, chị cũng mặc nhiên xem đó là nhiệm vụ vủa mình vậy. Thế rồi lên đường, cả đoàn hồ hởi lên đường. Hành lý chất vào cốp, nhét vào gầm ghế, vài cái cặp được hết sức nương nhẹ nép một bên mạn ghế. Đó là một thứ công cụ vô cùng tiện ích của thời đại, thứ công cụ không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực, nó đáp ứng khá tốt những nhu cầu thuộc giới văn phòng. Tôi cũng tò tò một cái như thế, và thật lúng túng không biết để nó vào vị trí nào cho an toàn. Bởi chỉ cần một cái cấn tay bất cẩn thì ôi thôi…
- Em treo nó vào đây này.

Cùng với câu nói thì cái cặp được nhấc bổng ra khỏi tay tôi, và nó thật ung dung khi được máng cái quai dài cột cẩn thận vào cổ tựa đầu của ghế trước mặt. Một vị trí hết sức thuận tiện và gần như an toàn tuyệt đối. Vì nó ngay trước mắt tôi, lúc nào cũng có thể kiểm soát được. Tôi nhìn chị với cái cười thiện cảm, và một chút hàm ơn.
- Chị ngồi đâu ạ?
Chị đảo mắt một vòng:
- Chị ngồi dưới kia.

Đó là băng ghế sau cùng, một vị trí có thể nói là bất thuận nhất trong xe. Ít khí thoáng, dễ bị nhồi mỗi khi xe vòng, lắc. Thường là băng ghế dành cho cánh đàn ông, vì họ giỏi chịu đựng hơn. Tôi vừa định nhích vào trong để chị ngồi cùng, thì tiếng Ánh Thư oai oái:
- Bà cầm cái này giùm tui cái, trời ơi, mệt chết đi được.

Cùng lúc cho hai động tác, chị quay ra đỡ cho Ánh Thư, một túi xách nhét vào gầm ghế, một túi xách nữa kê vào chỗ để chân, Ánh Thư thả phịch cái thân vào chỗ tôi vừa nhích, và chị quay người kéo theo hai túi hành lý khá to và nặng. Tôi chỉ kịp thoáng qua một câu hỏi “chị đem theo những gì mà nhiều thế?”. Kể ra băng cuối cũng có cái thuận lợi, là chỗ để hành lý tiện hơn. Vì nó không phải tránh một phần cho lối đi, nên vừa chỗ cho hai túi xách khá to của chị.
- Cái chị này bê cả nhà theo đấy à? Sao không bỏ bớt dưới cốp cho đỡ nặng?

Chị chỉ cười, không nói gì, chiếc máy ảnh lủng lẳng trước ngực cũng được máng lên lưng ghế trước như chiếc laptop của tôi sau khi chị kê gọn hành lý. Một số người cũng làm theo với những vật dụng cần bảo đảm an toàn cao. Rồi xe bắt đầu lăn bánh, mọi người râm ran chuyện nọ chuyện kia. Thực ra nhà nước có chế độ ưu đãi cho anh em giới văn nghệ sĩ chúng tôi là rất hay, rất đúng, rất có ý nghĩa. Bởi một lẽ hết sức thực tế là, muốn có được những tác phẩm tốt thì phải có sự tích lũy kiến thức nhiều mảng, phải tiếp xúc sâu rộng với đời sống con người đây đó, phải có những ý tưởng và cảm xúc mới, đủ nồng độ để thổi bùng lên một nguồn hứng khởi thăng hoa. Nếu cứ quanh quẩn hoài một góc xóm địa cư quen thuộc, thì mọi ngóc ngách tâm tưởng sẽ bị cùn mòn đi, lấy gì để làm nên tác phẩm. Mà để đến được nơi này nơi khác, thì điều kiện kinh tế là then chốt, “không tiền lấy gì mà tiến”, mà phần lớn những người làm nghệ thuật là những người rất kém khả năng làm kinh tế, không chỉ sự đối lập triệt để giữa các mặt lợi ích của tinh thần và vật chất, mà còn là sự hữu hạn của mỗi bản thân, ai cũng chỉ có một sự tập trung cao nhất cho một lĩnh vực chính, người năng động lắm thì kèm thêm được một vài lĩnh vực phụ, nhưng cũng chỉ là phù trợ thêm cho mặt chính thôi. Còn thì có dồn tâm sức cho một công việc nhất định mới có thể đạt được một thành quả tương đối. Chính vì vậy mà nếu không nhận được sự hỗ trợ tạo điều kiện từ ngân sách nhà nước, thì dám chắc một con số đáng kể trong lĩnh vực nghệ thuật đành ngậm ngùi từ tạ niềm đam mê của mình để mà xoay xỏa với bao nhu cầu đời sống. Cho dù mặt trái của vấn đề là một sự tiêu phí cho một số ý nghĩ “tiền chùa không tiêu cũng thiệt, cho thì cứ hưởng đi đã còn trả thì tính sau… ai bắt…”. Đại loại là những ý niệm đầy tính cơ hội và thụ hưởng, mà không một chút lăn tăn xem mình có xứng với điều được nhận ấy không. Vì vậy mà vô hình chung, một hành xử mang tính tương quan của một tổ chức đầu ngành, nói rộng hơn là của xã hội, lại rơi một thành phần ỷ lại, và tùy tiện trong suy xét mà thành ra phí phạm. Với quan điểm của tôi, khi nhận của ai bất cứ một chút gì dù nhỏ, cũng phải tự hỏi mình có nên không? Có xứng đáng không và phải làm gì để đáp lại? Cho dù với tính chất công việc của mình đúng là có đóng góp một phần nhỏ bé vào cuộc sống chung này, nhưng ai trên đời mà chẳng thế, ngoại trừ những kẻ vô lương hay bạc nhược hay hết sức ỷ lại thì mới không đem sức mình để hòa chung vào công cuộc mà thôi. Nhưng dù có thế nào thì sự đóng góp của mỗi người trước tiên vẫn bắt nguồn từ chính khát vọng của bản thân. Những gì bạn làm được, trước hết thuộc về bạn, bạn làm cho chính nhu cầu của bạn, bạn phục vụ cho bạn và người thân của bạn trước khi chia sẻ cho cộng đồng. Nên không thể tự thị rằng mình đã tài cán lắm lắm, đã nghiễm nhiên mà thụ hưởng cái được mà sự ưu ái của cuộc đời dành tặng. Chỉ có điều, ý niệm của mình thì củng cố cho hành động của mình, Với một số đồng tình thì chẳng cần phải nói, vì đó là ý thức tự nhiên rồi, còn ngược lại thì chỉ tổ nghịch tai, lại sau lưng dè bỉu, rằng thế này thế khác. Trò đời là thế mà, người ta hay bao biện cho những sai trái của mình bằng cách mỉa mai sự đúng đắn của người.

Xe đã khá xa thành phố, cảnh vật hai bên đường cuốn hút tầm mắt. Trời nắng đẹp, trước hôm đi ít ngày thấy đài báo áp thấp đã lo lo. Giờ thì vô tư rồi. Thật là… ọ…ọ… Có ai có cái túi nào không?

Tâm Liên một tay bưng miệng, một tay quờ quanh, Nhân Vỹ vừa né người vừa la to lên. Ngay lập tức có mấy cái túi chuồi vào tay Tâm Liên. Cô co người rút cổ một hồi thì mặt mũi tèm lem. Chị Đồng đã có mặt với một cái khăn ướt, và một hộp nhựa đựng thứ gì đó. Lau mặt xong, Tâm Liên thở dốc mệt nhọc. Chị Đồng mở nắp hộp lấy cái thứ trong ấy ra:
- Em ngậm gừng ướp đi này, ngậm lâu lâu rồi nhai từ từ cho thấm. Em ngồi thẳng, nhắm mắt hít thở sâu vài lượt, sẽ thấy đỡ ngay. Ối ai bôi dầu gió xanh đấy? Cất ngay đi. Cái mùi ấy làm ao cả xe bây giờ. Có ai khó chịu thì ngậm gừng đây này.
- Cho tôi một ít… tôi nữa… em với chị… đây nữa…

Tôi cũng giơ tay đón lấy mấy lát gừng tươi thái mỏng ướp với đường và muối. Cái hộp chưa hết vòng thì đã nhẵn. Chị Đồng về chỗ mở túi xách lấy ra một hộp khác.
- Sao chị làm nhiều thế? Chị cũng say xe à?
- Không, tôi làm cho mọi người đấy chứ, tôi có say xe bao giờ đâu.
- Hoan hô trưởng đoàn. Cái món này đúng là hết ý. Chị làm thế nào chỉ cho bọn em với.
- Có gì khó đâu. Gừng tươi cạo vỏ rửa sạch, thái từng lát mỏng, rồi cứ một lát gừng là một ít muối một ít đường rắc lên, chỉ cần làm trước một ngày là dùng được rồi. Nhưng chữa say xe thì không chỉ thế này đâu. Các bạn nên củng cố tâm lý bằng cách nói chuyện, nghĩ đến những chuyện vui cười cho tinh thần phấn chấn, đừng cứ chưa bước lên xe đã ám ảnh thì kiểu gì cũng bị. Nếu có muốn dùng dầu thì nên dùng loại dầu gừng, nó thoảng mùi thôi, và có chất ấm nữa, đừng dùng dầu gió xanh, mùi nó gắt quá, lại kín gió thì gây khó chịu nhiều hơn. À, bác tài ơi, thôi tắt máy lạnh mở cửa sổ đón gió trời cho thoáng đi.
- Thôi đừng, bụi lắm.
- Phải đấy, cứ máy lạnh hại cho hô hấp lắm thôi. Ở nhà đã úm phòng máy lạnh mãi rồi.

Yêu cầu được đáp ứng ngay, lời phản đối đơn lẻ lọt thỏm, một không khí nhẹ nhõm theo luồng gió ùa vào xe. Ai cũng cảm thấy khỏe hẳn ra. Đúng là nguồn sống thiên nhiên là một thứ năng lượng tuyệt bích, vậy mà con người ngày nay dường như ngày càng ít biết cách tận hưởng. Cứ chúi mũi vào những thứ thiết bị hiện đại cho có vẻ đẳng cấp, mà không biết đã tự tước đi của bản thân bao điều thú vị và đáng quý khác. Nhưng cảm nhận được thế nào là giá trị thì còn phụ thuộc vào quan điểm sống của mỗi người. Trong xu hướng cuộc sống ngày càng vật chất hóa, bản năng hóa, thì giá trị đời sống tinh thần ngày càng khô cạn và nghèo nàn là điều mặc nhiên của dòng chảy.
- Biển kìa. Biển kìa.
- Ui. Đẹp quá.

Những con mắt háo hấc dõi ra một dải màu xanh ngắt xa xa. Rồi rõ dần rõ dần, rồi bỗng mất hút sau một mảng xanh ngát núi đồi cây lá, và lại ẩn hiện ẩn hiện. Hôm nghe thông báo sẽ được đi dự trại tại một thành phố biển. Ai cũng vỡ òa niềm phấn khích. Biển luôn có một sức hút đến mãnh liệt với những tâm hồn phóng khoáng lại dạt dào thi tứ lại láng văn chương như chúng tôi. Không chỉ nhìn ngắm một cách choáng ngợp trước một mảng xanh bao la, mà cái thú vùng vẫy thỏa thuê giữa những con sóng ào ạt với nhiều người quả là một sự đam mê không cưỡng nổi. Bây giờ thì nó như đang ập vào cảm xúc của mỗi người rồi.

Hơn 5g chiều thì chiếc xe từ từ lăn bánh vào bãi của điểm đến. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Gần một ngày ngồi xe, ai cũng mang một vẻ mặt phờ phạc mệt mỏi. Nhưng chỉ vừa bước xuống xe những ánh mắt như loé lên một tia sáng. Khung cảnh thật thoáng mát xanh ngát của những hoa cây dáng kiểu được bài trí xếp đặt thật tươi tắn sinh động trước một khu nhà khang trang hứa hẹn những ngày dễ chịu thoải mái cho khách lưu trú. Vài tiếng xuýt xoa bật vội, và mọi người nhanh chóng mang xách hành lý vào quầy tiếp tân nhận phòng. Chị Đồng nhận phòng sau cùng, khi đã cẩn thận ghi lại số phòng của mọi người vào cuốn sổ tay. Hai xách hành lý khá nặng kéo theo, một anh nhân viên vội chạy theo phụ giúp. Tôi ở cùng phòng với Yên Trang, cô bé mảnh khảnh nhất đoàn và cũng nhỏ tuổi nhất, hồn nhiên và nhí nhảnh một chút. Cảm giác thật dễ chịu khi ở cùng phòng với một người không biết cau có. Soạn cất đồ đạc và tắm táp vừa xong thì đã nghe tiếng chị:
- Xuống phòng ăn đi các em ơi!

Tiếng chị tiếp tục vang sang những phòng khác, chỉ ít phút sau chúng tôi đã có mặt tại phòng ăn. Một không khí hồ hởi tỏa rợp trên những mắt môi. Tíu tít những lời chào hỏi. Bởi trong đợt tham gia trại sáng tác này, không chỉ có đoàn chúng tôi, mà còn mấy đoàn anh em các tỉnh bạn. Một số người đã quen từ trước, một số thì đã từng nghe đến nhau, đọc nhau, một số thì còn khá mờ nhạt thông tin, nhưng tựu trung tâm trạng thì tương tự. Vui vẻ, phấn khích, thỏa giãn trong sự hội tụ, Sau bữa ăn, là một cuộc họp chóng vánh để ban tổ chức phổ biến một số quy chế. Đêm đầu tiên ai cũng thức khuya nhưng lại ngủ thật say một hơi đến sáng.

Tiếng chim luých chuých đã đánh thức mọi người. Đó là những chú chim tinh khôn làm tổ dưới lớp mái ốp ngói của dãy nhà. Chúng nào biết sinh hoạt đời sống tự nhiên của chúng lại thêm một nét chấm phá sinh động cho đời sống con người. Buổi sáng thức giấc trong tiếng chim rộn rã và ánh nắng nhẹ mơn man thấy lòng yên bình dễ chịu làm sao. Vệ sinh cá nhân xong, tôi mở cửa bước ra ngoài, vươn vai vài động tác thể dục. Chị Đồng từ xa đi lại lên tiếng hồ hởi:
- Ra biển đi em, biển buổi sáng tuyệt vời lắm.
- Sao chị nhanh thế? Gần không hả chị?
- Ngay sau lưng đây thôi. Em gọi các bạn ra cùng cho vui. Có cái cổng nhỏ phía bên trái ấy. Chị ra từ sớm đón chụp cảnh mặt trời lên mà. Thấy người ta đi lưới đêm về hay lắm.
- Thế thì em phải đi ngay mới được. Yên Trang ơi! ra biển không?

Lên tiếng gọi nhưng tôi không đợi Trang trả lời, búng chân chạy theo hướng chị Đồng chỉ, còn nghe loáng thoáng tiếng chị ơi ới gọi mọi nguời. Quả thực, ngay sau lưng dãy nhà là một bờ cát dài trắng còn lô xô những thúng mủng lưới thuyền, chi còn một ít tôm cá mực đang trút nốt vào những thùng xô thau chậu và long tong những giọt nước ra chợ. Tôi ngợp người trước biển xanh lấp lánh nắng mai. Thỏa thuê cảm xúc với bao la dào dạt của cảnh đẹp thiên nhiên.
- Trời ơi! Quá đã.
- Ban tổ chức tâm lý quá ta.
- Vầy là ì oạp tắm cả ngày cũng được, có phải đi đâu cho xa nữa,
- Các tướng khi đi khảo sát lập trại cũng tính cả rồi.
- Xuống thôi bà con ơi!

Lao xao bàn tán rồi ùa nhau xông thẳng xuống làn nước xanh màu trời mà vùng vẫy, chỉ có vài nàng không mang đồ tắm theo còn e ngại, nhưng chắc trong bụng hậm hụi lắm, và hẳn chỉ bỏ hụt một thời cơ duy nhất này thôi. Chắc chắn là vậy, bởi trong số đó có tôi mà. Không xuống tắm thì rảo chân trên cát, xục vào sóng, chí choé trêu chọc, vậy mà cũng ướt cả. Và chỉ một loáng ra khu chợ gần, chiều đến, chẳng ai phải hậm hụi gì nữa cả. Buổi tối, sau bữa ăn là tùy nghi di tản. Tôi lẳng lặng rút về phòng mở máy. Những dòng chữ đầu tiên về biển, mới chỉ là một tứ thơ vút qua, nhưng phải nhốt ngay nó vào kẻo nó theo sóng bồng bềnh mà xa tít ngàn khơi mất. Một lúc xong tôi đóng máy rồi thả bộ quanh sân. Bỗng muốn chút mơ màng biển đêm. Tôi né những căn phòng đang ồn ã tiếng cười, cũng chẳng phải tâm trạng gì, nhưng có những lúc chẳng muốn tiếp xúc, chẳng muốn sôi nổi, một khoảng riêng thinh lặng cho mình cũng rất hay chứ. Tôi dõi mắt xa phía mênh mông một màu đen thăm thẳm, thi thoảng chớp nháy những đốm sáng, có lẽ từ những con tàu đang neo đậu. Bất chợt, tôi nhìn thấy chị ngồi trên bãi cát, cũng đang đăm đăm hun hút. Tôi định cất tiếng gọi chị nhưng kịp dừng lại. Chắc chị cũng như tôi, đang muốn trầm tư riêng mình. Tôi vòng xa một chút, và cũng tìm một chỗ, ngồi một mình trước biển đêm, nghe âm vang tiếng sóng ập vào bờ, gió mênh mang nhè nhẹ, thấy lòng thoải mái lạ. Thả hồn rong ruổi đó đây một lúc, bất giác tôi xoay ánh mắt về phía chị. Chị vẫn ngồi im đó. Tôi lởn vởn chút suy tư. Chị tên thật là Nguyễn Trọng Anh. Ngay cả cái tên cũng đầy nam tính. Không biết khi sinh ra chị, ba mẹ chị linh cảm thế nào mà đặt cho chị cái tên ấy. Cái tên của một người cũng có một cái gì đó như tiền định. Giá mà có thêm chữ thị, chắc nó cũng làm mềm đi một chút. Nhưng hình như đã từ lâu lắm rồi, chữ Thị và chữ Văn không còn là chữ lót đương nhiên của mỗi cái tên nữa. Người ta sáng tạo hơn, văn vẻ hơn cho những cái tên mà nó sẽ là một biểu thị đặc trưng cho một gương mặt cuộc đời. Hay chứ. Đẹp hơn nhiều chứ.

Chị thuộc chuyên ngành nhiếp ảnh. Chị đã đạt được rất nhiều huy chương các loại có đẳng cấp quốc tế. Mà kỳ thực tôi chỉ nghe phong phanh qua một số thông tin. Bởi hai chuyên ngành khác nhau, cho dù với văn học thì không có kiến thức nào là thừa, nhưng điều kiện để tiếp xúc và tìm hiểu thì không nhiều. Đa phần chúng tôi chỉ gặp nhau trong các kỳ hội họp, ngoài một số nhóm có độ gắn bó khá bạn bè, thì không phải một hội viên nào cũng có thể tường tận nhau về gia cảnh cũng như một vài nét khác trong tính cách, đời sống. Đôi lời xã giao cùng những câu đùa tếu táo là đủ để qua những khoảnh khắc ngắn ngủi của sự gặp gỡ. Những dịp đi cùng nhau đến một nơi xa thế này thường là điều kiện khá thuận tiện nếu con người ta muốn gần gũi nhau hơn. Có điều, không phải cứ muốn là có thể xông thẳng vào đời riêng của người ta được. Vì vậy mà trong lúc này điều có thể chỉ là đặt ra vài câu hỏi.
- Trời đất. Ngồi đây mà để người ta đi tìm hết hơi. Nhớ anh nào vậy hả? Tôi giật bắn người vì bàn tay vỗ bốp vào vai. Tiếng Minh Hà rổn rảng.
- Sao không gọi điện?
- Gọi có thấy bà trả lời đâu.
- Thôi chết, chắc quên điện thoại trong phòng rồi.
- Về có anh Viên Tâm đến chơi kìa. Ông hỏi bà hoài à, tui phải đi kiếm cho bằng được đó.

Cuộc trò chuyện với một anh bạn văn người địa phương kéo dài đến tận khuya. Và rồi mang cả nụ cười vào giấc ngủ với hứa hẹn mai là một ngày đầy sóng và gió.

Mờ sáng, vẫn là tiếng chim đánh thức, tôi vươn vai thỏa giãn sau một giấc ngủ sâu. Tuyệt thật. Ngủ thật ngon rồi tỉnh thức giữa một không gian nên thơ thế này thì còn vương giả nào hơn nhỉ. Trây lười gối chăn thêm một chút cho cảm xúc tận hưởng. Bỗng thoang thoảng tiếng nói ai đó:
- Thôi chị về nghỉ chút đi. Thức cả đêm rồi.
- Giờ còn nghỉ gì nữa, không sao, lát nữa một ly cà phê là ổn thôi mà. Bớt sốt rồi đó.
- Cũng may, không chắc phải đưa vô viện rồi.

Có chuyện gì với ai vậy? Tôi tốc chăn lao ra ngoài. Cách phòng tôi hai căn là nơi phát ra tiếng nói. Hóa ra anh chàng Mẫn Huỳnh tối qua đi nhậu say quá, về khuya nhiễm sương lạnh thành sốt. Làm Chí Tấn ở cùng phòng phát hoảng, nửa khuya gọi điện cầu cứu chị Đồng. May mà chị có mang theo cả cặp nhiệt lẫn thuốc hạ sốt. Giờ thì Mẫn Huỳnh đang thả giấc ngon lành, nào biết có hai người một đêm mất ngủ.

Chiếc cano rẽ sóng phăm phăm vun vút về phía trước. Cảm giác tung hoành cùng sóng và gió đang bật tung mái tóc, bật tung cả buồng phổi náo nức giữa trời và biển sao mà ngập tràn hứng khởi đến thế. Giữa bao la lồng lộng, thấy mình như bức thoát khỏi bao ràng rịt vụn vặt hàng ngày, thoả thuê mà hòa cùng phóng khoáng thiên nhiên. Trong niềm sung sướng tuyệt cùng, tôi cất tiếng hét to, tiếng hét kéo dài vút cao, xả trút bao năng lượng để thấy mình đang bay bổng. Không phải là đôi cánh xác thịt cụ thể, mà là đôi cánh của tâm thức đang vẫy vùng tung sải giữa trùng khơi. Không còn gì tuyệt thú hơn. Cả cuộc đời, nếu không nhiều thì cũng nên đôi lần được thấy mình được thoát thai trong một không gian vô hạn thế này. Tối qua anh Viên Tâm chỉ mập mờ rằng sẽ có một ngày đầy sóng và gió, giờ đúng thật. Cảm ơn nhé những người bạn thân tình và hào phóng. Ra là anh Viên Tâm có dịch vụ cano du lịch. Dịch vụ này được thuê theo giờ, và để có một giờ cano rảnh rỗi phục vụ miễn phí thật khó, ngoài sự rộng lòng của chủ sự thì không có cách gì len vào một chuyến “lướt sóng” hoành tráng không chịu nổi. Mình Hà cũng cất lên tiếng hét đầy phấn khích. Cảm giác của Hà chắc chắn không khác gì tôi. Chán chê mê mải cùng sóng cùng gió rồi chúng tôi còn được chiêu đãi một chầu đặc sản biển. Dong dài mãi cho đến tận chiều tối mà chưa hết tiếng cười. “Ồ la la. Ôi đời đẹp quá như là mùa xuân hoa…”. Câu hát tự chế đánh nhịp trên môi chúng tôi trên đường về trại.
- Họ về kia rồi.
- Trời ơi! Là ma hay người dzậy hả?
- Coi bộ sung sướng phởn chí chưa kìa. Báo hại ở nhà tán loạn cả.

Những câu nói đua nhau, cùng những vẻ mặt lẫn lộn vui giận khiến hai đứa ngây thộn ra .
- Có chuyện gì vậy?
- Còn chuyện gì nữa. Chắc nghe thông tin tìm trẻ lạc trên loa mới biết đường mò về chứ gì.
Chị Đồng đang bươn bả đi tới.
- Sao? Hai cô về rồi hả? Thôi thế là tốt rồi.
- Phải phạt một trận đi chị.
- Thôi, phạt gì, coi như đây là kinh nghiệm cho mọi người. Có đi đâu cũng xin vui lòng báo qua tôi một tiếng để còn liệu.
- Có phải con nít đâu mà đi phải xin phép.
Minh Hà bực dọc trước những ánh nhìn trách cứ. Chị Đồng nghiêm mặt:
- Tôi biết, cô không phải là con nít, nhưng đã có tổ chức thì phải có chút kỷ luật. Cô có biết sáng giờ chúng tôi lo lắng đến thế nào không? Gọi điện thì không thấy trả lời, hỏi thì không ai biết là đi đâu, đây lại là xứ biển, ai dám chắc sẽ không có rủi ro gì.
- Dạ, đúng là tụi em thật có lỗi, xin lỗi chị, xin lỗi mọi người phải lo lắng. Tôi huých nhẹ Hà một cái rồi nói.
- Thôi, không phải bắt lỗi, chỉ là đừng để xảy ra lần thứ hai. Hai cô về nghỉ đi, đi cả ngày chắc mệt rồi đó.
Nói rồi chị Đồng né người qua một bên nhường đường. Tôi và Minh Hà ngượng ngùng đi một mạch. Hà lụng bụng:
- Đang vui vậy mà về bị mất hứng.
- Thì cũng tại tụi mình mà. Lần sau có đi thì báo cho chị ấy biết là được thôi.
- Xí, có mấy ngày mà ra bộ quan chức.
- Đừng nói vậy, đó là sự quan tâm và trách nhiệm mà. Thôi về tắm đi cho khoẻ, suốt ngày với biển giờ rít rịt à.
Vẫy tay với Minh Hà tôi đi nhanh về phòng, Yên Trang vừa nhìn thấy tôi thì toét miệng cười:
- Thế chị chưa bị anh nào bắt cóc à? Em đang lo ngủ một mình thì sợ ma chết đây.
- Làm gì có ma mà sợ. Cũng mong có anh nào bắt cóc đây mà chả ai đủ gan cả. Sáng giờ ở nhà òm sòm lắm hả?
- Cũng không om sòm lắm, chỉ có gần như thừa sáu phần cơm thôi.
- Sao lại gần như?
- Thì chị Đồng lo cho các chị, đứng ngồi không yên thì làm sao mà ăn được. Mà em nói chị đừng giận, nếu định đi đâu bỏ cơm trại thì báo để chị ấy bớt suất. Cơm canh ê hề, đủ người ăn đã thừa, mà còn bỏ suất nữa thì phí lắm.
- Chị biết rồi, lại còn biết tiết kiệm nữa đấy.
- Em mới lần đầu tiên được dự trại, nghe nói mỗi lần tổ chức trại thế này hết đến hơn trăm triệu, em thấy choáng thật đấy. Mình đã làm được gì ra hồn đâu mà được hưởng chế độ ưu đãi đến vậy, nên có chút ý thức vậy thôi.
- Em không biết đấy, có mấy đợt đi trước chị còn gặp một số người ảnh eo chuyện ăn ở nữa kia. Nào là món này không ngon, món kia dở quá, nào là phòng ốc không sang trọng, chả biết ở nhà cơm gà cá gỏi đến đâu mà ra bộ tướng thế. Mà người thì trông như là…

Tôi bỏ dở câu nói, bước vào nhà tắm. Vòi sen nước nóng tỏa khắp người, thoải mái nhẹ nhõm làm sao. Nghe Yên Trang nói, tôi thấy lòng thật sự áy náy. Mình dù gì cũng mang tiếng là dân trí thức, mà xử sự thì không được cẩn thận cho lắm. Để bao nhiêu người phải phiền hà vì mình. Sẽ chẳng có lần sau nào nữa đâu nhé. Hôm nay đi chơi cả ngày chẳng viết được chữ nào đây. Ừ mà phải đi chơi thì mới có cảm hứng mà viết chứ. Tự biện minh rồi bằng một cái cười, tôi thiếp đi lúc nào không biết.

Yên Trang hơ hãi nét mặt khều tôi:
- Chị. Ai kìa?

Trực nhìn ra cửa, một gương mặt lạ hoắc, mái tóc rũ rượi xả hai bên khuôn xương sạm xịt, đôi mắt chòng chọc một cách sỗ sàng, dáng người thì nghiêng ngả khật khưỡng, nhìn là biết ngay một kẻ đáng ngờ. Tôi cũng hoảng hồn, nhưng chỉ có hai chị em, tôi phải trấn áp nỗi sợ mà làm bộ cứng cáp:
- Anh hỏi ai ạ?

Không trả lời, mà cái dáng khật khưỡng ấy bước luôn vào phòng, buông ịch một phát trên giường, tôi chưa kịp phản ứng thì ngoài cửa xuất hiện một gương mặt khác, với kiểu cười mơn trớn, khình khịch và cũng với cái nhìn lom lom khả ố:
- Chào hai cô em.
Dứt câu chào thì hai chân gã cũng đã bước hẳn vào phòng. Tôi hét lên muốn lạc giọng:
- Các anh là ai? Các anh ra ngoài ngay, tôi không quen các anh.
- Không quen rồi sẽ quen, làm gì mà em cuống quýt lên thế?
- Văn nghệ sĩ mà, tứ hải giai huynh muội, một bài thơ là quen hết từ nam chí bắc thôi, phải không hai cô em xinh đẹp.

Yên Trang muốn phát khóc, tôi lùi sát cạnh cô nói nhỏ:
- Em bình tĩnh, chị tìm cách nhử chúng, em chạy ra ngoài kêu cứu nha.
- Em sợ lắm. Mấy ông đi nhậu hết rồi. Gọi ai?
- Sợ cũng phải ráng. Thì cứ gọi toáng lên, ai nghe cũng được.
- Hai cô em thì thầm gì thế? Nói cho bọn anh nghe với. Hay anh đọc thơ tình cho hai em nghe nhé.

Cái giọng lè nhè cất lên mấy câu thô tục, thật không chịu nổi. Nhưng làm sao để tống khứ chúng đi bây giờ? Thường thì cứ sau bữa chiều là mọi người tùy nghi đi cả, không cà phê thì nhậu, mấy hôm tôi cũng thế, nhưng hôm nay đang có hứng viết nên ở nhà. Để giờ khổ sở thế này đây. Biết vậy cứ đóng tịt cửa phòng lại, tại Yên Trang bảo mở cho thoáng. Điên thoại. Trời. Vậy mà quen béng mất. Tôi móc điện thoại ra, nhưng chưa kịp bấm thì một trong hai gã sấn đến bên cạnh, chụp lấy tay tôi cười hềnh hệch:
- Chúng mình hai cặp là đủ vui rồi, không phải gọi thêm ai nữa đâu em. Nào lại đây với anh.

Tôi hét lên, cố sức đẩy gã, Yên Trang cũng khóc la kêu cứu ầm lên. Bất thần, tên đang co kéo với tôi bị giật ngược ra sau, tích tắc, tên kia với Yên Trang cũng tương tự. Một tiếng quát đanh sắc:
- Cút. Cút ngay.
- Chị Đồng.

Sự có mặt đúng lúc của chị như một vị cứu tinh cho chúng tôi. Như hai con gà con, chúng tôi núp sau lưng chị. Hai gã kia khi nhìn ra đối thủ của mình là một người phụ nữ có thân hình chắc nịch đứng chống nạnh, cùng ánh nhìn như một lưỡi gươm xuyên thấu tim, thần khí dũng mãnh toát ra từ chị đủ khuất phục thói côn đồ hung hăng, khiến chúng bỗng nhiên như chó cụp đuôi, nhưng còn cố ném lại một câu vớt vát sĩ diện:
- Tưởng ngon lắm hả? Thèm vào.

Nói xong, cả hai tên chuồn thẳng. Hóa ra chỉ là loại giỏi bắt nạt kẻ yếu thôi. Yên Trang khóc òa lên:
- Chị ơi. Không có chị chắc tụi em chết mất rồi.
Tôi cũng ôm ngực ngồi phịch xuống ghế. Chị Đồng ôm Yên Trang vỗ về:
- Thôi thôi, hết rồi em. Đừng sợ nữa. May sao tự nhiên chị bôn chồn mà chạy về. Không thì…
- Chị có biết tụi nó là ai không chị?
- Không. Chị không biết. Nhưng có lẽ đây là những tên hay trà trộn vào giới văn nghệ, chiêu của chúng là cóp vài bài thơ đâu đó, nhớ vài cái tên đâu đó, rồi cứ ngang nhiên đến, gặp nam thì ra chiều thân mật, gợi ăn gợi nhậu, gặp nữ thì giở trò bỉ ổi. Các em ở nhà buổi tối sao không đóng cửa nẻo cho cẩn thận?
- Em nghĩ để cửa cho mát cho thoáng, em đâu có ngờ.
- Đúng là cái loại khốn kiếp, chúng đội danh nghệ sĩ đi bôi tro trát trấu cho cả giới chúng mình. Người ngoài không biết cho là văn nghệ sĩ tệ hại thế đây. Thật là sâu róm.
- Đó là ngợ sĩ ngợm sĩ chứ nghệ gì. Thôi các em đóng cửa nghỉ đi.

Một cảm giác gần gũi thân thương khi tôi nhìn vào ánh mắt chị. Một hình ảnh khác về chị hiện lên trong tôi. Có lẽ bắt nguồn từ một sự hàm ơn.
- Nhanh lên nhanh lên, có nhà văn Đinh Hữu Ngọc đến kìa.

Thông tin được truyền từ phòng này sang phòng khác làm náo động cả không gian của một ban trưa yên ả.. Ông là một nhà văn nổi tiếng đã có nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Tôi rất thích đọc văn của ông, một chất văn suy tư và mẫn tiệp, cách truyền tải dung dị và súc tích, đọc văn ông cứ thấy như chuyện xảy ra hàng ngày bên mình vậy, xảy ra hàng ngày nhưng qua góc nhìn của nhà văn có gì đó sâu hơn, đằm thắm tinh tế hơn, và hơn hết là NGƯỜI hơn. Chỉ đôi lần nhìn thấy ông qua ti vi, tôi đã cảm nhận được phần nào cốt cách của con người ông. Ngỡ rằng mãi mãi là kính nhi viễn chi, ngờ đâu bây giờ lại có dịp được gặp. Vui lắm. Háo hức lắm.

Vóc người đầm đậm, dáng trầm tư, phong cách nhã nhặn, ánh mắt thân tình, cái bắt tay ấm chặt. Đó là những cảm nhận của tôi về nhà văn Đinh Hữu Ngọc. Một sự cảm tình đã được hình thành ngay từ giây phút đầu tiên. Nghe ông nói chuyện, lại càng thấy ấn tượng hơn. Lối nói rủ rỉ, cử như đôi bạn thân ngồi tâm sự. Không có vẻ gì là người nổi tiếng. Bỗng nhiên tôi thoáng nhớ đến một cái tên. Cũng xôn xao diễn đàn lắm. Nên khi về tỉnh lẻ cứ như một ông vua đi vi hành vậy. Cái bắt tay thì hỡ hững, chưa kịp nắm đã buông, mắt thì cứ nghếch lên lưng trời, miệng cười khinh khỉnh, Gặp một lần không muốn nhìn mặt lần thứ hai, đồng thời cái tên cũng del luôn trong bộ nhớ. Người nổi tiếng, đương nhiên là đã có một công tích đáng kể nào đó được cộng đồng ghi nhận và tôn vinh. Song, cái đọng lại thật sự vẫn cần có một nhân cách ứng xử. Bởi anh giỏi hôm nay, mai có người giỏi hơn anh, vị trí của anh không phải là bất dịch. Tài năng anh sẽ không tồn tại mãi trong phong biểu chương cuộc sống, nếu anh tự cho rằng mình đã và luôn là một cái đỉnh giữa gầm trời này. Nên cùng với tài năng, anh còn phải có một tấc lòng chân tình và thật sự là biết yêu cuộc đời này niềm ấm áp sẻ chia. Cho dù thang bậc thế nào, thì cái làm nên một vóc hình thật sự vẫn không thể thiếu một chữ Tình.

Những con mắt cứ ngây ngô mà chăm chú, những cái tai cứ ngong ngóng mà dỏng lên. Nhà văn nói chuyện, đôi lúc ánh ra cửa như trông chờ ai đó. Nhưng ông gần như không có thời gian để biểu lộ sự trông ngóng của mình, vì những câu hỏi cứ thay nhau xen vào, và thế là ông cứ tiếp tục tiếp tục… Gần cuối buổi rồi, ông mới ngập ngừng hỏi:
- Tôi nghe nói cô Trọng Anh có dự trại này…?
- Trọng Anh? A chị Đồng đấy. Ờ mà chị ấy đâu rồi nhỉ?
Đúng là không ai nhớ đến chị và gọi chị cả.
- Chị Đồng? Cô ấy có chồng khác rồi sao?
Nhà văn hỏi và gần như mọi người đều ngớ ra.
- Chồng khác? Chị ấy đã từng có chồng sao?
- Sao mọi người có vẻ ngạc nhiên vậy? Không ai biết gì về gia cảnh cô ấy sao?

Sự im lặng là câu trả lời. Quả thực, tôi chưa từng đặt một dấu hỏi nào về cuộc đời của nữ nhiếp ảnh ấy. Khi tâm trí ta không mảy may nghĩ đến người thì ta đâu mất thời gian tìm hiểu về người làm gì.
- Không phải là chồng khác, mà đó là một tên gọi khác.
- Tên gọi khác? Sao lại gọi là Đồng? Thôi, tôi hiểu rồi.

Một tiếng thở dài cùng một cái lắc đầu, ánh mắt nhà văn bỗng thẫm buồn.
- Đúng. Cô ấy đã từng có chồng, có cả con. Nhưng mọi người có biết chồng con cô ấy hiện giờ ở đâu không? Ở một nơi xa, xa xa lắm. Một tai nạn giao thông đã cướp đi cả hai cha con, khi đứa bé mới vài tuổi. Có ai thấu không? Nỗi đau tột cùng của một người phụ nữ bỗng chốc phải làm một cái đám tang với hai chiếc hòm. Và cô ấy đã phải trải qua những ngày tháng như thế nào để vượt qua được nỗi đau ấy? Tôi chắc trong số này, chưa ai từng nếm trải nỗi đau tương tự. Thử đặt mình vào cảm giác ấy mà xem, có đau đến hóa đá đi không? À mà không, không bao giờ hiểu được nỗi đau của người khác khi chính bản thân không hề thực nghiệm. Lại càng không thể biết được rằng, khi phải lần từng bước để qua cái hố đau thương, gượng từng bước để đứng lên được, thì con người sẽ trở nên mạnh mẽ và cứng cáp như thế nào. Mọi người chê cô ấy là lạnh như đồng, cứng như đồng ư? Vậy có ai không? đã một lời thân tình gần gũi để mà hiểu để mà thương. Không có. Chính vì không có mới có cái tên gọi về cô ấy như vậy. Trong cái giới gọi là nghệ thuật này, cái giới mang tiếng là trí tuệ là văn hóa, cái giới mà ai cũng luôn tự phụ rằng mình hay mình giỏi, nhưng nói thật, rất ít người sống được với nhau bằng cái tình thật, khi sự đố kỵ tài năng và hời hợt cảm xúc được đặt lên hàng đầu, và người ta luôn vội vàng khi đánh giá một con người qua cái vẻ bên ngoài. Và khi chưa hiểu được người thì hãy cứ coi thường người đi đã, không ít người tự cho mình cảm giác lớn hơn người khác từ sự coi thường vô lối ấy…

Nhà văn ngưng lại khi thấy thấp thoáng bóng người ngoài cửa. Chị Đồng gần như đâm bổ vào, mặt chị nhễ nhại mồ hôi, nhà văn cũng gần như bật dậy, họ nắm chặt tay nhau, mọi người ngây ra chứng kiến một cuộc hội ngộ, bốn bàn tay họ nắm chặt nhau, hai gương mặt nhìn sững nhau, hình như đã khá lâu rồi họ mới gặp lại.
- Anh vào bao giờ?
- Anh mới bay vào chiều qua. Nghe em dự trại này nên anh đến.
- Thôi mình nói chuyện sau, anh tiếp tục với các anh em đi.
Câu nói sau một thoáng liếc mắt. Anh Hồ Thức bỗng nói:
- Anh Ngọc nói chuyện cũng cả buổi rồi, giờ anh em mình dành thời gian lại cho chị… Trọng Anh đi, nhân tiện mời anh Ngọc dùng cơm chiều với anh em ta rồi nói chuyện tiếp nhé.
- Phải, phải đấy. Thôi ta đi nào.

Cho dù ai cũng luyến tiếc muốn được nghe thêm câu chuyện còn đang dở, nhưng ai cũng biết dành lại thời gian cho họ là rất chí lý, nên lục tục chào rồi về phòng. Tôi cứ âm âm mãi câu chuyện về chị, và những lời trách cứ của nhà văn. Quả là quá đúng. Trên trang viết thì nói hay lắm, có ý nghĩa lắm, có tình lắm, nhưng trong đời thực thì khác, có khi khác rất nhiều. Miên man ngẫm ngợi, tôi chợt hỏi, từ đâu mà ra cái tên chị như vậy nhỉ? Tôi nghe mọi người gọi thì gọi theo chứ chưa từng nghĩ đến xuất xứ. Chắc chỉ từ các lão ngoa ngôn thôi. Thường cánh đàn ông thích những phụ nữ biết nghe lời họ, chịu cho họ bỡn cợt một chút, chịu tâng bốc họ một chút, thì họ vui lòng họ gọi đó là nữ tính. Còn típ người như chị Đồng, hẳn không cha nào dấm dớ được nên mới nảy ra cái tên ấy. Có thể đúng. Nhưng chỉ là đúng với những ai có ác cảm với cái tên ấy. Chứ riêng tôi, ngẫm cho kỹ thì thật chưa chính xác lắm. Bởi với một người đã phải chống chọi nhiều với nghịch cảnh, đương nhiên họ không còn chỗ cho sự yếu mềm. Sự cứng cáp ấy lại là một bản lĩnh sống, mặt khác bản chất thật của chị không cứng không lạnh. Là bởi chị luôn nghĩ đến mọi người, bằng chứng là chuyến đi này, tôi chắc không chỉ với vai trò trưởng đoàn, mà là chị thật tâm lo lường mọi tình huống khi xa nhà, nhất với loại vô tư hồn nhiên như những con bé tôi chẳng hạn. Cái bàn ủi, những liều thuốc, dụng cụ y tế đơn giản, và vài thứ lặt vặt khác mà không phải dành cho chính chị. Một trái tim chứa nhiều mối bận tâm như thế không phải là một trái tim cứng, một tấm lòng lo toan cưu mang chuyện thiên hạ như thế thì không phải là một thứ lòng lạnh. Với những ai chỉ biết có mình, và luôn muốn mọi người phải vì mình, còn mình thì không vì ai hết thì mới loại tim cứng lòng lạnh, mặc dù họ rất biết khôn khéo trong lời ăn tiếng nói, còn với chị thì không, hoàn toàn không. Bỗng nhiên một thứ tình cảm thân thiết với chị trỗi dạt dào, tôi hít một hơi dài. Sau chuyến đi này, tôi sẽ mời chị đi uống cà phê, và chắc là không chỉ một lần. Giật mình khi nghe tiếng chị ơi ới gọi đi ăn cơm. Đã lại hết thêm một ngày nữa rồi. Thời gian ở đây bỗng trở nên rất ngắn.

Bữa cơm vui nhất từ khi đến trại vì có những câu chuyện hóm hỉnh từ nhà văn Đinh Hữu Ngọc, và chị cười nhiều nhất. Hóa ra họ là những người bạn từ thuở gieo neo khúc khuỷu. Một tình bạn thân thiết và bền bỉ khi có những chung chia ngọt đắng, và cũng là vì người ta thực sự chân thành yêu quý nhau. Có thể cách xa lâu ngày, nhưng nồng độ tình cảm thì vẫn không suy giảm. Đó mới chính thật là bạn, chứ không phải là những “bè” chỉ hơi một chút gió to là đã rã. Thật tốt nếu trong cuộc đời tôi có được những người bạn như thế.

ĐÀM LAN


THIÊU THÂN

ĐÊM TRỪ TỊCH

Thiên đình rực rỡ, lộng lẫy khác thường. Vẻ huyền ảo biến mất với những dòng sáng rót từ bóng đèn màu lan tỏa, hòa lẫn ánh hào quang của trăng sao tụ hội, giăng giăng đây đó. Cảnh u tịch, uy nghiêm cố hữu chẳng còn. Bóng người di động không ngừng. Tiếng cười khúc khích, tiếng nói thầm thì, tiếng chân bước khẽ, tiếng xiêm y lào xào, chạm nhẹ. Tất cả tạo thành một loại âm thanh trầm trầm, đè nén, gắng gượng trang nghiêm một cách vô ích. Tựa như một đợt sóng ngầm âm ỉ, sôi sục, chờ phút trào dâng, cuồn cuộn.

Hình như cả thiên đường hôm nay chợt thức. Tiên đồng, ngọc nữ đều lẩn khuất đâu đây. Họ dán mắt vào cái sân khấu lộ thiên trên những tảng thạch bàn. Một tấm phông vẽ cảnh núi non chớm chở, có lối mòn quanh co, chạy dài theo sườn núi. Phía trái, một hang đá giả được tạo hình bằng một loại giấy dầu mà cõi trời không có. Một chiếc cầu mây vắt ngang sân khấu, cặp theo là thanh gỗ mỏng. Thoạt nhìn, tưởng như lớp bông trắng cuộn lấy chiếc cầu.

Lão Tự hân hoan đến độ không còn cảm thấy đau nhức, mệt mỏi như mọi ngày. Căn bệnh phổi lâu nay khỏi hẳn. Lão khoan khoái ngửa mặt, rướn cổ hát:
- Coi kìa! Thiên đường uy nghiêm.
Mở hội tưng bừng, chào đón xuân về…
Muôn màu đèn hoa, khoe sắc giữa cõi trời bao la
Phải ta là Từ Thức, lạc bước non bồng thuở trước?
Dâng lên Ngọc Hoàng lời ca tiếng hát,
làm quà trần gian.

Thằng Tuân cười rộ. Nó đang ngồi vắt vẻo trên nhánh cây nạm ngọc, vừa buộc xong sợi dây căng tấm màn nhung đỏ thẫm, Tuân vẹt nhánh lá ngọc bích, nhô đầu ra, gọi:
- Ông ơi, bữa nay ông hát hay quá!

Lão Tự mỉm cười, vênh mặt, đưa tay vuốt những sợi râu lún phún bạc, kể lể:
- Hồi đó, tao là một danh ca đó nghen!
Tuân nheo mắt tinh nghịch hỏi:
- Còn bây giờ?
Lão Tự đâm bực. Cái thằng tệ quá! Nó muốn chế giễu mình đây mà. Lão Tự tán tỉnh rụi:
- Bây giờ, tao còn ngon hơn nữa. Thầy của các danh ca đó, được không?

Câu nói phét thuyết phục được Tuân ngay, thằng bé nhà quê chơn chất. Điều gì đối với Tuân mà không hay, không lạ. Thậm chí, cục cà rem mà nó chỉ mới biết vị lành lạnh, ngòn ngọt gần đây thôi khi theo gánh hát rời quê. Đối với Tuân, sân khấu đã là một thiên đường nhỏ. Ở đó, có đầy đủ những số phận may rủi, ngọt bùi hoặc cay đắng. Bao bí ẩn cuộc đời cứ được tách bạch, phơi bày rồi khép lại khi màn hạ. Mỗi đêm, một quãng đời được tái hiện. Ở đó, tình yêu, tình người được định hình rõ rệt. Ở đó, những người tốt hoặc xấu được đánh giá cụ thể bằng tình cảm người xem đối với đào kép. Khán giả đại diện cho chân lý phán xét mọi điều và khán giả cũng thay cho xã hội mà giáo dục con người bằng cách phê phán nhân vật mà đào kép thể hiện. Tuân đã từng được chứng kiến cảnh mẹ khóc thút thít khi xem những đoạn đau thương và bà nội chưởi đổng lớn tiếng ở những màn có vai độc ác. Cảm xúc mạnh mẽ ấy đã lôi cuốn Tuân mãnh liệt. Nó không còn thích công việc đồng áng nữa. Tuân bỏ nhà trốn theo ông bác ruột là lão Tự để sống cạnh sân khấu, dù nó chưa biết chút gì về đàn ca.

Lão Tự cũng biết vậy nhưng ông không cản mà còn giúp cháu. Tuân là sự lập lại nỗi đam mê sân khấu của ông thời thơ ấu. Tuân làm bất cứ việc gì cho gánh hát miễn được ở trong đoàn. Nó được chấp nhận dễ dàng và bận tối mắt tối mũi bởi khối công việc. Đúng là người tìm việc chứ việc đâu tìm người. Tuân nhào tới với công việc và thằng bé chẳng còn phút nào rảnh rỗi. Ban ngày, Tuân phụ giúp chị Ba bếp. Ban đêm, Tuân vừa kéo màn vừa chờ đợi những lớp cần… hậu diễn. Khi vua chúa hay quan trên sân khấu gọi “Quân sĩ đâu?”. Lập tức, Tuân cùng vợ, chồng, con cái của đào kép hè nhau “Dạ!” rân trời một lượt. Đôi khi còn phải dùng sào, gậy đập xuống sàn diễn nghe cồm cộp để tạo âm thanh cần thiết. Sau này, ông bầu nảy ra sáng kiến dùng máy ghi âm các loại tiếng động để khi cần cho phát ra. Tuân và nhóm trẻ con nhẹ việc nhưng ai cũng buồn vẩn vơ, cảm thấy thiếu mất một cái gì đó trong cuộc sống.

Lão Tự cũng dạy Tuân hát được vài điệu. Thằng bé ca bài Nam Ai khá vững. Nó làm ông muốn rơi nước mắt. Mới đây, trong lần diễn đầu tiên của Tuân, nó sắm vai cậu bé lạc loài rất đạt. Chẳng biết tổ đãi hay sao mà nó xuất thần ca mùi rệu. Ai cũng trầm trồ. Lũ trẻ kháo nhau, Tuân có thể trở thành danh ca. Nhưng bỗng dưng thằng bé bể tiếng. Giọng khàn như vịt đực. Ông bầu không cho lên sân khấu nữa mà phân công nó tiếp tục phụ chị Ba bếp nấu nướng. Tuân vui vẻ chấp nhận hoàn cảnh, không chút so đo, giận dỗi. Hình như đối với Tuân, làm việc cũng là một cách giải trí. Tính nó giống hệt ông hồi bé. Ông cũng luôn tìm tới công việc và cảm thấy hạnh phúc với những gì mình làm được.

Nhờ siêng năng mà từ một đứa nhỏ nhà quê, giọng ca bình thường mà Tự dần dần gây được sự chú ý của khán giả. Tự diễn xuất mỗi lúc một tiến bộ. Không bao giờ ca trật nhịp và luôn tìm cách giúp đỡ mọi người, dù họ lớn hơn Tự.

Lão Tự không sao quên được ngày ấy. Tự đang cùng chị bếp nhổ lông gà, chuẩn bị nấu cháo khuya cho đào kép ăn khi vãn hát thì anh Tám Sung chạy sầm sập xuống bảo Tự:
- Mầy lên đóng vai con hương quản Lân chút coi. Không biết thằng Thành nó đi đâu mất biệt. Gần tới màn rồi mà không thấy bản mặt nó đâu. Đồ quỉ mà!
Hoảng vía, Tự run giọng:
- Con mà đóng tuồng gì? Thôi, con sợ lắm!
Tám Sung nổi nóng hét:
- Vậy chứ mầy nhập đoàn làm chi mà không chịu lên sân khấu? Mầy muốn làm cha hả?
- Làm cha đâu, con làm… bếp gần chết chứ bộ!
Chị Ba bếp cười thành tiếng:
- Thì thôi, mầy lên sân khấu một lần cho biết. Lớp này cũng dễ. Chỉ có đi khập khiễng tới lui rồi chưởi dăm ba câu. Vừa định xông tới ôm con gái thì đã bị Việt Minh xử tội rồi. Có gì khó mà sợ không biết. Đi mau đi, kẻo khán giả quạu, đòi trả vé thì đói cả lũ.

Tám Sung lôi Tự lên phòng hóa trang. Nó được trùm cho cái áo dài the, xỏ thêm vào đôi giày Tây nữa là xong bộ dạng Việt gian. Trống ngực Tự đập liên hồi như trống chầu hát bội. Mặt đỏ bừng, chân tay lạnh ngắt. Có tiếng thúc giục “Ra đi thằng quỉ!” Tự cũng chưa nhúc nhích. Ông bầu nổi nóng chưởi té tát:
- Tổ cha nó! Mầy chờ tao cõng mầy ra hả thằng quỉ sống!

Tự đành lê từng bước nặng nề ra sân khấu. Bởi lẽ đôi giày lớn hơn bàn chân Tự nó cứ muốn tuột ra. Còn cái áo mắc toi. Chắc là hồi nãy quýnh quá, không giũ trước khi mặc nên kiến còn trong ấy hay sao mà nó cứ chạy lên chạy xuống, nhột muốn chết. Bỗng dưng nó chui thẳng vô nách Tự cắn một cái đau điếng. Hết chịu nổi. Tự luồn tay vào trong áo bắt con kiến ra, vò nát, ném đi. Khán giả cười rộ. Tự cũng cười, nó phân bua:
- Áo dài để tám bữa chưa giặt kiến bu, cắn đau thấu trời!

Khán giả cười ầm ĩ. Đúng lúc đó, một nhóm nông dân từ trong cánh gà đối diện đi ra. Họ chỉ vào Tự:
- Thằng ôn hoàng con kìa! Coi chừng có chuyện với nó đó.
Tự đã từng thấy cảnh Thành đóng màn này, nhưng chẳng hiểu sao nó vẫn run giọng:
- Coi… coi… chừng… cái gì… hả? Tránh ra cho… cho… tao… tao đi!
- Mầy đi đâu!
- Tao đi đâu kệ tao, mầy hỏi chi?

Tự lầm lũi đi tới. Nó dùng mông hất hai người ra hai bên, quên chú ý, đôi giày tuột ra nằm lại đàng sau. Tự chạy trở lại, mỗi tay xách một chiếc rồi dông thẳng. Khán giả cười quá chừng. Tự hứng chí, nó liền vòng qua cánh gà bên kia, chờ lúc cô đào đóng vai Thắm vừa ngồi xuống gốc cây, nó xấn xổ tới. Tự giăng hai tay có cầm hai chiếc giày ra trước mặt cô gái. Nó cao giọng:
- A, em Thắm! Hôm nay gặp ở đây rồi. Đường vắng hì hì… Em ơi, đừng hòng thoát khỏi tay anh!
Thắm đứng bật dậy:
- Im đi cái thằng… trơ trẽn! Mầy mà bước tới, tao… sẽ cho biết tay.

Tự vẫn lừ lừ bước ra, nhìn trừng trừng vào mắt cô gái. Thắm hoảng sợ thật sự. Bất ngờ, cô ngồi thụp xuống, chộp lấy cục đá để sẵn, đáng lẽ phải ném trật, cho Tự nhào tới ôm. Đàng này, Thắm liệng một cái vèo, trúng phóc vào mũi Tự. Tự tưởng trời đánh. Tự rống lên “Ui da!”. Máu mũi xịt tùm lum. Đúng lúc ấy, một anh đóng vai Việt Minh chạy tới thét lớn “Cho mầy chết! Tên dâm đãng”. Anh ta bóp cò liên tục mấy cái. Lập tức Tự ngã đánh rầm trên sàn diễn.

Sau màn “lỗ mũi ăn trầu” của Tự, nó nổi tiếng luôn. Tự được bốc từ dưới bếp lên sân khấu thế chỗ Thành. Ban đầu, tập đóng vai phụ. Có lẽ nhờ Tổ nghiệp phù hộ nên Tự dần dần giỏi, trở thành kép chánh. Niềm say mê nghệ thuật đã khiến Tự quên mất tình cảm riêng tư. Anh quên yêu và đến khi ngã bệnh mới hay tuổi trẻ đã rời bỏ Tự lâu rồi. Tự lật đật yêu, vội vàng thương và thất bại trong đời sống vợ chồng. Hai người ly dị nhau chóng vánh cũng như lúc họ tìm tới nhau. Từ đó, Tự lại quay về với niềm say mê của mình. Lão yêu sân khấu hơn bất cứ thứ gì trên đời này. Vì ở đó, giá trị lão được nâng cao. Lão thấy ít ra mình cũng còn làm được một cái gì đó có ích cho mọi người, đem lại vài giờ thư giãn giữa cuộc sống bon chen, tất bật.

Và, lão Tự quý bất kỳ ai cũng yêu sân khấu như lão. Chính vì thế mà lão và Tuân trở thành đôi bạn vong niên gắn bó, khăng khít khó rời. Tuân đang chập chững trên con đường mà trước đây ông cũng lần dò từng bước. Lão Tự quý thằng bé như con và truyền lại cho nó tất cả những gì lão biết về cải lương.

Đêm nay, một sự kiện lớn xảy ra trong làng sân khấu. Và cũng là một điều khó tưởng trong đời sống con người. Đoàn hát được rước “lên trời” biểu diễn cho Ngọc Hoàng xem. Một tin động trời động đất! Cả những người dửng dưng với cải lương cũng phải kinh ngạc, chú ý. Đoàn hát của ông bỗng chốc “Nổi cộm như sao chổi” trên bầu trời nghệ thuật.

Lão Tự chẳng biết điềm lành hay dữ. Thiên đường là nơi mà ai chẳng mơ ước được một lần giáp mặt. Nhưng ở đó, có Ngọc Hoàng là chúa tể của muôn loài. Ngài có toàn quyền sinh sát trong tay. Hát hay không nói gì. Lỡ có sai sót, biết đâu Ngọc Hoàng lại chẳng truyền lệnh hóa kiếp cho đào kép. Chẳng biết lúc trở về trần thế họ có còn là con người hay biến thành chim chóc, gà, trâu, cây cỏ… Cứ nhìn vở tuồng Ngưu Lang Chức Nữ mà đoàn sẽ diễn cũng đủ thấy rõ điều đó. Tình yêu của Ngưu Lang, Chức Nữ đẹp thế mà Ngọc Hoàng cũng nỡ chia cắt họ, mỗi người một nơi. Người đầu sông, kẻ cuối sông. Con sông chưa dài và rộng bằng nỗi nhớ của hai kẻ yêu nhau! Dãy Ngân Hà mỗi năm lại chìm trong nước mắt yêu thương và trần thế cũng sụt sùi mưa lệ trắng trời. Lão Tự không sao hiểu nổi vì lẽ gì mà một người chai cứng cảm xúc, chẳng biết yêu thương con người lại là Ngọc Hoàng. Ngài thản nhiên ngắm nhìn niềm vui, nỗi buồn với ánh mắt vô cảm, không chút áy náy trước khổ đau mà con người gánh chịu. Không những thế, Ngọc Hoàng còn thích tạo ra nghịch cảnh. Hình như điều đó khiến ngài thỏa mãn cá tính của bậc chúa tể muôn loài, mới có dịp tỏ rõ uy quyền đối với kẻ dưới tay. Lão Tự chợt thấy ghét Ngọc Hoàng hơn ai hết và ông nhất quyết phải làm cho Ngọc Hoàng tỉnh ngộ.

Buổi diễn rõ ràng thành công. Tiên đồng, ngọc nữ há hốc mồm mỗi lần nghe “vô vọng cổ”. Còn Ngọc Hoàng thỉnh thoảng ngài nhấc roi bạc gõ đánh rầm xuống bệ ngọc thay cho tiếng trống chầu tán thưởng. Đào kép có thích thú nhưng không khỏi giật mình. Và, cứ sau mỗi tiếng “rầm” ấy tiếng vỗ tay nhịp nhàng của thần thánh lại vang lên. Chẳng biết họ cảm thấy hay thật sự hay là chỉ để tỏ lòng trung thành với “thủ trưởng” cả trong lĩnh vực thưởng thức ca cổ, cải lương.

Lão Tự đâm bực. Ông được chọn đóng vai Ngọc Hoàng. Lão Tự ngồi trên chiếc ngai từ sân khấu nhìn ngang qua chỗ Ngọc Hoàng ngự lãm. Ông bỗng nãy ra trò đùa ngộ nghĩnh. Đến màn xử tội Ngưu Lang, Chức Nữ. Ngọc Hoàng Tự phán rằng:
- Nầy hai kẻ yêu nhau kia! Hai ngươi đã làm trái đạo lý nhà trời. Lẽ ra ta phải đày mỗi người một nơi, Nhưng tình yêu của hai ngươi khiến ta xúc động. Từ nay, ta cho phép hai ngươi được mãi mãi bên nhau.
“Ngọc Hoàng thật” đứng phắt dậy, thét lớn:
- Cha chả, hay cho tên kép hát. Mi dám cả gan cãi lệnh ta à? Thiên tướng đâu, mau đuổi hắn về trần và biến hắn thành một loại thiêu thân nơi trần thế!

Cơ thể lão Tự bỗng chuyển động, teo tóp bất ngờ. Hai tay biến thành cặp cánh mỏng. Lão Tự thử nhịp đôi cánh và thấy mình bay vút lên không. Lão lao về phía ánh đèn màu sân khấu.
- Ông, ông ơi, tỉnh dậy đi. Ông nói mê gì vậy?

Lão Tự thoát khỏi cơn mơ kỳ hoặc. Một giấc mơ vừa đẹp vừa đáng sợ. Ông đưa mắt ngơ ngác nhìn quanh. Thằng Tuân đang ngồi bên giường. Nó trố mắt nhìn ông, người bác ruột mà cũng là người bạn vong niên đang lâm trọng bệnh, lo sợ một điều bí ẩn nào đó đang bủa vây ông. Tuân hỏi:
- Ông mơ thấy gì mà kêu dữ vậy?
Lão Tự đưa tay lau mồ hôi trán, lẩm bẩm:
- Ta tự hào là một loại thiêu thân!

Thằng Tuân chẳng hiểu gì hết. Nó thương ông lắm. Tuân chỉ muốn làm ông vui. Nó ba hoa một câu đã học lóm được:
- Ông ơi, chỉ còn vài phút nữa là giao thừa. Khoảnh khắc khởi điểm của mùa xuân. Một năm mới sắp bắt đầu. Ôi, ý xuân tràn trề, tình xuân rạo rực!

NGUYỄN THỊ MÂY





MỤC LỤC

Vài chi tiết về kỳ họp ngày 13.01.2018… ......................... Vũ Thư Hữu ... 01

Vài dòng về cuốn Thơ tình Việt Nam & Thế giới chọn lọc
  của ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương  Vũ Anh Tuấn ... 06

Có tận thế không? (tt)............................ Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết ... 09

Tu Phật thời nay (tt) ......................................................  Tâm Nguyện ... 15

Ba truyện ngắn của Ivan Turghenev: Gã đần -

Cuộc gặp gỡ cuối cùng - Đôi chim bồ câu.. Thúy Toàn dịch.... 27

Ngày Tết nói chuyện câu đối ............................................. Bùi Đẹp st..... 32

Như nước trong nguồn ........................................... Nguyễn Văn Sâm.... 38

Xuân đã về, ta hát vang chào mừng xuân sang! ..................... Phạm Vũ ... 50

Ký ức về Xuân ...............................................................  Tâm Nguyện ... 61

Các phong tục Tết của người Việt.............................. Đỗ Thiên Thư st..... 66

Có một mùa xuân (thơ) .......................................................  Đàm Lan ... 77

Tâm sự đời cây (thơ)......................................... Huỳnh Thiên Kim Bội.... 78

Chúc xuân (thơ)................................................ Phạm Thị Minh-Hưng.... 79

Lá mai cuối đông (thơ)...................................... Phạm Thị Minh-Hưng.... 80

Chút thay đổi nhỏ (thơ)................................................... Tâm Nguyện.... 80

Xuân đến, xuân đi! (thơ).................................................. Tâm Nguyện.... 81

Khi lòng chai đá… (thơ) ................................................ Ngàn Phương.... 82

Từ buổi ta về (thơ) ........................................ Hải Đăng-Trần Văn Hữu.... 83

Mưa xuân Sàigòn (thơ)................................................ Phùng Chí Tâm ... 84

Em dệt mùa xuân (thơ)............................................... Phùng Chí Tâm ... 85

Ngôi chùa của mỗi con người (thơ)..................................... Lê Nguyên ... 86

Duyên thơ (thơ) ................................................. Đồ Bổng Hành Thiện.... 87

Chúc mừng hai em thành hôn (thơ) .......................... Dương Ngọc Lạc.... 88

Thì thầm (thơ) .......................................................... Vũ Thùy Hương.... 90

Mộng tưởng (thơ) .................................................................... Hải Âu ... 90

Đón xuân (thơ) ............................................. Vũ Thùy Hương-Hải Âu ... 91

Xuân 2018 (thơ)............................................................. Lang Nguyên.... 92

Mừng xuân (thơ)............................................................ Lang Nguyên.... 92

Em, mùa xuân và… (thơ)........................................................ Hoài Ly.... 93

Xuân thanh bình (thơ) ................................................... Thanh Phong.... 93

Cuối nẻo vô thường (thơ) ............................................... Thanh Phong.... 94

Chúc tết (thơ) ................................................................. Thanh Châu.... 95

A Cẩu (thơ) ..................................................................... Thanh Châu.... 95

Xuân Mậu Tuất (thơ - bài xướng) .................................... Nhựt Thanh.... 96

Xuân Mậu Tuất (thơ - bài họa)......................................... Thanh Châu.... 96

Tôi đi tìm tôi (thơ) ........................................................... Thanh Vĩnh.... 97

Tuổi 84 (thơ).................................................................... Thanh Vĩnh.... 97

Hội ngộ (thơ).............................................................. Quan Thúy Mai ... 98

Gượng gạo (thơ) .................................................................. Lam Trần.... 99

Sài Gòn (thơ).................................................................. Lê Minh Chử.. 100

Nhớ quê (thơ) ................................................................. Thanh Xuân.. 101

Xuân kỷ niệm (thơ) ......................................................... Thanh Xuân.. 102

Đón xuân (thơ)................................................................. Quang Bỉnh.. 103

Vui xuân (thơ).................................................................. Quang Bỉnh.. 103

Lời chúc đầu xuân (thơ)................................................. Vũ Đình Huy.. 104

New Year’s best wishes (thơ).................................. Vũ Anh Tuấn dịch.. 104

Một khối tình (thơ)......................................................... Vũ Đình Huy.. 105

A Love (thơ)........................................................... Vũ Anh Tuấn dịch.. 105

Gói bánh chưng ........................................................... Hà Mạnh Đoàn . 106

Cố nhân .............................................................................. Lam Trần.. 113

Tản Đà kiếm khách ..................................... Đào Minh Diệu Xuân st... 120

Ngày cuối năm ................................................................ Kim Sơn st. . 123

Nhà văn Vũ Bằng viết về 3 tờ 
Truyền Bá - Phổ Thông - Ích Hữu.. Hoàng Kim Thư st. . 126

Của tìm người ............................................................... Phước Hải st. . 132

Về quê ăn Tết ................................................................... Giáng Ngọc.. 134

A golden deed - Một hành động cao quý ............................ Lệ Ngọc st. . 142

Một chuyến du lịch Singapore .................................. Phạm Hiếu Nghĩa . 144

Điểm sách: Vài nét về phong tục Việt Nam ................. Hà Mạnh Đoàn . 146

Chị Đồng ............................................................................ Đàm Lan.. 147

Thiêu thân đêm trừ tịch ............................................ Nguyễn Thị Mây.. 168


Thông báo:

Kỳ họp tiếp theo của CLB sách Xưa & Nay sẽ diễn ra vào lúc 9:00 ngày 10/3/2018 tại Nhà thờ Tân Sa Châu, số 387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình.

Bài viết cho bản tin nội bộ xin gửi về:

hamanhdoan69@yahoo.com

hoặc liên hệ với Hà Mạnh Đoàn - 0937 108489

Các bản tin trước có thể xem tại:

www.diendan.songhuong.com.vn

www.giaimakinhphat.com

www.sachvatranh.com

www.newvietart.com

www.vandanviet.net

www.hoamai-aus.org.au


|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
 16 |
|  17 |
 18 |
 19 |
 20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
 31 |
 32 |
|  33 |
 34 |
 35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
 46 |
 47 |
 48 |
|  49 |
 50 |
 
|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
|  06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
|  11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
|  21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
|  26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
|  36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
|  41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
Netadong.com thiết kế