Hiện có 3 người xem / 1130073 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 10/3/2018

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA & NAY

Như thường lệ, để mở đầu phiên họp, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã giới thiệu với các thành viên mấy cuốn sách mà ông mới có. Nhưng thay vì giới thiệu hai cuốn như thường lệ, hôm nay ông đặc biệt giới thiệu tới bốn cuốn. Hai cuốn đầu là hai tác phẩm của cố nhà thơ Huỳnh Thiên Kim (1903-1971), tác giả đầu tiên viết lịch sử Việt Nam bằng thơ (Cận Đại Việt Sử diễn ca, tập 1 được xuất bản năm 1962, và tập 2, được ái nữ của ông là nhà thơ Huỳnh Thiên Kim Bội cho xuất bản như di cảo vào năm 2016). Hai tác phẩm của ông được giới thiệu hôm nay là cuốn truyện thơ BỐN NHÀ CHIÊN SĨ, được tái bản bởi ái nữ của ông sau khi đã được in lần thứ nhất vào năm 1939, và cuốn Việt Nam Danh Nhân Bách Thư thi v ị nh, được ái nữ của ông cho xuất bản như một di cảo.

Sau khi được giới thiệu các tác phẩm đã được đem tặng cho các thành viên như những món quà tinh thần nhân dịp tân niên. Hai cuốn sau là hai cuốn mà Dịch giả Vũ Anh Tuấn mới có, một cuốn bằng Pháp văn và một cuốn bằng Anh văn. Cả hai cuốn đều được viết về gia đình cố Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, vị Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kỳ, và bà xã của ông là bà Jackie Kennedy. Cuốn thứ nhất bằng Pháp văn mang tựa đề là “Định mệnh bi thảm của dòng h ọ Kennedy” (Le destin dramatique des Kennedy) được nhà xuất bản Famot ở Genève in năm 1973, là một tác phẩm được viết bởi “Các người bạn của Lịch sử” (Les Amis de l’Histoire) với sự cộng tác của 3 tác giả Éduard Bobrowski, René Duval, và J.C. Kerbour’ch. Cuốn sách khổ 12x18, dày 288 trang được in và trình bày cực đẹp, và đặc biệt nhất là ở góc trên mé trái của trang mang tựa đề có ghi dòng chữ: “Bản đặc biệt được Francois Beauval in dành cho các bạn chơi sách của mình” (Exemplaire réservé par Francois Beauval à ses amis bibliophiles).

Cuốn thứ nhì bằng Anh ngữ cũng khổ 12x18, nhưng dày tới 715 trang, chữ nhỏ li ti nhưng thật rõ nét, tuy chỉ là bìa mỏng, nhưng cũng được in và trình bày rất đẹp, của tác giả C. David Heymann, được nhà xuất bản Mandarin in năm 1990, mang tựa đ ề là “Một quý bà tên là Jackie” (A woman named Jackie).

Tuy chẳng ham thích, và có thể nói chẳng hề quan tâm gì tới “cô Chị” (Politics), trong suốt trên 80 năm cuộc đời, lúc nào cũng chỉ biết tới “chính Em” (Beautiful ladies), nhưng người viết vẫn mua cả hai cuốn sách này chính vì chúng được in quá đẹp, và nhất là cuốn bằng tiếng Anh thì là cuốn sách đầy đủ nhất, v ề mặt hình ảnh cũng như tài liệu, về cuộc đời ly kỳ của một Đệ Nhất Phu Nhân Mỹ. Sau khi được giới thiệu, hai cuốn sách đã được một số thành viên chuyền tay nhau xem một cách thích thú.

Sau khi Dịch giả Vũ Anh Tuấn giới thiệu sách, anh Phạm Vũ đã lên nói về Chùa Hương qua một bài nói chuyện ngắn. Tiếp lời anh Phạm Vũ, anh Thanh Phong đã lên ngâm tặng các thành viên bài “Đón lễ Tình nhân” và hát tặng các thành viên bài “Rong chơi cuối đời phiêu lãng”. Anh Thanh Phong hát xong, anh Nhựt Thanh đăng đàn và trình bầy một bài nói ngắn về “Đức khoan dung”. Tiếp lời anh Nhựt Thanh, anh Phước Hải lên chúc Tết muộn và ngâm một bài thơ chúc Tết. Sau anh Phước Hải, Hoài Ly lên cũng lại chúc Tết và ngâm tặng các thành viên bài thơ “Bóng Xuân qua”. Tiếp l ờ i Hoài Ly, Lệ Ngọc lên chúc mừng sinh nhật Kim Bội và anh Tuấn, và ca tặng các thành viên bài “Tôi có người em gái”. Sau Lệ Ngọc, anh Lê Nguyên lên ngâm tặng các thành viên hai bài thơ “Dẫu biết rằng” và “Anh tặng em lẵng hoa”. Tiếp lời anh Lê Nguyên, anh Phùng Chí Tâm lên ngâm tặng các thành viên 4 câu thơ mừng tân niên và hát tặng các thành viên bài hát Nga “Cuộc sống ơi, ta vẫn yêu người”. Sau anh Phùng Chí Tâm, Thùy Hương lên ngâm một bài thơ chúc Xuân mới. Thùy Hương ngâm thơ xong, anh Tấn Thuận lên hát tặng các thành viên bài ca “Em ở đâu?”. Sau khi anh Tấn Thuận hát xong, anh Sâm, từ Mỹ về, lên nói vài lời chào mừng và anh cho biết là anh rất vui khi được tái ngộ các thành viên sau nhiều năm tháng xa cách. Anh Sâm nói xong, anh Phan Minh Hùng lên nói chuyện về việc bấm huyệt và sức khỏe, đồng thời với kinh nghiệm là một Việt kiều Mỹ anh cũng nói qua về chuyện học ngoại ngữ sao cho được tốt. Cuối cùng Kim Sơn lên có vài ý kiến bổ túc vấn đề bấm huyệt và về y học cổ truyền. Buổi họp kết thúc lúc 11g15 cùng ngày và mọi người vui vẻ ra về, hẹn nhau tái ngộ trong kỳ họp tới.

VŨ THƯ HỮU


VÀI DÒNG VỀ CUỐN

“CÁC TÁC GIẢ NGƯỜI VIỆT VIẾT TIẾNG PHÁP”

MỘT MÓN QUÀ SINH NHẬT ĐẦY Ý NGHĨA

Đây là một món quà sinh nhật, mà người viết vừa nhận được cho lần sinh nhật mới nhất của mình, sau khi đã “hết hai mươi tuổi lần thứ tư + vài tuổi lẻ”, và là quà của nhà thơ nữ Kim Bội, một thành viên c ủ a CLB. Cuốn sách khổ 16x24, dày 512 trang, của tác giả Nguyễn Quốc Thắng, cũng là một người bạn cũ, vừa được nhà xuất bản Tổng Hợp T p . Hồ Chí Minh in xong vào tháng 9 năm 2017. Khi mua, nhà thơ nữ Kim Bội đã có nhã ý nhờ tác giả cho chữ ký trên sách, nên tác giả đã ghi dòng chữ “Bản của anh Vũ Anh Tuấn - Sài Gòn” Xuân 2018, và ký tên. Vì là người yêu tiếng Pháp hơn tất cả mọi thứ tiếng, chỉ ít hơn yêu tiếng Mẹ Âu Cơ, nên người viết rất quý món quà này, và hôm nay bài viết nhỏ này là để cảm ơn nhà thơ Kim Bội, và để giới thiệu qua về nội dung cuốn sách, một nội dung mà người viết thật sự yêu thích trong nhiều năm qua.

Qua cuốn sách dày trên 500 trang, tác giả đã cho người đọc những thông tin về 30 Nhà Văn, Nhà Thơ, Học Giả, Giáo Sư, Triết Gia, Sử Gia, Luật Gia... tất cả đều là người Việt, nhưng đã có các tác phẩm được viết và xuất bản bằng Pháp ngữ trong thế kỷ vừa qua. Ngoài ra còn có Phụ lục 1 từ trang 474 đến 495 nói về hai học giả lớn của Việt Nam là quý cụ Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn Tố.

Về mỗi tác giả đều có chân dung, tiểu truyện và thư mục khá đầy đủ. Là người yêu sách và chơi sách gần suốt cuộc đời, người viết biết về tất cả 32 tác giả được sách nói tới, nhưng giao tiếp và gặp mặt thì chỉ có hai người là anh Cao Xuân Hạo (hơn người viết 5 tuổi) và một vị G s mà người viết gặp mặt 5, 7 lần tại các lễ giỗ cụ Á Nam Trần Tuấn Khải và cụ Lưu Trọng Lư, nhưng chỉ gặp mặt chứ không liên hệ gì. Nhưng nói về tác phẩm, thì người viết có thể nói là biết ít nhất của mỗi tác giả ba, bốn tác phẩm chính của họ. Người viết đặc biệt yêu thích quý trọng hai cụ Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn Tố vì các tác phẩm tuyệt vời của hai cụ, cũng như người viết rất phục tài viết Pháp văn của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng, người được người Pháp khen là viết tiếng Pháp hay hơn cả chính họ. Tuy nhiên sau khi đọc lướt qua cuốn sách, người viết hơi buồn khi không thấy hai vị thật nổi tiếng với các tác phẩm bằng Pháp văn là cụ Nguyễn Văn Vĩnh (người đã dịch Truyện Kiều) và cụ Ngô Quý Sơn là người đã viết và dịch cuốn “Các trò chơi của trẻ em Bắc Kỳ” (Activités de la société enfantine Annamite du Tonkin), một tác phẩm tuyệt vời được xuất bản năm 1944, mà người viết có nói tới trong Bản Tin số 142 của CLB Sách Xưa & Nay, và tuy nơi mục “Lời cuối sách” nơi trang 473, tác giả Nguyễn Quốc Thắng đã viết lời xin lỗi do vấn đề sức khỏe nên đã chưa nói tới một số những vị tác giả khác, nhưng vẫn không thấy nhắc gì tới hai tác giả tuyệt tác này.

Cuốn sách quả đã là một món quà quý giá cho người viết là người yêu thích tiếng Pháp và được học tiếng Pháp từ lớp mẫu giáo, và sách quả đã mang lại thêm rất nhiều hiểu biết về các tác phẩm đã được các tác giả nói trên sáng tác bằng Pháp ngữ.

Một giây qua đi cũng là quá khứ, và đây cũng là một kỷ niệm đẹp trong đời chơi sách của mình, nên người viết đưa luôn cuốn này vào Hồi Ký 60 năm chơi sách (chưa hoàn tất) của mình…

Trích “Hồi ký 60 năm chơi sách, chương VI”

VŨ ANH TUẤN

CÓ TẬN THẾ KHÔNG?

THỰC PHẨM BẨN

(tiếp theo số 142)

41. Thách thức niềm tin.

Báo Thanh Niên ngày 23/2/2016 (btv An Nguyên): Khi nghe tin ở Bình Dương, một người dân kinh doanh hoa quả đã dùng chất diệt cỏ để làm chín chuối, ông Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ NN - PTNT trong một cuộc họp đã thốt lên: “Thế là tội ác”. Đúng là tội ác, vì chất diệt cỏ dù ở nồng độ nào, nếu dùng để làm chín hoa quả cũng là hành vi giết người thầm lặng. Nhưng đáng tiếc những hành vi “lạnh sống lưng” ấy đang trở nên phổ biến: nuôi heo bằng chất cấm salbutamol, nuôi gà bằng chất vàng ô, trồng rau siêu tốc bằng thuốc kích thích tăng trưởng, chế dầu ăn từ nước cống, “tinh chất” biến nước lã thành cà phê...

Tìm thực phẩm an toàn giờ là bài toán khó giải đối với mỗi gia đình, mỗi bà nội trợ. Người dân đành tặc lưỡi an ủi nhau: không ăn thì chết ngay (vì đói), ăn thì chết từ từ (vì chất độc hại). Thế là nhà nhà nhắm mắt ăn, nhắm mắt lo sợ. Niềm tin của người tiêu dùng vào thực phẩm sạch, an toàn, vì thế leo lét như ngọn đèn trước gió. Vì đâu nên nỗi, khi mà luật An toàn thực phẩm đã có hiệu lực hơn 4 năm rồi? Vì sao có tới 3 bộ để lo “mâm cơm” an toàn cho người dân mà cuộc chiến chống thực phẩm bẩn vẫn bế tắc, đe dọa sức khỏe người dân, chất lượng giống nòi? Chất cấm trong chăn nuôi, tuy gọi là “tội ác”, nhưng chả ai thấy có trách nhiệm xử lý, “tội ác” cứ nhơn nhơn. Không ít những vụ vi phạm an toàn thực phẩm, vụ ngộ độc nghiêm trọng, gây tranh cãi, nhưng chẳng có ai nhận trách nhiệm.

42. Phá đường dây buôn bán vú heo thối từ Trung Quốc.

Báo Thanh Niên ngày 23/2/2016 (btv Công Nguyên): Vú heo được nhập lậu từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) qua đường biên giới về VN. Sau đó, được các đầu nậu tẩm ướp hóa chất rồi vận chuyển bằng đường bộ vào Tp.HCM để bán vào các quán ăn, quán nhậu, biến thành vú dê.

Chẻ hàng tại Bình Dương: Tại đây, PC49 phát hiện có 40 thùng xốp chứa 2,5 tấn vú heo đã bốc mùi hôi thối và gần 100kg thịt heo chứa trong tủ lạnh. Tất cả số thịt trên đều biến sắc, rỉ dịch và không có giấy chứng nhận kiểm dịch.

8 năm buôn bán vú heo thối: Làm việc với công an, ông Đ. thừa nhận nhập trái phép vú heo thối từ các tỉnh phía B ắc vào Tp.HCM để phân phối cho các quán ăn, nhậu từ 8 năm nay. Ông Đ. đã không ít lần bị cơ quan chức năng xử phạt về hành vi buôn bán sản phẩm động vật thối. Điển hình, ngày 9/5/2012, xe đông lạnh BS 15C - 024.89 do tài xế TVC (quê Nam Định) vận chuyển hơn 10 tấn chân gà và 3,2 tấn vú heo thối từ Hải Phòng vào Tp.HCM thì bị Trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức bắt giữ. Sau khi bị bắt, ông CCĐ đến nhận đây là hàng của mình. Sau khi kiểm tra, cơ quan chức năng đã lập biên bản xử phạt trên 20 triệu đồng và buộc tiêu hủy hơn 13 tấn chân gà và vú heo nói trên. Những năm trước, Trạm kiểm dịch động vật Xuân Hiệp (Chi cục Thú y Tp.HCM) cũng đã nhiều lần xử lý các vụ vận chuyển vú heo thối liên quan đến ông CCĐ. Ông Khương Trần Phúc Nguyên, Trưởng phòng Thanh tra chuyên ngành thú y (Chi cục Thú y Tp.HCM), nhận định vú heo có xuất xứ từ Trung Quốc mà về đến Tp.HCM phải mất từ 5-7 ngày. Vì vậy các đầu nậu bắt buộc phải tẩm ướp hóa chất bảo quản. Nếu như vú heo quá thối, những người buôn bán phải dùng hóa chất để tẩy mùi trước khi bán ra cho các quán. Vì vậy rất nguy hiểm cho người tiêu dùng khi ăn phải những thức ăn thế này. Theo một cán bộ PC49, ông Đ. buôn bán vú heo thối nhiều năm và đã từng bị xử phạt nhưng vẫn tiếp tục, vì đây là mặt hàng siêu lợi nhuận. Bên cạnh đó, luật quy định trong lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc nên xử lý không tới nơi tới chốn những người buôn bán thực phẩm độc hại này.

Ai cũng biết, chỉ cán bộ không biết: Bà NTH (một người dân sống gần kho chứa vú heo thối của ông Đ.), bức xúc cho biết ông Đ. thường xuyên nhập vú heo thối về đây rồi phân phối cho các đầu nậu nhiều năm, dân ở đây ai cũng biết, chỉ có cán bộ quản lý và chính quyền địa phương không biết. Kho chứa hàng nằm mặt tiền QL1, mùi thối bốc ra khu vực xung quanh nồng nặc thử hỏi công an khu vực, cán bộ thú y phụ trách địa bàn, công an kinh tế phụ trách địa bàn, các ban ngành phường ở đâu?

Lò mổ tiêm thuốc cấm vào heo: Rạng sáng 22/2, Trạm thú y Q.12 (Chi cục Thú y Tp.HCM) phối hợp với Công an Q.12 bất ngờ kiểm tra cơ sở giết mổ lậu tại KP5, P.Thạnh Xuân. Đoàn kiểm tra phát hiện một ống kim tiêm chích thuốc cho heo, một lọ thuốc hiệu Prozil 50ml đã qua sử dụng và 7 lọ thuốc cùng nhãn hiệu chưa sử dụng. Ông Phúc thừa nhận đã tiêm loại thuốc này vào heo 20 phút trước khi giết mổ để thịt đỏ tươi, săn chắc. Theo cán bộ thú y, Prozil là loại thuốc an thần bị cấm tiêm vào heo trước khi giết mổ, vì lượng thuốc tồn dư sẽ ảnh hưởng rất lớn cho sức khỏe người ăn phải.

43. “Sữa đậu nành từ chợ hóa chất”.

Báo Thanh Niên ngày 25/3/2016 (btv Nguyên Nga): Chỉ với 1 kg bột sữa không nhãn mác, cho thêm ít “tinh chất”, người bán đã có 50 lít “sữa đậu nành” bán tràn lan trên các tuyến đường tại Tp.HCM mỗi ngày.

Bột đậu hóa chất + hương liệu = sữa đậu nành: Nhưng hương liệu chỉ là phụ. Sau một hồi úp mở, bà X. giới thiệu một loại “nguyên liệu khác có thể thay thế đậu nành và có lãi gấp 2 - 3 lần so với dùng đậu thật”. Đó là những bịch màu trắng ngà mà người bán gọi thẳng là “bột đậu hóa chất”, được giới thiệu nhập khẩu nhưng bao bì không nhãn mác, giá bán lẻ 55.000 đồng/kg; mua nguyên bao 50kg giá trung bình 50.000 đồng/kg. “Giờ người ta toàn dùng cái này thôi”, bà X. nói và dặn dò: “Nhớ chỉ nhỏ vài giọt như thuốc nhỏ mắt là thơm lừng rồi. Cho nhiều quá mùi hắc uống không nổi đâu”.

Đặc, thơm, rẻ... chỉ có hóa chất: Tại Tp.HCM, cách đây 2 năm, Sở KH - CN từng lấy mẫu sữa đậu nành tại các điểm bán lẻ dọc đường, nhà trẻ, quán ăn... để kiểm nghiệm. Kết quả cho thấy, 90% mẫu sữa không nhãn hiệu chứa vi khuẩn tiêu chảy cao gấp 250 lần cho phép. So với 2 năm trước, hiện nay số xe bán sữa đậu nành bùng phát mạnh nhiều hơn về số lượng.

Tiền đề tích tụ bệnh nan y: Theo Ts . Văn Thị Hạnh, chính hạt đậu nành cũng có độc chất saponin, người ta dùng chất này để sản xuất xà phòng. “Chất saponin nếu để sôi ở nhiệt độ cao, các phân tử này sẽ bị bẻ gãy, biến mất. Song nếu chỉ đun ở nhiệt độ chưa đến 100 độ C, khi bọt mới nổi lên ngỡ đã sôi, tắt bếp, tức chất độc saponin vẫn còn, sẽ rất nguy hại sức khỏe người uống phải nó. Nhiều người làm bán không hiểu nguyên tắc này, lại tiết kiệm gas nấu sẽ vô tình bán sản phẩm còn chất độc cho người tiêu dùng. Đó là chưa kể nhiều mẫu sữa toàn đường hóa học, hóa chất hương liệu, hậu quả trước mắt gây ngộ độc thực phẩm, lâu dài là tiền đề tích tụ cho các loại bệnh nan y”.

44. Tạm giữ 218 con heo bị bơm nước và tiêm thuốc an thần.

Báo Thanh Niên ngày 25/3/2016 (btv Đỗ Trường): Tối 23/3, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Bình Dương) phối hợp Chi cục Thú y Bình Dương và Công an TX. Bến Cát kiểm tra trại chăn nuôi ở KP.An Hòa, P.Hòa Lợi, bắt quả tang 6 công nhân đang tiêm chất Prozil fort (một loại thuốc an thần) cho hàng chục con heo. Tại hiện trường, lực lượng chức năng thu giữ 44 vỏ chai Prozil fort vừa sử dụng hết thuốc; 4 chai đang sử dụng dang dở... Làm việc với cơ quan chức năng, chủ trại khai mỗi ngày cơ sở vận chuyển khoảng 300 con heo từ Bến Tre về Bình Dương tập kết, rồi thuê người bơm nước vào bụng, đồng thời tiêm thuốc an thần trước khi vận chuyển xuống lò mổ ở Q.Bình Thạnh, Tp.HCM để giết mổ và tiêu thụ. Việc bơm nước vào nhằm tăng ký và tiêm thuốc an thần để cho thịt heo được tươi lâu. Còn người ăn phải những sản phẩm này sẽ bị thương tổn hệ thần kinh và mắc nguy cơ gây ung thư cao.

(còn tiếp)

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết

(Tổng hợp nguồn báo chí và các phương tiện truyền thông)

MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT

Càng cách xa thời điểm Đức Thích Ca lập Đạo. Càng xa rời những lời hướng dẫn của Chư Tổ thì Đạo Phật càng mở rộng bao nhiêu lại càng khác với mục đích ban đầu của Đức Thích Ca bấy nhiêu. Thật vậy, dù kinh sách người xưa để lại nhiều đến nỗi được gọi là “Thiên Kinh vạn quyển”, nhưng không phải tác giả nào cũng diễn giải đúng với Đạo Phật chân chính. Nhất là từ khi Đạo Phật phân chia ra thành Hai Thừa: Đại Thừa và Tiểu Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy, thì mỗi bên đã có cách giảng dạy Đạo Phật khác nhau. Kết quả cũng không giống nhau. Thời Tổ Đạt Ma đã có những Tông đầu tiên đó là: Hữu Tướng Tông, Vô Tướng Tông, Định Huệ Tông, Giới Hạnh Tông, Vô Đắc Tông, và Tịch Tịnh Tông. Tổ thấy thương họ bị tà kiến, nên đích thân đến đấu lý với từng Tông, giúp họ bỏ đi sai lầm. Đệ Tử nhiều đời sau của Lục Tổ Huệ Năng cũng lập ra Ngũ Phái chuyên tu Thiền gọi là THIỀN TÔNG gồm: VÂN MÔN TÔNG, PHÁP NHÃN TÔNG, TÀO ĐỘNG TÔNG, QUY NGƯỠNG TÔNG và LÂM TẾ TÔNG. Những Tông này chuyên dùng Công Án để tu tập. Khi thấy được ý nghĩa của Công Án thì cho là Chứng Đắc.

Đạo Phật từ buổi đầu như biển lớn, bao gồm tất cả các Pháp, nhưng các đệ tử đã tách ra nên từ đó kể như đi lần vào sông rạch, bởi mỗi Tông, mỗi Phái chỉ lấy một hay vài Pháp trong Đạo Phật để khai triển, nên không còn giống Đạo Phật buổi đầu nữa.

Một thí dụ cụ thể mà ai cũng biết đó là Thiền Tông. Họ thấy rằng Đức Thích Ca đắc Đạo nhờ Thiền. Thế là họ bỏ hết các việc khác, chỉ tập trung thực hành môn Thiền mà thôi. Nhưng do không biết Đức Thích Ca đã NGỒI THIỀN như thế nào mà đắc đạo, nên họ ra Công Án hay một Thoại Đầu cho đệ tử Tham. Mỗi đệ tử nhận một Công Án. Khi khám phá ra được Công Án đó thì cho là chứng Đắc! Các Thiền Sinh đã bỏ ăn, bỏ ngủ để Tham. Nhiều Thiền Sinh loay hoay mãi mà chẳng thấy gì. Đến nỗi chỉ mỗi chữ VÔ thôi, mà Ngài VÔ MÔN phải mất đến 6 năm để Tham. Nhưng kết quả cũng chỉ là đọc bài Kệ 4 câu. Mỗi câu là 5 chữ VÔ, nghĩa lý chẳng ra làm sao. Vậy mà cũng được cho là Chứng Đắc! Thấy chữ VÔ mà cho là Thấy Tánh! Mục đích của Đạo Phật là Thoát Sinh Tử, Thoát Khổ, mà cho Tham những Công Án: “Ai niệm Nam Mô A Di Đà Phật”, “Tiếng vỗ của một bàn tay”, “Cô Thanh lìa hồn, cô nào là thật”, chẳng liên quan gì đến Thoát Sinh Tử, vậy thì làm sao Chứng Đắc? Không những thế, Nhà Thiền còn cho rằng cái mà họ Chứng Đắc, còn cao hơn cả Phật nên sau đó người được cho là Chứng Đắc đâm ra ngạo mạn!

Đọc Vô Môn Quan là tập mà Ngài Vô Môn gom lại những Công Án thời đó ta thấy có Công Án của Ngài Pháp Diễn: “Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của những kẻ ấy”! Cho thấy giới Tu Thiền ngạo mạn đến cỡ nào. Cái ngạo mạn đó làm cho người tự cho là Chứng Đắc trở thành ngông cuồng, lập dị. Người đời bị coi thường, bị gán cho là “phàm phu tục tử” mà còn biết rằng “Không thầy đố mầy làm nên” hay “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, tức là ngay cả chỉ hiểu được một chữ hay nửa chữ cũng là nhờ công ơn của người Thầy. Vậy mà nhà Thiền lại hạ các vị Thầy như Thích Ca, Di Lặc xuống thành hàng tôi đòi cho họ! Có người hỏi thế nào là Phật thì Ngài Vân Môn trả lời là “Que cứt khô”! Học trò ông thì trả lời là: “Ba cân mè”! Giá trị của Phật đối với họ chỉ có thế thôi sao? Có vị còn cho rằng “Nói đến chữ Phật phải súc miệng ba ngày”! Quả là trình độ lộng ngôn đã đến mức hết thuốc chữa! Khinh người là đã có tội rồi. Báng Phật, nhạo Pháp thì tội để đâu cho hết? Vậy mà Thiền Tông hiện nay vẫn dùng tài liệu này để đào tạo Thiền Sinh! Họ tu xong sẽ ra sao?

Do Nhà Thiền không có người thật sự Chứng Đắc nên không biết rằng tu Phật đâu phải để Chứng Đắc? Sự Chứng Đắc nếu là phần Lý thì chỉ là đánh dấu sự hiểu biết về vấn đề mà họ đang cần tìm hiểu. Sau đó phải chuyển ra thực hành, gọi là SỰ. Lý Sự song hành thì mới đúng là người đang tu tập. Chỉ có cái Thấy Tánh mới là cái Chứng Đắc quan trọng của người tu. Nói lên được là họ đã tìm gặp cái TA THẬT của họ. Cái mà bất cứ người tu Phật nào cũng phải Thấy, thì mới có thể Thoát Sinh Tử, Khổ đau. Nhưng người tu Phật không dừng ở đó. Còn phải “Đắc cái vô Đắc”, “Chứng cái vô Chứng”, có nghĩa là người Đắc, Chứng phải không thấy CÓ MÌNH ĐẮC, MÌNH CHỨNG. Nếu còn thấy Có Mình Chứng, Mình Đắc, là đi một vòng rồi trở lại phàm phu, còn nguy hiểm hơn phàm phu trước kia, vì có câu: “Phàm phu còn có tâm quay về, mà Thinh Văn thì không”, để nói về người chưa biết gì thì còn muốn học hỏi. Ngược lại, người đã học một thời gian, biết được một số vấn đề nào đó, chưa biết đúng hay sai, nhưng thường chấp vào sự hiểu biết của mình, khó ai nói cho họ nghe để quay lại được!

Biện minh cho lý do có môn “Đả Thiền”, Nhà Thiền thấy Kinh viết rằng lúc Lục Tổ thông báo nhập diệt thì Thần Hội vẫn giữ được thần thái an nhiên thì cho rằng nhờ ba gậy của Lục Tổ mà Thần Hội THẤY TÁNH. Họ quên rằng sau khi lãnh ba gậy đó, Thần Hội có Thấy Tánh ngay đâu, Ngài còn theo hầu Tổ suốt mười mấy năm, học, hành bao nhiêu thứ, nên khi gặp chuyện mới giữ được thần thái như thế! Có Phái suốt một hay nhiều Thất, Thiền Sinh ngủ gục là bị đánh, bị quật cả thiết bảng lên đầu, lên vai, gọi là “Đả Thất”. Nhưng qua bao nhiêu thời kỳ, môn “đả Thiền, đả Thất” có cho ra được một Thiền Sư nào đâu?

Trong khi người tu theo Đạo Phật chân chính phải qua nhiều giai đoạn hành trì. Trước hết là phải giữ Giới. Phải hành theo Bát Chánh Đạo. Phải tập làm nhiều Hạnh. Phải Xả chấp v.v… Người tu học có đến Lục Độ để làm, gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ. Phải điều phục các Căn. Phải thấy Chúng Sinh để cứu độ. Phải “Độ” cho hết Chúng Sinh thì mới đạt được mục đích chân chính của Đạo Phật là Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử hay Thành Phật.

Thiền chỉ là Một trong Sáu công việc gọi là Lục Độ. Mục đích của việc Ngồi Thiền là tập trung tư tưởng để Soi, Quán, tìm hiểu một pháp nào trong Đạo. Sự hiểu biết đó gọi là Trí Huệ. Có Trí Huệ rồi thì theo sự hướng dẫn đó mà tu hành. Vậy mà Thiền Sinh chỉ hành có mỗi môn Thiền, không cần học hỏi gì thêm. Thấy chút gì đó đã cho là Chứng Đắc!

Đọc tài liệu tu tập của Thiền Tông, ta thấy Phương tiện hướng dẫn của Thiền Sư thời xưa rất là đơn giản. Đệ tử không phải Giữ Giới, không cần Quán Sát, Tư Duy, cũng chẳng cần biết thế nào là Sinh tử Luân hồi, Phiền não, Khổ đau. Họ chỉ cần khai một Công Án nào đó mà thôi. Người thầy thì chẳng cần giảng nói, chỉ “Đưa ngón tay lên”. “Hét”. “Đánh”. “Quăng phất trần”. “Sập cửa cho gãy chân”. “Cầm phất trần đưa lên đưa xuống”… Vậy mà nhiều người, trong đó có Thiền Sư Suzuki ca tụng hết lời, cho đó là “Chỉ thẳng”. Nếu thật sự những phương pháp “chỉ thẳng” đó có thể đưa người học đến Giác Ngộ thì Thiền Sư Suzuki đâu có viết đến mấy quyển Thiền Luận dày cộp nhưng tự nói: “Dầu có đem hết tâm trí ra mà nghiền ngẫm thiên cảo luận này vẫn không khỏi hoang mang về đại nghĩa của Thiền Pháp”. Và chính Ngài tự đánh giá: “Tôi mong đem đến bạn đọc một ý niệm dầu rất mơ hồ về đạo Thiền theo như tinh thần đã được truyền tại Viễn Đông trên ngàn năm”!

Viết hàng mấy ngàn trang luận về Thiền để rồi tự nhận là chỉ “đem đến một ý niệm dầu rất mơ hồ cho người đọc”! Rõ ràng chính Ngài cũng tự biết là bản thân không thể diễn tả về Thiền cho rõ ràng, cho đúng nghĩa, mà chỉ đưa ra một ý niệm mơ hồ! Vậy thì người nghiền ngẫm, tham khảo mấy quyển Thiền Luận của Ngài sẽ hiểu được gì? Hay càng đọc càng mờ mịt, mơ hồ thêm thôi? Thiền Sư mà chẳng giải thích được thế nào là Thiền, cũng không đưa người đọc đến thực hành đúng để có kết quả của Thiền! Vậy thì chúng ta nghĩ sao về hai từ Thiền Sư mà mọi người gán cho Ngài?

Chính vì không có giáo pháp để truyền lại, nên lớp con cháu không có gì để học, mà lần hồi các môn phái Thiền tự đi vào diệt vong. Ngài Nguyệt Khê sau khi khảo sát về các môn phái Thiền Tông đã đưa ra kết luận: “Pháp Nhãn Tông truyền sang Cao Ly. Vân Môn và Quy Ngưỡng Tông đã thất truyền từ lâu. Chỉ còn hai phái Lâm Tế và Tào Động, nhưng con cháu các Phái Thiền này chỉ ghi trên Pháp Quyển là Thiền Sư đời thứ mấy, khi hỏi về gia phong tông chỉ thì ngơ ngác không thể trả lời”! Người dạy Thiền về sau này cũng mang danh hiệu Thiền Sư, nhưng không hướng dẫn Thiền Sinh cách thức như trong Kinh ghi lại, mà sáng tạo ra nhiều kiểu Thiền: Thiền Nằm, Thiền Chạy, Thiền Ôm… để rồi các đệ tử cứ Ngồi Thiền mà chẳng biết phải làm gì trong thời gian đó, nên họ hoặc “ngồi một cục” - mà Kinh Duy Ma Cật gọi là “Ngồi sửng ở đó” - đưa đến các hiện tượng hoặc hôn trầm, hoặc nghĩ vu vơ, hoặc thả hồn rong chơi các cõi, hoặc xuất hồn, không làm sao đạt được sự Chứng Đắc như Đức Thích Ca đã đạt được.

Ngược dòng thời gian để kiểm chứng lại thì chúng ta dễ dàng nhận thấy để so sánh lý do Ngồi Thiền hiện nay với lý do Ngồi Thiền của Đức Thích Ca. Đức Thích Ca Ngồi Thiền có mục đích hết sức rõ ràng: Tìm nguyên nhân đã gây ra cảnh Sinh, Lão, Bệnh, Tử đã đè nặng lên tấm thân của con người. Do đó, Ngài không ngồi ỳ một cục, thân tâm đều tĩnh lặng, mà Ngài đã THIỀN QUÁN, tức là dùng thời gian NGỒI, trói tay chân, mắt khép hờ, để tập trung tư tưởng tìm cho ra câu trả lời vấn đề mình đang bức xúc. Giờ chót, cuối đêm thứ 49, Ngài đã gặp được. Kết quả đó gọi là “Đắc Đạo”, tức là Gặp được con đường mình cần tìm. Sử sách chép lại, ngay sau khi Xả Thiền, Ngài đã đứng dậy hân hoan tuyên bố: “Ta lang thang trong vòng Luân hồi. Tìm mãi mà không gặp Kẻ làm nhà. Hỡi Kẻ làm nhà. Từ đây ta đã gặp được người rồi. Người không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của ngươi đã gãy vụn, rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Tâm trí ta đã đạt được Vô Thượng Niết Bàn, Ta đã hoàn toàn Giải Thoát”.

Qua lời tuyên bố đó, ta thấy rằng Đức Thích Ca đã dùng thời gian Ngồi Thiền để truy tìm KẺ ĐÃ LÀM RA NGÔI NHÀ SINH TỬ, và Ngài đã nhận diện được hắn. Chính vì vậy, Thiền trong Đạo Phật gọi là THIỀN QUÁN, có nghĩa là người Ngồi Thiền dùng thời gian đó để Quán tưởng, tư duy về Pháp nào đó trong Đạo để sinh sự hiểu biết gọi là Trí Huệ, không phải ngồi ỳ ra đó, chờ hết giờ là Xả, giống như người nhen củi lửa rồi bỏ cho cháy khơi khơi, chẳng nấu ra được món gì! Đó là lý do mà ta thấy từ rất nhiều năm qua, Thiền nở rộ khắp nơi, Chùa nào cũng có những lớp dạy Ngồi Thiền mà chẳng thấy có ai đắc đạo!

Cũng giống như việc học ở đời. Người Thầy phải tốt nghiệp thì mới đào tạo cho lớp sau cũng tốt nghiệp. Thầy còn chưa Đắc Thiền thì làm sao đào tạo đệ tử Đắc Thiền? Việc tu hành cũng giống như tạc một pho tượng, nếu chỉ tạc một bộ phận nào đó thì làm sao có được một pho tượng hoàn chỉnh? Thiền chỉ là một trong nhiều phương tiện của Đạo Phật, mục đích để tập trung mà tìm hiểu một vấn đề nào đó trong Đạo, cần có sự hỗ trợ của những Pháp khác, không thể đang loạn động mà Ngồi Thiền thì Định được ngay. Hơn nữa, Tu Phật có 4 giai đoạn: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP. Kết quả của Thiền chỉ là giai đoạn Thị hay Ngộ, còn cần phải hành dụng để Nhập nữa, nhưng nhà Thiền dừng ở Thị hay Ngộ thì đâu có giống với Thiền của Đức Thích Ca và Chư Tổ hướng dẫn?

Bàn về mục đích Ngồi Thiền của Đức Thích Ca và những người từ sau đến hiện đời, ta thấy: Thủ phạm gây ra Sinh Tử Luân Hồi đã được Đức Thích Ca nhận diện, đã bị bắt về quy án, thì chúng ta còn Ngồi nhắm mắt nhắm mũi để tìm thứ gì? Do đó, công việc của người thời sau chúng ta cũng là Thiền, cũng là Định, nhưng là tập trung để tìm hiểu xem những gì Đức Thích Ca hay Đạo Phật nêu ra có hợp lý đối với ta hay không? Nếu thấy hợp lý thì áp dụng vào cuộc sống để được Thoát Khổ như mục đích mà Đạo Phật đề ra. Chư Tổ, Chư Vị Giác Ngộ là người đi trước, đã cắm mốc, đã hướng dẫn cặn kẽ trong những Bộ Chính Kinh, ta có thể nương theo đó để dò xem mình có đi đúng hướng hay không? Thí dụ ai cũng nói là Tu Phật là phải Tu Tâm, thì ta có biết cái Tâm mà Đạo Phật nói là gì chưa? Ở đâu? Làm sao để Thấy nó? Thấy nó rồi thì Tu nó như thế nào? Nếu ta hành trì kiểu gì khác, mà không từng biết đến Cái Tâm thì chừng nào mới tu cho thành công?

Người chưa từng vào rừng làm sao biết lối? Rừng Phật Pháp cũng thế. Cần người đã thông thạo hướng dẫn, bởi ngoài Chữ còn có Nghĩa, mà kinh Đại Bát Niết Bàn dặn dò là “Y NGHĨA BẤT Y NGỮ”, nếu không có người đi trước hướng dẫn e rằng chúng ta khó hiểu được lời Phật dạy. Các vị Giác Ngộ có xuất hiện thì chúng ta cũng không thể nhận ra. Do đó, tốt nhất là từ cái hiểu, cái hành đều phải rà soát, phải kiểm tra lại với Chính Kinh, coi có khế hợp hay không, nếu không muốn tu hành mà không đạt kết quả. Những người chống đối hay chê Kinh Đại Thừa không đọc thì chẳng những tự cản trở bước tiến của họ, mà còn không tuân theo Di Ngôn của người khai sáng ra Đạo Phật, bởi chẳng phải khi Truyền Y Bát cho Ngài Ca Diếp, Đức Thích Ca có dặn là “việc này phải tiếp tục mãi để Đạo Phật được trường tồn”? Lý do nào Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ nhìn nhận Tổ Ca Diếp và Tổ A Nan, trong khi có đến 33 vị?

Có nghiên cứu mới thấy chính vì việc tranh giành Y Bát của người thời đó đã làm hại biết bao nhiêu thế hệ về sau, bởi vì không có Y Bát để làm Tin, nên mạnh ai nấy giảng Đạo, Phật Tử làm sao đủ khả năng để phân biệt Chánh, Tà? Đâu biết ai giảng đúng Chánh Pháp hay không? Bởi đâu phải Vị nào tu lâu năm, đạo mạo, nghiêm trang, giữ tròn Giới, giảng Pháp thao thao đã là người Chứng Đắc? Không Chứng Đắc, không Thấy Tánh mà giảng dạy thì Tổ Đạt Ma gọi đó là “Ma nói”, vì dắt những người tin theo đi vào tà pháp. Ngay cả Chánh, Tà, nếu người tu còn chưa minh định thì biết mình đang ở bên nào? Đang hành sai hay đúng? Kết quả về đâu?

Cho nên, theo tôi, nếu người Phật Tử không muốn bị dắt đi sai lạc thì tự mỗi người phải tìm hiểu tất cả các Pháp mới có thể nắm vững đường lối tu hành. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Tất cả Sự, Lý phải hiểu đến tận chỗ chân”, kể cả những việc được xem là trái thường: Tại sao Tổ thứ Ba lại Truyền Y Bát cho một chàng thanh niên mới có 20 tuổi, mới Xuất Gia được có 3 năm mà không Truyền cho các vị Trưởng Lão đã tu lâu năm trong Chùa? Tại sao Ngũ Tổ không Truyền Y Bát cho Sư Thần Tú là Giáo Thọ mà lại truyền cho một chàng thanh niên mới 25 tuổi, dốt nát, nhà quê, mới vào Chùa có 8 tháng, còn chưa được quy y, thế phát? Từ đó ta mới hiểu việc Chứng Đắc, Thấy Tánh quan trọng và ảnh hưởng đến việc tu hành, giảng Pháp ra sao.

Thực tế đã chứng minh các Tổ cũng không hề nhầm lẫn. Chàng thanh niên 20 tuổi được Truyền Y Bát cho làm Tổ thứ Ba đó đã làm tròn sứ mạng, giữ gìn Đạo Pháp, cầm nắm Tăng Chúng và trước khi nhập diệt đã Truyền Y Bát lại cho Tổ kế nhiệm, để Đạo Phật tiếp tục được phát huy cho đến đời Tổ thứ 33 là Lục Tổ Huệ Năng. Những Tổ về sau đúng là có sáng tạo, đã luận giải những điều trước kia được cho là bí mật, vì con người thời trước đó chưa đủ trí để hiểu biết, cũng như ngôn ngữ chưa đủ phong phú để diễn tả. Nhưng các Ngài đều đã chứng đắc, cho nên tất cả những gì các Ngài luận giải đều không sai lạc với Giáo Pháp do Đức Thích Ca giảng dạy từ buổi đầu. Không xa rời mục đích Giải Thoát khỏi Sinh Tử, Phiền Não, Khổ đau của kiếp sống.

Những người không đọc hết Kinh, chưa biết rõ mục đích của Đạo Phật, mới đọc đến giai đoạn quán sát cái Thân, thấy nó là giả tạm, cuộc đời là ô trược, phiền não, đã căm ghét cái Thân, chê cuộc đời, rồi ruồng bỏ, xa lánh thế nhân, tách riêng để không chung đụng với người đời để lên núi ẩn tu, hay vô Chùa xa lánh trần tục. Ngược lại, người hiểu đúng Chánh Pháp và nắm vững đường lối tu hành theo Đạo Phật chân chính thì quý trọng cái Thân, cảm ơn cuộc đời. Vì nhờ có cái Thân, có cuộc đời mà họ mới tu hành Giải Thoát được. Giai đoạn đầu, họ cũng phân tích cái Thân để thấy nó là Giả tạm, không thật, không bền, để tìm cái Mình Thật hay cái Chân Tánh. Khi gặp được cái Chân Tánh rồi, thì biết rằng nó cũng phải nương cái Thân hữu tướng để hành dụng, nên không khinh chê, vùi dập cái Thân, chỉ lấy lại vị trí của mình, không tiếp tục phục vụ cho nó, không chìu theo nó để làm những điều sai quấy, trái lại điều khiển nó, dùng nó để phục vụ cho Con Đường tu hành.

Cũng Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý... nhưng ngày trước là Lục Tặc, dắt các Pháp về làm náo loạn Thân, Tâm. Sau khi điều phục xong thì chúng lại trở thành Lục Hộ Pháp, là những tay sai đắc lực để phục vụ cho con đường tu hành, đưa đến kết quả Giải Thoát. Người tu Phật chân chính khi thành tựu cũng không thành Thánh, thành Phật, hay đi về cõi nào để an vui một mình, mà họ chỉ đi một vòng, bắt đầu từ cuộc đời, nhìn cho rõ chân tướng của cái thân, của cuộc đời để biết Phiền Não từ đâu tới rồi điều phục nó. Sau khi xả bỏ Tham, Sân, Si, Thương, Ghét, họ trở lại với cuộc đời bằng tấm lòng bao dung, bằng bốn Đức Từ, Bi, Hỉ, Xả của Phật. Bằng Hạnh Bồ Tát, xem tất cả mọi người là “những vị Phật sẽ thành”, để kính trọng, nâng đỡ nhau, giúp nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống tạm, cùng với Chư Vị Giác Ngộ tát cạn Bể Khổ, để trần gian không còn là vực nước mắt, mà tất cả mọi người đều được sống trong phiền não mà không bị phiền não nhiễu hại, được hạnh phúc, an vui cho đến hết kiếp, như hình ảnh HOA SEN. Đó là lý do mà đạo Phật dùng Hoa Sen làm biểu tượng.

Thật ra thì cảnh trần vốn đẹp bởi thiên nhiên sẵn bày, với hoa cỏ xanh tốt, núi non hùng vĩ, phong cảnh hữu tình, nhưng do nhiều người tham lam, sân hận, đã tranh giành, tàn sát lẫn nhau, gây biết bao thảm cảnh, biến nó thành địa ngục. Nếu mọi người đều ý thức rõ về cuộc sống mà yêu thương, nâng đỡ nhau thì trần gian sẽ trở thành Niết Bàn, vì không còn cảnh giành giật, đấu đá, tranh chấp với nhau. Trong gia đình thì con cháu yêu thương, tôn kính, giúp đỡ ông bà cha mẹ. Ngoài xã hội thì mọi người không còn lường gạt nhau, không còn cảnh bóc lột, hà hiếp nhau, trái lại yêu thương, giúp đỡ nhau. Người nào việc ấy, cùng chung tay góp sức cho xã hội được giàu mạnh, ấm no. Mỗi người hành xử theo Luật Nhân Quả, không còn mê tín dị đoan, cúng sao giải hạn. Không còn cầu An, cầu Siêu, cầu bớt rủi, thêm may. Không trách móc thần thánh khi gặp chuyện xấu, vì biết đó là Nhân Quả trả lại cho mình, không ai có quyền thêm bớt. Không chỉ là con người đối tốt với nhau. Những sinh vật sống chung quanh cũng không còn bị tàn sát vô tội vạ.

Nếu mọi người thật sự hiểu rõ ý nghĩa của cuộc sống, giá trị của kiếp sống thì hẳn trái đất đầy tình yêu thương, không còn tiếng than khóc, không còn cảnh khổ vì chiến tranh, vì đói nghèo, vì bị áp bức. Cây cỏ xanh tươi, thái bình, an vui khắp chốn. Ngay cả sự chia lìa với người thân thì cũng biết đó là hết Duyên, hết Nghiệp, không có gì phải tiếc nuối khóc than, vì biết rằng “các Pháp hữu tướng là hư vọng”. Hợp tan là điều sớm muộn phải đến. Biết cái Thân này không phải là Mình, chỉ là cái Thân ứng hiện để cho Nhân Quả trả vay, nên khi Thân già cỗi hết Duyên mà ra đi thì cũng biết như mùa Đông cây thay lá úa để cho mầm xanh mới vươn lên. Sự sống vẫn tiếp tục qua hình thức khác, vì Chân Tánh của chúng ta là Bất Sinh, Bất Diệt. Biết cuộc đời là Vô Thường, nên khi còn sống bên nhau thì đối xử với nhau hết tình, để khi chia tay không hối tiếc. Một gia đình êm ấm, vợ chồng cùng yêu thương nhau, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, chăm lo giáo dục cho con cái. Đó là hạnh phúc của lứa đôi, mọi người cần nâng niu giữ gìn. Với ông bà, cha mẹ, bạn bè khi còn bên cạnh nhau chúng ta cũng đối xử hết lòng, thì có gì đau khổ khi phải chia lìa, bởi biết đó là điều đương nhiên phải xảy ra, không sớm thì muộn?

Khắp nơi an lạc hạnh phúc, cuộc đời tràn ngập những niềm vui. Đó mới là mục đích của Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp. Không phải để tô đắp, dát vàng cho Tượng, xây Chùa ngày càng hoành tráng để tôn vinh Phật. Cũng không phài xa lìa trần gian, sống biệt lập với thế nhân, không tham gia việc đời để rảnh rang mà tu hành.

Phật dạy người tu xong phải đền TỨ ÂN, đâu có kêu ta bỏ cha mẹ, bỏ đời, không tham gia việc đời? Ngài dạy người tu phải LY GIA, CẮT ÁI, XA RỜI QUYẾN THUỘC trong ý nghĩa: “Ly Gia” là Rời khỏi Nhà lửa Tam Giới, là Tham, Sân, Si. “Rời bỏ cha mẹ” là bỏ đi Vô Minh và Tham Ái, vì từ bao đời chúng sai sử mỗi chúng ta như cha mẹ sai con. “Cắt Ái” là cắt đi ái luyến với cái Thân và những thứ yêu thích. “Xa rời quyến thuộc” có nghĩa là rời bỏ Ba Nghiệp của Thân, Khẩu, Ý, bởi vì những việc ta làm qua 3 nơi này mới thật sự là quyến thuộc của ta, chính vì hành vi của ba nơi đó mà ta được phước hay phải đọa. Do đó, nếu ta cứ Y NGỮ mà làm, mà không hành theo NGHĨA nói trên thì chẳng bao giờ tu hành thành công.

Cuộc đời dù nói là phù du, thân này là giả tạm, nhưng cũng kéo dài cả trăm năm. Thời gian sống mỗi người chúng ta hưởng dụng biết bao nhiêu sản phẩm của cuộc đời, có nhiệm vụ phải đền đáp, đâu thể dửng dưng bên lề cuộc sống mặc mọi người xây dựng hay tàn phá? Có đọc mô tả 32 Tướng Tốt của Phật, ta sẽ thấy đó chỉ là phương tiện của Phật để mọi người sống với nhau tốt đẹp hơn, bởi mỗi Tướng được hình thành bằng cách cư xử giữa con cháu với ông bà, cha mẹ. Giữa học trò với thầy. Giữa bạn bè và mọi người chung quanh. Không hại người, trái lại giúp người. Lời nói phải trung thực. Thêm vào đó là Giới, Hạnh phải giữ tròn. Nói về người tu hành phải thanh tịnh mới đạt được Thánh vị thì chúng ta nên nhớ rằng chính Đức Thích Ca cũng có vợ con rồi mới đi tu, không phải Ngài đi tu hành từ lúc còn là thanh niên trong trắng. Ngài Chứng Đắc cũng nhờ Thiền Định, không phải nhờ vào độc thân. Thật vậy, ai mà không phải phiền não? Có gia đình có cái phiền não của người có gia đình. Độc thân có cái phiền não của cảnh độc thân. Hoàn cảnh nào mà không cần giải thoát? Người độc thân làm một số việc nào đó mà thành thánh vị thì lẽ nào người có gia đình cũng làm bao nhiêu việc đó mà kết quả lại khác? Nhưng thật ra không nên quan trọng hóa quả vị, vì đó chỉ là “Hóa thành dụ” mà thôi, không phải là mục đích của việc tu hành.

Đạo Phật được đặt ra là vì con người, cho tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc, trình độ, trong Chùa hay ngoài Chùa. Nếu có người cố tình diễn giải sai khác, chính là người làm cho Đạo Phật bị giới hạn, không phổ cập cho đại chúng được. Đạo Phật ra đời cách đây đã gần 3.000 năm. Có nhiều điều đã bị hiểu sai do bị ảnh hưởng của lớp người đi trước truyền lại, cần chấn chỉnh cho hợp tình, hợp lý:

1. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh là Phật sẽ thành”, đâu có phân biệt Tu Sĩ hay Cư Sĩ. Cùng là tu hành với nhau, tại sao Giới Tu Sĩ thì được quyền ăn trên, ngồi trước, không phải lo âu gì đến cuộc sống, được an tâm, nhàn thân mà tu tập trong khi Giới Cư Sĩ vừa lo tu tập, vừa phải gánh vác gia đình, vợ con, lại phải cung dưỡng mọi thứ cho Tu Sĩ, trong khi ai cũng biết là “Ông tu, ông đắc, Bà tu, bà đắc”?

2. Nói về Cúng Dường thì mọi người đều biết, bản tính con người vốn tham lam, không bao giờ cho ai thứ gì mà không mong nhận lại nhiều hơn. Do mọi người được nghe xưng tán Phật là Thần Linh, có quyền cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, nên họ cúng Chùa, cúng Phật cũng với lòng tin tưởng, cầu mong được ban ơn, giáng phúc. Họ nghĩ rằng các tu sĩ do tu hành, thanh tịnh sẽ chuyển lời cầu xin của họ đến Phật để Phật sẽ giáng phúc, bớt rủi, thêm may cho gia đình họ, bản thân họ. Trong khi đó, Giáo Pháp của cả Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy cũng đều cho rằng Phật “cũng là người bình thường như tất cả mọi người, nhờ tu hành đoạn trừ lậu hoặc mà đắc pháp”. Ngài không có thần thông, phép mầu, không thể cứu độ cho mọi người. Như vậy, liệu những đồng tiền mồ hôi, lao động, tích góp của thí chủ mà họ bớt phần để cúng cho người tu do hiểu lầm về Phật, về người tu, thì có thể gọi là “tịnh tài” được không? Phật không phải là Thần Linh thì những người khuyến khích bá tánh Cầu An, Cầu Siêu nghĩ sao?

3. Đức Thích Ca chỉ để lại những gì Ngài đã hiểu, đã thực hành gọi là Giáo Pháp để người nào chấp nhận, hành theo thì sẽ hết Khổ, gọi là Tự Độ mà thôi. Vậy thì chủ trương xây Chùa cho hoành tráng, đúc tượng cho to lớn, tốn kém biết bao nhiêu tiền của của người đời để tôn thờ và cầu xin Ngài phù hộ thì có đúng với Đạo Phật chân chánh hay không?

4. Một điều rất quan trọng nữa, là đất nước bất cứ thời nào cũng cần rất nhiều nguồn nhân lực để dựng xây, phát triển, nhưng do hiểu lầm về Phật, về con đường tu hành theo Phật, nên một số tu sĩ thời xa xưa, không những bản thân xa lánh cuộc đời mà còn thuyết phục nhiều người đang sức trẻ, có học, có tay nghề cao, bỏ đời, kéo nhau vô Chùa chỉ để tụng Kinh, Niệm Phật, chờ về Tây Phương Cực Lạc, trong khi Tây Phương Cực Lạc mà Phật diễn tả chỉ là cảnh giới thanh tịnh của Tự Tâm mỗi người sau khi dẹp hết Phiền não, Tham Sân Si, không phải ở bên ngoài!

Mong rằng những vị có trách nhiệm hướng dẫn Đạo Phật cho bá tánh cần xem kỹ lại những gì mình đã phổ biến để ngừng kịp lúc những gì không đúng Chánh Pháp. Nếu không, không những có tội với Đạo Phật mà còn có lỗi với cuộc đời, với những người tin theo mình. Bởi bao nhiêu đời qua, phải chăng chính vì cứ tưởng Phật là Thần Linh, đi tu là để phụng sự cho Phật, tu sĩ thanh tịnh có thể cầu xin Phật ban ơn cho cha mẹ, cho đất nước, cho quốc thái, dân an, nên biết bao người đã bỏ cha mẹ, gia đình, bỏ đời, để đi tu hành để rồi chẳng những không thành Phật, thành Thánh, mà cũng không cầu xin được ơn thiêng nào của Phật, vì Phật hoàn toàn không có khả năng đó. Thế rồi cuộc đời qua đi mà không thực hiện được trách nhiệm làm con với cha mẹ, làm một người công dân của đất nước, lại thêm mang nợ áo, cơm đối với bá tánh đã cung dưỡng cho mình!

Phần người Phật Tử, theo tôi, đến thời này rồi, mọi người không thể thờ ơ, giao khoán việc đọc và giảng lời Phật trong Kinh sách cho tu sĩ, vì nhìn lại thực tế đã thấy có quá nhiều điều được phổ biến không khế hợp với Kinh sách. Bao thế hệ qua đã biến công việc Tu Phật trở thành Thờ Phật. Biến Đệ Tử Phật, tức là Con, Em của Phật, thay vì “con phải nối nghiệp cha” là phải Thành Phật, lại trở thành những “Gã Cùng Tử”, hàng ngày cứ hương khói cầu xin Cha ban cho. Hết xin phù hộ cho mình được mạnh khỏe, chồng được thăng quan, tiến chức, vợ làm ăn phát tài, con cái thi đâu đậu đó, bệnh hoạn thì gặp thầy, gặp thuốc… quên rằng bản thân Phật cũng đã bệnh, đã chết, đã trà tỳ. Con ruột của Phật, Chư Đại đệ Tử đắc pháp bao nhiêu đời qua cũng đã chết! Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” thì chùa chiền ngày càng cất đồ sộ hơn, hoành tráng hơn. Kinh Kim Cang viết: “Nếu dùng sắc để thấy ta. Dùng âm thanh để cầu ta. Đó là kẻ hành tà đạo” thì Tượng ngày một to hơn, Chùa chiền lúc nào cũng nghi ngút khói hương, suốt ngày tiếng cầu Kinh không dứt! Con Đường Giải Thoát không còn ai quan tâm đến. Đành rằng lỗi đó do người đi trước nhiều đời đã hiểu sai rồi truyền lại! Nhưng chúng ta không thể đổ thừa “Xưa bày, nay làm”, vì Phật đã dặn dò mỗi người “phải tự thắp đuốc lên mà đi”, đâu có kêu ta nương đuốc của người khác? Do đó, theo tôi, muộn còn hơn không. Chúng ta nên nhìn lại những gì mình đã và đang làm, so với mục đích của Đạo Phật, nếu không thấy đưa đến kết quả Giải Thoát thì nên chỉnh đốn lại để khỏi phí đi một kiếp Nhân Thân Nan Đắc, vì mỗi chúng ta tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình, không thể đổ cho ai hết vậy.

Tháng 2/2018

Tâm Nguyện


MIKHAIN LERMONTOV

nhà thơ vĩ đại, nhà thần bí, nhà tiên tri


M ột trong những kỷ vật quý tôi mang được về sau chuyến thăm LB Nga cuối năm 2014 là tờ “Báo Văn học” (Literaturnaya gazeta) Nga số 40 (6482) ra ngày 15 tháng 10 năm 2014, kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thi hào Nga Mikhain Lermontov (14.10.1814 - 14.10.2014). Để chuẩn bị khai trương Nhà lưu niệm “Văn học Nga ở Việt Nam” tôi cho lên khung để sẽ treo cùng với một số khác cũng của “Báo Văn học” nhưng ra từ thời Xô viết, số 123 (4865) ra ngày 15 . 10 . 1964, kỷ niệm 150 ngày sinh cũng của thi hào. Hai số báo ra cách nhau nửa thế kỷ, kích cỡ gần như nhau, số ra vào thời Xô viết khổ nhỏ hơn một chút, in đen trắng, còn số sau ra vừa đây nhỉnh hơn chút đỉnh và in mầu tươi tắn. “Báo Văn học” thời Xô viết trên măng sét báo có ghi chú: cơ quan ngôn luận của Hội n hà văn Liên xô, còn số sau chỉ có dòng: tờ báo ra đời năm 1830 có sự tham gia của Puskin, phía dưới: ấn phẩm lập lại năm 1929 với sự hỗ trợ của M.Gorki. Bên cạnh đó là ký họa chân dung Puskin và Gorki.

Giờ đây khi Nhà lưu niệm “Văn học Nga ở Việt Nam” đã tồn tại và liên tục được hoàn thiện sang năm thứ 3, hai khung báo trên treo trang trong trên tầng gác hai, khu vực “Hơn nửa thế kỷ thơ Nga ở Việt Nam” trông như đôi “trướng” của các cụ ngày xưa mừng ngày lễ tết. Thêm nữa lại đối diện với một đôi “trướng” khác cũng không kém phần trang trọng: hai số báo “Văn nghệ” của LHVHNT Việt Nam ra vào những năm đầu sau hòa bình 1954: số ra vào cuối năm 1954 (60, ra ngày 15-30 . 12 . 1954) kỷ niệm năm mươi năm mất của “Nhà đại văn hào Ăng-tôn Se-cốp” (Anton Sekhov) (15 . 7 . 1904 - 15 . 7 . 1954). Và số báo “Văn nghệ” thứ hai ra vào nửa sau năm 1956, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất của Đại văn hào vô sản M.Gorki (18 . 6 . 1936 - 18 . 6 . 1956) .

Về hai số báo “Văn nghệ” tôi có được là nhờ ông bạn “vua sách cũ” Phan Trác Cảnh ở nhà số 5 Bát Đàn, khu phố cổ Hà Nội. Cũng là một câu chuyện lý thú đáng phải kể ra trình bạn đọc, nếu có dịp về thăm Nhà lưu niệm “Văn học Nga ở Việt Nam”. Nhìn thấy kỷ vật hẳn các bạn phải có thêm cảm tình , ở đây hãy xin kể câu chuyện liên quan t ớ i hai số báo tiếng Nga có nói về thi hào Nga Lermontov.

Tiếp tục lục tìm trong tư liệu lưu trữ của mình các hiện vật cho Nhà lưu niệm, mới đây tôi lại phát hiện ra một số báo mang ở Nga về cũng đã từ những chuyến đi khá lâu, có liên quan chính đến số “Báo văn học” Liên xô tôi còn giữ được từ hơn nửa thế kỷ trước. Kể ra, có thể nói đây là một minh chứng lịch sử khá đặc biệt: số báo ra ngay sau sự kiện đương kim Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Liên xô lúc đó là Nikita Khơrusov vừa bị phế truất ngay ngày hôm trước, đúng ngày kỷ niệm 150 năm sinh của thi hào Nga M.Lermontov (14.10.1814 - 14.10.1964). Các số báo chuẩn bị cho lễ kỷ niệm vẫn ra mắt bạn đọc như thường, nhưng mít tinh kỷ niệm ở tầm vóc nhà nước đã không diễn ra. Trên số “Báo Văn học” chỉ có đăng chân dung nhà thi hào, các tư liệu, các bài viết về ông, kèm theo một số tin tức bài viết về các sự kiện khác, như thông báo về con tàu vũ trụ “Bay lên cao” (Voskôd) với đoàn phi hành gồm 3 người dẫn đầu là phi công vũ trụ - kỹ sư, đại tá Kamarov V.M. đã hoàn thành nhiệm vụ, con tàu trở về trái đất, hay BCH TW Đảng cộng sản Liên xô và chính phủ Liên xô đón tiếp đoàn Chủ tịch nước cộng hòa Cu Ba Osvaldo Dortikos Torrade ...

Sau sự kiện này, trong công chúng Liên xô chỉ còn loan truyền một câu chuyện tiếu lâm: “Hai bà già Nga gặp nhau trên đường dừng lại trò chuyện hỏi nhau: Này, bà chị có nghe nói Khơrusov bị phế truất rồi không?- Khỏi nói, nghe thấy rồi, nghe thấy rồi! Có điều ai lên thay thế nhỉ? - Thì, ... một ông Lermontov nào đó thì phải! Đài báo chẳng nhắc đi nhắc lại cái tên đó thôi!

Kể ra thì gắn với số phận của thi hào Nga Mikhain Lermontov thì chuyện như thế này cũng không phải lần ấy mới xẩy ra. Cả trước đó và sau này cũng đã lặp lại chuyện như vậy. Trong bài viết trên tờ báo Nga tôi còn giữ được của tác giả Sergay Samanov điểm lại thì, ngày kỷ niệm 100 năm sinh, rồi một trăm năm mất, tiếp sau đó là 150 năm mất của thi hào Lermontov đều gặp những sự kiện động trời, không chỉ của nước Nga, mà đáng kể của lịch sử thế giới. 100 năm ngày sinh của thi hào, nhà nước Nga sa hoàng, cũng như các giới xã hội, dân chúng cả nước đã chuẩn bị những hoạt động kỷ niệm quy mô lớn, xuất bản lại các tác phẩm của thi hào, ra các công trình nghiên cứu khoa học về thân thế và sự nghiệp của thi hào. Nhưng từ tháng 8 năm 1914 nước Nga bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Những trận chiến ác liệt nổ ra, hàng nghìn người tử trận và bị thương. Những lễ hội kỷ niệm thu hẹp lại, sách vở không ra được bao nhiêu, thêm vào đó chất lượng không lấy gì làm tốt.

Đến một trăm năm ngày giỗ của thi hào Lermontov nhóm chính thể Xô viết cũng dự định tổ chức các hoạt động cấp độ nhà nước, giống như những hoạt động kỷ niệm năm chẵn của Puskin. Nhưng 2 2 tháng 6 năm 1941, phát xít đột ngột tấn công Liên xô. Không thể nào còn có thể để tâm tổ chức lễ lạt hội hè. Chỉ còn đôi ba hồi ức, tưởng nhớ đến thi hào phát đi trên làn sóng điện.

Kỷ niệm một trăm rưỡi năm sinh của Lermontov diễn ra như đã kể ở trên. Đến 150 năm mất của Lermontov cũng lại gặp phải năm 1991 đầy những biến cố lịch sử đau xót ...

...

Còn kỷ niệm 200 năm sinh của thi hào M.Lermontov thì thế nào. Tôi giở lại báo chí Nga vào năm 2014 .

Lần này thì ...

Đầu năm 2014 diễn ra sự kiện Krưm!

Trong nội bộ các tổ chức nhà văn, quan hệ giữa các văn đoàn khá nhiều mâu thuẫn xảy ra.

Nhưng nếu đọc lại một bài tổng kết trên báo của nhà văn - nghiên cứu phê bình văn học Vladimiz Bondarenko Năm văn học 2014 ta thấy có đoạn: “Nếu nhìn một cách rộng rãi, khắp các bình diện thì sự kiện văn học chủ yếu năm 2014 là sự kiện kỷ niệm thi hào vĩ đại, nhà thần bí, nhà tiên tri Mikhain Lermontov. Nhà thi hào kinh điển của chúng ta tròn 200 năm tuổi. Tới dịp lễ kỷ niệm tôi đã kịp thời xuất bản, trong xeri “sách cuộc đời những người nổi tiếng”, cuốn sách cho lý giải của mình về số phận thiên tài Nga “Mikhain Lermontov, một thiên tài bí ẩn”, trong suốt năm qua đã diễn ra nhiều hội thảo, liên hoan thơ ở Piatigor, ở Tarkhanư, Moskva và Shotlandia, cả ở Trung Quốc, cả ở Hoa Kỳ. Thật vui là, Tổng thống Nga Vladimiz Putin đã dành thời gian đến tận Tarkha n ư (quê hương của M.Lermontov) tham dự lễ kỷ niệm thiên tài của chúng ta”.

Nhà văn V.Bodarenko gọi thi hào M.Lermontov là nhà thần bí, nhà tiên tri. Nếu quả như vậy, vì qua những sự kiện xảy ra trong những dịp kỷ niệm chẵn của Lermontov dường như đã có thể thấy tia sáng hạnh phúc đã ló ra trên đất nước Nga qua lần kỷ niệm 200 năm sinh của ông, 2014 chăng?

THÚY TOÀN

Kỷ niệm ngày 6-2 Âm lịch

Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại sông Hát

Ngày 6-2 Âm lịch chúng ta kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại sông Hát. Nhạc sĩ Tô Vũ - tên thật là Hoàng Phú, em ruột nhạc sĩ Hoàng Quý, tác giả bài ‘Cô láng giềng’ - đã diễn tả tấm lòng cảm động, ngậm ngùi khi viết bài “Ngày xưa” để tưởng nhớ đến Hai vị anh thư đầu tiên của Việt Nam:

Dòng sông Hát nước xanh mờ sâu

Êm đềm trôi về bến nơi đâu?

Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi

Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi…

Mọi người đều biết là Tr ưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái Lạc tướng huyện Mê Linh. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai của Lạc tướng huyện Chu Diên. Là người yêu nước, Hai Bà đã đi khắp nơi vận động nhân dân gia nhập nghĩa quân và được nhân dân hết lòng ủng hộ. Những hoạt động của Hai Bà đã bị Tô Định theo dõi và y đã vô cớ bắt giết Thi Sách để đe dọa Trưng Trắc. Nhưng điều đó chỉ làm cho nhân dân Âu Lạc thêm căm phẫn và khiến cho Trưng Trắc càng quyết tâm đứng lên “đền nợ nước, trả thù nhà”. Cờ phất lên vào đầu năm 40 trên đất Mê Linh đã được nhân dân khắp nơi hưởng ứng, thống nhất thành một phong trào rộng lớn trong cả nước và đã giành được chính quyền trên khắp 65 huyện thành. Tô Định phải chạy trốn về Nam Hải. Chính quyền đô hộ bị lật đổ hoàn toàn. Đất nước sau 200 năm bị trị, đã trở lại tự do.

Sau khi quét sạch bọn đô hộ Đông Hán ra khỏi đất nước, Trưng Trắc và Trưng Nhị được suy tôn làm Trưng Vương, đặt tên nước là Hùng Lạc (theo ‘Dư địa chí’ của Nguyễn Trãi), lấy Mê Linh làm kinh đô.

Ngày xưa khi nơi đây đã từng vang hình bóng

Hai Bà Trưng đem máu đào hòa nước sông nhà

Hồn linh thiêng sống trong muôn trùng sóng

Những khi nào chiều vắng trầm đưa lên tiếng ca…

Bực tức vì bại trận trước hai vị nữ lưu, vua Hán sai Mã Viện, là một viên tướng già lão luyện, mang 2 vạn quân cùng 2000 thuyền xe sang đánh phục thù. Được tin giặc kéo xuống, Trưng Vương cử Thánh Thiên công chúa đem quân lên biên giới chặn giặc theo đường bộ, Trưng Nhị tiến quân đóng ở Đại Đồn (Vân Đồn) cùng Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng) chặn đường tiếp tế lương thực của giặc theo đường biển. Còn đại quân do Trưng Trắc chỉ huy thì đón đánh giặc ở tả ngạn sông Cà Lồ. Thế giặc đang mạnh, quân ta chống không nổi buộc phải rút lui. Quân giặc tràn xuống và hội quân ở vùng Lãng Bạc. Sau một thời gian chờ đợi cho quân giặc mỏi mệt, Hai Bà Trưng bèn chủ động tấn công vào doanh trại giặc. Một trận đánh lớn đã diễn ra ở vùng Lãng Bạc. Quân ta có tinh thần chiến đấu dũng cảm, nhưng vì lực lượng yếu, chưa được huấn luyên chu đáo đã bị thua. Trưng Vương buộc phải rút quân về Mê Linh rồi tiếp tục rút quân về động Cấm Khê. Hai Bà bị thất trận phải nhảy xuống sông Hát (sông Đáy) tự vẫn. Sau khi bình định xong Giao Chỉ, Mã Viện đem quân vào Cửu Chân. Đến cuối năm 43, cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng kết thúc, nhà Đông Hán thiết lập trở lại ách đô hộ trên đất nước ta, mở đầu cho giai đoạn Bắc thuộc lần thứ hai.

Thuyền ai lướt sóng trên dòng sâu

Êm đềm trôi về bến nơi đâu?

Có hay chăng ai! Trên dòng sông xanh

Tiếng ca thuở xưa như gọi tâm tình.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng đã chứng minh hùng hồn cho ý chí độc lập tự chủ không gì lay chuyển được của nhân dân ta. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn, đã giành và giữ vững được chính quyền tự chủ trong hơn 2 năm trời, mở đầu một phương hướng đúng đắn cho phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta suốt thời Bắc thuộc. Chính vì những ý nghĩa đó, sự nghiệp của Hai Bà Trưng đã sống mãi trong lòng mọi thế hệ người Việt Nam.

Chúng ta biết rằng dân tộc ta, sau thời đại Hùng Vương, đã chìm sâu vào đêm dài nô lệ. Kể từ khi Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc của An Dương Vương năm 179 trước Công nguyên cho đến khi Ngô Quyền đuổi được quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi, xây dựng nền tự chủ (938), dân tộc ta đã trải qua một cuộc trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc suốt 1.117 năm!

Ai là người khởi đầu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trường kỳ ấy? Chính là Hai vị anh thư Trưng Vương. Nếu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại thì biết đâu dân tộc ta đã bị diệt vong, cùng chung số phận với các dân tộc trong cộng đồng Bách Việt. Vị cứu tinh của dân tộc Lạc Việt, đã khiến cho dân tộc tiếp tục quật khởi để xây dựng nên những vương triều độc lập về sau như Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Nam và Việt Nam.

Tương tự về sau này vào thời Tây Sơn, nếu Quang Trung - Nguyễn Huệ không chiến thắng giặc Thanh với trận Đống Đa, đây là thời điểm cực kỳ quan trọng đến vận mệnh quốc gia, vì sau đó, các nước Tây phương bắt đầu công cuộc chinh phục các nước để làm thuộc địa, lúc đó họ sẽ vẽ lại bản đồ châu Á - theo địa giới mới của nhà Thanh. Nếu không có chiến thắng Đống Đa thì đất nước hình chữ S có lẽ không có mặt trên bản đồ châu Á mới chăng?

Với chỉ 3 năm độc lập, sau khi đốt lên ngọn đuốc bất khuất đầu tiên, Hai Bà Trưng đã để lại cho các thế hệ sau một bài học quý giá:

“Đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm giải phóng dân tộc để giành lại nền độc lập, thì sớm muộn dân tộc ta cũng thành công”

Hiện nay, ở nội thành Hà Nội có hai làng Đồng Nhân đều có đền thờ Hai Bà Trưng:

1- Đền Hai Bà hiện diện ở Đồng Nhân Châu (bãi Đồng Nhân) từ thế kỷ 12, nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng.

2- Đền Hai Bà có từ thế kỷ 19 (Đền này là hậu thân của đền Hai Bà ở phường Bạch Đằng, vì sông lở, Đền gốc ngoài Đồng Nhân Châu mới dời vào đây và được cấp hơn 6 mẫu đất), nay thuộc phường Đồng Nhân, cùng thuộc quận Hai Bà Trưng.

Sách Trưng Vương lưỡng vị sự tích ghi: “Sau khi Hai Bà tự trầm trên sông Cái thì hóa thành Hai tượng đá ngồi bên dòng nước, thường vọt ra khí sáng, trôi mãi đến khúc sông bãi Đồng Nhân”. Vua Lý Anh Tông giáng chỉ truyền cho dân làng này dựng Đền thờ Hai cỗ tượng đá ở bên sông (năm 1142). Từ đó, tại đây hàng năm thường mở Lễ hội vào ngày 6-2 Âm lịch để tưởng nhớ công ơn Hai Bà Trưng. Nghi thức có lễ tắm tượng, lễ rước, tế múa đèn tiến hành rất trang nghiêm, uy nghi. Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc vui tươi.

Hằng năm vào ngày 8-3 kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ - trong ngày này, các đấng phái mày râu chỉ nghĩ đến việc mua hoa hồng để tặng cho phái đẹp, chẳng ai nghĩ về ngày lễ kỷ niệm Hai vị anh thư đầu tiên - chúng ta ghép vào ngày 8-3 Dương lịch để kỷ niệm Ngày 6-2 Âm lịch kỷ niệm Hai Bà Trưng như vậy có ổn thỏa không? Những ngày húy nhật của các Danh nhân dân tộc trong lịch sử, của Ông bà Tổ tiên trong gia phả, luôn luôn được ghi chép bằng ngày tháng Âm lịch. Lễ hội lịch sử, lễ hội dân gian, từ làng đến nước, cũng được tổ chức theo ngày tháng Âm lịch. Đó là truyền thống văn hóa dân tộc đã trải qua nghìn đời, khắc sâu vào ký ức, vào tâm linh dân tộc. Kỷ niệm Hai Bà Trưng, vì thế, phải nên tổ chức vào ngày truyền thống 6-2 Âm lịch, không thể kỷ niệm vào một ngày tháng Dương lịch!

PHẠM VŨ


Tham khảo:

- Sách Lịch sử Việt Nam của Huỳnh Công Bá - 2004

- Sách Thăng Long Hà Nội của Tô Hoài - 2000.


Phụ bản I

SƠN ĐÔNG MÃI VÕ

Tư Thẹo ngầy ngà vợ theo giọng trịch thượng của kẻ cầm quyền quen thói lấn lướt thiên hạ, đem lỗi lầm của người khác chẻ ra làm năm làm mười.

- Tao dặn mầy năm lần bảy lượt nhớ mua một cây mực Tàu để làm màu trộn mấy viên thuốc tễ, đầu óc mầy để đâu mà mầy hổng mua? Bây giờ lấy gì tao trộn đây! Trắng nhách, ma nào mà thèm. Mai bán không được một xu cho mầy vừa bụng.

Cô Hai Hỏn chống chế:

- Kiếm cùng chợ đỏ con mắt mà hổng thấy ở đâu bán hết trơn hết trọi. Đất Sài Gòn rộng hằng hà sa số chớ bộ nhỏ bằng cườm tay như cái miệt Kinh Thứ của tui đâu mà tui rành.

Cô ngó thẳng vô mặt anh chồng, nói thiết yếu như chịu lỗi:

- Để thủng thẳng tui hỏi thế nào cũng kiếm ra chỗ bán mà.

Rồi cô ta cười ngỏn ngoẻn:

- Tạm thời anh cạo dưới đít chảo lấy một mớ lọ nghẹ thế đỡ đi. Lọ nghẹ còn nên thuốc gấp mấy lần mực Tàu nữa! Cũng đen, ai vô đó mà biết.

Thấy chồng ơ hờ, cô đỏng đảnh hỏi khó:

- Bộ anh hổng thấy người ta đứt tay đứt cẳng, lấy lọ nghẹ đắp vô để cầm máu sao?

Trong bụng Tư Thẹo phục con vợ coi lẩm rẩm vậy mà sáng trí, nhưng cũng phải nói cái gì đó cho ra vẻ, nên gạt ngang gạt ngửa:

- Thôi đừng có nói tầm ruồng bá láp mầy! Lọ nghẹ làm màu đen để mầy vẽ mặt làm hề thì được chớ nên thuốc cái khỉ mốc họ. Cầm máu là bịt ở chỗ đứt, còn mình đương trộn thuốc để uống trong bụng mà. Khác như Tây trắng với mặt gạch bộ mầy không thấy sao?

Anh ta làm thinh tiếp tục giã giã nện nện cái chày đâm tiêu vô cái soong nhôm anh kẹp giữa hai bàn chân. Một lúc lâu ớn mới chắc lưỡi làm bộ như bị bắt buộc lắm mới chịu bề chấp nhận đề nghị của “đối phương”:

- Mà thôi cũng được, mầy đưa cái chảo đây tao, lấy con dao nữa để tao cạo, thiệt hết chỗ nói... Mầy đi ngâm cam thảo với lại tán mấy miếng quế đi. Nãy giờ tao giã nồi cơm nguội nầy thiếu điều mỏi rụng cánh tay. Phải giã thiệt nhỏ, hổng được để sót một hột cơm nào. Mỏi quá mà sợ cái tài ba trợn của mầy nên tao đâu dám giao. Đưa cho mầy giã, mầy ngủ gục để còn nguyên mấy hột cơm thì mụ nội tao cũng lìa.

Cô Hai Hỏn cười mỉm. Cô không giận chuyện anh chồng cô nói năng lung tung lại còn kiếm chuyện rầy rà, giọng điệu như ông nội người ta. Cô hiểu anh chồng như một với một là hai, nói như vậy nhưng y chang rốt cuộc là chấp nhận đề nghị của cô. Cô vác hất mặt lên ngó anh ta, mỉm cười thích chí nửa như tự ái đã được vuốt ve, nửa để ngầm nói: “Tôi cũng đâu ngu hèn, dốt nát gì, cũng quyền biến chớ bộ. Đừng khi dể con nầy!”

Mà cô thích chí cũng phải, chuyện chạy đi mua thứ này thứ kia cô ghét tận mạng. Không phải làm biếng làm nhác gì đó, chỉ tại không biết chỗ bán mà thôi. In như mười lần xách rổ đi chợ, tám chín lần vừa đi cô vừa tính toán làm cách nào để bịt miệng anh chồng ưa ăn hiếp vợ của cô. Mua không được, về tới chỗ tạm trú, quăng cái giỏ xuống cái xạch cô cự nự trước khi Tư Thẹo kịp mở miệng:

- Đã nói ở đây thiên hạ hổng có bán thứ mắc dịch mắc toi đó mà cứ biểu giựt ngược, giựt xuôi. Ai giỏi thì đi đi. Đừng biểu tui. Quê người xứ lạ, tui có biết trời đất gì đâu đâu? Sao hổng đưa tiền mua một lần cho nhiều nhiều. Sợ tiền, cứ cà nhắc nay mua một chút mai mua một chút bắt người ta tới đâu đi mua chỗ đó ai biết ở đâu mà kiếm. Lạ nước lạ cái lần nào cũng lội muốn rã cặp giò. Bực mình thấy mồ thấy tổ.

Biết cằn nhằn như vậy không hợp lý, nhưng cô thấy cần phải phủ đầu thằng chồng trước, không thôi thằng chả được mợi làm tới ai chịu đời cho thấu. Những lần bị nự, Tư Thẹo chỉ biết ậm ờ bọc xuôi cho qua buổi, rồi lui cui kiếm chuyện nầy chuyện nọ làm, giả bộ không nghe.

Bữa nay chồng cô chịu lấy lọ nghẹ thế mực Tàu thì tốt quá, từ nay đỡ được chuyện trần thân đi kiếm đã đành, mà còn thoát nợ luôn chuyện mài mực nữa. Mài cả buổi mỏi tay bắt chết mới đủ một chén, đâu có bàn ghế gì. Ngồi chồm hổm có bữa tê cứng cặp giò.

Cô Hai Hỏn nói với chồng sống bằng nghề hát xiệc cũng được hai năm nay, sau mấy năm lăn lóc kiếm ăn bằng đủ thứ nghề tạp nhạp từ ngày Tây đổ bộ lên ngã ba Long Xuyên, đánh thốc xuống Rạch Giá, tạt qua vùng Kinh Thứ, quê cô. Cuộc sống cũng dễ thở, không có những chuyện gì phải lo ngoài việc di chuyển đồ đạc và kiếm chỗ vừa có thể biểu diễn được, vừa có thể bán thuốc. Đồ đạc đem theo cả gia tài sản của vợ chồng không nhiều nhỏi gì lắm. Mấy thứ lỉnh kỉnh như: phèng la, mười tám thứ binh khí mà thằng chồng cô thường nói là “thập bát ban võ nghệ”, quần áo võ của hai người và các thứ nồi niêu soong chảo, mắm muối, gạo củi chất đầy ba cái rương lớn. Đó là chưa kể hai cái trống để bên ngoài với một cái rương cũng trộng cải chứa “thuốc” như “Sơn Đông hóa đàm chỉ khái tán”, “Sơn Đông thanh huyết thần thủy” với lủ khủ hộp, chai không mà vợ chồng cô mua sẵn ở chợ Bình Tây, và những cái toa thuốc in bằng hai thứ tiếng Tàu Việt được đặt in ở một nhà in Tàu trong một hẻm nhỏ dưới cầu ChàVà-Chợ Lớn.

Cuộc sống như lục bình theo con nước nay đây mai đó, ngủ đình, ngủ chợ lăn lóc bụi bờ, nay vô vùng nầy hai ba bữa, mai ở vùng khác đôi ba ngày, tới đâu hay tới đó, không nhà cửa nhứt định coi vất vưởng lêu bêu, nhưng không có gì câu thúc buộc ràng.

Họ đi lần lần từ Rạch Giá lên Sài Gòn, bán nước miếng và sức mạnh của người chồng, bán ba cái đường quyền học lóm và cái mủm mỉm của cô vợ, lây lất qua ngày. Miệt dưới giặc giã khó sống. Bà con nội ngoại không còn ai. Họ gặp nhau trong lúc hai đàng đều cù bơ cù bất rồi bắt đầu vô nghề “Sơn Đông mãi võ” do sự gợi ý của thầy Hai Hút mà họ làm quen được trong một đêm nằm bót ở Cạnh Đền. Cứ như vậy họ lăn lóc từ quê lên tỉnh, từ tỉnh lần lên Sài Gòn, ăn uống kham khổ giới hạn chi tiêu.

Tư Thẹo thường bàn với vợ:

- Cứ ẩn nhẫn làm nghề này thêm một đỗi nữa coi ra sao. Chừng khá khá mình tính kế khác. Làm ăn kiểu nầy co i bộ không bền, hoặc trầm ngâm chắc lưỡi, đã đành thuốc mình không làm chết ai, nhưng mà lợi dụng lúc thiên hạ đau ốm để moi tiền thì mất phước đi. Về sau con cái tàn mạt ngóc đầu lên không được! Túng ngặt phải xoay sở chớ đâu thể nào bịp bợm kiểu nầy hoài.

Có một buổi chiều sau khi tính toán chỉ tiêu trong ngày, Tư Thẹo cười cười xếp tiền vô bóp phơi nhét xuống một đáy rương, chồng lên ba mớ quần áo, nắm tay vợ an ủi:

- Ráng kiếm đủ tiền mua một căn nhà nho nhỏ ở đất Sài Gòn rồi giải nghệ, lựa công chuyện gì không “sát sanh hại vật” để làm. Không lâu đâu em, anh tính rồi. Mình cũng đủ chưn đủ tay chớ có đui què mẻ s ứt gì đâu mà cứ lần quần kiếm sống bằng cái nghề mà thiên hạ biết ra thì thế nào cũng chưởi ông chưởi cha đào mồ, cuốc mả ông bà mình đổ xuống sông xuống biển.

Cô Hai Hỏn cảm động rưng rưng. Một thân bơ vơ, gá nghĩa rồi thì anh dẫn đi đâu em theo đó. Chồng khôn thì vợ được nhờ. Anh muốn tính sao thì tính. Cô bóp bàn tay chồng, mỉm cười đồng tình. Được mợi, anh ngó vô mặt vợ nói thiệt tình tứ:

- Mà tui cũng không muốn em cười tủm tỉm, liếc ngang liếc dọc với thiên hạ nữa. Mệt tim quá. Mỗi lần thấy em cười duyên với họ là tui mệt cầm canh, còn hơn biểu diễn cả tuần.

Anh đứng dậy nheo mắt:

- Cười với qua nè cưng, cười bao nhiêu qua cũng nhận hết.

Cô Hai Hỏn háy chồng một cái bén ngót còn hơn con dao cầu xắt thuốc:

- Ứ! Lãng xẹt. Vợ chồng già mà còn bày đặt ghen bóng ghen gió. Làm như thương lắm vậy.

Tư Thẹo cười ruồi:

- Hổng thương? Hổng thương mà người ta bỏ chức anh chị bến xe đò ở miệt dưới để trôi nổi với em lên tới đất Sài Gòn nầy, rồi còn tính bỏ xứ sở trụ luôn với em tới mãn kiếp mãn đời trên nầy?

Mặt trời bắt đầu tạo nên một bửng sáng lờ mờ ở chân trời sau một đêm dài ngủ kỹ. Đâu đây mấy ngọn đèn đường hết thời trơ trẽn buông những tia sáng vàng vọt, ẻo lả vô duyên như mấy ả ăn sương về già còn cố níu kéo những ngày tàn không biết hổ ngươi.

Mặc dầu ngày cũ chưa thật sự chấm dứt, sinh hoạt của một ngày mới đã lục tục bắt đầu. Trong mấy đường hẻm nhỏ dẫn ra từ các khu lao động mấy người đàn bà kẻ bưng rổ, người gánh, người gồng lũ lượt đem hàng ra chợ sớm. Trong không gian yên lặng của buổi bình minh, tiếng nói cười của họ tạo thành một bản nhạc vui tươi đầu ngày. Chừng độ mười lăm phút, nửa giờ sau, khi mặt trời bắt đầu vắt một dải mây hồng lợt xa xa, thì mấy cô cậu học trò cũng rủ nhau tới trường. Mấy đứa con trai trong bộ đồng phục quần xanh áo trắng đua nhau gõ guốc lộp cộp xuống đường phố tráng nhựa vẫn còn thưa thớt xe cộ qua lại. Mấy đứa con gái sạch sẽ trong bộ bà ba trắng, tóc kẹp sau ót nâng niu cái cặp bàng cẩn thận, tay xách bình mực tòn ten, vừa đi vừa nói chuyện líu la, líu lo hồn nhiên vô tư lự…

Đường sá chưa hoàn toàn thức giấc nhưng mấy tiệm nước ở đầu ngã tư đã mở cửa từ hồi nào, khách khứa ăn uống ồn ào, xe máy xếp thành từng hàng dài trước cửa. Mấy đứa nhỏ nghèo khổ đã bắt đầu thập thò trước cửa tiệm chờ khách ăn rồi ngửa tay kể lể xin xỏ một vài cắc lẻ. Trong tiệm mấy người hầu bàn đứng xa nhà bếp đua nhau kêu đặt thức ăn “dách cô phế nại lượng cô tài báo” vọng vô trong giọng điệu ê a kéo dài hòa với tiếng bàn toán lóc cóc của người tài phú tạo thành một không khí thanh bình giả tạo ngay từ sáng sớm của một thành phố chưa thiệt sự biết mùi chiến tranh dầu tiếng súng xa xa lâu lâu vọng lại hay thỉnh thoảng ai đó liệng một trái mảng cầu vô rạp hát hay vô đám đông.

Thỉnh thoảng một chiếc xe ngựa đầy nhóc bạn hàng đi chợ sớm, lọc cọc chạy ngang, móng ngựa gõ nhịp nhàng trên mặt lộ tạo cung bậc thật riêng tư của thành phố buổi sáng sớm, âm thanh nhỏ lần rồi mất biệt ở phía xa.

Trời đất càng lúc càng sáng tỏ, tiếng chuông xích lô “king koong king koong” mỗi lúc một nhiều hơn. Tiếng nổ dòn tan của mấy chiếc xích lô máy và tiếng thở khình khịch của chiếc xe ô tô buýt tài nhứt báo hiệu sự sinh hoạt của một ngày nữa đã thật sự bắt đầu…

Chiếc xe thổ mộ từ phía Ngã Sáu chạy tới, ngừng lại chỗ đám đất trống ở khu “Ngã Ba Vườn Lài”. Tư Thẹo lẹ làng nhảy xuống từ phía trước, chỗ hai cái càng kẹp bên hông ngựa. Cô Hai Hỏn cũng lục đục khệ nệ với mấy cái rương dụng cụ thuốc men ở phía sau. Hai vợ chồng đứng ngắm nghía khu đất xung quanh một lát rồi cùng nhau hè hụi dọn đồ đạc tới kế bên cái mả lạn với sự giúp sức của người đánh xe.

Cô Hai Hỏn đã bận sẵn cái quần võ, ống bó túm phía dưới, mang giày “bata” áo xẩm cụt tay. Ở mỗi cườm tay cô đeo một chiếc vòng dẹp bằng thiếc theo kiểu con nhà võ trong các tuồng hát của đoàn Cầu Muối, Cầu Quan hay đoàn hát bội ở đình Thành Xương…

Cô lấy dùi, phèng la rồi xách cái trống ra đầu kia tấu lên bản nhạc đặc biệt của đoàn “Sơn Đông mãi võ”: Cờ lùng tùng xà, cờ lùng tùng cà, cờ lùng tùng xà… Cô đánh trống nhịp nhàng say sưa nhưng vẫn liếc chừng người qua lại. Mặt cô sáng lên khi thấy tiếng trống đã thu hút được số đông người mau chân tò mò…

Tư Thẹo dặn người đánh xe:

- Chiều nay chừng sáu bảy giờ anh trở lại đón tụi tui nghe. Đi lợi đằng vườn Bà Lớn! Tối nay tụi này ngủ tạm ở miếng đất trống đằng đó. Mai làm một bữa nữa ở khu chợ đầu đường Hai Mươi. Rồi tính sau.

Người đánh xe vui vẻ:

- Được mà! Chiều nay tui lợi đây khoảng đó. Có lẽ tui sẽ bỏ chuyến chót.

Anh lại cười thật cởi mở:

- Chuyến chót thường vớt được nhiều mối ngon hơn chuyến thường, nhưng mà hổng sao. Nhằm nhò gì! Hổng biết nhau thôi, biết nhau rồi thì là anh em hết. Thế nào tui cũng trở lợi, anh đừng lo.

Rồi anh nheo mặt vỗ vai Tư Thẹo như bạn tri kỷ:

- Nhưng mà anh biểu diễn cho cẩn thận nó nghe, thấy anh làm sao mà tui ớn lạnh xương sống. Có bề gì khó lòng lắm!

Tư Thẹo cười cười rồi cũng vỗ vai người bạn mới quen mà anh ta thấy có cảm tình ngay khi vừa gặp lần đầu:

- Coi ghê vậy chớ hổng sao đâu anh à. Tui có nghề mà. Hổng thôi bộ tui điên sao mà đút đầu vô chỗ chết?

Tư Thẹo đưa tay ra để “bổ xua” như dân Sài Gòn chánh hiệu con nai:

- Thôi anh đi kẻo trễ họ vớt hết mối ngon.

Bây giờ đám con nít nghe tiếng trống đã tụ lại bộn bàng, chỉ trỏ, bàn tán. Tụi nó khoái nhứt và cũng lạ lùng nhứt về bộ đầy đủ mười tám thứ binh khí của Tư Thẹo. Chúng còn bàn ngang tán dọc rằng lát nữa chị đàn bà sẽ đấu với thằng cha đàn ông bằng mấy thứ khí giới nầy, và chắc chắn nữ tướng sẽ thắng vì đàn bà nhẹ nhàng, lanh lợi hơn đàn ông, đấu võ thì thua vì sức yếu hơn, nhưng đấu thương đao, xà mâu thì ăn chắc.

Một đứa làm lanh nói oang oang:

- Mầy hổng thấy hồi hôm cô đào chánh của gánh Tỷ Phượng mần tuồng “Đào Tam Xuân loạn trào” đánh rạp hết mấy kép khác sao? Tao nói để rồi mầy coi có trúng phóc không thì biết. Tướng tá cô nầy còn điệu hơn cô đào đó nữa.

Cô Hai Hỏn nghe không sót một tiếng nào. Thằng đó nói bô bô cái miệng, ý chừng muốn chứng tỏ với chung quanh rằng mình “ta đây”. Cô không nói không rằng gì hết, đi nhiều, gặp mấy đứa nhạy miệng như vậy không phải lần nầy là một. Cô buông dùi trống, cầm phèng la vừa đi vừa sát vô đám nhỏ vừa đánh chát chúa. Tụi nhỏ bị điếc tai né né lui ra từ từ. Giáp một vòng thì cái vòng tròn con nít ở phía trong cái vòng người lớn, đã nở ra bộn bàng. Miếng đất trống này còn quá rộng. Vòng người cần phải bự hơn để khi biểu diễn khỏi vướng tay vướng chân. Nghĩ vậy nhưng cô vẫn không có hành động nào để giải quyết. Chuyện đó để ảnh lo sau. Cô để cái phèng la lên trên nắp rương rồi mở một rương khác lấy ra cái áo chẽn có gắn những miếng thiếc tròn tròn sáng chói lẹ làng bận vô người.

Bây giờ cô Hai Hỏn không còn có vẻ một người thường nữa. Cô có hình dáng một nữ tướng như Sở Vân, Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính, Đào Tam Xuân, Mộc Quế Anh trong các gánh hát Hậu Tấn, Tiếng Chuông, Phước Chung…

Đoàn người bu chung quanh đã khá đông. Con nít tuy nhiều, nhưng số người lớn coi bộ cũng đã khả quan, Tư Thẹo liếc quanh để lượng định khả năng tiêu thụ của họ. Đằng kia mấy ông già ho xù xụ. Lại có một người chống gậy nữa. Tốt, mấy người coi bộ bịnh hoạn yếu đuối này vậy mà rất có ích lợi, thế nào họ cũng mua vài hộp “Sơn Đông trường lực hoàn” của mình. Không đến nỗi ế như bữa biểu diễn ở chợ Cây Điệp. Vài cậu thanh niên chải đầu bảy ba, mắt ngó vợ chồng Tư Thẹo mà thỉnh thoảng liếc liếc mấy cô tân thời trước mặt. Mấy cô cậu này mượn mình để đảo nhãn, bắt cặp với nhau đây. Nhưng mà mình sẽ khích tướng tụi nó. Thế nào cũng trúng mối. Mấy cô cậu này chắc là bộn xu. Có ăn của họ mấy đồng bạc chắc chết xuống cũng không có tội gì đâu. Tư Thẹo nghĩ trong bụng như vậy rồi lẹ làng xuống tấn đi một đường đao ruột. Anh hươi bên này, chỉa bên kia, vớt bên nọ, phạt ngang phạt dọc, chém dưới, hớt trên thiệt lẹ làng dũng mãnh. Thỉnh thoảng anh lại chêm vào ngón nghề “hồi mã thương” đang múa như bão táp mưa sa phía trước anh dậm chân quay lại vít như chớp phía sau. Người coi chung quanh chắc lưỡi hít hà nức nở, thán phục tài nghệ…

Tuy lo biểu diễn, Tư Thẹo vẫn không quên mục tiêu của mình nên lâu lâu anh nhắm ngay chỗ mà cái vòng người cần phải dãn ra vớt lia lịa, mấy đứa nhỏ nghe tiếng đao xé gió vù vù tới, đứa nào đứa nấy xanh mày xanh mặt, bò lê bò càng ra xa, người lớn vừa né vừa thụt lùi làm mấy người ở sau bị đẩy xô, la ơi ới.

Tư Thẹo múa hết đường đao thì cái vòng người đã tròn trịa lại rộng thêm ra bộn bàng. Anh nhắm nghía công trình mình, mỉm cười đắc ý rồi mới quảng cáo:

- Kính thưa bà con cô bác. Hôm nay đoàn Sơn Đông Việt Nam chúng tôi hân hạnh ra mắt bà con cô bác ở xóm “Vườn Lài” này. Mục đích chúng tôi là cứu nhân độ thế (vợ Tư Thẹo chấm nghỉ bằng một nhịp trống cờ lùng tùng xà), là giúp ông già bà cả trường lực mạnh mẽ (cờ lùng tùng xà), là giúp cho các em nhỏ vui tươi hoạt động (cờ lùng tùng xà), là giúp cho người bịnh hoạn mau chóng bình phục, sởn sơ (cờ lùng tùng xà), là giúp cho người đau mới mạnh ăn ngon ngủ khỏe (cờ lùng tùng xà)… Hôm nay chúng tôi đem cống hiến bà con cô bác ở quanh đây môn thuốc gia truyền “Sơn Đông trường lực hoàn” (cờ lùng tùng xà, cờ lùng tùng xà). Đó là…

Tư Thẹo thao thao bất tuyệt, anh lặp đi lặp lại về công dụng thần sầu quỷ khốc của những viên thuốc tễ cơm nguội trộn cám với lọ nghẹ cam thảo, quế mà vợ chồng anh chế hồi tối hôm qua. Rồi anh đề cao những người chung quanh lên tới tận mây xanh, nào là biết xài tiền đúng chỗ, biết lo cho sức khỏe của mình, biết thương những người thân thuộc. Mua thuốc cho mình hay mua tặng người thân là một hành động vô cùng cao quý có một không hai…

Anh phùng mang trợn mắt, tán dọc, tán ngang bài học cho mọi người bị trí tò mò mà thúc đẩy một lúc thiệt lâu anh mới lục rương đưa cho họ thấy những viên thuốc tròn trĩnh, bọc trong giấy kiếng trong trong, đài các như mời mọc mọi người.

Tư Thẹo tiếp tục ba hoa:

- Chúng tôi là đại diện cho nhà thuốc chánh bên Hồng Kông, bữa nay tới đây bán làm quảng cáo nên chịu lỗ, bán một tặng một… (cờ lùng tùng xà). Chúng tôi chỉ đi qua mỗi địa phương một lần thôi, bà con cô bác không mua hôm nay sẽ không có dịp gặp cái may lần thứ hai. Mại vô! (cờ lùng tùng xà). Ông Hai bên này muốn mua. Cô Ba bên kia muốn mua. Cậu Hai này muốn mua”.

Tư Thẹo dựng đứng lên chuyện có người mua. Anh làm bộ như thiên hạ đã chờ sẵn để anh tới làm người cứu tinh.

- Nhưng mà bây giờ chưa tới giờ bán. Thành thật xin lỗi và con cô bác. Xin lỗi ông Hai, xin lỗi cô Ba, xin lỗi cậu Hai, chúng tôi bán sau khi biểu diễn một màn thật hấp dẫn để bà con cô bác thấy được công hiệu của thuốc “Sơn Đông trường lực hoàn”. Trước khi biểu diễn bà con cô bác muốn mua một trả mười chúng tôi cũng không dám bán. Chúng tôi được lịnh chỉ bán sau khi đã chứng tỏ cho bà con cô bác thấy rõ cái sức mạnh mà thuốc “Sơn Đông trường lực hoàn” đem lại cho người dùng nó mà thôi.”

Vợ Tư Thẹo chấm dứt màn quảng cáo của chồng bằng một hồi trống thiệt dài, đinh tai nhức óc…(cờ lùng tùng xà, cờ lùng tùng xà, cờ lùng tùng xà…)

Có lẽ thấy bao nhiêu đó đã đủ, Tư Thẹo chất chồng mấy hộp thuốc lên cái rương rồi lấy cây kích ra lau lau đầu nhọn. Bỗng anh phóng phập cây kích lún xuống đất sát chân mấy đứa nhỏ láu táu nhứt bọn, cứ lâu lâu xích vô làm cho cả vòng người méo đi. Cán kích rung rung. Đầu kích lún xuống đất hơn một tấc. Mọi người trầm trồ khen ngợi tài phóng kích của Tư Thẹo, chính xác và mạnh mẽ. Mấy đứa nhỏ hết dám hó hé. Chúng bảo nhau giữ trật tự, có thằng còn rầy những đứa lấn ra khỏi cái vòng tròn tượng tượng của người bầu gánh Sơn Đông.

Có tiếng một bà già trầu nói nhỏ với người kế bên:

- Thằng cha Sơn Đông nầy giỏi thiệt bây! Nhưng mà nó ỷ tài làm ẩu rủi gặp năm vận tháng hạn tụi nhỏ xô nhau có đứa ngã tới trước phải nó bị bắt thường nhân mạng không? Cái đó mới ở tù lãng xẹt à nhe!

Người kế bên binh vực Tư Thẹo:

- Dễ hông? Năm khi mười họa mới có một lần, người ta làm người ta đã tính trước rồi. Mấy người Sơn Đông nầy trước khi ra nghề họ đã học kỹ rồi, thành tài mới ra làm, hổng thôi gặp mấy người thầy võ thứ thiệt đòi tỷ thí, đòi đả lôi đài thì sao?

(còn tiếp)

NGUY ỄN VĂN SÂM

Hoài cổ

Đây là những bài thơ chữ Hán cuối cùng của Phan Bội Châu mà xưa nay chưa được công bố. Chúng tôi xin sao lục và phiên dịch dưới đây để giới thiệu cùng quý vị…

Thanh xuân hồi thủ trướng như hà?
Sắc tỉ đương sơ giảm kỉ đa?
Uẩn nhưỡng kì hương mai hữu cốt;
Tiêu điều cựu lục liễu vô ba.
Tây phong trường đoạn sương tiền thụ,
Nam Quận hồn tinh mộng Lí Kha.
Đẳng đáo động cư hoàn nhữ thúy,
Bất tư giao lạc khốc sơn hà.

Phan Bội Châu

Dịch nghĩa:

Ngoảnh lại xuân xanh xiết nỗi sầu?
Mười phần sắc ấy giảm bao nhiêu?
Mai hương chỉ có cành sương cỗi,
Liễu lục còn đâu lượn sóng xao.
Tây thọ đau lòng luồng gió táp,
Năm Kha bừng tỉnh giấc chiêm bao(1)

Xuân về ráng đợi ngày tươi sáng,
Sông núi bao giờ hết đớn đau.

Nguyễn Q. Thắng

(1) Mộng Lý Kha: giấc mộng Nam Kha, mơ tưởng cảnh giàu sang phú quý, nhưng khi tỉnh giấc là mộng ảo.

Trích Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Tập 1. Tác giả Nguyễn Q. Thắng. Nxb Văn học. 2007. Tr. 678

Phóng dịch:

Xuân xanh thoáng chốc trở nên sầu?
Sắc ấy mười phần giảm đến đâu?
Cốt cách hương mai cành đã cỗi,
Còn đâu liễu lục sóng lao xao.
Tây phong bão táp cơn giông bão,
Tỉnh giấc Nam Quân mộng Lý Kha.
Mãi đợi ngày xuân xa khuất mãi,
Non sông khóc hận đến ngày sau.

Huỳnh Thiên Kim Bội

Kinh Thánh:

Tác phẩm văn hóa

vô giá của nhân loại

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng “Kinh Thánh” là sách nói về giáo lý của đạo Kitô, thuần túy là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Kitô giáo mà thôi - mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới - vì vậy ai không theo Kitô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.

Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Kitô giáo nói riêng.

Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc:

1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”

2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo”.

Nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh.

Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển. Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch “Cựu Ước toàn thư” và “Tân Ước toàn thư” ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); Về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Kitô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là “Kinh Thánh” đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.

Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Sơ lược nội dung Kinh Thánh

Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.

Cựu Ước” - Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hóa nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) - khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận - chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.

Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu.

Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947-1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện “Sách cuộn Biển Chết” có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm.

Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo - phương Tây gọi là Onanism - từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 Sáng thế ký (Genesis) “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]

Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.

Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.

Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hóa… Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém…), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.

Tân Ước” - Giao ước mới của các tín đồ Kitô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Kitô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.

Tính chất quan trọng của Kinh Thánh

Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ.

Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác.

Một thí dụ: Người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.

Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất - đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỷ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.

Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh “Bữa ăn tối cuối cùng” của Leonard de Vinci, tập thơ “Thần khúc” của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết “Sống lại” của Tolstoy,… vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn… đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh…, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói Ađam, Êva, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.

Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây - nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội… đều nên đọc Kinh Thánh.

Kinh Thánh ở Việt Nam

Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Kitô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.

Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Tòa Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.

Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hóa nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hóa lịch sử, khảo cổ… của Kinh Thánh.

Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hòa vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hóa tôn giáo - một thành phần rất quan trọng của văn hóa thế giới.

Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa - tâm linh.

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và là nhà nghiên cứu tự do, hiện sống tại Hà Nội.

LỆ NGỌC st.

________________

[1] Dân Hebrew có tục chị dâu góa chồng mà chưa có con thì được quyền lấy một trong các em trai của chồng. Giuđa (cháu nội tộc trưởng Abraham) bảo con trai thứ hai của mình là Onan: Con hãy ngủ với chị dâu con (là Tama) để làm tròn bổn phận em chồng - sinh người nối dõi cho anh con (anh của Onan là Êrơ do độc ác đã bị Thượng Đế Jehovah giết). Onan biết đứa con nối dõi ấy sẽ không thuộc về mình nên khi “ngủ” với Tama đã cố ý làm rơi tinh dịch ra ngoài. Thượng Đế coi việc đó là tội ác nên đã giết Onan (trang 45 Kinh Thánh, United Bible Societies, bản tiếng Việt 1995, ở đây có sửa lại văn cho dễ hiểu). Từ Onanism bắt nguồn từ Onan - tên người có sáng kiến dùng cách tránh thai ấy.

ĐỨC KHOAN DUNG

1. Đại cương.

Theo Việt Nam Tự điển thì Đức là cái hạnh tốt đẹp thuần túy hợp với đạo lý. Nhân, Nghĩa, Lý, Trí, Tín là năm đức của con người. Tôi cho rằng người có đức là người giàu lòng thương người, có đủ năm đức Nhân, Nghĩa, Lý, Trí, Tín. Đó là kẻ nói năng chín chắn, có suy xét, hợp với đạo lý. Nói hay hứa gì với ai thì giữ lời dù tiến hành sự việc đó có thiệt, có hại cho mình cũng cứ tiến hành đương nhiên là chấp nhận cái không hay đó. Do đó, người có đức thì có uy tín lớn, nói thì mọi người tin và nghe theo. Đó cũng là yếu tố thành công trong cuộc sống.

Người có đức mà có lòng khoan dung là đáng kính. Nói như vậy không có nghĩa là người có đức, có lòng khoan dung là bỏ qua hết những việc sai trái của kẻ khác. Hễ ai phạm pháp thì vẫn phải xử đúng luật để mọi người đi vào nẻo chánh nhưng không khắt khe quá mà thôi. Vua Lý Thánh Tông là ông vua có đức. Một hôm ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu, Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi”. Do đó, trong đời Ngài, nhơn dân được sống yên lành. Tôi xin kể vài việc nhờ có đức khoan dung mà gặp khó khăn cũng vượt qua.

2. Các sự việc nhờ có đức khoan dung mà yên lành

a. Mất ngựa (theo Đông Châu liệt quấc tập 2)

Vua Tần Mục Công đi săn ở núi Kỳ Sơn bị mất mấy con ngựa. Lính đi tìm, tới núi Kỳ Sơn thì thấy có một bọn khoảng 300 người đang ăn thịt ngựa. Quân về báo, Tần Mục Công than: Ngựa đã chết rồi, ta lại bắt giết người thì dân bảo ta quý ngựa hơn người. Người bèn sai đem mấy chục hũ rượu tới cho mà rằng: Ăn thịt ngựa mà không uống rượu thì dễ bịnh nên vua sai đem rượu tới cho.

Nước Tấn đem quân đánh Tần. Vua Tần bị vây ngặt, có hơn 300 tráng sỹ xông vô đánh cứu, hỏi ra là bọn ăn trộm ngựa đền ơn.

b. Đứt dải mũ (theo Tam quấc chí đoạn Lý Nho can Đổng Trác)

Trong một buổi tiệc, đèn tắt, Tưởng Hùng bỡn cợt với Vương Phi, Phi dứt đứt dải mũ để làm chứng cớ và báo sự việc cho Sở Trang Vương để truy tìm. Có lẽ thấy việc bỡn cợt đó không có gì nghiêm trọng, vả lại người dự tiệc đều là quan đại thần cả. Họ là những người bảo vệ sự an nguy của tổ quấc, của triều đình nên cần một sự đoàn kết vững chắc. Sở Trang Vương bèn ra lịnh quần thần trong tiệc phải dứt hết dải mũ. Lúc thắp đèn, mọi người đều đội mũ không có dải. Do đó nên sự việc được bỏ qua.

Sau, Sở Trang Vương bị binh Tần vây khốn, Tưởng Hùng liều chết cứu thoát được vua Sở.

c. Bắt trộm (Đông Châu liệt quấc tập 4)

Nước Tấn mất mùa, trộm cướp nổi lên khắp nơi, quan Nguyên soái Tuân Lâm Phủ dùng Khước Ung là người có tài bắt trộm. Mỗi ngày ông đi rảo đó đây trong thành và bắt về mấy chục tên, hỏi ra thì đều là kẻ trộm cả.

Quan đại phu Dương Thạch Chức nói rằng tôi e rằng trộm chưa bắt hết mà Khước Ung chết đấy. Một hôm, Khước Ung đang đi thì bị mấy chục tên vây đánh chết. Tấn Cảnh Công bèn mời Dương Thạch Chức đến hỏi cách dẹp bọn trộm. Chức nói: Xin chúa công trọng dụng kẻ thiện nhân trong triều, kẻ bất thiện thấy thì sửa đổi ắt hết.

Vua dùng Sĩ Hội là người Tín, Nghĩa, Liêm, Sĩ, Trực mà không kiêu, không ác thay Tuân Lâm Phủ rồi thăng Thái Phó phong cho ở đất Phạm. Về sau, ông thành tổ của họ Phạm. Sĩ Hội bỏ hết những khoa điều bắt trộm, ông chỉ khuyên dân làm điều thiện. Lần lần quân trộm trốn sang các nước khác và nước Tấn cường thịnh lên.

Qua ba chuyện trên, ta thấy rằng nhân đức là yếu tố tốt giúp thành công trong cuộc sống.

Khánh Hội - Quận 4 Saigòn ngày 12-9-2017

PHẠM HIẾU NGHĨA


Phụ bản II

CÓ CHÚT GÌ

Có chút gì mỏng nhẹ như sương
Len vào gió và lùa vào trong tóc
Khiến mây bay cũng ngừng trong phút chốc
Và lưng trời hiên nắng cũng linh lang

Có chút gì mỏng nhẹ như hương
Len vào mắt và ngập ngòa tim đắm
Khiến hoa rơi cũng ngập ngừng nghiêng cánh
Và ân cần tay ấm dẫu không tên

Có chút gì mỏng nhẹ vương vương
Len vào giữa chập chùng ngan ngát
Khiến bước chân bỗng ngại ngùng giây phút
Và con đường bỗng lấp lánh miên man

Có chút gì mỏng nhẹ như say
Len vào giữa nhập nhòa tâm thức
Khiến ai nghe thiết tha từng âm vực
Và êm đềm trong mỗi khắc thân thương.

ĐÀM LAN

Giấc mơ nồng nàn

Hôm qua giấc mộng lạ thường

Trở về thuở ấy nồng hương dại khờ

Người mơ có gặp bao giờ

Mà sao bay bổng lạc bờ trăng sao

*

Mộng say tựa chén rượu đào

Ai cho hiu hắt trải vào mùa ngâu

Cầu Ô Thước nỗi dãi dầu

Ngưu Lang - Chức Nữ nỗi đau hồng trần

*

Hàng me rũ bóng Duy Tân

Áo ai thấp thoáng trắng ngần kiêu sa

Đêm đông buốt giá lụa là

Cầm tay, tình đã cách xa vạn lần…

*

Bàn tay những ngón phân vân

Nỗi đau như đã thoáng gần môi hôn

Đâu rồi! Giấc mộng vuông tròn

Tỉnh ra một thoáng nồng nàn – Tình vơi!

*

Thì thôi!… Mộng vỡ tan rồi,

Giật mình nuối tiếc, bóng soi hình hài

*

Câu thơ dệt giữa tàn phai

Trăm năm một giấc mơ này, còn nhau!...

Phạm Thị Minh Hưng

Nợ Tình

Kiếp này đã trót nợ nhau,

Làm sao trả hết trái sầu, tình xanh,

Nợ anh tuổi mộng mong manh,

Nợ đôi môi mọng, ngại ngần mắt yêu,

Nợ anh vương vấn tơ chiều,

Nợ thân thanh liễu, ấp yêu tình nồng,

Nợ vơ vẩn buổi chiều đông,

Mắt môi e ấp, nhớ nhung võ vàng,

Nợ sầu những buổi thu sang,

Nợ nhau ngàn ánh trăng vàng bên song,

Ngàn sao lấp lánh chờ mong,

Ngân Hà dòng sữa, hữu tình, mênh mông,

Nợ nần sao trả, đếm đong,

Mây trời ngăn lối, dở dang mộng sầu,

Nợ nhau một khối tình sâu,

Nợ nhau từ thuở tươi mầu thanh tân,

Nợ chi một bước tình gần,

Trăm thương nghìn nhớ phải ngần ngại xa,

Bao giờ mình được bên ta

Sẽ xin trả hết... Tình-Thơ-Muộn-Màng.

Phạm Thị Minh Hưng

Thuyền ghé bến mơ

Là con chim nhỏ lạc loài

Bay trong sương gió lẻ loi một mình

Anh say theo bước viễn trình

Em ôm trọn một bóng hình thân yêu

*

Phượng rơi, rơi mãi buồn nhiều

Màu hoa gợi nhớ buổi chiều biệt ly

Ngày tàn theo ánh tà huy

Tình em chẳng có biên thùy anh ơi !

*

Ve sầu hòa giọng chơi vơi

Gió về, mưa đổ, lá rơi ngập đường

Nhạc mưa êm ái vấn vương

Mưa chiều có ướt chiến trường không anh

*

Con chim nhỏ chợt chuyền cành

Làm tan nát giấc mộng lành vừa xây

Nhớ thương chất nặng vai gầy

Mảnh tim thơ dại chở đầy ưu tư

*

Phương xa thăm thẳm mịt mù

Tương lai em vẫn trắng như mây ngàn

Chờ nhau trong bóng hôn hoàng

Chờ nhau về nhặt hoa vàng bên sông

*

Thuyền thơ ghé bến tâm hồn

Thì thầm kể mẩu chuyện buồn ngày xưa

Gió run cánh phượng đầu mùa

Từ đâu vẳng nhịp chuông chùa xa xăm

*

Gió lên, khúc nhạc lắng trầm

Kìa đôi bướm trắng âm thầm chờ ai.

Gục đầu đếm giọt mưa rơi

Tiếng mưa dìu dặt

dâng khơi u buồn

*

Mưa giăng ướt lạnh phố phường

Sao không dắt lối mười phương hẹn hò

Chiều nay mây tím ai cho

Chiều nay bến cũ

con đò nào sang ?

*

Hoa mơ nở chốn đài trang

Nếu anh lỗi hẹn em càng xót đau

Thoáng nghe tiếng gọi ngọt ngào

Bâng khuâng em ngỡ lạc vào giấc mơ

Anh đến bên em bao giờ

Nhìn sâu trong mắt

còn ngờ chiêm bao !

NGÀN PHƯƠNG

MÙA SEN

Mặt hồ sen nở, ấu che

Trời xanh tiếp dẫn xuống ghe, đi hoài

Gió nam luồn giữa màn mây

Hồng trần dẫm bước, hương bay áo người

Dùng dằng trăng mọc, sương phơi

Hái sen, ta quấn nhau rồi tơ vương

Hoa sen trổ hạt non tròn

Không như trăng sáng có hôm khuyết tàn.

LANG NGUYÊN

MẶT HỒ DƯỚI TRĂNG

Hành lang bóng liễu dọi che

Mùa xuân tuyết xuống lạnh se mái thềm

Thương sao chị nguyệt đêm đêm

Một vầng trăng đẹp ngồi trên mặt hồ

Lững lờ cá chép, cá rô

Đua nhau trửng giỡn, nước xô ven bờ

Gió xuân thoang thoảng nhẹ đưa

Một bầu trời đất nắng mưa chan hòa

Càn khôn tuy rộng bao la

Chứa ngàn tinh túy phân cho mọi loài.

LANG NGUYÊN

GÁNH NƯỚC

Gánh nước dễ đâu, vốn mệnh Trời

Đa mang việc nước há rằng chơi

Vai gồng, thân gượng e trơn trượt

Chân bám, tay kềm sợ đổ rơi

Ráng giữ lắng trong tăng sức sống

Tránh làm vẩn đục hại cho đời

Siêng năng lo nước cho thiên hạ

Dẫu có gian nan, vốn mệnh Trời.

Thanh Châu

VUI THÚ ĐIỀN VIÊN

Đất xéo mua xong chẳng đợi ngày

Cầm cây tầm quấc đặt liền tay

Cỏ xanh góc liếp lo gìn giữ

Nước bạc bờ mương vội kéo cày

Xuống bãi, lên gò đo đạc mãi

Mở đường, khai lối bận làm hoài

Chồn chân, mỏi gối không nao núng

Vui thú điền viên suốt buổi dài.

Thanh Châu

GỬI EM

Anh muốn gặp em

Trong vườn hồng nhung đẹp

Anh muốn có em trên những đỉnh cao

Anh muốn tình ta là của thanh cao

Tỏa hương thơm bầu trời xanh mát

Anh muốn gặp em dịu dàng tiếng hát

Bản tình ca chàng trai khó tính yêu đời

Anh muốn là dòng suối mát tình ơi

Thuyền và biển khắc sâu bài ca ấy

Mãi tặng em xuân yêu không tuổi

Ngất ngây này thắm mãi hồn tôi.

PHÙNG CHÍ TÂM

LAN BÒ CẠP NƯỚC*

Mới biết một loài hoa lạ

Những chùm vàng quyện cao sang

Đây hoa Đô La yêu mến

Lan vàng Bọ cạp reo vang

Đây một loài hoa rất lạ

Có khi hàng tháng đơm hoa

Nhà ai có cây hoa lạ

Hoa nở có nhiều Đô La

Chùm hoa vàng cho may mắn

Thánh thiện nhiều hoa Đô La.

PHÙNG CHÍ TÂM

* Còn có tên: Osaca, Đô La, Lan Nữ Hoàng

NGÀY THƠ VIỆT NAM

Trời quang đãng trăng Rằm soi sáng

Đêm Nguyên Tiêu giữa tháng Giêng ta

Ngày Thơ của nước non nhà

Khắp nơi nô nức hát ca vang rền

*

Hồn phơi phới bừng lên sức sống

Dệt ước mơ giấc mộng non sông

Bốn mùa xuân hạ thu đông

An cư lạc nghiệp ấm lòng quê hương

*

Sắc không lẽ vô thường thế sự

Vẫn dạt dào thi tứ trào dâng

Cũng như xuân đến bao lần

Tao đàn mở hội mà dân mong chờ

*

Trăng có lúc khi mờ khi tỏ

Khách văn chương nặng nợ dâu tằm

Có tầm cũng phải có tâm

Bài ca đất nước thâm trầm biết bao

*

Từ quá khứ xông vào hiện tại

Duyên hàn mặc thắm mãi tình ta

Nhịp nhàng hảo hiệp trẻ già

Khung trời kỷ niệm chan hòa sắc hương.

THANH VĨNH

TÌNH THƠ

Ta nghĩ mãi bởi hai người mới lạ

Chưa quen nhau mà cứ ngỡ quen lâu

Ai xui khiến ta bắt được nhịp cầu

Cho vương vấn, cho tình thơ gặp gỡ.

*

Vẫn hồi hộp muốn làm quen cũng ngỡ

Cậy nhờ thơ làm sứ giả đổi trao

Dẫu xa chăng, Bắc Đẩu với Nam Tào

Nương theo gió thả hồn bay cảm luyến.

*

Khó khăn mấy cũng vượt qua trận tuyến

Vì yêu thơ nên khổ lụy vì thơ

Ngày lẫn đêm ta cứ mãi trông chờ

Gieo tình cảm, cho tình thơ kết lại.

*

Tuổi về già làm ta lo sợ mãi

Cầu sông Ngân xin chuyển mấy vần thơ

Nghe lòng như rộn rã những mộng mơ

Sao bỗng thấy, mến yêu đời gượng sống.

*

Ta lặng ngắm ánh trăng vàng gió lộng

Ngẩn ngơ buồn, lệ đổ nhớ thương thương

Thầm yêu thơ ta nào thấy sầu vương

Ai nỡ để, duyên tình thơ ốm nặng…

PHƯỚC HẢI

(22-4-1993)

YÊU THƠ

Viết được bài thơ chưa nghĩ tiền

Chẳng qua cái nghiệp phải làm duyên

Đôi câu lục bát chưa nên chữ

Đáp họa đường thi không được chuyên

Thôi thúc suy tư tìm chữ vận

Tinh thần phấn khởi sướng như tiên

Hồn thơ hòa huyên vui say mộng

Mỗi tháng đến nhau gặp bạn hiền.

QUANG BỈNH 02/2018

ĂN KHUYA

Giờ đã đêm còn nghe tiếng gõ

Mái hiên nhà hạt mưa to nhỏ

Em còn đánh “lách cách” theo nhịp

Anh bụng đói kêu bán một tô

Sương xuống lạnh mì còn nóng hổi

Mùi thơm hành tỏi bay lan tỏa

Trời về khuya ăn vào ngon miệng

Lòng ấm lại bao tử cũng no.

QUANG BỈNH 01/2018

CỔ ĐỘNG VIÊN

VIỆT NAM

Cổ động viên Việt Nam

Từ bốn phương trời về đây

Tay trong tay

Tinh thần thể thao mê say

Ta ước mơ từng ngày

Ta quyết thắng trận này

Việt Nam cố lên

Kèn trống vang rền

Khát khao trào dâng

Phất cao cờ hồng

Việt Nam chiến thắng.

LÊ MINH CHỬ

SỐNG THẾ NÀO ĐÂY ?

Làm người trung thực

Phải chăng là chuyện nhỏ?

Ở đâu và thời nào cũng khó

*

Vô cảm hay né tránh thực tại

Vì sự thật đó

Khiến người ta sợ hãi

*

Sống văn minh

Là không đánh mất mình

Dù mình chẳng còn gì để mất.

LÊ MINH CHỬ

BÓNG XUÂN QUA

Xuân đã qua rồi anh có hay

Trời vẫn xanh và mây trắng bay

Em gửi miền xa niềm thương nhớ

Nơi có hoa đào màu sương phai

*

Người đi xa mãi từ năm ấy

Để lại trong em mối luyến thương

Mong tin thư tháng tháng ngày ngày

Mà đời như đã nhạt mùi hương

*

Thôi anh nhé xuân em cũng qua mau

Đường trần dãi dầu em vẫn bước

Yêu thương dành lại đến ngàn sau

Bao giờ mới tàn niềm mơ ước

*

Nếu hai ba năm còn gặp lại

Bóng nắng qua thềm đã chớm phai

Hương cũ ngày xưa giờ đâu mất

Em vẫn muôn đời thương nhớ ai.

HOÀI LY

KHÓC ANH

Để nhớ người anh thương yêu ra đi vĩnh viễn

lúc 0g39 ngày 11 tháng Giêng Mậu Tuất (26/02/2018)

Em gái THÙY HƯƠNG vĩnh biệt Anh

Anh ơi sao vội ra đi

Bà con lối xóm chia ly não nề

Quê hương xa lắm muốn về

Giờ thành ảo mộng ê chề anh ơi

Thương đau em viết đôi lời

Bao nhiêu u uất để đời từ đây

Phần anh kiếp bạc lưu đày

Tha phương cầu thực đắng cay chực chờ

Nào ai đoán được chữ ngờ

Anh lâm trọng bệnh bây giờ chia xa

Huế ơi ! Nhớ quá muốn ra

Thôi đành vĩnh biệt xót xa lỗi thề

Còn đâu mộng ước ngày về

Khói hương nghi ngút não nề thê lương

Vợ, con, dâu, rể xót thương

Cơ quan - bè bạn dâng hương nguyện cầu

Cố quên bao nỗi khổ đau

Mong anh siêu thoát vơi sầu tiêu dao

Xa rồi quá khứ lao đao

Đêm khuya mờ nhạt ánh sao chuyển vùng

Anh nằm nơi ấy lạnh lùng

Vợ con trần thế não nùng bi ai

Lệ rơi ướt đẫm u hoài

Sầu than thương tiếc mà ai oán lòng.

THÙY HƯƠNG

MỘNG NHỚ

Thùy Hương ơi !

Nhớ thuở ban đầu ! Ta gặp Em

Đâu hay Em lẻ bóng thuyền quyên

Đâu hay Em phận đời xa xứ

Gom nhặt lệ người dấu từng đêm

*

Nhớ thuở ban đầu… Ta gặp Em

Tưởng chừng như lạ ! Bỗng thân quen

Tình thơ lưu dấu ! Đời thi hữu

Bây giờ… Ta chợt nhớ từng đêm

*

Ngộ ghê ! Ta bỗng thành thi sĩ

Gởi trăng đêm trắng lỡ tương tư

Gởi mưa chút mộng về nơi ấy

Thùy Hương ơi ! Hỏi có chối từ

Sao thu say khướt ! Tình say khướt

Hải Âu chờ… chờ mãi trăm năm.

HẢI ÂU

Sàigon đêm mưa cuối Hạ

CHÉN QUỲNH

ĐỒNG VỌNG

Cô HOÀNG THỊ VINH thân tặng

Chúc mừng Cô Cậu xứng đôi

Hải Âu tung cánh phương trời Thùy Hương

Tình thi phú - nghĩa văn chương

Tuy không quốc pháp thử chương cũng là

Đồng tâm - đồng chí - đồng ca

Đắp xây hạnh phúc đuốc hoa sáng ngời

Sắt cầm xứng lứa vừa đôi

Vun trồng hòa quế đâm chồi nở hoa

Vui thay bốn bể một nhà

Vang rền tiếng nhạc lời ca tuyệt vời

Dù cho vật đổi sao dời

Chúc mừng đôi lứa trọn đời bên nhau

An chi vui chúc đôi câu

Đẹp duyên kỳ ngộ đượm màu thủy chung

Chén quỳnh đồng vọng dư đông

Sảnh đường lộng lẫy dáng hồng thướt tha

Hoa thơm thoang thoảng bay xa

Cánh chim không mỏi bao la nghĩa tình

Cho hay tình lại gặp tình

Khác nào Kim Trọng thanh minh gặp Kiều.

HOÀNG THỊ VINH

YÊU ANH

Em nói yêu anh nhất cõi đời

Trong đời em chỉ có anh thôi

Ngoài anh em chẳng yêu ai nữa

Em chỉ yêu duy nhất một người

*

Em viết tên anh trên lá xanh

Dưới trăng hiu hắt lúc tàn canh

Một mai anh chết cài lên mộ

Cứ ngủ ngoan em sẽ dỗ dành

*

Em viết tên anh trên cánh hoa

Thả theo dòng nước cuốn trôi xa

Lênh đênh theo thủy triều lên xuống

Ghé bến hoang vu dưới nguyệt tà

*

Em viết tên anh trong giấc mơ

Bên đời hiu quạnh bước bơ vơ

Hoa đương phong nhụy sao tàn úa

Cây cũng trầm tư đứng thẫn thờ

*

Em viết tên anh trong trái tim

Ru anh vào giấc ngủ êm đềm

Một chiều Hạ đỏ lên đồi vắng

Khóc mối tình xưa thuở ấm êm.

THANH PHONG

LUNG LINH

ÁNH NẾN

Em hiền như ma soeur

Bước ra từ cõi mơ

Tấm áo choàng em mặc

Cất bên trong bài thơ

*

Xin giữ nguyên lòng lành

Tình yêu dâng hiến trọn

Chúa giang tay mừng đón

Cho cuộc đời hồi sinh

*

Không đi tìm hạnh phúc

Hạnh phúc ủ trong tim

Lung linh như ánh nến

Sáng mãi một niềm tin

*

Bài đồng ca em hát

Bay lên cùng trăng sao

Mang theo làn hương ngát

Trong gió chiều xôn xao.

LÊ NGUYÊN

EM

Chẳng lẽ xuân chỉ sang
Khi ngõ rực hoa vàng
Khi pháo cười toe toét
Đón em bước vào sân ?

Chẳng lẽ xuân chỉ tươi
Khi gió vén áo người
Cho hồng chiếc eo nhỏ
Tay vội vã bụm, cười ?

Chẳng lẽ xuân chỉ vui
Khi đào nở rộn trời
Khi chú mèo cợt nhả
Lăn trong vũng nắng rơi ?

Chẳng lẽ xuân giả điên
Chỉ như chú cún hiền
Bỗng đầu năm nhảy nhổm
Quẩn chân anh và em ?

Nếu thế thì mùa xuân
Ngày nào chẳng… tuyệt trần
Khi bên em rảo bước
Phố chỉ có đôi mình…

18.11.2017

LAM TRẦN

SỐNG XA TỔ QUỐC

Người xa Tổ quốc

như chim lạc,

Ngơ ngác

trời xanh

chẳng của mình !

Matxcơva, 18-4-1995

VŨ ĐÌNH HUY

LIVING FAR AWAY

FROM THE FATHERLAND

The man living far away from his Fatherland

is like a lost bird

Dazed,

as the blue sky

doesn’t belong to him !

Moskow, 18-4-1995

VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN

TRÙNG HỢP

Trùng hợp ngẫu nhiên hay là số phận ?

Hai Nhà thơ - hai chớp sáng ngang trời.

Hoa cúc vàng tơi tả dưới mưa rơi

Vẫn xòe cánh phủ hai mồ cô lạnh !

Không ước hẹn sao họ cùng quyết định

In tập thơ mang tên gọi thâm tình :

Hoa cỏ may - thành tập thơ định mệnh

Không cho người sinh thấy mặt con mình !

Hoa cỏ may dăng dày như vải liệm

Găm vào thân tác giả nỗi đau đời

Hoa cỏ may như đường kim ẩn hiện

Níu bước ai đi viếng mộ hai người !

Matxcơva, 11-10-1995

VŨ ĐÌNH HUY

* Xuân Quỳnh (06/10/1942 - 29/8/1988), tác giả tập thơ “Hoa cỏ may”, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1989.

* Vũ Đình Hạnh (23/12/1946 - 11/10/1994), tác giả tập thơ “Hoa cỏ may”, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995.

COINCIDENCE

It’s a chance coincidence or is it fate ?

The two poets - two flashing lights on the sky

Yellow marigold flowers,

though ragged under the falling rain

Still spread their petals,

covering the two cold and lonely graves !

Not agreeing in advance, why they both decided

To print the two collections

of poems bearing a same affectionate name

The “Raphia-grass flower” has turned

into a predestined collection of poems

Not allowing its authors to see their works !

Raphia-grass flowers stretched thick as a shroud

Pinned into the authors’ bodies the pains of life !

Raphia-grass flowers are like appearing

and disappearing stitches

Grabbing the footsteps of he

who visits the poet’ graves !

Moskow, 11-10-1995

VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN

* Xuân Quỳnh (06/10/1942 - 29/8/1988), authoress of the collection of poems “Raphia-grass flower”, New Literary-Work Publishing House, Hanoi, 1989.

* Vũ Đình Hạnh (23/12/1946 - 11/10/1994), author of the collection of poems bearing the same title “Raphia-grass flower”, Literature Publishing House, Hanoi, 1995.

TỤC NGỮ CA DAO

LIÊN QUAN ĐẾN CHÓ

Bà và cháu Gấu 5 tuổi nói chuyện với nhau:

- Ăn giỏi lát bà cho coi TV. Bà nói là bà giữ lời đó.

Cháu tiếp theo:

- Đừng như con bướm đậu rồi lại bay phải không bà?

Chà bà và cháu ca dao tục ngữ tuôn ra xối xả làm tôi chợt nghĩ: Tại sao năm Tuất mình lại không sưu tầm ít câu ca dao tục ngữ về Chó nhỉ? Tuy có muộn một chút nhưng có còn hơn không. Tôi liền giở các sách vở mình có trong tay, lên cả bác Google nhưng vẫn thấy thiêu thiếu. Chợt nhớ lại những câu bố mẹ từ xưa thường nói, xin được chép ra đây và phân theo thứ loại như sau:

Ưu tiên Gà bàn giao cho Chó

1. Chó ăn đá, gà ăn muối (sỏi).

2. Chó liền da, gà liền xương

3. Chó già, gà non

4. Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng.

5. C ơm đâu no chó , t hóc đâu no gà,

6. Ráng mỡ gà thì gió, Ráng mỡ chó thì mưa

7. Chó 3 khoanh mới nằm, gà 3 lần vỗ cánh mới gáy

8. Chó giữ nhà, Gà gáy sáng (trống canh)

9. Chó giống cha, gà giống mẹ

10. Chó quen nhà, gà quen chuồng

11. Chó lê trôn, gà gáy gở

12. Chó tháng ba, gà tháng bẩy

13. Bán gà tránh trời gió, bán chó tránh trời mưa

14. Gà lọt giậu, chó sáu bát

Chó và Chó

15. Chó nhà nào sủa nhà ấy

16. Chó cái cắn con

17. Chó càn cắn giậu

18. Chó dữ cắn càn

19. Chó đen giữ mực

20. Bơ vơ như chó lạc nhà.

21. Đừng khinh chó chớ cậy giàu.

22. Đen như mõm chó.

23. Đã khó chó cắn thêm.

24. Lăng xăng như chó dái

25. Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi

26. Chó mặc váy lĩnh

27. Chó già giữ xương

28. Chó ngáp phải ruồi

29. Chó chui gầm chạn

30. Xuỵt chó bụi rậm

31. Quăng xương cho chó cắn nhau

32. Chó chực máu giác

33. Chó chực chuồng chồ

34. Chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn

35. Hà tiện mới có, phũ như chó mới giàu

36. Chó khom lưng vãi cải, chó le lưỡi vãi mè

37. Khoang cổ, lổ đuôi, hại chủ nhà

38. Chó khôn tha cứt ra bãi,

Chó dại tha cứt về nhà.

39. Chó khôn tứ túc huyền đề

Tai thì hơi cúp, đuôi thì hơi cong;

Giống nào mõm rọn đít cong,

Ăn càn ăn bậy, ấy không ra gì.

40. Bạn vàng chơi với bạn vàng,

Đừng chơi bạn vện, ra đàng cắn nhau.

Chó và Mèo

41. Chửi chó, mắng mèo.

42. Ăn ở như chó với mèo.

43. Hục hặc như chó với mèo

44. Chó khô mèo nhạt

45. Chó treo mèo đậy

46. Chó chê mèo lắm lông

47. Mèo đàng, chó điếm

48. Chó tha đi, mèo tha lại

49. Buộc cổ mèo, treo cổ chó

50. Chửi mèo mắng chó

51. Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang.

52. Anh em cột chèo như mèo với chó.

53. Chó ghét đứa gặm xương, mèo thương người hay rử

54. Mèo hoang lại gặp chó hoang,

Anh đi ăn trộm gặp nàng nhổ khoai.

55. Chó già ăn vụng cá khô,

Ông chủ không thấy đổ hô cho mèo.

56. Con mèo con chó có lông

Cây tre có mắt nồi đồng có quai

Chó và Người

57. Đánh chó ngó chủ nhà.

58. Chó cắn áo rách

59. Chó sủa là chó không cắn.

60. Làm người thì khó, làm chó thì dễ.

61. Chó dại có mùa, người dại quanh năm.

62. Chó có chê cứt thì người mới chê tiền

63. Chó gầy hổ mặt người nuôi

64. Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi

65. Giỡn chó, chó liếm mặt

66. Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu

67. Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng

68. Nói dai như chó nhai giẻ rách

69. Giàu bán chó, khó bán con

70. Chó ỉa bờ giếng không sao

Chó ỉa bờ ao thì bị người ta cắn cổ

71. Con không chê cha mẹ khó,

Chó không chê chủ nhà nghèo.

72. Chó đâu chó sủa lỗ không,

Không thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.

73. Gái đâu có gái lạ lùng

Chồng chẳng nằm cùng,

nổi giận đùng đùng, ném chó xuống ao

Đến đêm chồng lại lần vào

Vội vàng vác sọt đi chao chó về.

Ăn Nhậu

74. Treo đầu dê, bán thịt chó.

75. Sống được miếng dồi chó, chết được bó vàng tâm.

76. Ăn cùng chó ló xó cùng ma.

77. Sạch như chó liếm (liếm sạch như chó)

78. Hốc như chó (ăn hỗn)

79. Độc như chó mới có mà ăn.

80. Nói như chó ngậm cám

81. Nói như chó ăn vụng bột

82. Chó ngáp phải ruồi.

83. Mình về ta nắm lấy đuôi,

Ta trói bốn cẳng, ta thui cho vàng.

84. Đi tu Phật bắt ăn chay,

Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

85. Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

86. Cái cò là cái cò kì,

Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô.

Ăn rồi lại ngáy o o,

Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà.

Hàng bánh hàng bún bày ra.

Củ từ, khoai nước cùng là cháo kê.

Ăn rồi cắp đít ra về,

Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào.

Chả này bà bán làm sao?

Ba đồng một gắp thì nào tôi mua

Nói dối rằng mua cho chồng,

Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn.

Ăn rồi đau quặn, đau quăn,

Chạy về cho kịp nằm lăn cả ngày.

Đem tiền đi bói ông thầy,

Bói ra quẻ này những chả cùng nem.

Ông thầy nói dối đã quen,

Nào ai ăn chả, ăn nem bao giờ!

87. Na mô một bồ dao găm

Một trăm con chó, một lọ mắm tôm

Một ôm rau húng, một thúng rau răm…

Na mô một bồ dao găm

Một trăm dáo mác, một vác dao bầu

Một xâu thịt chó…

88. Tiểu tôi, tiểu kính, tiểu hiền.

Bao nhiêu chùa chiền tiểu đốt tiểu đi.

Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu chỗ tội, tiểu thì cắm chông.

Nam mô xứ Bắc xứ Đông,

Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

Cái dùi sơn son,

Cái mõ sơn son,

Ông sư bà vãi có con rõ ràng.

89. Em là con gái phủ Từ

Lộn chồng trả của, theo sư chùa Viềng.

Đói thì thịt chó nấu riềng,

Bán rau mảnh bát lấy tiền nộp cheo.

Dù còn thiếu thốn bao nhiêu

Xin làng đừng có cắm nêu ruộng chùa.

Chó, Chuột, Ngựa, Voi, Huơu…

90. Khuyển mã chi tình

91. Mõm chó vó ngựa

92. Lên voi, xuống chó.

93. Quen chó chớ mó răng, quen voi chớ sờ ngà

94. Chó chạy trước huơu

95. Đồ chó đẻ (chửi, mắng…)

96. Chuột chê xó bếp chẳng ăn,

Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre.

97. Nhất hào, nhị hào, tam hào…

Chó chạy bờ ao, chuột chạy bờ rào…

Quẻ này có động !

Tiền buộc dải yếm bo bo,

Trao cho thầy bói đâm lo vào mình.

Bói toán linh tinh…

98. Hát cho chó cắn bò lồng

Hát cho con gái bỏ chồng mà theo

Hát cho chó cắn bò kêu

Hát cho ông lão trong lều bò ra

99. Nhà này có quái trong nhà,

Có con chó đực cắn ra đằng mồm.

Nhà bà có con chó đen,

Người lạ nó cắn, người quen nó mừng

Nhà bà có cái cối xay,

Bốn chân xuống đất, ngõng quay lên trời.

100. Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi,

Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai,

Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc,

Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi,

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú,

Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu,

Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

101. Ra đường bà nọ bà kia,

Về nhà không khỏi cái nia, cái sàng

Ra đường võng giá nghênh ngang,

Về nhà hỏi vợ: “Cám rang đâu mày ?”

Cám rang tôi để cối xay,

Hễ chó ăn hết thì mày với ông !

Có những câu không tìm thấy trong sách vở nào cả tôi mới chợt nhớ ra do các cụ lớn tuổi truyền lại. Nay đã gom được 101 câu tương đương 101 con chó đốm. Xin được đón nhận thêm các câu ca dao tục ngữ về Khuyển, Chó, Tuất. Hôm cháy chung cư Carina 1g30 sáng ngày 23/3/2018 tại quận 8 nghe nói có 2 em chó đã gọi và đánh thức cứu cả gia đình chủ khi chủ còn đang say giấc nồng. Cảm động thay !!!

HÀ MẠNH ĐOÀN


Phụ bản III

NƠI QUÁN BIA

Ngày nào mà gã không ngồi ở cái bàn ngoài bìa cùng đó! Chiếc xe đời cũ đã được tút tối đa, để ngay trước mặt. Trên xe treo sẵn 2 cái nón bảo hiểm chẳng lấy gì làm mới, khiến người ta nghĩ ngay chủ nhân nó phải là một bác tài xe ôm…

Thì gã chạy xe ôm chứ còn gì nữa! Và chiều tối nào chẳng ngồi ở đây, quất xong 5 chai bia mới về. Khi “giờ thiêng” đến, dù có trúng mánh, gã nhất định cũng không chạy thêm dẫu chỉ một cuốc. Trừ khi, có ai đó nhăn nhó vì đau chân, muốn về nhà gần đâu đó mà chẳng dám gọi xe, bởi biết chắc không có tay xe ôm nào chịu chở một đoạn quá ngắn như thế, thì gã mới tạm ngưng chầu bia cô độc ấy, chở người ta về mà… không thèm lấy một cắc!

Gã lấy làm lạ, sao hôm nay mình say thế! 5 chai với gã chẳng là gì, nhưng gã chỉ uống vậy thôi để “giữ sức khỏe”. Ấy là gã nói với bà chủ quán, khi có hôm bà thắc mắc. Hôm ấy, xớ rớ làm sao mà gã rơi mất bóp. Xong chầu bia, gã ới bà lại:

- Tui để xe đây… thế mạng, rồi chị cho tui về nhà lấy tiền ra trả, vì bóp rơi mất rồi!

- Mai trả cũng được mà!

Nhưng gã nhất định đứng lên, định đi bộ thật, khiến bà nọ í ới:

- Thì chú lấy xe đi đi… Có bao nhiêu đâu mà…

Bất đắc dĩ, gã mới nhe răng cười lần đầu tiên với bà chủ quán, rồi nổ máy xe. Chỉ chừng 20 phút, gã đã chìa tiền cho bà chủ, miệng bóp bép:

- Tính tui sòng phẳng chị ơi! Không trả, biết đâu đêm nay tui chết thì sao…

- Uống thêm không?

- 5 chai thôi! Còn giữ sức khỏe nữa chứ!

Vậy mà chiều nay, gã nuốt không trôi cữ bia quen thuộc đó. Bởi, dù bia có đắng, thì cũng không đắng bằng lòng gã lúc này. Cả ngày nay, gã chẳng chạy thêm cuốc nào, trừ những cuốc “mối”. Gã còn bận đi vay tiền. Mà chẳng cha căng chú kiết nào chịu cho gã vay cả. Gã cũng thừa biết, tướng tá mạt rệp của mình là nguyên nhân mọi việc! Vay cả ngàn “đô” chứ ít gì! Mà “đô” cơ, chứ không vay tiền Việt, trời ạ! Gã nhếch mép, nửa buồn cười về chính mình khi khổng khi không lại đi vay đô la với lý do dằn túi cho con mình khi nó, vài ngày nữa sẽ lên đường du học ở Mỹ, nửa chán cái mớ đời đầy những kẻ hoặc “tao làm gì có tiền”, hoặc bĩu môi nghi ngờ về việc, kiểu như gã mà có con học giỏi đến thế sao…

Mấy lần gã phải cắn môi lại kẻo nước mắt người bặm trợn tuôn ra. Gã xoay xoay cái ly đã nhạt nhách, mà ngao ngán cho thứ bia đắng đót dị kỳ ấy. Bà chủ quán tiến lại:

- Đá không…?

Thấy gã không nói gì, bà để sô đá nhỏ lên bàn:

- Có chuyện gì mà chú có vẻ buồn vậy…

Thế là gã xổ ra một tràng, có đủ đầy tiếng lóng, tiếng chửi thề bực tức. Bực cho mình, vì nghèo mà chẳng giúp đỡ gì được con cái, bực vì những lý do người ta nại ra để không cho gã mượn tiền. Rồi gã trố mắt, thẫn thờ khi nghe bà ấy nói tỉnh bơ:

- Không ai cho chú mượn, thì tui cho, chứ có sao đâu?

- Chị mà cho tui mượn ư! Chị còn không biết tui ở thuê nữa kìa! Giỡn hoài bà…

Rồi gã cười sằng sặc, nhe hàm răng đã quá nửa đóng xong cuộc đời hương phấn. Bà nọ nghiêm giọng:

- Chú “khi” tui không có tiền ư! Gì chứ 1000 thì có ngay, không lãi liếc gì hết! Và bao giờ trả cũng được! Nếu ngại, thì cứ trả góp cho tui mỗi ngày 50 ngàn, được không?

Bây giờ, thì mắt gã dịu xuống, bia chẳng còn đắng nữa. Gã rừng rực uống trọn chai bia dở dang rồi nhẹ nhàng:

- Chị nói thiệt hả?

- Uống xong đi rồi nói chuyện! Chầu chiều nay, tui bao!

Gã không bao giờ để ai bao bia, hay bao bất cứ thứ gì, vì gã coi việc để người khác bao là tự đánh mất tư cách. Gã lật đật, dúi vào tay bà chủ tiền, bắt bà phải cầm cho bằng được. Rồi bà lôi hắn vào quầy. Xong, loay hoay gì đó trong nhà. Khi trở ra, một tay chìa cho hắn cuốn sổ, một tay cầm xấp đô la rất… thật:

- Chú ghi cho tui mấy chữ vô đây nhé…

Gã bỗng… cà lăm:

- Em… em…

Gã cà lăm vì lần đầu tiên, gã gọi bà ấy bằng “chị”, xưng “em”:

- Thôi, em chẳng viết đâu, vì chữ xấu lắm, lại đang say nên viết chẳng khác gì gà bới đâu…

- Nếu chú nghĩ vậy, thì sáng mai ra đây, tui cho mượn. Đừng ngại…

Gã lái xe về mà như thiên thần bay trên đôi cánh, vừa nhẹ nhàng lại vừa… an toàn trên xa lộ. Nhưng chồng bà bán quán, cùng lũ khách nhậu quen biết chuyện, thì nhao nhao:

- Bộ bà khùng hay sao mà cho thằng đó mượn tiền?

- Tiền của tui, tui muốn làm gì thì kệ tui đi mấy cha! Dzô!

Bà ực trọn ly bia. Bà chẳng muốn phiền lòng khách hàng. Vì nhờ họ bà mới có tiền để dành mà cho gã xe ôm vay đấy chứ. Còn chồng bà, bà chỉ nói:

- Tui thấy tội nghiệp nên cho chú ấy mượn. Với lại, đó là con người biết lo lắng cho gia đình mà…

- Tại tui sợ mất!

- Mất gì! Có số má hết, ông ơi!

Sáng hôm sau, gã chở cả vợ ra nữa, cứ như là minh chứng cho mục đích việc vay đô la của bà. Vừa ngồi chưa ấm chỗ, bà đã xỉa tiền:

- Nè, tiền nè, đếm đi!

- Cám ơn chị! Em dắt vợ em ra, để cổ ký giấy nợ, chứ chữ em xấu tàn tệ luôn!

- Khỏi giấy má gì hết! Hôm qua, tui kêu chú ký giấy, vì sợ chú say. Nhưng bữa nay, vì chú không say, thì khỏi ký nhé!

Gã trố mắt nhìn thiên-thần-ngoài-đường của mình. Gã thật sự ngạc nhiên vì không ngờ, trên đời này còn có người dám tin tưởng vào kẻ khố rách áo ôm như gã…

Đến nỗi, sau đó, gã… đi xưng tội! Vì 20 năm qua, gã bỏ quên Chúa mất rồi…

Rồi, gã toét miệng cười, nhe hàm răng mới sơn sửa lại:

- Vậy mà, không ngờ, chỉ trong 10 tháng, tui trả xong nợ của bả. Sạch sành sanh!

- Thế, ông còn uống ở quán bả không?

- Còn chớ! Mối mà!

- Ngày mấy chai?

- Thì cứ như cũ, năm chai một chiều. Uống xong là về ngủ!

LAM TRẦN 24.03.2018

MỘT THỜI ĐI HỌC

Kính tặng quý thầy cô trường Tiên Long (Quận I cũ)

Nhớ lại mấy mươi năm về trước, thành phố Sài Gòn chưa có trường mẫu giáo công lập hoặc tư thục như hiện giờ nên lứa tuổi lên 4, lên 5 của chúng tôi đa số chỉ được cha mẹ kèm cặp dạy vần, tập viết abc tại nhà để năm sau đi học lớp Năm (lớp 1) ở trường Tiểu học trong Quận hoặc xa hơn. Hồi ấy chỉ có các vườn trẻ (Jardins d’enfant) dành cho các con em học chương trình Pháp mà thôi.

Tôi được bà nội dẫn đến một lớp mẫu giáo tư trong xóm do một bà giáo đã có tuổi mở ra dạy các trẻ nhỏ. Nơi đây tôi được học những chữ cái đầu tiên, đánh vần, ráp chữ và tập đồ bằng những nét nguệch ngoạch, chả ngay hàng thẳng lối chút nào. Bà giáo bới đầu củ tỏi, mặc áo túi trắng, cầm cây roi mây dài, nhưng chỉ để gõ nhịp trên băng ghế để chúng tôi đánh vần và đọc lớn tiếng theo giọng của bà. Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế nhỏ, thấp, kê cuốn vần, tập trên những băng gỗ dài để đọc, viết. Chỉ khoảng mấy tháng sau, tôi đã đọc chữ thông thạo, vần xuôi, vần ngược đều xuôi rót.

Thế là tôi chuẩn bị đi học lớp Năm (lớp đầu của tiểu học) ở “trường nhà thờ”, cách nhà hơn cây số, không xa lắm nhưng phải đi qua một con rạch nhỏ tên là Rạch Bần thông ra Kênh Tàu Hủ lúc bây giờ. Tôi nhớ con rạch nhỏ chút xíu mà phải đi đò băng ngang, mỗi chuyến 5 cắc (tiền hồi 1952-1953) sau lên 1 đồng bạc. Vì lúc ấy, tôi nhỏ con, ốm yếu nên cô Hương đưa đi rước về và xách cặp, mực viết cho tôi thong thả lên đò một mình.

Ngôi trường xây trong Khuôn viên nhà thờ Cầu Kho đường Phát Diệm bấy giờ tên Lê Văn Gẫm dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất, tôi nhớ vậy. Nhưng tôi không học hết lớp với các dì phước dòng Mến Thánh Giá ấy mà lại chuyển sang trường khác vì bị đòn oan. Khi tôi lên lớp Tư (lớp 2) thì có một cô giáo bên ngoài phụ trách. Một hôm trong giờ cả lớp đọc bài Sử Ký, tôi bỗng hứng chí sao không biết, quay sang cười toe toét với cô bạn ngồi bên thì cô giáo bắt gặp liền gọi lên bàn giáo viên, không hề hỏi lý do vì sao, cô giáng ngay cho tôi một bạt tay nẩy lửa với năm móng tay nhọn cào trên gương mặt, tôi vừa đau vừa sợ lẫn hoang mang quay về chỗ ngồi khóc tức tưởi. Hôm sau tôi nhất định xin má nghỉ học luôn dù má tôi năn nỉ nên đi học lại. Sau cùng ông bà nội đồng ý cho tôi nghỉ học “Trường dì phước” nhưng yêu cầu tôi vẫn phải học giáo lý ở nhà thờ.

Nghỉ học độ một tuần, má tôi dắt tôi đến xin nhập học tại trường tư thục Tiên Long đường Cô Bắc Quận 1. Theo lời giới thiệu của người bạn của anh bà con ở kế bên nhà. Tôi học lại lớp Tư với một cô giáo rất hiền và tận tâm. Cô giáo Tư thường mặc áo dài trắng đi dạy học, tính tình hòa nhã, giản dị. Cô hơi trọng tuổi nên thường gọi các học trò lên nhổ tóc sâu, tôi không dám nhưng nhỏ bạn Ngọc Nhung hay xung phong liền. Cuối năm, cô Tư lại dẫn hết đám học trò lích nhích vào Sở Thú (Thảo Cầm Viên) chụp hình kỷ niệm. Tiếc là qua bao nhiêu năm tháng tôi đã làm thất lạc hết những bức ảnh thuở nhỏ ở trường Tiên Long nầy. Giờ đây ngôi trường địa chỉ đỏ ấy không còn nữa, đã trở thành dãy phố sang trọng cuối đường Cô Bắc từ khi thầy Hiệu Trưởng qua đời.

Rồi tôi lên lớp Ba, học với cô giáo hiền lành ít nói, rất nghiêm nhưng không bao giờ đánh đòn học trò, chỉ phạt quỳ gối nếu không làm bài tập về nhà, không chép bài đầy đủ vào tập Luân Chuyển. Khi xét tay dơ, không cắt móng sạch sẽ nhất là bọn con trai hay bắn bi, đánh đáo thì chỉ khẻ tay thôi. Đó là hình phạt thông thường dành cho lũ học trò nam nữ nghịch ngợm như quỷ sứ tụi tôi. Thuở đó, chúng tôi cũng không hề giận cô thầy vì đã phạt mình, có lỗi mới bị phạt mà thôi thầy cô có la rầy cũng phải chịu, nếu về nhà méc ba má thì có khi còn bị phụ huynh cho thêm một trận đòn nên thân vì tội không nghe lời thầy cô, giữ kỷ luật nhà trường.

Cô Nguyệt Ánh lớp Ba thì hay mặc áo dài, tay cúp phồng, hơi yểu điệu nhưng điềm đạm phần nhiều chỉ rầy la chứ ít đánh đòn, dù hình như cô thầy nào cũng thủ sẵn cây roi dài ở bên mình hết. Năm đó bắt đầu có Tập Làm Văn tức là cô ra một đề học sinh phải tập viết một bài văn có nhập đề, thân bài, kết luận. Trước đó, ở lớp Tư chỉ đặt câu theo các từ ngữ cô cho thôi nên tôi rất lúng túng chưa biết cách làm một bài dài như thế, đành về nhà hỏi má, má tôi phải đọc từng câu cho tôi chép. Hôm sau đem nộp cô, cô tôi đọc qua thì biết ngay không phải do tôi làm bài. Khi trả tập, thấy phê câu: “Em phải tự làm bài”, tôi thú thật với cô má tôi là tác giả nên như để khuyến khích, cô Ánh cho 5 điểm thay vì 3 điểm về cái tội không tự mình làm bài văn trên.

Kể từ ngày ấy, tôi cố gắng đọc thêm truyện tranh cổ tích, truyện ngắn nhi đồng, thỉnh thoảng lén đọc những trang tiểu thuyết của Bà Tùng Long, nhà văn Trọng Nguyên, Dương Hà trong tờ báo Sài Gòn Mới ra hàng ngày, má tôi mua để theo dõi tin tức vì ba tôi cấm con nít đọc tiểu thuyết người lớn, nhưng theo ý nghĩ trẻ con của tôi hồi đó thì ba loại truyện dài, tiểu thuyết ấy đều lành mạnh, giáo dục chứ đâu có gì quá lố, bậy bạ dù có viết về yêu đương, vợ chồng đôi chút, nhưng vì ba tôi rất nghiêm khắc đối với con gái nên đành phải lén đọc trộm. Nhưng có lẽ nhờ vậy mà lần lần tôi khá lên về môn Việt Văn, được cô khen tự làm bài được, tôi nhớ cũng đã rèn chữ đẹp để viết tập Luân Chuyển trong lớp vì nhà trường đặt ra là ở tiểu học mỗi học sinh phải lần lượt viết tất cả các bài học, bài làm, trong ngày vào một quyển tập đặc biệt để Ban Giám Hiệu kiểm tra việc học tập của lớp 3 đến lớp Nhất.

Nếu ở lớp Ba tôi được biết nhiều đến văn chương thì khi lên lớp Nhì tôi lại làm quen với âm nhạc qua người thầy mà tôi luôn kính trọng và yêu mến trong hai năm học lớp Nhì và Nhất.

Tuy thầy Nuôi không phải là nhạc sĩ chuyên nghiệp, nhưng thầy yêu nhạc và đã truyền lửa thích âm nhạc cho chúng tôi, những đứa trò nhỏ tếu táo. Thầy đã dành thì giờ để dạy chúng tôi những bài nhạc về quê hương, đồng nội như Nhạt Nắng, Hoa Xuân của Phạm Duy và trong giờ Nhạc, tôi đã làm gan hát bài Nhạt Nắng ấy mà có lẽ thầy yêu thích nhất nên tôi được hưởng trọn 8 điểm ngon ơ làm các bạn trong lớp xầm xì to nhỏ là thầy thiên vị, nhưng tôi mặc kệ, điểm cao là được rồi. Về Việt Văn, có lần nhân dịp lễ Giáng Sinh, thầy ra đề “Hãy tả cảnh một đêm lễ Giáng Sinh mà em đã dự”. Trong lớp tôi ngày ấy, có tôi đạo Công Giáo và cô bạn Hoàng Mai theo đạo Tin Lành, và sau khi thầy chấm điểm toàn lớp, khi trả bài thầy đọc lên cả hai bài của Mai và tôi, khen phần kết luận bài của tôi, thầy đọc xong cả lớp lại vỗ tay tán thưởng làm tôi đỏ mặt mắc cỡ nhưng thầm vui mừng. Sau đó, tôi nghe các anh, chị lớp Đệ Tam, Đệ Nhị kể lại thầy tôi đã đem bài luận văn ấy đọc cho các anh chị nghe như bài văn mẫu làm con bé Lý tầm thường như tôi bỗng được toàn trường biết tên tuổi kể cả thầy Tổng Giám Thị, thầy Hiệu Trưởng.

Giờ Văn, Nhạc thì thế, nhưng trái lại đến giờ Toán, Hình Học, Động Tử thì tôi trở thành kẻ khốn đốn, tội tình nhất vì tôi dở môn ấy và đứng bét lớp. Thầy đã nhiều lần “thân tặng” tôi những ngọn roi đích đáng vì tội dạy hoài vẫn làm bài trật lất về động tử một chiều, ngược chiều, nào là quãng đường, vận tốc, vòng xe gì gì đó ôi thôi nhức cả đầu, lại thêm vòi nước chảy vào hồ mấy giờ đầy, mấy giờ vơi, trời ơi học hoài không hiểu, thế là “bọn đì” (bị đòn). Tôi hãi hùng giờ Toán muốn chết nhưng cũng ráng ì ạch leo lên lớp Nhất cho hết cấp 1 (theo ngày nay) để đi thi Tiểu Học nhờ những môn học khác bù qua.

Một thời đi học thật vất vả, cực khổ nhất đối với bản thân tôi, nhưng bù lại với sự tận tâm, nhiệt tình “vì đàn trẻ thân yêu” của các thầy cô ngày đó đã đem lại cho tôi các kiến thức sâu rộng giúp tôi rất nhiều khi bước vào đời không bao giờ phai mờ thật đáng quý trọng.

Kỷ niệm những năm cuối bậc tiểu học để lại trong tôi rất nhiều điều không thể quên, thầy lớp Nhì theo lên lớp Nhất phụ trách Việt Văn, thêm thầy Kiêm Lữ dạy Toán, cả hai thầy lẫn trò đều rất cố gắng dạy và học hết sức để chuẩn bị kỳ thi Tiểu Học đầu đời của học trò nhỏ. Thầy Văn đọc Chánh Tả cả giọng Bắc lẫn giọng Nam để chúng tôi làm quen khi ra trường thì gặp vị giám khảo “người miệt ngoài” (chúng tôi thường nói thế), thầy còn đòi hỏi cả lớp phải một trăm phần trăm không lỗi chánh tả mới hài lòng. Thầy hay đọc cho lớp viết đoạn văn “Về làng Mọi” của nhà văn Lý Văn Sâm (tôi nhớ hình như vậy) trong đó có câu: “Mây trôi trôi vô hạn, nước xuôi xuôi vô định, lòng tôi cũng mênh mông như mây và nước lúc bấy giờ” là tôi thích và ghi nhớ nhất. Hàng sáu mươi năm đi qua, không biết câu văn trên tôi viết lại đây có chính xác không, nó đã được in trong quyển “Chánh Tả” bán ở Yễm Yễm thư quán của thi sĩ Đông Hồ sáng lập ở góc đường Nguyễn Thái Học nhìn sang đường Trần Hưng Đạo Quận 1 bây giờ. Hồi tưởng lại thời gian sau nầy, khi có dịp đứng trên chuyến phà sang sông về Gò Công thăm mộ một người bạn, nhìn nước chảy mây trôi, tôi lại liên tưởng đến câu văn đầy chất thơ ấy chợt thấy mình cũng đồng tâm trạng với tác giả lúc tản cư về quê ngoại thời chiến tranh. Từ đấy, tôi cảm thấy yêu văn thơ và có ý nghĩ là trong tương lai sẽ theo học Văn Khoa vì sẽ được đọc sách, thơ văn và điều quan trọng nhất là khoa văn chương sẽ không bao giờ đụng đến toán, mặc dù má tôi có lần nói: “Làm nhà văn, thi sĩ sẽ nghèo và cuộc đời lận đận lắm con à”.

Trường tôi mở lớp Luyện thi Tiểu Học miễn phí cho học trò lớp Nhất vào các buổi tối sau lớp học, chia ra ngày Văn, ngày Toán mà cả thầy trò đều ra sức thi đua rèn luyện để đạt kết quả tốt nhất. Cuối cùng, sau thời gian học tập cật lực, vất vả đối với lứa tuổi 11, 12 của chúng tôi đã thành tựu, đã sinh hoa trái ngọt ngào. Năm đó, Nha Tiểu Học ra quyết định học sinh đúng 11 tuổi theo Khai sinh hoặc trên nữa mới được đi thi. Hú hồn, tôi vừa đúng 11 tuổi tròn. Cả lớp tôi hình như đậu một trăm phần trăm Kỳ thi hết cấp 1 tại Hội Đồng thi là trường Tiểu Học Vĩnh Hội Quận 4. Tôi viết ra đây như một kỷ niệm thời thơ ấu vì ngôi trường nầy cũng không còn nữa vì đã giải tỏa để mở rộng Quận Tư hay sao đó tôi không rõ lắm. Và thế là tên tôi được ghi lên “Bảng Vàng” đặt trước văn phòng Hiệu Trưởng và cũng để cho người dân quanh vùng biết là trường Tư thục có tỷ lệ Học sinh đậu cao, điều đó làm ba má và tôi hãnh diện trong lòng.

Nhưng sau đó, tôi lại không thi vào Đệ Thất Trường Gia Long, Trưng Vương như các bạn nữ hồi ấy, các bạn trai thì nộp đơn thi Pétrus Ký, Võ Trường Toản v.v… mà theo quyết định của ông nội, cắp sách đi học “trường ma sơ” ở Tân Định Quận 3, để được học, trau dồi Pháp và Anh Ngữ. Nhờ vào những giờ Pháp văn tuy ít ỏi ở lớp Nhì trường Việt mà tôi có được kiến thức căn bản để theo học chương trình Pháp trường Thiên Phước. Bản thân ngoài những bài học ở trường bán trú, tôi về phải vùi đầu học thêm từ ngữ toán bằng tiếng Pháp, lại một phen cực nhọc, vất vả “chạy ô mồ mắc ô mả” với những “con chữ” lạ hoắc không phải tiếng bản xứ của mình.

Điều mà tôi muốn kể ra là cũng phải “thảm họa Toán”. Chương trình học cũng giống như bên tiếng Việt nhưng các môn đều bằng tiếng Pháp, Lý, Hóa, Sinh vật kể cả Anh Văn cũng giảng bằng tiếng Pháp “phờ răng xe” tất tần tật ráo trọi. Nhưng ơn Chúa mọi sự, mọi sự đều qua lại còn được lãnh prix (phần thưởng) hàng tháng, hàng năm, nhưng… khổ sở nhất cũng là Toán (Mathématique, Algèbre) Hình Học, Đại số với tôi là nỗi sợ triền miên, các môn “quái quỷ” nầy là sự đau khổ to lớn thiên tai, bệnh tật xảy đến cho tôi. Lịch sử lại lập lại, lại tái diễn: giờ Toán là tôi bị “ăn bánh tét nhưn mây” (thành ngữ quen thuộc của thế hệ chúng tôi hồi ấy) các ma sơ cũng đánh đòn dữ lắm, có hôm tôi làm sai bài Đại Số trên bảng, sơ giảng đi giảng lại hoài, mà tôi cứ đứng thừ ra không hiểu gì, giận quá ma sơ quất cho tôi mấy cây vào chân đau điếng, mà tôi không dám khóc hay về mét má. Chiều về, lúc đi tắm, má thấy những lằn roi hằn trên chân tôi, má có vẻ xót xa nhưng lặng thinh không nói gì cả. Đến tối, má tôi kêu lại, chỉ nói khẽ: “Con phải ráng học, đừng để bị đòn nữa nghe”. Tôi lặng lẽ gật đầu mà nước mắt tuôn rơi vì tủi thân.

Ở mái trường ấy cũng còn có những ma sơ hiền và thương học trò kém như tôi, các sơ thường chú tâm rèn nữ công nữ hạnh, gia chánh cho các nữ học sinh, cả về luân lý (moral), cách giao thiệp với mọi người ngoài xã hội, cả giáo lý công giáo cho các học trò nữ lương lẫn giáo. Sau này, ở các lớp trên, có những chị lớn rất thành đạt và nổi tiếng ở nhiều lãnh vực, kể cả lứa tuổi của chúng tôi ngày ấy.

Khi hoàn thành xong bậc Trung Học (Certificat) vì hoàn cảnh gia đình, vả lại một phần vì yêu thích tôi vào làm ở một công ty tư nhân với chức vụ thư ký.

Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi đăng ký đi học lại để hoàn tất Tú Tài theo chương trình mới ở lớp Bổ Túc Văn Hóa ban đêm trường Bùi Thị Xuân Quận 1. Ở đây, thầy cô đều rất dễ mến, tận tình giúp đỡ chúng tôi những người lớn tuổi lấy lại cơ bản sau nhiều năm ngưng học tập khi tôi vào lớp 10A, 10B (tương đương 11, 12 của Sài Gòn trước đây).

Các thầy Hoàng dạy Lý, cô Trị dạy Hóa, cô Minh An phụ trách Văn, các cô thầy Toán tôi quên tên đều hết lòng giảng dạy, hy sinh giờ giấc sinh hoạt bản thân và gia đình để đến lớp Bổ Túc ban đêm của lớp học sinh lớn tuổi vừa học vừa làm như đa số chúng tôi lúc đó.

Vẫn phải trở lại những giờ Toán kinh khủng khiếp, thêm cái môn “Hình Học Không Gian” phải vận dụng trí tưởng tượng nữa mới “chết cửa tứ” lại phải nhờ các ban học giỏi hơn giải lại các bài học hóc búa. Và kế tiếp là những Kỳ thi trắc trở, gian nan đối với bản thân tôi như “cá phải vượt vũ môn” vậy. Rồi đến cuối, cũng hoàn thành cấp 3 (theo tên gọi lúc ấy). Thế là thở phào nhẹ nhõm như trút được cái “gánh học tập” nặng nề. Cho đến khi tôi ghi danh học Khoa Ngữ Văn Đại Học Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh và theo học hơn năm năm trời cũng “trần ai khoai củ” lắm vì cũng phải vừa làm việc vừa tranh thủ đến giảng đường sáng thứ năm chiều thứ bảy mong đạt được ý nguyện ngày thơ ấu là đậu bằng “Cử nhân Ngữ Văn”. Đó cũng nhờ vào công lao giảng dạy của quý thầy Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn, Trần Chút ở Khoa Văn + Ngôn Ngữ, đã hết lòng truyền dạy cho chúng tôi. Ngày nay, có những vị đã đi xa nhưng chúng tôi không bao giờ quên ơn các thầy ấy.

Quá trình học tập từ thơ ấu của thế hệ chúng tôi ở thế kỷ 20 trước đây là như thế. Các thầy cô của chúng tôi như những người đưa đò đã đặt hết tình thương lẫn tâm huyết để luyện rèn, truyền tải kiến thức để xây dựng những con người hoàn thiện, những công dân tốt cho đất nước mà không hề vì cá nhân mình và quyền lợi riêng tư và chúng tôi những đứa trò nhỏ ngày đó luôn vâng lời cha mẹ, thầy cô dạy bảo, nếu có lầm lỗi gì mà bị thầy cô trách phạt thì cũng phải nghe theo, không hề phiền giận, vì người xưa có câu “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” chắc hiện nay đã lỗi thời rồi, song lớp trẻ của chúng tôi ngày ấy đã yêu quý thầy cô và hành xử như thế. Các thầy cô xưa vẫn mãi là tấm gương sáng, sống động mãi trong tâm hồn chúng tôi từ ấy cho đến ngày nay.

HOÀI LY

TIN TỨC SỰ KIỆN

Sáng Chủ Nhật 25/3 vừa qua, Bà Tâm Nguyện và Bà Ái Liên đã đại diện cho CLB SÁCH XƯA & NAY đến Trường ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH để tham dự buổi lễ mừng kỷ niệm 15 năm thành lập Khoa KHOA HỌC ỨNG DỤNG gồm nhiều ngành mà Khoa vừa Đào Tạo, Nghiên Cứu và Chuyển Giao Công Nghệ một số ngành.

Trước buổi lễ, Bà Tâm Nguyện và Bà Ái Liên nhờ sự giới thiệu của Thạc Sĩ Bác Sĩ Thiên Hoa nên được PGS Tiến Sĩ Trần Minh Thái tiếp đãi đặc biệt nơi phòng làm việc của ông, mà nhìn từ trên bàn cho tới chung quanh tràn ngập sách và sách! Khi Bs Thiên Hoa giới thiệu Bà Ái Liên là giáo viên dạy môn Yoga Nguyễn Khắc Viện, Bà Ái Liên nói rằng các Giáo Sư là vốn quý của đất nước, bà mong được mang kinh nghiệm của bản thân giới thiệu đến các vị để các vị có thể tự giữ gìn sức khỏe thì PGS Thái nói bản thân ông có sức khỏe là nhờ vào Laser, dù vậy, ông hứa trong thời gian tới sẽ dành 1 tiếng để mời Bà Ái Liên đến thuyết trình về Yoga cho các Giáo Sư của Trường.

Trong buổi lễ, Trường đã trao KỶ NIỆM CHƯƠNG cho những Giáo Sư, những đơn vị đã hợp tác và những nhân vật tiêu biểu có thành tích đóng góp cho Trường, đồng thời trao học bổng cho một số Sinh Viên xuất sắc.

Phát biểu về thành công của Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Đại Diện nhà trường cho biết: Đây là những ngành tiên tiến mà xã hội rất cần, Sinh Viên ra trường không bao giờ sợ thất nghiệp, vì cung không đủ cầu. Thậm chí có nhiều nơi còn dành ưu tiên mời làm việc trước khi các em tốt nghiệp.

Đến lượt PGS Tiến Sĩ Trần Minh Thái, Ông nói về những khó khăn buổi đầu khi nghiên cứu phát minh Laser đưa vào trị bệnh. Từ một Tiến Sĩ tốt nghiệp ngành Vật Lý của Liên Xô về, Ông đã phải cắp cặp đi học lại từ đầu với Giáo Sư Nguyễn Tài Thu là một Chuyên Gia hàng đầu của ngành Châm Cứu Việt Nam. Lúc đó những nguời không hiểu đã cho ông là hơi bị bất bình thường! Nhưng thành quả mà nhiều người không khỏi ngạc nhiên, là cho đến nay Công Nghệ Laser đã phủ sóng trên 30 Tỉnh Thành của cả nước, mang lại hiệu quả bất ngờ cho việc điều trị di chứng của Bệnh Tai Biến, Bại Não trẻ em, cai nghiện ma túy, Tiểu Đường và các bệnh liên quan đến Chức Năng Thận. Ông còn đang nghiên cứu nâng cao dược tính của cây thuốc quý, tìm cách chế ngự xung khắc dược phẩm...

Cuối buổi lễ, Bà Tâm Nguyện được giới thiệu là Đại Diện của CLB SÁCH XƯA & NAY đến để chúc mừng ngày thành lập Khoa. Bà Tâm Nguyện đã tự giới thiệu mình vừa là thành viên CLB SÁCH XƯA & NAY đồng thời cũng là bệnh nhân của Công Nghệ Laser, đã phục hồi sức khỏe nhờ vào Công Nghệ này. 10 năm qua, bà vừa trải nghiệm hiệu quả chữa trị của bản thân, vừa chứng kiến nhiều bệnh nhân khác phục hồi nhanh chóng, nên Công Nghệ Laser là lựa chọn điều trị của bà mỗi khi có bệnh. Bà đã xin được đại diện cho những bệnh nhân đã, đang và sẽ được hưởng lợi ích từ công nghệ này, kính tặng Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Minh Thái lẵng hoa thay cho lời cảm ơn, đồng thời kính chúc Công Nghệ phát triển mạnh để phục vụ đại chúng.

Sau buổi lễ, toàn bộ quan khách được mời dự một buổi tiệc thịnh soạn do Trường Đại Học Bách Khoa tổ chức.

PGS Ts THÁI sau đó đã tặng lại cho bà Tâm Nguyện Kỷ Niệm Chương mà Trường đã tặng cho ông để bà giữ làm kỷ niệm.

Về lại Phòng Phục Hồi Chức Năng của Thạc Sĩ Bác Sĩ Thiên Hoa ở Tân Châu, Bà Tâm Nguyện còn tự tặng thêm cho mình một huy chương “Vượt lên chính mình”, vì không ngờ, từ một bệnh nhân trước đó 2 tháng còn đi bằng xe Cấp Cứu xuống Tân Châu do hội chứng Phổi tắc nghẽn, mà chỉ sau một đợt điều trị, về nhà nghỉ 1 tháng, trở lại điều trị đợt 2 mới có 15 ngày, trong tình trạng hai đầu gối bị thấp khớp, mà bà đã có thể đi bằng xe đò lúc 12 giờ đêm thứ Bảy, sáng sớm chủ nhật đến Thành Phố, có mặt trong Sự Kiện của Trường Đại Học Bách Khoa, rồi 5 giờ chiều cùng ngày lại lên xe trở về Tân Châu với cả 2 lượt đi, về cả 600km trong vòng 48 giờ! Chưa hết, Chủ Nhật tuần kế tiếp bà lại quay trở về nhà với đoạn đường 300km từ Tân Châu về Thành Phố, sau đó lại đi tiếp về Lagi khoảng 180 km nữa trong vòng 12 tiếng, từ 9 giờ sáng đến 21 giờ tối cùng ngày. Điều đó cho thấy sức khỏe bà đã phục hồi khá tốt và cũng đồng thời chứng tỏ bà đã không nhầm lẫn khi chọn Công Nghệ Laser để bảo vệ sức khỏe cho bản thân. Đó cũng là lý do mà bà đã viết nhiều bài để giới thiệu Công Nghệ này cho các bạn đọc Bản Tin của CLB SÁCH XƯA & NAY trong nhiều năm qua, để mong mỏi mọi người cùng biết được là Việt Nam ta đã có một Công Nghệ chữa bệnh ưu việt của một nhà Khoa Học, mà khả năng trị bệnh không thua kém bất kỳ máy móc tiên tiến nào của các nước trên thế giới, nếu không nói là vượt trội, bởi đã được Hội Đồng Khoa Học các nước thẩm định và đánh giá như thế từ nhiều năm trước.

Tâm Nguyện

Tháng 3/2018

NHỮNG CÂU NÓI HÀI HƯỚC

LIÊN QUAN TỚI ANH BẠN “TIỀN”

VÀ MỘT SỐ CÂU NÓI HAY

Tiền vẫn được con người dùng làm thước đo vật chất trong xã hôi hiện nay, tuy nhiên tùy thuộc vào hoàn cảnh mà mỗi người lại có một suy nghĩ và nhận định riêng.

Với những người hiện đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả thì tiền là thứ quý giá nhất giúp họ thoát khỏi cuộc sống ấy. Còn với những người có cuộc sống khá giả hơn thì tiền giúp họ có được những thú vui giải trí về tinh thần. Ở mỗi thời đại, mỗi hoàn cảnh con người lại có một suy nghĩ khác nhau về đồng tiền.

Hôm nay giới thiệu đến bạn những câu nói hài hước về tiền, bạn hãy cùng đọc để có những giây phút thư giãn quý báu nhé!

1. Tiền không mang lại hạnh phúc cho những người… không có chúng!

2. Tiền không quan trọng… nhưng đó là ta đang nói về tiền của người khác!

3. Sống được bằng những đồng tiền ít ỏi đó là 1 tài năng.

4. Không có tiền thì không thể sống, nhưng có tiền chưa chắc đã được sống.

5. Tiền mang lại hạnh phúc với những người biết sử dụng chúng, biết dùng nó để đem đến niềm vui cho những con người bất hạnh.

6. Tiền không phải là thước đo chính xác nhất để đánh giá con người… nhưng hầu hết người ta lại sử dụng thước đo này.

7. Tôi không tham tiền - Nhưng nó làm thần kinh tôi bớt căng thẳng.

8. Tôi có thể làm tất cả vì tiền thậm chí đó là… những việc tốt.

9. Tất cả những đồng tiền đều tốt nhất là những đồng tiền mặt.

10. Thật tồi tệ nếu bạn mất tinh thần, nhưng còn tồi tệ hơn nhiều nếu mất hết tiền!

11. Nếu tiền không làm bạn hạnh phúc thì hãy đưa nó cho tôi.

12. Cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền!

13. Trước kia khi có tiền tôi thấy tiền là quan trọng nhưng bây giờ khi hết tiền rồi tôi thấy nó còn quan trọng hơn nhiều.

14. Tiền…??? Chưa thấy trong từ điển nhưng lại luôn có trong cuộc sống!

15. Sự phân chia tiền trên thế giới là điều hợp lý nhất bởi vì ai cũng kêu rằng mình không đủ tiền.

16. Tiền bạc không thành vấn đề, vấn đề là có tiền hay không.

17. Tôi không cần tiền, tôi chỉ cần tình yêu… Nhưng không có tiền, tình yêu của tôi sẽ chết!

18. Ðồng tiền không phải vạn năng, nhưng không tiền thì vạn vạn bất năng.

19. Nếu hạnh phúc không phải ở trong những đồng tiền thì điều đó chứng tỏ tôi gặp may!!!

20. Thiếu tiền là nguồn gốc của mọi tội lỗi.

21. Có một thứ tiền không thể mua được. Ðó là sự nghèo khó.

22. Tiền bạc không phải là tất cả. Vì còn có vàng và kim cương.

23. Không bao giờ được tiêu nhiều hơn số tiền bạn có.

24. Nếu đồng tiền biết nói thì nó chỉ biết mỗi một từ: “Vĩnh biệt”.

25. Người giàu chỉ có một thứ đáng cho ta quan tâm thôi. Ðó là tiền của họ.

26. Cách chắc ăn nhất để tránh xa một người mà ta ghét là cho hắn vay tiền.

27. Hãy giàu với bản thân và nghèo với bạn bè.

28. Bạn có thể trẻ mà không có tiền nhưng bạn không thể già mà thiếu nó đâu.

29. Nếu bạn muốn biết giá trị của tiền, hãy thử đi vay một ít xem.

30. Ðừng có nằm ườn trên giường nữa, trừ phi bạn nằm đó mà vẫn làm ra tiền.

31. Ðừng kết hôn vì tiền. Bạn có thể vay với giá rẻ hơn nhiều mà.

32. Nếu bạn phải hỏi giá, bạn không có khả năng thanh toán đâu.

33. Hồi trẻ tôi nghĩ rằng tiền là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Bây giờ, khi đã già, tôi hiểu rằng đúng là như vậy.

Những câu nói hài hước trên không chỉ mang lại cho bạn những tràng cười thả ga mà nó còn mang lại đến cho ta nhiều ý nghĩa khác nhau của đồng tiền. Rõ ràng thì tiền không mua được hạnh phúc nhưng nó lại làm cho sự nghèo khổ dễ chịu hơn. Tiền còn mang đến cho con người một cuộc sống đủ đầy, sung túc, ấm no. Nhưng cũng vì đồng tiền mà có thể biến một người từ sung túc thành trắng tay chẳng còn gì hết. Tiền là quan trọng nhưng tiền không phải là tất cả, bạn hãy kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình, đồng tiền chân chính bao giờ cũng là đồng tiền quý giá nhất.

Những câu nói hay

– Khi yêu nhau thì người ta thường không thề sống chết có nhau, còn khi ghét nhau thì người ta thường có thề sống chết với nhau.

– Hôn nhân luôn tặng bạn một đặc ân: chỉ có ai có nó mới có thể ly dị được.

– Chết cho người phụ nữ mình yêu thì dễ hơn là phải sống chung với họ.

– Tình yêu là bất tử, là vĩnh cửu. Trong tình yêu, thứ duy nhất có thể thay đổi đó chính là người yêu.

– Con đường ngắn nhất để đi đến trái tim là con đường truyền máu.

– Lương tâm là cái gì đó cảm thấy tổn thương trong khi các phần khác của cơ thể cảm thấy dễ chịu.

– Không có gì tiết kiệm thời gian và tiền bạc hơn là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.

– Tiền thì anh không thiếu, nhưng nhiều thì anh không có…

– Khoa học chứng minh: “Bia độc hơn rượu”, bằng chứng là trên thế giới chỉ có “mộ bia” mà không có “mộ rượu”.

– Một người phụ nữ toàn diện là: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện.

– Ta có: Heo = ăn + ngủ;

Người = ăn + ngủ + đi làm + chơi

==> Người = Heo + đi làm + chơi.

Ta có : Người – chơi = Heo + đi làm

Có nghĩa là:

Người mà không biết chơi = Heo đi làm

– Tại 1 chuyên mục Rao Vặt: “Nam, 25 tuổi, cao 1.8 m, nặng 72 kg còn độc thân. Thành đạt, đẹp trai, khỏe mạnh, thông minh, sở hữu hai xe BMW, một thuyền buồm, biệt thự ở Hawaii, hai nhà mặt tiền khu trung tâm. Không mua. Không bán. Cũng không cần tìm bạn gái. Chỉ muốn khoe vậy thôi”.

– Yêu nhau trong sáng…

mà phang nhau thì trong tối ! Lol…

– Trái tim em chỉ 2 lần mở cửa.

Ðón anh vào và tống cổ anh ra.

– Tiền thì không thiếu, chủ yếu là không có

– Tình yêu thì rất nhiều, căn bản là chưa có người yêu

– Tuy không sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày, nhưng nguyện sống cùng ngày cùng tháng cùng năm.

– Sống chết có nhau, ốm đau tự chịu…

– Người tốt thì nhiều, mà người biết điều thì ít….

– Dân thường chơi đẹp đè bẹp dân chơi…..

– Vạn sự khởi đầu nan,

mà gian nan thì bắt đầu thấy nản…

– Sau khi ly dị thì người đàn ông phải tự giặt đồ cho mình… thay vì trước đó phải giặt đồ cho cả hai.

– Thiếu nữ là chữ viết tắt của thiếu… nữ tính.

Bùi Đẹp st.


Phụ bản IV

Ở TRỌ

Chị Bông dứt phone với anh thợ làm hàng rào và lẩm bẩm: “Anh ta cho giá thay toàn bộ hàng rào 6,000 đồng, hao tốn quá”. Chị bực mình liếc mắt sang nhà hàng xóm có chung cái hàng rào sau vườn và lẩm bẩm tiếp: “Mà cái nhà hàng xóm này lại không biết điều”. Trước đó anh hàng xóm người Mễ đã vài lần thẳng thắn từ chối hợp tác cùng chị Bông thay phía hàng rào chung của hai nhà với lý do hàng rào chưa hư hỏng gì và tiền thì họ chưa có luôn.

Trong vườn chị Bông trồng nhiều cây hoa hồng, mái hiên patio treo chiếc chuông gió nên thơ, nếu được hàng rào đẹp thì khu vườn sẽ càng đẹp thêm. Cái cell phone chị để trên bàn trong sân patio reo lên, không lẽ anh thợ hàng rào gọi lại… giảm giá? Hay là anh hàng xóm Mễ gọi sang báo tin đã đồng ý làm hàng rào? Chị Bông vội vàng mở phone, thì ra là chị Huê, người bạn thân thiết. Giọng chị Huê tưng bừng vui:

- Bông ơi, hai vợ chồng mình mới mua một căn biệt thự đẹp mà giá khá rẻ so với thị trường, vợ chồng chủ nhà ly dị cần bán nhà nhanh, ưu tiên cho tiền mặt, mình đủ điều kiện. Tháng sau bạn sẽ đến ăn mừng tân gia nhé.

Chị Bông ngạc nhiên:

- Ơ kìa, nhà Huê đang ở cũng mới cũng đẹp mà lại đổi nhà à?

- Nhà này mới hơn đẹp hơn và sang trọng hơn. Đây đúng là căn nhà ước mơ của mình. Hàng xóm toàn là triệu phú trở lên đó nha.

Chị Huê say sưa tả ngôi biệt thự từ ngoài sân vào bên trong đến cả khu vườn, chị Bông nghe đến đâu choáng váng đến đó. Một tiếng sau buông phone mà chị Bông còn thẫn thờ như người mới bị bỏ bùa chưa tỉnh. Bất giác chị ngó quanh khu vườn nhà mình bỗng thấy… tủi, giá mà chị giàu có như chị Huê thì đã thay quách toàn bộ hàng rào khỏi cần kêu gọi anh hàng xóm Mễ đóng góp.

Chị Bông đang ganh tị với căn biệt thự chị Huê vừa khoe. Anh Bông lững thững ra vườn và bắt gặp vợ ngồi im lặng trong ghế xích đu, anh thắc mắc:

- Em nghĩ gì mà thẫn thờ ra thế? Lại bực mình vì anh hàng xóm Mễ vẫn chưa chịu chung ti ề n thay cái hàng rào mới hả?

- Tại anh Mễ và… tại chị Huê.

- Anh biết rồi, bà Huê không khoe stock của bà ấy lên giá thì cũng khoe cửa hàng bánh mì thịt nguội, giò chả, chè cháo của bà ấy doanh thu ngày càng tăng.

Chị Bông thán phục:

- Anh nói đúng đó, cửa hàng chị ấy đắt hàng lắm, dù đã thuê mướn cả chục người mà hai vợ chồng vẫn bận rộn cả ngày, trong khi vợ chồng mình cùng tuổi về hưu như anh chị Huê thì ăn không ngồi rồi chẳng kiếm ra xu nào ngoài mấy đồng tiền hưu.

- Tội nghiệp, anh chị Huê lớn tuổi rồi mà vẫn làm việc đầu tắt mặt tối. Tóm lại giàu có mà vẫn… “khổ” vì kiếm tiền. Anh nghe kể rằng có bà già luôn than thở mình mẩy tay chân đau nhức, tai điếc mắt mờ thế mà vẫn… thích mở hầu bao ra đếm tiền, chẳng than mỏi tay đau tay hay mờ mắt gì cả. Thiếu đồng nào bà phát hiện ra ngay.

Chị Bông cãi lại:

- Càng có tiền càng sướng chứ, tội nghiệp gì chị Huê. Vợ chồng chị Huê mới mua một căn biệt thự hơn một triệu, trả tiền mặt nhé. Em nghe mà phát ham, trong khi em muốn thay cái hàng rào chỉ 6,000 đồng cũng không dám làm. Nãy giờ em cứ mơ ước nếu mình trúng số thì sẽ mua căn biệt thự trong khu ấy làm hàng xóm các triệu phú cho oai, hàng xóm với mấy nhà Mễ này chỉ thêm bực mình…

Anh Bông an ủi:

- Hàng rào sau vườn còn tốt chán, anh hàng xóm Mễ từ chối thay mới là đúng rồi. Em đừng “khủng bố” tinh thần nhà anh ta nữa, lần nào gặp mặt họ em cũng hỏi chỉ một câu: “Anh chị suy nghĩ kỹ chưa? Có thay hàng rào với tôi không?”. Mà em không nhớ bài thuyết giảng ở chùa hôm nào à, cuộc đời là cõi tạm, chúng ta đang ở trọ trần gian, đòi chi những điều hoàn hảo.

- Anh chỉ chuyên môn bênh hàng xóm, xe nó đậu đầy lề đường, trở ngại lối đi, chướng cả mắt, anh lại khen xe đậu thế này trông… nhộn nhịp khu phố. Cuối tuần nó tụ họp bạn bè uống bia trước sân mở nhạc tiếng Spanish ầm ĩ anh cũng khen… vui cả khu phố.

- Sống hòa đồng và nhịn hàng xóm một tí có sao đâu.

- Nếu thế em cũng sẽ đậu xe lòng lề đường và cuối tuần tụ họp bạn bè ngoài sân mở ầm ĩ nhạc Bolero Thanh Tuyền, Chế Linh, Hương Lan, Tuấn Vũ cho hàng xóm Mễ nghe chơi nhá.

- Vợ chồng Mễ hàng xóm hiền lành dễ thương, chả lẽ vì cái hàng rào mà em đành hanh với họ thế à? Thuyết nhà Phật…

Chị Bông ngắt lời chồng:

- Ôi, anh lại thuyết nhà Phật lắm bi quan, nào đời là bể khổ, đời là cõi tạm, kiếp người mong manh, trở về cát bụi, ai mà đang tuyệt vọng sẽ chẳng muốn kiếp lai sinh. Em muốn như anh chị Huê lúc nào cũng phơi phới kiếm tiền và hưởng đời, muốn gì cũng có. Hay là mình gom góp vốn liếng, vay mượn thêm con cái đầu tư mutual fund hay địa ốc đi anh, chơi stock thì càng kiếm nhanh hơn nữa. Vậy anh muốn cái nào?

- Nghĩa là sao? Mình mua nhà cho thuê hoặc mua mutual fund, hoặc chơi stock đu dây với may rủi ấy hả?

Chị Bông giảng giải:

- Anh nhát gan không chơi stock thì thôi. Mua nhà mình chỉ cần down khoảng 20% và lấy tiền thuê hàng tháng trả mortgage, 10 hay 15 năm sẽ trả xong nợ, căn nhà thuộc về mình. Hay là đầu tư mutual fund chậm hơn nhưng 10 năm sau số tiền đầu tư có thể tăng gấp đôi. Tới lúc đó mình lấy cả vốn lẫn lời ra… mua nhà biệt thự làm hàng xóm các triệu phú luôn.

- Nghe em nói kiếm tiền nhẹ nhàng dễ dàng quá. Anh… không chọn cái nào cả.

Chị Bông cụt hứng giận dỗi trách:

- Hèn gì số mình nghèo là phải. Suốt đời ở căn nhà xấu này thôi.

- Ai mà chẳng muốn cuộc sống đầy đủ cao sang, anh cũng thích nhà cao cửa rộng lắm chứ, nhưng mỗi người một hoàn cảnh. Bao nhiêu năm nay không giàu có được nói chi tuổi xế chiều.

Rồi anh Bông vỗ về:

- Thôi em đừng ganh đua với chị Huê nữa, mình không có tiền bạc và càng không có thời gian để đầu tư đường dài. Em cứ an phận làm hàng xóm mấy anh chị Mễ, mấy anh chị Mỹ đen như hiện nay đi. Vợ chồng mình là khách hàng thường xuyên của CVS pharmacy tại thành phố này, các nhân viên bán thuốc full time thậm chí nhân viên part time thay đổi soành soạch mà họ còn nhớ tên nhớ mặt mình. Vậy thì hơn 10 năm nữa mình 80 tuổi, bệnh tình mình đi tới đâu? Liệu có còn sức khỏe mà hưởng nhà to nhà đẹp không, hả? Nếu có thay đổi nhà thì anh sẵn sàng moving đến căn nhà nào… gần bệnh viện nhất để mỗi lần gọi 911 cấp cứu cho tiện.

***

Đến dự buổi tiệc tân gia nhà chị Huê, căn biệt thự lộng lẫy ấy chị Bông khó thể nào quên, vừa trầm trồ khen ngợi vừa mơ ước khi chị Huê dắt khách đi từng phòng giới thiệu, đây là phòng khách của tôi, phòng bếp của tôi, phòng nào cũng đẹp cũng sang. Bước vào căn phòng ngủ kê hai chiếc giường mà vẫn còn rộng mênh mông với những tủ, gương sang trọng, chị Huê lại hãnh diện sung sướng:

- Các bạn ơi, đây là phòng ngủ yêu quý của tôi, từ cái giường, khăn trải nệm, gối mền, rèm cửa đều là hàng hiệu…

Bạn bè ai cũng khen vợ chồng chị Huê có phước, con cái đứa nào cũng ăn học thành đạt, gia đình đề huề, anh chị Huê thì giàu có làm ăn tiền vô như nước. Chị Bông hỏi:

- Bao giờ thì anh chị Huê nghỉ bán buôn, ở nhà hưởng nhàn thảnh thơi trong căn nhà đẹp này?

Chị Huê phân trần:

- Mình cũng muốn nghỉ lắm. Con cái có công việc của chúng, chẳng đứa nào thích cái nghề bán bánh mì thịt nguội này cả, sang cửa hàng cho người khác thì tiếc rẻ vì công việc làm ăn càng ngày càng phát đạt, tiền cứ chạy vô túi vô nhà băng nên chẳng nỡ ngừng, thôi thì còn sức còn làm, có nhiều tiền tiêu xài cũng sướng tay. Nhờ thế vợ chồng mình mới mua căn biệt thự này dễ dàng.

Chị Huê ghé tai chị Bông khoe thêm:

- Trừ mọi chi phí mỗi tháng vợ chồng mình kiếm mười mấy ngàn, chẳng cần ăn học bằng cấp gì mà tính ra hơn hẳn lương kỹ sư lâu năm, tự mình làm chủ mình và làm chủ gần chục nhân viên từ khâu làm bánh mì, làm giò chả thịt nguội, đến khâu đứng bán cho khách hàng. Thử hỏi là chị có chịu buông bỏ cửa hàng ngồi nhà lãnh vài đồng lương hưu không chứ.

Sau dịp ăn tân gia ấy chị Bông ít có dịp đến nhà chị Huê nhưng thường gặp chị ở cửa hàng bánh mì thịt nguội nổi tiếng ngon nhất của thành phố này. Vợ chồng chị Huê nhanh nhẹn xã giao với khách hàng và tháo vát với công việc, chỉ huy nhân viên đâu ra đấy.

Thế mà một hôm chị Bông nghe hung tin, một người bạn gọi phone báo tin:

- Chị Huê đã qua đời trong giấc ngủ đêm qua vì heart attack.

Trời ơi, một cái chết quá bất ngờ, không hề báo trước. Chơi thân với chị Huê nhưng chị Bông có nghe chị Huê than thở gì về bệnh tim mạch đâu.

Hay là chị Huê làm việc nhiều quá nên căng thẳng và kiệt sức, ảnh hưởng đến tim mạch?

Sau đám tang chị Huê, cửa hàng bánh mì thịt nguội trở lại hoạt động bình thường, bạn bè ai cũng ngạc nhiên, tưởng anh Huê mất đi người vợ yêu dấu mấy chục năm bên nhau anh sẽ mất nguồn cảm hứng kiếm tiền.

Vài tháng sau chị Bông đã nghe bạn bè chung của chị Huê truyền nhau tin đồn anh Huê đang “tình ý” với chị Sương nhân viên quản lý cửa hàng. Đó là một thiếu phụ khoảng 45 tuổi, chị ta là mẹ độc thân của ba đứa con. Được bà chủ tin cậy chị ta nhanh nhẹn khôn ngoan chăm chỉ làm việc và bây giờ thì được ông chủ độc thân ưu ái. Ai cũng tưởng họ chỉ “tình ý” và bồ bịch cho đời nhau đỡ buồn. Nhưng một năm sau thì anh Huê chính thức đi thêm bước nữa với chị Sương với lý do để có người phụ anh công việc kinh doanh, cứ làm như anh chỉ cần người làm hơn là cần người tình.

Căn biệt thự lộng lẫy của chị Huê nay đã có nữ chủ nhân mới, thêm ba đứa con của chị ta nên cửa nhà đông vui hẳn lên, lúc nào cũng có một hai chiếc xe loại sang đậu trước sân, chiều tối các khung cửa sổ căn biệt thự đều sáng đèn ấm cúng... Cửa hàng sản xuất bánh mì thịt nguội đã có nữ chủ nhân mới. Ngày nào chị Huê từng hãnh diện khoe công việc và tiền bạc nay những huê lợi ấy đã vào túi người khác... Ngày nào chị Huê từng sung sướng khoe căn phòng ngủ xinh đẹp sang trọng, nay căn phòng ngủ ấy cũng thuộc về người phụ nữ khác. Và người chồng suốt mấy chục năm thân ái chung đôi của chị cũng thuộc về người khác luôn.

Chị Bông thấy xót xa giùm người bạn đã nằm dưới nấm mộ. Chị than thở với chồng:

- Thương chị Huê quá. Nhớ ngày mới mua căn biệt thự chị Huê hớn hở vui mừng bao nhiêu, chị trang hoàng chăm sóc từng căn phòng, thế mà ở chẳng bao lâu…

Anh Bông lại triết lý nhà Phật:

- Chị Huê đã “ở trọ” trong căn biệt thự ấy, chứ có gì là của chị Huê đâu, kể cả bạc tiền và người chồng yêu dấu. Hết thời hạn thì ra đi. Vợ chồng mình cũng đang “ở trọ” trong chính căn nhà của mình đây. Cuộc sống luôn đi bên cạnh những rủi ro bất trắc, tai nạn hay bệnh hoạn có thể đến bất cứ lúc nào. Chúng ta không chết vì t a i nạn, bệnh hoạn thì cũng chết vì tuổi già sức yếu, mười năm, hai mươi năm nữa thôi căn nhà này sẽ thuộc về ai…

Chị Bông giật mình, anh Bông nói đúng quá, sau này vợ chồng chị chết đi, con cái đều có nhà riêng và công việc ở xa, chẳng đứa nào có nhu cầu dọn về đây. Căn nhà này sẽ bán đi và thuộc về người khác.

Chị Bông chợt nhớ tới gia đình một người quen biết, sang Mỹ diện H.O. năm 1990, Sau 5 năm làm việc cật lực họ có chút tiền down một căn nhà. Người vợ lãnh đồ từ hãng và may tại nhà, vừa chăm chỉ may vừa lo cơm nước cho chồng đi làm con đi học, chị hết sức tiết kiệm tiền bạc và cả thời gian, ít giao du với bạn bè, thậm chí từng là con chiên ngoan đạo chị cũng “né” màn đi nhà thờ hàng tuần, chỉ đi vào những dịp lễ lớn, vì đi nhà thờ là “tốn kém”, luôn có mục đóng góp đủ thứ, nay món này mai món khác chẳng bao giờ hết việc. Mục đích chính của chị là làm việc tối đa và tiết kiệm tối đa để có tiền trả nợ căn nhà. Nhà cửa trả xong, vốn liếng bắt đầu rủng rỉnh thì đùng một cái chị H.O lâm trọng bệnh qua đời. Chồng quan niệm con cái đứa nào cũng có ăn học và có gia đình riêng không phải lo cho chúng nữa, ông ta về Việt Nam cưới một cô hàng xóm lỡ thì nhưng vẫn còn trẻ chán so với ông, bán căn nhà cũ đang ở để mua căn nhà khác mới hơn đẹp hơn cho xứng và le lói với người mới. Chị H.O này cũng “ở trọ” và ra đi “trắng tay” như chị Huê. Thế là chị Bông lại an phận tìm vui với căn nhà của mình, khu vườn sau hoa lá và chuông gió vẫn đẹp và nên thơ với cái hàng rào cũ mà chị từng muốn thay bỏ chúng.

Một buổi sáng chị Bông mang rác ra sân trước thì thấy chị Mễ hàng xóm cũng kéo thùng rác ra sân liền tươi cười xã giao, bù đắp cho những ngày chị Bông liếc mắt hay lườm lườm sang nhà nó với vẻ lạnh lùng:

- Chị khỏe không? Hôm nay chị không đi làm hả ?

Chị Mễ than thở và e dè:

- Tôi bị mất việc rồi, đang hưởng tiền thất nghiệp. Chị đừng rủ tôi thay cái hàng rào nữa nghe.

Xong chị ta nửa đùa nửa thật:

- Chỉ còn chồng tôi đi làm, nhà 4 đứa con, nếu tôi mà thất nghiệp dài lâu thì không có tiền trả mortgage căn nhà này đâu, lúc ấy chị sẽ có hàng xóm mới để rủ họ thay hàng rào mới.

Chị Bông cảm thấy như mình có lỗi và ái ngại quá. Hoàn cảnh nhà hàng xóm chẳng khá giả gì thế mà bấy lâu chị cứ “mặt sưng mày xỉa” ngầm với họ vì cái tội không chịu chung tiền làm hàng rào mới. Chị Bông dịu dàng thân mật:

- Chúc chị mau kiếm được việc làm, còn cái hàng rào chung của chúng ta, đúng như chồng chị đã nói, vẫn tốt lắm, thay làm chi cho phí tiền.

Trong ánh mắt chị Mễ thoáng vẻ ngạc nhiên và vui. Chắc vì lần gặp mặt này chị ta thấy chị Bông đã thay đổi thái độ quá bất ngờ. Chị Bông lại thấy anh Bông nói đúng, chẳng có ai dám bảo đảm ở căn nhà của mình dài lâu chứ đừng nói suốt đời. Ngoài cái chết, người ta phải rời xa căn nhà vì hàng đống lý do, vì công việc, vì trường học của con cái hay vì mất job, vì ly dị v.v… và biết đâu chỉ vì… nhà hàng xóm. Gia đình anh chị Mễ này không chịu nổi mụ hàng xóm khó tính như chị Bông, một ngày nào đó họ cũng sẽ dọn đi cho khuất mắt?

Chị Bông chẳng cần cái hàng rào mới đẹp nữa cho hao tốn bạc tiền của mình và của hàng xóm và chị càng không mơ nhà to đẹp cao sang nữa khi tuổi đã xế chiều. Vì nhà to đẹp hay nhà cũ xấu cũng chỉ là quán trọ ven đường đời cho ta dừng chân và một ngày nào đó ta sẽ về nơi yên nghỉ sau cùng đó mới là căn nhà vĩnh cửu của riêng ta.

Nguyễn Thị Thanh Dương - Đào Minh Diệu Xuân st.

HẠNH PHÚC VỐN ĐƠN GIẢN

Người có trí tuệ xưa nay thường không sống “trong miệng” của người khác, cũng không sống “trong mắt” của người khác. Gặp nhau là duyên mà không gặp cũng là duyên, gặp lại là duyên mà biệt ly cũng là duyên. Trần thế mênh mông giữa đến và đi cho nên gặp hay không gặp cần gì phải đau khổ luyến lưu?

Vậy bí quyết sống hạnh phúc vui vẻ là gì?

Bất luận bạn làm tổn thương ai thì xét về lâu về dài, đó đều là sẽ tự làm tổn thương đến mình... Có thể hiện giờ bạn sẽ không cảm nhận thấy được nhưng nó nhất định sẽ chuyển động ngược trở lại và quẩn quanh bên bạn. Phàm là bạn làm việc gì đối với người khác thì cũng là đối với mình, bạn khiến người khác trải qua điều gì thì sau này bạn nhất định sẽ trải qua điều đó… Phật giáo truyền giảng về nhân quả không phải để hù dọa con người mà chính là có ý muốn nhắc nhở, bảo ban con người. Đây là chân lý, cho dù bạn có tin hay không thì nó vẫn cứ tồn tại không cách nào bị mất đi.

Đến với giáo lý nhà Phật không phải là để ký thác khi mất đi mà là để đối đãi đúng đắn với cuộc đời. Nhìn thấu sự “vô thường” của nhà Phật chúng ta sẽ nhận thấy rất nhiều điều mặc dù là tốt đẹp nhưng sẽ không bền vững lâu dài. Hay rất nhiều khi chúng ta rơi vào thống khổ tưởng như không thể chịu đựng được nữa nhưng rồi chúng lại qua đi nhanh chóng. Cho nên, “vô thường” là gợi ý tốt nhất cho cuộc đời. Nó khiến cho chúng ta ở trong hoàn cảnh biến đổi thất thường của cuộc đời mà có thể thăng hoa trí tuệ.

Học giáo lý nhà Phật để làm gì?

Chính là để điều phục tự tâm (tạm hiểu: điều hòa, thu phục tâm).

Rất nhiều người chỉ vì một lòng muốn cầu sống lâu, cầu không bệnh tật, cầu tiền tài, cầu sinh con trai mà đến tu trì. Kỳ thật, đây đều là đã đi ngược lại với Phật Pháp.

Bái lạy không phải chỉ là khom lưng cúi người xuống mà là buông bỏ ngạo mạn.

Niệm Phật không phải là thể hiện ở số lượng thanh âm mà là thể hiện ở sự thanh tịnh của tâm địa.

Chắp tay không phải chỉ là khép hai tay lại mà còn thể hiện sự cung kính.

Thiền định không phải là ngồi lâu đến mức không dậy nổi mà là trong tâm không bị dao động bởi bên ngoài.

Vui mừng không phải là ở khuôn mặt rạng rỡ mà là ở sự khoan khoái, dễ chịu trong lòng.

Thanh tịnh không phải là ở sự vứt bỏ dục vọng mà là thể hiện ở tâm địa không mưu cầu cái lợi.

Bố thí quyên tặng không phải chỉ là cho đi hết vật chất mà là chia sẻ tấm lòng yêu thương.

Tín Phật không phải là học tập tri thức mà là thực hiện vô ngã.

Có những người khi ăn chỉ chuyên chọn những thứ mình yêu thích, ở cũng chọn chỗ mình yêu thích, kết giao bạn bè cũng chỉ chấp nhận người mình ưa thích…

Vậy một khi gặp được điều mình không ưa thích sẽ không có cách nào tiếp nhận. Kỳ thực, ngoại cảnh không thể vĩnh viễn cho bạn sự sung sướng, hạnh phúc.

Chỉ có học được cách thích ứng được với cả điều mình không yêu thích thì mới vĩnh viễn có được niềm hạnh phúc!

Sống trên đời,

không tranh giành chính là từ bi,

không tranh cãi chính là trí tuệ,

không nghe thấy chính là thanh tịnh,

không nhìn chính là tự tại,

không tham lam chính là bố thí,

đoạn tuyệt cái ác chính là làm việc thiện,

sửa đổi chính là sám hối,

khiêm tốn chính là lễ Phật,

tha thứ chính là giải thoát,

thấy đủ chính là buông bỏ,

lợi người chính là lợi mình.

Rất nhiều khi chúng ta nhìn thấy sự hào nhoáng, phù hoa mà lại không nhìn thấy một “mạch nước ngầm” đang khởi động:

Có một ít người biểu hiện bề ngoài hạnh phúc là bởi vì họ đang che dấu nỗi khổ khó tả.

Có một ít người bên ngoài nở nụ cười nhưng trong lòng lại đang có âm thanh của nước mắt.

Có một ít người thường hay khoa trương nhưng kỳ thực trong tâm linh lại có nhiều hư không…

Bình luận của người khác thực sự không quá trọng yếu như vậy, Hạnh phúc và vui vẻ của bản thân không phải ở trong con mắt của người khác, mà là ở chính trong tâm mình!

Hoàng Kim Thư st.

DU LỊCH THÁI LAN

Tôi cùng một người bạn thân tên là Nguyễn Thị Mạc đi Thái Lan 5 ngày.

Ba giờ chiều chúng tôi trên đường cao tốc của sân bay Don Muang (Bangkok) tới bờ sông Chaopraya. Đoàn chúng tôi đi dạo thuyền trên sông, con sông của các vị vua huyền thoại, hướng dẫn viên người Việt ở tại Thái Lan nói về hai vị vua thứ 5 và thứ 9 của hoàng gia có công xây dựng đất nước Thái Lan được phát triển tốt.

Vào sáng ngày thứ hai đoàn chúng tôi được đi tham quan chùa Wat Nong Ket Yai, ngôi chùa khá rộng nhiều phòng. Hướng dẫn viên nói về dân tộc Thái Lan đa số theo đạo Phật và rất tín ngưỡng đạo. Mỗi gia đình có con, khi các cháu còn nhỏ khoảng 5, 6 tuổi là gởi vào chùa để học đạo giáo.

Đến chiều đoàn đi tỉnh Pattaya xem các show cá sấu thân thiện với huấn luyện viên, khách tham quan có thể đến gần sờ đầu cá sấu. Rồi xem các chú cọp làm trò như đi trên cây cầu, ngồi trên ghế, nhảy cao vồ thịt heo do các huấn luyện viên trình diễn.

Sáng ngày thứ ba của tour du lịch, đoàn chúng tôi đi viếng tượng Phật bốn mặt linh thiêng nhất của đất Thái (ở Bangkok) - tượng Phật bốn mặt có ý nghĩa: mặt thứ nhất là ban sự bình an, mặt thứ hai là tình duyên, mặt thứ ba là ban tài lộc và mặt thứ tư là bao gồm các sự mong ước trên - rồi tới ngôi nhà rộng lớn có các tượng Phật dát vàng, các vị tăng ngồi gần đó vẩy nước phép cho các Phật tử đến lễ. Ở đây có các tượng Phật nhỏ, các dây chuyền có hình Phật được bán, đa số các hình Phật bằng vàng.

Chiều ngày thứ ba chúng tôi tới trung tâm nghiên cứu rắn độc Hoàng gia (Bangkok) một cơ sở rất rộng lớn đi qua các phòng trang ngồi trí rất đẹp. Khách tham quan được mời ngồi để một bác sỹ thuyết trình về các loại thuốc: chữa khớp gối, chữa tim mạch, bổ thận, chữa ung thư… Giá tiền khá cao mỗi lọ thuốc khoảng 200-300 viên giá 71 đô.

Buổi tối đoàn chúng tôi đi xem ca múa nhạc do các vũ công chuyển giới biểu diễn, có hát một số bài mừng xuân của Việt Nam.

Sáng ngày thứ tư, chúng tôi đi viếng núi Phật Vàng hay còn gọi là Trân Bảo Phật Sơn - nơi tượng Phật được khắc nổi bằng vàng ròng 24 kara cao 130m, rộng hơn 70m, được xây dựng vào năm 1996, nhân dịp quốc vương RaMa thứ IX trị vì vương quốc được 50 năm.

Khu đất này rất rộng, tượng Phật khắc theo triền núi, chúng tôi được hướng dẫn leo lên đường dốc từ từ tới mỏm núi có thờ vị tướng hải quân nhìn ra biển (Pattaya).

Sáng ngày thứ năm, chúng tôi ở Bangkok tiếp tục tham quan cửa hàng vàng bạc đá quý Hoàng gia Thái Lan. Đi vòng vòng qua các tủ đựng kim cương. Một tòa nhà rất rộng qua nhiều phòng ốc, mỗi tủ trưng bầy đá quý đều có nhân viên đang ngồi gọt dũa đồ trang sức.

Theo hướng dẫn viên, người giàu ở đây thì đi xe honda ôm (vì giá cao) còn người có mức sống trung bình thì đi xe hơi vì được mua xe hơi trả góp. Đường sá ở Bangkok cũng hay bị kẹt xe như ở Việt Nam.

Có một thành ngữ của người Thái là: “Ăn trước khi đói. Báo hiếu trước khi kết hôn. Bố thí trước khi giàu. Rửa chân trước khi đi ngủ”.

Vậy là kết thúc 5 ngày du lịch Thái từ 27-31/01/2018.

QUAN THÚY MAI

LÚC TRẺ VÀ BÂY GIỜ

1. Lúc trẻ tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được, cứ trống rỗng, tỉnh táo và vô hồn.

2. Lúc trẻ tưởng, cười là vui, bây giờ nghĩ lại, có những giọt nước mắt còn vui hơn cả một trận cười.

3. Lúc trẻ tưởng, đông bạn là hay, bây giờ mới biết chỉ cần một người hiểu mình là hạnh phúc lắm rồi.

4. Lúc trẻ, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm, ở những chỗ không người, đến giờ mới hiểu, lúc bên nhau, sự ấm áp mới thật mong manh, mà nỗi cô đơn sao lại gần gũi thế.

5. Lúc trẻ, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ, lớn rồi mới biết không có gì là tồn tại mãi mãi cả.

6. Lúc trẻ, tưởng thành người lớn là lớn, bây giờ đã thấy có nhiều người đã lớn mà vẫn chưa thành người lớn, và đến khi thật sự thành người lớn thì người ta sẽ biết không bao giờ bé trở lại được.

7. Lúc trẻ, tưởng đóng đinh thì đóng đinh, không thích là có thể nhổ, bây giờ cảm nhận được đinh có thể nhổ nhưng vết lõm vẫn còn.

8. Lúc trẻ, tưởng mình có thể thay đổi cả thế giới, giờ thấy được ngay cả một người còn chẳng có khả năng thay đổi. Có chăng, vẫn chỉ là tự thay đổi mình.

9. Lúc trẻ, tưởng yêu một người thì dễ, quên một người mới khó. Giờ thấy mình quên đi nhiều người cũng dễ dàng, nhưng để yêu, mới khó làm sao.

10. Lúc trẻ, tưởng chỉ có kẹo là ngọt, giờ lớn lên còn biết có những thứ còn ngọt ngào hơn cả kẹo .

11. Lúc trẻ rất sợ phải chết, nhưng bây giờ khi tôi lớn lên mới biết sự lãng quên còn đáng sợ hơn cái chết rất nhiều.

12. Lúc trẻ, tưởng tượng rất nhiều và giờ đây khi lớn lên mới nhận ra chuyện cổ tích không bao giờ có thật. Sao mong mình bé lại quá chừng.

13. Lúc trẻ, mong mình lớn, giờ đây lớn rồi sao mong mình bé lại quá chừng.

14. Lúc trẻ, tưởng sự sống và cái chết ở cách xa nhau lắm, giờ mới biết nó chỉ cách nhau một làn chỉ mong manh.

15. Lúc trẻ, tưởng nói dối là xấu, giờ mới biết có những lời nói thật đau đớn làm sao.

16. Lúc trẻ, tưởng hạnh phúc là điều gì đó xa xôi lắm, giờ mới biết hạnh phúc chỉ đơn giản là những thứ bình dị chung quanh ta, có chăng là mình đã không nhận thấy.

17. Lúc trẻ tưởng nói quên là có thể quên được, giờ mới biết có những chuyện càng muốn quên thì nó lại càng ở mãi trong lòng.

18. Lúc trẻ, cứ mơ ước lớn lên sẽ trở thành người này người kia. Về già mới biết “Được trở thành chính mình mới là hạnh phúc nhất”.

Kim Sơn st.


NGƯỜI SỐNG THỌ

KHÔNG PHẢI DO ĂN UỐNG, VẬN ĐỘNG

MÀ LÀ VUI TƯƠI, TÍCH CỰC

Giải thưởng Nobel Sinh Học Elizabeth H. Blackburn đã chỉ ra: con người muốn sống trăm tuổi, ăn uống điều độ chiếm 25%, những cái khác chiếm 25%, Tâm Lý Cân Bằng chiếm những 50%!

“Áp Lực Hormon” sẽ làm tổn thương cơ thể.

Lý giải như thế nào về việc Tâm Lý Ổn Định ảnh hưởng tới 50% tuổi THỌ? Chúng ta nên làm thế nào?

“Áp lực hormone” gây tổn thương cơ thể!

Nhà nghiên cứu tâm lý học chỉ ra: Một người nổi giận đùng đùng, áp lực hormone tăng sinh, đủ để giết chết một con chuột. Vì vậy, áp lực hormone, còn gọi là hormone độc tính.

Y học hiện đại chỉ ra: ung thư, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, loét hệ tiêu hóa, kinh nguyệt không đều, 65-90% triệu chứng có liên quan tới áp lực tâm lý. Vì thế, bệnh này còn gọi là bệnh tâm lý.

Nếu con người cả ngày không yên, hay cáu gắt, lo lắng, khiến áp lực hormone luôn ở mức cao, hệ thống miễn dịch sẽ ngăn chặn và tiêu diệt, hệ thống máu huyết hoạt động quá nhiều trong thời gian dài dẫn đến mệt mỏi. Khi vui, não bộ tiết ra hormone hưng phấn. Hormone hưng phấn khiến con người thoải mái, cảm giác vui tươi, toàn thân rơi vào trạng thái tốt, giúp điều tiết các cơ quan trong cơ thể cân bằng, khỏe khoắn. Thế thì, trong cuộc sống, chúng ta nên làm như thế nào mới có thể có được hormone hưng phấn, giảm hormone áp lực?

1. Có mục tiêu rõ ràng, nỗ lực đạt được.

Nghiên cứu mới nhất cho rằng, cảm giác đạt mục tiêu càng mạnh càng giúp cơ thể khỏe khoắn. Bởi vì trong cuộc sống, đam mê quyết định tâm thái con người, quyết định trạng thái sống.

Người nỗ lực đạt mục tiêu não bộ trong trạng thái thoải mái phát triển, vì thế, thường dùng não bộ sẽ thúc đẩy hoạt động não, đẩy lùi tuổi già.

Người trung lão niên sau khi nghỉ hưu có thể đọc sách, khiêu vũ, vẽ vời, giúp não bộ luôn trong trạng thái hoạt động.

2. Giúp đỡ người khác làm niềm vui có tác dụng trị liệu tốt...

Nghiên cứu chỉ ra, giúp đỡ người khác về vật chất, có thể giảm tỉ lệ tử vong xuống 42%, giúp người khác ổn định tinh thần, có thể giảm tỉ lệ tử vong dưới 30%. Bởi vì tốt với người khác, hay làm việc thiện, sẽ có cảm giác vui tươi và tự hào, giảm hormone áp lực, thúc đẩy hormone hưng phấn. Chuyên gia tâm lý và tâm thần học nói: duy trì thói quen giúp đỡ người khác là phương pháp phòng và điều trị trầm cảm.

3. Gia đình hòa thuận là bí kíp sống lâu.

Hai nhà tâm lý học người Mỹ công bố nghiên cứu trong vòng 20 năm: trong số các nhân tố quyết định tuổi thọ, đứng số 1 là “quan hệ người với người”. Họ cho rằng, quan hệ con người với con người quan trọng hơn rau cỏ hoa quả, việc thường xuyên luyện tập và rèn luyện trong thời gian dài. Liên hệ người với người không chỉ bao gồm bạn bè, còn bao gồm quan hệ gia đình. Vì thế, gia đình hòa thuận, bạn bè tốt là một trong những yếu tố quyết định tuổi thọ con người.

4. Cho đi điều thiện sẽ nhận lại điều thiện...

Khi chúng ta cười với người khác, người khác cũng sẽ cười lại với chúng ta. Bất luận là ở cùng bạn bè hay là cùng những người bạn cũ trò chuyện, hãy nhớ luôn giữ nụ cười, cho đi niềm vui.

“Tinh thần không thoải mái, sẽ dẫn đến bệnh gan”

Có người từng làm thực nghiệm này: sau khi tách nội tạng động vật, giữ nguyên liên kết tĩnh mạch gan và động mạch bụng, tim lập tức co bóp mạnh và tĩnh mạch máu bắt đầu lắng lại, động vật chết từ từ, có thể thấy gan có liên kết chặt chẽ trong việc điều tiết lưu lượng máu. Tinh thần không thoải mái, khi tức giận, sẽ ảnh hưởng tới hoạt động gan, dẫn đến tình trạng khô gan và khô máu ở gan.

“Không tức giận, không sinh bệnh”

Tinh thần là thể năng của con người, nhưng trong cuộc sống bộn bề lo toan, áp lực tinh thần tự nhiên sẽ gia tăng, thế là các áp lực tinh thần sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

“Hiện nay, thống kê của bộ y tế thế giới, trên 90% bệnh đều có liên quan tới tinh thần. Chỉ cần chúng ta giữ tinh thần thoải mái, thì sẽ không mắc bệnh, không mắc bệnh nghiêm trọng, ít bệnh, muộn mới mắc bệnh”.

“Tâm phải TĨNH, Thân phải ĐỘNG”

Dưỡng tâm, an tâm, cải tâm, giữ tinh thần thoải mái, là một cách dưỡng sinh, có thể không được mọi người quan tâm, vì thế mới xuất hiện “những bệnh tiêu hóa khó chữa”, “bệnh viêm cả đời không khỏi”...

Tâm Tĩnh thì Thân An, thân an thì khỏe mạnh, tâm an bách bệnh tiêu trừ...

Hoạt động có thể sinh dương khí, đả thông âm khí, giúp tuần hoàn máu, cơ thịt phát triển, khoẻ gân cốt.

Tâm phải Tĩnh, Thân phải Động, giữ cân bằng, đó là tam đại pháp bảo của bất cứ môn phái dưỡng sinh nào.

Thực tế, quyết định tuổi thọ con người không chỉ là ăn uống và vận động, còn là tâm tính vui tươi, tâm thái tích cực cũng vô cùng quan trọng!

Đỗ Thiên Thư st.


ĐÊM THÁNG NĂM

Đêm tháng năm.

Tiếng ếch oàm oạp, ồm ộp, lõm bõm từ những vũng bùn lầy, ao hồ quyện lẫn tiếng dế gáy rúc lên từng hồi. Tất cả những thanh âm côn trùng cứ như một bản hợp tấu, cũng có lúc trầm lúc bổng, lúc ngân nga, bất chợt có lúc lặng đi rồi lại rộ lên. Đêm - Thế giới của những loài côn trùng. Chốc chốc lại có tiếng vỗ cánh lập bập của loài dơi, lập lòe ánh sáng của những con đom đóm, cái thứ ánh sáng chớp nháy ấy như tô thêm sự huyền bí cho màn đêm. Thi thoảng lại có tiếng quật đuôi của một con rắn đớp mồi. Đêm gói ghém biết bao điều bí ẩn: Con mồi và kẻ săn mồi. Những cuộc giao chiến lặng thầm mà quyết liệt, để cuối cùng chỉ còn lại bên thắng cuộc.

Muỗi. Một lực lượng hùng hậu nhất của đêm, chúng biết kết hợp sức mạnh từ hàng ngàn đôi cánh mỏng manh, với thứ vũ khí thật bé nhỏ mà bén ngót, một thứ vũ khí cực kỳ hiểm ác và thuận lợi cho phép chúng tha hồ thao túng. Thứ thức ăn của chúng là một loại thức ăn đặc biệt cao cấp. Để có được một giọt máu, cơ thể phải chiết xuất từ những phần trăm dinh dưỡng của biết bao loại thực phẩm. Thế mà chỉ trong vòng một giây, cái bụng to kềnh của chú muỗi đã ẵm gọn. Sự sinh sản nhanh chóng khiến chúng luôn là một đối thủ đáng ngại của nhiều loài. Những nơi bụi rậm lùm lùm dưới những tán lá, ẩm thấp và tối tăm, có thể tạo thành một lô cốt an toàn cho kẻ đi săn, thì cũng là nơi trú ngụ tuyệt vời của cộng đồng muỗi.

Hắn tê dại cả thân người trong một tư thế đã bị đóng cứng suốt mấy giờ đồng hồ. Cái tư thế ấy lúc đầu quả là thuận tiện cho sự quan sát và sẵn sàng cho những bước nhảy vụt về phía trước. Nhưng hắn lại không biết trước cái tư thế ấy lại bị động trong một khoảng thời gian dài đến thế. Sao ánh đèn nơi cửa sổ kia lại không chịu tắt đi cho rồi kia chứ? Đó là thứ ánh sáng khó chịu nhất cho hắn trong lúc này. Vùng ánh sáng yếu ớt, chỉ đủ bao trùm mấy mươi phân vuông trên một cái bàn, nhưng lại đủ uy lực để khống chế sự manh động, mưu toan và ám muội, đủ sức trói hắn đến liệt cả nửa thân mình. Không thể chịu đựng nổi nữa, hắn cố thật nhẹ đến mức không thể nhẹ hơn, để chuyển động cái khối cơ thể thoát khỏi sự tê cứng. Một tiếng rắc cụp của chính những khớp xương hắn cũng đủ làm hắn giật nảy mình, đủ để đánh động một con chó con con đang tập tọng hực lên một tiếng. Ánh sáng nơi khung cửa sổ hơi di động, bóng một cái đầu ló ra ngoài nhìn quanh quất, rồi một tiếng nạt khẽ: “Bim, thôi nào, có ai đâu”. Hắn vội ụp mặt xuống đống lá mục, một thứ mùi thum thủm xộc vào mũi hắn, hắn vội bịt chặt mũ để kìm cái hắt hơi. Sự kìm nén làm làn hơi không có lối thoát phải trở ngược xuống cuống họng biến thành tiếng kêu ục ục, cuống phổi thốn lên tạo thành một cơn đau tức trong lồng ngực. Hắn thả tay trên mũi xuống, thở hổn hển, một tay chặn ngực, một tay đưa lên mắt quẹt khóe nước ri rỉ. Hắn bực bội thốt thầm: “Bố khỉ! Đồ chết tiệt”. Hắn ném một tia nhìn giận dữ về phía cái cửa sổ, cái thứ ánh sáng vàng vọt đó vẫn như trêu ngươi, như thách thức.

Đêm tháng năm.

Mảnh trăng cuối tháng như con dao mổ nằm chênh vênh, bờn bợt giữa nhấp nháy các vì sao. Gió nhè nhẹ, thoang thoảng, tạo cảm giác đê mê dễ chịu, không đủ để gọi là se da, nhưng cũng tạm gọi là cái cớ để cô gái nép vào bên ngực chàng trai, và cánh tay của chàng trai cũng đủ lý do để vòng qua tấm lưng thon chắc của cô gái, ôm sát vào mình, tỏ ra yêu thương, che chở. Tiếng thở dồn dập của hai đôi môi nóng hổi buộc vào nhau. Đôi trai gái mới lớn thả mình vào cảm xúc hân hoan của sự khám phá mới mẻ. Nhưng cô gái vẫn còn đủ tỉnh táo khẽ đẩy chàng trai ra, thẹn thùng:

- Anh… mình cưới nhau đã.

Chàng trai còn nuối tiếc ôm ghì lấy cô gái một lần nữa rồi mới chịu buông ra, nằm soại trên tàu lá chuối nhìn bầu trời lấm tấm những vì sao, mơ màng:

- Bao giờ thì chúng mình cưới nhau nhỉ?

Cô gái gối đầu lên cánh tay của chàng trai, lắng nghe nhịp thở của cả hai quả tim. Chàng trai vẫn tiếp tục mơ màng:

- Bao giờ nhà anh mua nổi một con bò, rồi nó đẻ ra một con bò nữa thì mới cưới vợ cho anh được.

Cô gái thỏ thẻ:

- Chắc không lâu nữa đâu anh nhỉ? Với lại vội gì, em còn phải học làm người lớn đã chứ.

- Thế em chưa là người lớn à?

- Mẹ em bảo hết là trẻ con nhưng chưa là người lớn.

- Để anh dạy cho… thế này này…

- Á, cái anh này…

Cả hai lại xoắn vào nhau, một lúc sau cô gái vùng dậy:

- Thôi, em phải về đây, khuya lắm rồi anh ạ

- Khuya gì? Còn sớm chán. Có bố em ở nhà đâu mà sợ. Ờ mà bố em làm gì mà hay vắng nhà khuya thế?

- Em chẳng biết nữa.

Câu hỏi của người yêu làm cô gái bỗng đăm chiêu. Đã từ lâu, cô ngờ ngợ bố mẹ cô có chuyện gì là lạ. Cô cứ muốn hỏi mẹ, nhưng cứ nhìn bộ mặt rắn đanh, giọng nói the thé, rin rít, cô lại thấy sợ. Hàng ngày, khi cô đi làm, đi chợ, thường có cảm giác những ánh mắt thiếu thân thiện, những câu nói đổng cảng như nhằm vào mình:

- Ối giời, cứ ăn mặn cho lắm vào rồi khát nước đến đời con đời cháu thôi.

- Con gái sắp đến tuổi lấy chồng rồi mà chả nghĩ gì đến tương lai hạnh phúc cho nó cả. Xem thằng nào vô phúc thì bảo hộ nó một tiếng, kẻo phí công cha mẹ nó nuôi dạy cả bao nhiêu năm.

- Rau nào thì sâu nấy, cả vợ lẫn chồng rồi thì cũng đến cả con thôi. Bố mẹ thế thì làm sao dạy con tốt được.

Đại loại là những câu nói như thế kèm theo cái nhìn khinh miệt làm cô cứ gai gai người, mặc dù không biết chắc có phải người ta nói đến người nhà mình không? Nhưng trực giác cô mách bảo như có gì liên quan. Một điều nữa mà cô cảm nhận được là sự xa lánh của bà con lối xóm. Không thấy ai đến nhà chơi với mẹ cô, câu kia chuyện nọ như những người phụ nữ khác. Cũng không thấy mấy bác hàng xóm sang chơi với bố cô, bàn cờ ly rượu như những người đàn ông khác. Đôi lúc họ có vô tình gặp bố hoặc mẹ cô ngang đường thì cũng chỉ quấy quá dăm câu chiếu lệ rồi cáo bận đi ngay. Chỉ có vài chú trông dáng vẻ la lét, luộm thuộm hay tụ tập lúc chiều sẫm. Bố cô trông như người mắc bệnh, da dẻ vàng xỉn, mặt mày xanh xám, choắt choeo, đôi mắt hi hí sùm sụp lúc nào cũng nhìn chập xuống, nếu bất giác trừng lên thì lại toát ra một tia nhìn lạnh lẽo, ác hiểm. Cô rất sợ chạm phải tia nhìn ấy lắm. Cách bài trí một số đồ đạc trong nhà cũng có vẻ không được hợp lý lắm. Chiếc giường ngủ của bố mẹ cô lại được kê đặt một góc của gian nhà ngoài, còn giường ngủ của mấy chị em cô thì lại kê ở gian trong, nếu đổi lại thì đúng chỗ hơn. Cô cũng chẳng hiểu tại sao lại như thế. Thỉnh thoảng có đêm trở mình thức giấc, cô loáng thoáng nghe có tiềng lào thào, tiếng lịch kịch, và cả tiếng òng ộc đổ rượu từ hũ ra ly. Có lần cô định nhổm ra xem, nhưng chợt nhớ lời đe nẹt của mẹ “Đêm hôm lo mà ngủ đi nhá, đứa nào ra vào lộn xộn, tao cho ăn đòn nhừ xương đấy” cô lại thôi. Chàng trai thấy cô gái ngồi thừ ra nghĩ ngợi thì vòng tay ôm cô vào lòng thủ thỉ:

- Em nghĩ gì thế? Sợ anh không có tiền cưới em à?

Dựa vào người chàng trai đầy tin cậy, cô khẽ nói:

- Em không lo, mình ráng làm rồi để dành thì cũng đến lúc sẽ có thôi mà.

Trong đôi tay nồng nhiệt của tình yêu, cô gái lại mau chóng quên đi những gì vừa nghĩ ngợi.

Đêm tháng năm.

Trời bỗng đổ cơn mưa. Cơn mưa không hề báo trước, những hạt mưa nặng dần, xối xả. Trong những tiếng sấm xét đì đùng, những ánh chớp lấp lóa, có hai người cố áp mình vào một thân cây, bên trên là những tán lá rủ um tùm. Một giọng nói với âm lượng thật nhỏ:

- Ông trời tai ngược thế! Lúc chiều trông đẹp đẽ tạnh ráo, nên chẳng đem theo áo mưa.

Một giọng khác cũng nhỏ như thế:

- Phải chịu thôi chứ làm sao bây giờ, chỉ cầu cho ông thiên lôi đừng nhè cái cây này mà vung lưỡi mác là được rồi.

- Mưa có khi lại hay đấy. Đèn tắt rồi, thôi, chú ý đi.

Mưa sầm sập, cả thân hình ướt sũng nhưng hắn cười khoái trá. Ông trời giúp ta rồi. Hắn bỗng rùng mình vì lạnh, chợt thấy thèm ly rượu thuốc uống đến đâu nóng đến đó mà vợ hắn đang để sẵn ở nhà. Hắn hà hơi vào hai tay xoa mạnh và rên lên:

- Giờ mới chịu tắt đèn. Mẹ mà y , giỏi thức nữa đi.

Bây giờ thì không cần phải vội, vì đã có mưa làm đồng phạm. Cũng chẳng cần phải lo lắng giữ gìn gì nữa, co duỗi chân tay cho đỡ mỏi đã. Sư nó, tê cứng hết cả rồi. Nhằm nhò gì, có những đêm đông lạnh buốt như đồng, cái tê buốt cứ như những thanh sắt nhọn thuốn vào tận xương tủy, hắn vẫn trân mình để trót lọt những phi vụ đáng kể. Bất giác hắn tự hỏi: “Mình trở thành kẻ ăn đêm từ bao giờ ấy nhỉ? Ngày xưa cái lão thầy bói láo toét ấy bảo mình có phúc đức ba đời để lại, chả phải lo lắng gì, cứ việc ngồi duỗi mà giàu sụ lên thôi”. Ừ mà lẽ ra thì phải thế chứ. Một đêm bằng ba năm cơ mà. Nó đi đâu hết thế nhỉ? Mấy cái tàu há mồm ở nhà, lại thêm bao khoản chung chia. Mẹ nó, lúc làm thì đ… thấy thằng nào nhúng tay, mà có nhúng thì cũng trật trìa chia chác, mà lúc ăn thì sao lắm thế. Họng to, thây mập. Bố nó, cái trò đời…

Hắn bỗng nhớ ngày xưa cha hắn hay chửi:

- Nhà tao vô phúc sinh ra quả đắng, củ sùng. Mày cứ giỏi đi ăn của người đi, rồi khối kẻ nó ăn lại của mày, ăn cho mày trơ mắt ếch ra cho mà xem.

Hắn ngẫm thấy cha hắn nói không sai. Chẳng hiểu ma lôi hay quỷ khiến, hễ cứ thấy nhà ai có cái gì lọt vào mắt là hắn tìm mọi cách lấy cho bằng được. Lúc bé thì đồ chơi, vật dụng của trẻ con hàng xóm, lớn thêm chút nữa thì những thứ vặt vãnh bán được thành tiền. Hắn không leo nổi qua cấp hai cùng vì cái thói tính ấy. Thất học, lại không thích bất cứ một nghề nghiệp gì, chỉ thích ăn chơi vung vãi, cộng với bản năng trộm cắp, hắn đã làm cho cha mẹ không biết bao phen điêu đứng, và rồi một ngày, cha mẹ hắn không chịu nổi nỗi nhục với bà con xóm làng, sau bao phen cải hóa vô hiệu, nên đuổi hắn ra khỏi nhà. Đi thì đi. Đi đến đâu thì cầu âu đến đấy. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Hắn tầm đúng một con vợ cũng ngang ngửa với chồng, lại tầm thêm vài tên giỏi tát. Thế là tha hồ tát của thiên hạ. Bọn hắn biết những nơi làm ăn ngon nhất là những vùng nửa thôn nửa thị. Do yêu cầu của công việc, có nhiều thứ vật dụng không thể gọn nhẹ trong nhà, cây cối thì um tùm, thuận lợi cho việc ẩn nấp, rình rập. Nhà cửa thì đa phần là tôn ván tạm bợ, rất dễ cho sự xâm nhập. Khi biết mất thì cùng lắm là ơi hời than khóc, cùng lắm đơn thư nguệch ngọac đi từ thôn đến xã. Mà chuyện ấy thì bọn hắn thừa phép vô hiệu hóa. Hà hà. Tụi mày muốn sao? Một uống rượu. Hai dọn mâm. Có thằng ngu nào lại đi chối rượu để dọn mâm. Ừ thì kín đáo một tí cho lâu dài. Có điều hắn cũng đủ thông minh để biết giới hạn trong một phạm vi trị giá. Đánh những quả lớn quá thì sẽ động đến trên cao, nhỡ đòn trên giáng xuống thì toi tất tật cả lũ. Dân tình biết nhiều, biết lắm, có khi biết rất tường tận nữa, nhưng chẳng biết kêu ai, lỡ kêu không đúng nơi đúng chỗ còn bị thù hằn, tức quá thì chỉ biết cạnh khóe dăm câu sau lưng bọn hắn. Thế nên bọn hắn cứ ung dung, phởn phơ đêm làm ngày nhậu. Gần đây mồi cung đã vãn, người ta cũng đã phải nhiều biện pháp đề phòng hơn. Nhưng dẫu sao thì…

Mưa đã nhẹ hạt, hắn căng mắt nhìn về phía chái nhà, tay sờ qua túi quần, cái kìm cộng lực, kẻ thủ hạ thân tín nhất luôn theo hắn trong từng phi vụ, vẫn cồm cộm như báo hiệu đã sẵn sàng. Đảo mắt nhìn quanh vài vòng cho yên tâm, rồi hắn thận trọng rời chỗ nấp men theo rìa rào, và hơ hớt nép mình vào một thân cây, một chút không nghe động tĩnh gì ngoài tiếng mưa vẫn rỉ rả, hắn nhẹ tiến sát đến bên cánh cửa bếp. Nhìn vào trong qua khe cửa, yên ả quá, có nghĩa những người trong nhà đã yên giấc say. Còn phải nói, mưa này vùi trong chăn ấm, có mà phê thẳng đến sáng. Hắn nhếch môi, nghĩ đến những gì chút nữa theo hắn về nhà. Móc cái kìm ra, chỉ bằng mấy động tác nhanh gọn, cánh cửa đã bật chốt, hắn lách nhẹ vào trong, thuận tay khép lại, nhưng cánh tay hắn như vấp phải một lực cản, hắn chưa kịp hiểu là điều gì đang xảy ra, thì mắt hắn vụt chói lòa bởi một luồng sáng, đồng thời một tiếng quát vừa phải nhưng đanh gọn:

- Đứng im, mày đã bị bắt quả tang rồi nhá.

Và thoắt một cái, hai cánh tay hắn bị khóa chéo ra sau. Hắn chỉ kịp ớ lên một tiếng rồi chết lặng. Bên cạnh hắn bây giờ là hai người, một người đang móc cái còng số 8 tra vào hai cổ tay hắn. Còn người kia gõ tay vào cửa kêu to:

- Chủ nhà ơi! Dậy đi, bắt được trộm đây này.

Tiếng gọi không khác gì sấm nổ, dựng ngược những người đang trong giấc sâu chồm dậy với tâm trạng hoảng hốt. Cô giáo Thủy vừa ôm ngực vừa lắp bắp:

- Các… các anh là… là a…i?

Móc cái thẻ đỏ trong túi, soi qua ánh đèn bin cho chủ nhà thấy, anh công an nói:

- Chị bình tĩnh, không sao nữa rồi. Bây giờ nhờ chị cho chúng tôi vào làm biên bản.

Hiểu ra vấn đề, cô giáo Thủy vừa thở vừa kêu lên:

- Ôi trời ơi! May quá, chút nữa thì mẹ con em chết. Sao mà các anh có mặt kịp lúc thế?

Vừa nói cô vừa mau chóng dẫn mấy người khách bất đắc dĩ vào nhà. Một cậu bé trai đã bê ngọn đèn dầu để giữa bàn. Thấy hai anh công an ướt khắp từ đầu đến chân, môi tím tái vì lạnh, cô giáo Thủy vội đi lấy cái khăn và lọ dầu. Hắn bị đẩy vào giữa vùng sáng, điều hắn tối kỵ, nhưng không phải là lúc hắn có thể chọn lựa. Từ lúc nghe những giọng nói, hắn đã ngờ ngợ, giờ lén liếc qua hai gương mặt, hắn kêu thầm: “Quái, hai thằng này ở đâu trông lạ quá, tụi ở đây mình biết mặt cả mà, hay tụi nó mới đổi về?”

Thấy một người nhắc người kia:

- Báo xe xuống chưa?

- Rồi.

Hắn chợt hiểu: “Chết mẹ, trên tỉnh rồi”, hắn bỗng rủn hết cả người. Cô giáo Thủy cũng nhận ra, ngạc nhiên:

- Ồ, ra mấy anh từ trên tỉnh xuống ạ?

- Vâng, chúng tôi thuộc công an tỉnh.

- Sao các anh biết mà lặn lội xuống đây thế ạ?

- Chúng tôi nhận được một số đơn thư của bà con, xem tình hình không chỉ là sự mất an ninh của một địa bàn, nên chúng tôi phải trực tiếp vào việc thôi.

- Các anh làm thế thì may cho bà con ở đây quá, đúng là khá nhiều chuyện đấy anh ạ.

Thủ tục cho một cái biên bản đã xong, những người liên quan ký vào. Trước khi giải tên tội phạm về trại tạm giam, những anh công an ghé qua khám xét nhà hắn và thu được một số tang vật chưa kịp tẩu tán. Vợ hắn run lẩy bẩy khi thấy hắn trở về không phải một mình như mọi lần. Lần này thì cô con gái được chứng kiến rõ mọi chuyện. Sau lúc đi chơi với người yêu về, cô còn thao thức chưa ngủ được thì… Cô chợt hiểu những gì bấy nay mọi người ám chỉ, cô đau đớn trước một sự thật phũ phàng, trố mắt nhìn hai người sinh ra mình, cô hét lên: “Bố… Mẹ...”, rồi đột nhiên chạy vụt ra sau nhà, từ đó vọng lại một tiếng “bủm”. Cả hai vợ chồng kêu rú lên: “Con ơi” và đổ sụm xuống…

ĐÀM LAN

NẰM VIỆN

Cảm giác đau nhói lan từ vùng bụng dưới tiến dần lên đầu, tụ lại rồi tỏa ra, biến thành một quầng sáng chói chang, chiếu thẳng vào mắt tôi. Muốn đưa tay dụi nhưng có vật gì quấn quanh cổ tay, tôi không sao cựa quậy được. Cuối cùng, tôi cũng hé được cặp mi còn nặng trìu trĩu, ngơ ngác nhìn. Trên trần nhà, hai bóng đèn nê-ông đang chụp làn sáng trắng xuống người tôi. Nhắm vội mắt cho bớt chói, tôi nghiêng một bên đầu, he hé nhìn. Những chấn song bằng i-nox sáng loáng, ung dung đứng trước mặt tôi. Thì ra, tôi đang nằm trên giường, trông nó giống một chiếc nôi dành cho… người lớn. Cách chỗ tôi nằm không xa, cũng có một cái y hệt như thế. Trên đó, một người nằm bất động, cái mền đắp hờ hững ngang bụng, để lộ khuôn mặt hốc hác và hai tay, hai chân trần bị trói chặt. Đây là đâu? Tôi hoảng sợ. Một làn không khí lạnh len vào sống lưng khiến tôi rùng mình. Cảm giác đau buốt lại cuộn lên từ phía dưới bụng. Tôi chợt nhớ lại tất cả. Cái ruột thừa bị viêm và Phi, vợ tôi đã đưa tôi vào bệnh viện.

Trước đây, thỉnh thoảng, tôi bị đau ở vùng bụng. Ít thôi rồi hết. Nhưng hôm nọ, cái chứng ê ẩm nầy kéo dài, tăng dần, dữ dội đến mức hết chịu nổi. Chung quy chỉ vì thương bạn bè. Thằng Hài chết cách nay đã ba năm. Đến ngày giỗ nó, bạn bè tụ lại tưởng niệm. Năm nay, để nhớ tiếc thằng bạn thơ, chúng tôi cũng bày tiệc nhậu. Anh em sẽ vừa lai rai vừa ngâm thơ hay đọc một bài văn tế do chính mình sáng tác cho người quá cố.

Năm giỗ đầu tiên, ý thơ lai láng, mỗi nhà thơ ngâm một lúc mấy bài. Cả nhóm ngậm ngùi say lúy túy.

Năm kế, ý thơ cô đọng, mỗi thi sĩ chỉ… gặng được có mấy câu. Ý ngắn, tình dài, cả nhóm say bí tỉ.

Năm nay, tình đầy, ý cạn. Chẳng người nào xuất khẩu thành thơ. Có lẽ vì buồn đời sống khó khăn, bẩn chật. Thay vì tưởng niệm bạn, cả nhóm tưởng niệm tập thơ của mình. Thơ hay, giấy đẹp, vẫn ế như thường. Tập thơ bụi bám, giấy ngã màu, thi sĩ… nghèo, vỡ nợ, sinh ra trầm uất. Đã có vài ba người gác bút, đổi nghề hoặc đi xa.

Bữa tiệc hôm đó chỉ có dĩa ốc luộc, vài ba quả trứng vịt ung và hai lít rượu đế Xuân Thạnh. Thế mà cả nhóm say mèm, lăn kềnh ra đất. Sáng, tỉnh dậy, ai về nhà nấy. Còn tôi vào… bệnh viện. Vợ tôi vừa chạy đôn chạy đáo lo tiền thuốc vừa lo tải bệnh, mặc sức ca cẩm cái thói ham vui của tôi.

Thường khi, vợ tôi ít nói, lặng lẽ chịu đựng. Để mặc tôi… làm thơ và say. Phi thường biết có khuyên cũng vô ích. Tôi tự do… mơ mộng. Đến lúc tôi kêu đau thấu trời thấu đất, vợ tôi liền thừa cơ hội… giáo dục chồng. Dù giận, tôi cũng không đủ sức la lối hoặc làm thơ “châm chích” vợ. Phi đưa ra hàng loạt điều: “Phải chi… thì…” nhét vào lỗ tai tôi. Ức lắm, nhưng chẳng biết làm sao tôi đành ngầm đe: “Hãy đợi đấy!”.

Sau khi định bệnh, bác sĩ ra lệnh phải mổ ngay. Sợ chết, tôi phản đối kịch liệt. Nhưng họ vẫn lạnh lùng cho lên ca phẫu thuật khi vợ tôi làm xong thủ tục hành chánh.

Họ mang tôi vào một cái phòng quét vôi trắng toát. Tôi nằm trên một cái giường cao lênh khênh, gần tận mặt những người mặc áo bờ-lu trắng đứng xung quanh. Những cặp mắt sáng quắt nhìn tôi chăm chú. Chiếc khẩu trang làm cho họ giống như những hiệp sĩ che mặt thời xưa. Bỗng dưng cái chụp đèn hạ thấp dần rồi từ từ dang xa. Có tiếng người hỏi:

- Anh tên gì?

Không ngờ người ta đang thử độ mê trong cơ thể tôi đã ngấm đến mức nào,tôi nhủ thầm: “Chẳng lẽ họ không xem bệnh án? Sắp giải phẫu mà không biết bệnh nhân là ai, thật tệ! Tôi đáp cộc lốc:

- Thương!

Có tiếng cười khúc khích thoát ra từ sau những tấm mạng che mặt.

- Làm nghề gì?

- Làm… thơ. Họ lại cười.

- Thơ gì?

Cơn buồn ngủ chợt kéo tới, lôi tuột tôi vào cái chấm sáng của cái chao đèn. Tôi gắng gượng trả lời:

- Thơ… châm… chích…

Tôi không biết mình đã mê đi bao lâu. Ca phẫu thuật diễn biến thế nào? Bây giờ tỉnh lại, nằm ở đây, chắc là phòng lạnh của bệnh viện. Cửa bỗng mở, một cô y tá bước vào. Đến bên tôi, cô mỉm cười:

- Ông tỉnh rồi à! Đã thấy khoẻ chưa?

Khuôn mặt hiền hậu và duyên dáng của cô gái khiến tôi cảm thấy ấm áp và bớt đau một ít.

- Cảm ơn cô, tôi thấy khỏe rồi.

- Để tôi cởi trói cho ông. Đừng cử động mạnh, chúng tôi đang truyền nước biển cho ông!

Tháo dây xong, cô rút chiếc khăn trên cái mâm vừa mang vào, lau mặt cho tôi. Trước khi sang giường kế bên, cô dặn:

- Nếu trong người có gì lạ thì ông nhớ gọi chúng tôi!

Tôi ngoan ngoãn gật đầu và trả lời lễ phép đến không ngờ:

- Dạ!

Tôi được chuyển ra phòng “hậu giải phẫu”. Ở đây đông người và ồn ào. Nó chỉ rộng khoảng bốn mươi mét vuông mà chứa tới tám giường, mười bệnh nhân, mười bệnh nhân và độ mười lăm người “theo bệnh” để thăm nuôi. Lẽ ra, mỗi bệnh nhân có một giường riêng. Nhưng, mấy ngày nay, số người phải mổ quá đông, nên có giường đành phải cõng một lúc hai mạng. Tôi được xếp loại “còn yếu”, ưu tiên được nằm… riêng. Tha hồ xoay trở, duỗi tay chân hoặc co rúm. Chỉ có ban đêm hơi chật vì vợ tôi bị muỗi tấn công, lên nằm kế bên tôi. Mấy ngày thức trắng, mệt mỏi, vừa đặt lưng xuống là Phi đi ngay vào giấc mộng. Mặc cho tôi hít hà, xuýt xoa. Tôi cố dỗ giấc mà không sao chợp mắt được. Dường như tôi đã ngủ một giấc dài. Bây giờ, phải thức để nhìn ngắm, lắng nghe. Tiếng rên rỉ, tiếng chửi thề, tiếng cười nói của những người nuôi bệnh. Tất cả hợp lại, tạo nên một loại âm thanh hỗn tạp, độc đáo chỉ bệnh viện mới có.

Ngoài ra còn nhiều điều vừa lạ vừa thường tình. Đúng với câu: “Đồng bệnh tương liên”. Những người nằm cùng phòng, nuôi cùng… bệnh quý mến nhau một cách dễ dàng. Họ gần gũi, thân thiết chẳng vì tư lợi mà bởi có chung một rủi ro. Nói theo kiểu văn học là có nỗi bất hạnh giống nhau. Họ trò chuyện tâm đắc. Đủ loại đề tài. Từ chuyện gia đình, ruộng nương, công sở đến cách chữa bệnh theo dân gian. Họ thao thao bất tuyệt về cây cỏ, lá, hoa… được gọi là thảo dược. Thậm chí chữa được bệnh đang… hành hạ họ, hoặc người thân của họ. Người ta nhắc tới những ông lang vườn, những thầy pháp nổi tiếng nơi họ ở và không quên bày tỏ lòng thành kính đối với những ngôi miếu linh hiển tận “thâm sơn, cùng cốc”, có thể phò hộ người trần. Đặc biệt, họ không có cảm tình đối với nơi đang trực tiếp cứu giúp mình. Họ nhắc đến bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện như nhắc đến những người khó chịu, ít có khả năng chữa trị. Họ thản nhiên nói xấu từ nhỏ đến lớn, từ bác sĩ đến… “bà vệ sinh”. Đại khái như: Bà quét phòng lúc nào cũng quát “Sao không giữ vệ sinh?”. Y tá lúc nào cũng cằn nhằn: “Trời ơi! Sao không uống thuốc đúng giờ giấc, liều lượng mà bác sĩ quy định?”. Còn bác sĩ cũng bị kể tội: ít nói, nét mặt trầm tư ra chiều… bác sĩ. Trước khi bác sĩ vào phòng phải dẹp phòng kẻo bị mắng… không giữ môi trường trong lành nơi nằm bệnh, làm sao chóng khỏi?…

Đêm dần sâu, tiếng rì rầm thưa dần rồi dứt hẳn. Trên những chiếc chiếu trải la liệt trên sàn phòng. Mấy cái miệng kể lể nói hành, nói tỏi giờ đây đang mím chặt hoặc há hốc. Nước bọt chảy dọc bên khóe. Họ thả hồn đến tận nơi nào. Yên tĩnh trở lại bao trùm bệnh viện. Thỉnh thoảng có vài tiếng động nhỏ, trở mình, ú ớ vang lên rồi tắt ngấm. Phía xa vẳng lại tiếng dép lê, xe đẩy, vài ba giọng nói cuống quýt thoáng qua rồi im lặng hoàn toàn. Tôi cảm thấy thư thả, thoải mái vô cùng dù vết thương vẫn còn gây đau đớn.

- Bánh mì… nóng giòn đây!

Tiếng rao đánh thức Phi dậy trước tiên. Vợ tôi lồm cồm ngồi dậy, đi đâu đó một chút rồi quay lại. Sau giấc ngủ, khuôn mặt Phi rạng rỡ hẳn lên. Tóc tai suông sẻ buộc gọn sau gáy, tay áo xoắn cao. Phi bắt đầu dọn dẹp quanh giường rồi quay sang tôi, tiếp tục… dọn dẹp mồ hôi, cáu bẩn trên người tôi bằng một cái khăn lông tẩm nước nóng. Vợ tôi vừa xong việc thì cái ồn ào, náo nhiệt xung quanh vỡ òa. Cả phòng đã thức giấc và lại rùm beng: “Còn đau không con?”, “Đã khoẻ chưa, anh?”, v.v… Tất cả những chiếc chiếu, ghế bố được xếp gọn, rất nhanh. Cũng như vợ tôi, họ dọn dẹp và bảo nhau:

- Nhanh lên, kẻo bà vệ sinh vào thì khốn!

Vợ tôi lấy cây chổi, quét sơ căn phòng. Phi lôi từ dưới gầm giường ra một vài tờ giấy vụn, mẩu thuốc lá vụn, vỏ thuốc uống… Thấy còn một chỗ chưa cuốn mùng, Phi đành quét đi luôn, rồi túm mớ rác bằng một mảnh báo. Thoạt nhìn, tôi điếng hồn, tức ấm ách. Tờ báo có đăng bài thơ tôi mà nỡ đem đi hốt rác. Tôi chưa có phản ứng gì thì… Bà vệ sinh quát:

- Rác dơ hay rác sạch vậy hả? Không được ném rác dơ vào thùng này.

- Dạ, rác… sạch mà.

- Ờ, vậy thì được.

Phi trở vào, nét mặt ỉu xìu:

- Bả tưởng rác dơ.

Rác mà cũng phân loại sao? Tôi lầm bầm.

Bà vệ sinh bước vào, đảo mắt một vòng quanh phòng rồi bệ vệ xách cây chổi vừa quét vừa lên lớp bài “Vệ sinh nơi công cộng”. Chẳng có ai dám trả lời. Bỗng bà móc từ gầm giường của ông cụ bệnh nặng nhất một cái bao ny-lông. Trong đó chứa đầy vỏ cam. Bà ta chun mũi, kéo tấm khẩu trang lên che miệng rồi dùng chổi hất cái của nợ vào ky, mang ra ngoài. Tôi bật cười, vợ tôi lật đật bịt miệng tôi, Phi sợ bà ta trở vào mắng cho một trận.

Vừa lúc đó, cô y tá bước vào, đứng giữa phòng ra lệnh:

- Xin bà con dọn dẹp ngăn nắp, sạch sẽ, bác sĩ trực sắp đến khám bệnh.

Cô ta chưa đi khỏi cửa, thân nhân người bệnh luýnh qua, luýnh quýnh dọn dẹp lần nữa. Ly tách, chén dĩa, soong,… đều được mang ra hành lang, xếp vào một góc. Loáng cái, căn phòng trở nên thoáng đãng, dễ thở vô cùng. Tôi khoan khoái nhìn quanh. Chỉ còn mười người bệnh nằm dài, đắp chăn gọn ghẽ. Tôi có cảm giác mình khoẻ hẳn.

Bác sĩ đến. Đó là một phụ nữ còn rất trẻ. Không như những đồng nghiệp khác, chiếc khẩu trang của nữ bác sĩ trễ xuống dưới cằm, che ngang… cổ. Toàn bộ khuôn mặt xinh xắn được phô ra trước bao cặp mắt… bệnh hoạn. Loáng cái, những ánh mắt ấy tươi tắn hẳn lên.

Xoay một vòng như khiêu vũ, bác sĩ gật đầu rất điệu:

- Chào bà con, hôm nay bà con đã khoẻ hẳn chưa?

Chẳng ai bảo ai, họ đồng thanh: “Dạ khoẻ!”. Có lẽ tôi nói lớn nhất nên bác sĩ để ý, cô đến bên tôi trước tiên. Đặt tay lên trán tôi, mấy ngón nhỏ xinh xinh, mềm mại thế mà tác dụng ghê gớm. Chúng gây một luồng nhiệt chạy rần rật trong cơ thể tôi. Bác sĩ phải kêu lên: “Sao nóng thế nhỉ!”.

- Dạ, không biết nữa.

Tôi ấp úng như trai vừa mới lớn. Ngồi xuống bên tôi, bác sĩ cài ống nghe vào tai, rồi bắt đầu khám.

Trầm ngâm giây lâu, cô thở phào:

- Không sao! Nhiệt bình thường, chẳng có gì đáng ngại.

Cô bác sĩ nhìn tôi một thoáng, khẽ cười rồi dặn:

- Anh phải cố gắng chịu đau một chút, nhớ nhờ người thân dìu đi lại thường xuyên. Như thế sẽ có lợi cho vết mổ. Có triệu chứng gì lạ phải báo ngay với chúng tôi, nhé!

Nhớ tới chuyện tiêu, tiểu khó khăn, tôi liền kể một mạch.

- Anh hãy nêu những món đã dùng sau khi mổ.

- Dạ, tôi chỉ uống có ít ly nước khoáng nho nhỏ, chưa ăn gì hết.

Bác sĩ lại mỉm cười:

- Không ăn, uống ít thì làm sao có chất bã để bài tiết mà anh lo. Kiêng cữ như thế không tốt đâu . Anh phải ăn mạnh, uống nhiều mới mau lại sức chứ.

Tôi ngoan ngoãn gật đầu. Trước khi qua khám cho người bên cạnh, bác sĩ đùa:

- Mai, tôi vào khám mà anh chưa ăn hết một nải chuối, uống hai lít nước thì tôi phạt đó!

Cả phòng cười rộ. Tôi đỏ mặt, cảm thấy hồn lâng lâng, bay bổng tận chín tầng mây. Phải chi có giấy bút ở đây, tôi sẽ làm… một bài thơ tặng bác sĩ.

Đoàn khám bệnh đi rồi, thân nhân lại tràn vào phòng nườm nượp. Lập tức ly tách, ca, gà-mên, thau… trở về chỗ cũ. Tiếng cười nói lại thi nhau phá vỡ sự yên tĩnh cần thiết.

Tôi bỗng buồn nẫu ruột. Một trong nhiều cái khổ mà con người phải gánh chịu là “bệnh”. Người bị bệnh khổ không nói gì, còn những người theo nuôi bệnh cũng khổ. Kể cả những người chữa trị bệnh cũng chẳng sướng ích gì. Mỗi người một cách khác nhau. Có một điều lạ là chính những người cần nhau lại làm khổ nhau. Họ không hiểu được nhau. Người bệnh và thân nhân lại ít khi đồng cảm với bác sĩ. Họ xem lời dặn dò như một câu đe nẹt chứ không phải là những lời khuyên quý báu. Thản nhiên qua mặt bác sĩ. Còn những người làm công tác “chiến đấu với tử thần, giành lại mạng sống, sức khỏe cho con người” thì lại phải buồn tủi vì sự vô ơn rất tự nhiên. Tôi bực lắm. Tôi nhất quyết kỳ này, hết bệnh, ra viện. Tôi sẽ làm… thơ. Thơ ca ngợi những người khoác áo bờ-lu trắng, đáng yêu.

NGUYỄN THỊ MÂY

MỤC LỤC

Vài chi tiết về kỳ họp ngày 10.3.2018… .............. Vũ Thư Hữu ... 01

Vài dòng về cuốn “Các tác giả người Việt viết tiếng Pháp”

một món quà sinh nhật đầy ý nghĩa ....... Vũ Anh Tuấn ... 05

Có tận thế không? (tt) .............. Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết ... 07

Mục đích của đạo Phật ........................ Tâm Nguyện ... 12

Mikhain Lermontov nhà thơ vĩ đại, nhà thần bí, nhà tiên tri ......... Thúy Toàn .... 28

Kỷ niệm ngày 6-2 Âm lịch

Hai Bà Trưng tuẫn tiết tại sông Hát ......... Phạm Vũ ... 32

Sơn đông mãi võ ........................ Nguyễn Văn Sâm .... 38

Phóng dịch Hoài cổ (thơ Phan Bội Châu) .......... H uỳnh Thiên Kim Bội .... 50

Kinh Thánh: tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại ....... Lệ Ngọc st. .... 51

Đức khoan dung ................ Phạm Hi ếu Nghĩa ... 59

Có chút gì (thơ) ............................. Đàm Lan ... 63

Giấc mơ nồng nàn (thơ) ................. Phạm Thị Minh-Hưng .... 64

Nợ Tình (thơ) ................... Phạm Thị Minh-Hưng .... 65

Thuyền ghé bến mơ (thơ) ............... Ngàn Phương .... 66

Mùa sen (thơ) .................... Lang Nguyên .... 68

Mặt hồ dưới trăng (thơ) ............... Lang Nguyên .... 68

Gánh nước (thơ) ....................... Thanh Châu .... 69

Vui thú điền viên (thơ) ................... Thanh Châu .... 69

Gửi em (thơ) ...................... Phùng Chí Tâm ... 70

Lan bò cạp nước (thơ) .................. Phùng Chí Tâm ... 70

Ngày thơ Việt Nam (thơ) .............. Thanh Vĩnh .... 71

Tình thơ (thơ) ........................... Phước Hải .... 72

Yêu thơ (thơ) ........................... Quang Bỉnh .... 73

Ăn khuya (thơ) ................ Quang Bỉnh .... 73

Cổ động viên Việt Nam (thơ) .............. Lê Minh Chử .... 74

Sống thế nào đây? (thơ) ................ Lê Minh Chử .... 74

Bóng xuân qua (thơ) .................... Hoài Ly .... 75

Khóc anh (thơ) .................. Thùy Hương ... 76

Mộng nhớ (thơ) .............................. Hải Âu ... 77

Chén quỳ đồng vọng (thơ) ................ Hoàng Thị Vinh .... 78

Yêu anh (thơ) ....................... Thanh Phong .... 79

Lung linh ánh nến (thơ) ................ Lê Nguyên ... 80

Em (thơ) .................. Lam Trần .... 81

Sống xa Tổ quốc (thơ) ............. Vũ Đình Huy .... 82

Living far away from the Fatherland (thơ) ...... Vũ Anh Tuấn dịch .... 82

Trùng hợp (thơ) .................... Vũ Đình Huy .... 83

Coincidence (thơ) ................. Vũ Anh Tuấn dịch .... 84

Tục ngữ ca dao liên quan đến Chó ............. Hà Mạnh Đoàn ... 85

Nơi quán bia .............. Lam Trần .... 93

Một thời đi học ............... Hoài Ly .... 97

Tin tức sự kiện ............................... Tâm Nguyện . 105

Những câu nói hài hước liên quan tới anh bạn “Tiền”

và một số câu nói hay ........ Bùi Đẹp st. .. 109

Ở trọ .................... Đào Minh Diệu Xuân st. .. 115

Hạnh phúc vốn đơn giản ................ Hoàng Kim Thư st. .. 124

Du lịch Thái Lan .................... Quan Thúy Mai. .. 127

Lúc trẻ và bây giờ ................. Kim Sơn st. . 129

Người sống thọ không phải do ăn uống, vận động

mà là vui tươi, tích cực ........ Đỗ Thiên Thư st. .. 131

Đêm tháng Năm ................ Đàm Lan .. 135

Nằm viện .................... Nguyễn Thị Mây .. 144

Thông báo:

Kỳ họp tiếp theo của CLB Sách Xưa & Nay sẽ diễn ra vào lúc 9:00 ngày 12/5/2018 tại Nhà thờ Tân Sa Châu, số 387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình.

Bài viết cho bản tin nội bộ xin gửi về:

hamanhdoan69@yahoo.com

hoặc liên hệ với Hà Mạnh Đoàn - 0937 108489

Các bản tin trước có thể xem tại:

www.diendan.songhuong.com.vn

www.giaimakinhphat.com

www.sachvatranh.com

www.newvietart.com

www.vandanviet.net

www.hoamai-aus.org.au

|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
 16 |
|  17 |
 18 |
 19 |
 20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
 31 |
 32 |
|  33 |
 34 |
 35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
 46 |
 47 |
 48 |
|  49 |
 50 |
 
|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
|  06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
|  11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
|  21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
|  26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
|  36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
|  41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
Netadong.com thiết kế