Hiện có 6 người xem / 1801150 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ CUỘC HỌP

NGÀY 11/12/2021 CỦA CLB SÁCH XƯA VÀ NAY

Đây là cuộc họp thứ nhì sau 5 tháng giãn cách, nên số thành viên tham dự vẫn còn khá vắng. Tuy nhiên với CLB này, thì dù vắng hay đông, cuộc họp vẫn vui như thường!

Và để mở đầu phiên họp, như thường lệ, dịch giả Vũ Anh Tuấn đã giới thiệu với các thành viên hai tân quý thư mà ông mới có. Lúc này, do dịch bệnh, dịch giả Vũ Anh Tuấn cũng rất ít đi mua sách, do đó hai cuốn sách hôm nay, một cuốn bằng tiếng Việt và một cuốn bằng tiếng Anh là hai cuốn ông thấy trong số gần 4000 cuốn đủ loại ông có sẵn trong 6 cái tủ kính trong thư phòng, và ở ngoài hành lang căn phòng đầy nhóc sách của ông. Đây là hai cuốn sách ông đã đọc qua hồi năm trước và nhớ là chúng khá hay, nên hôm nay ông mang giới thiệu chúng với các thành viên.

Cuốn tiếng Việt mang tựa đề là “Ký sự nhân vật” của cố tác giả nhà báo Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt), do nhà xuât bản Trẻ xuất bản năm 2002. Cuốn sách khổ 15 x 21 dày 443 trang chứa đựng những chi tiết, những th ông tin đặc biệt về tổng cộng 113 nhân vật trong đó có 24 nhân vật của Việt Nam Cộng Hòa, và vì tác giả còn là một họa sĩ khá nổi tiếng, cuốn sách còn có mỗi bài viết một chân dung của nhân vật được nói tới. Các chi tiết về các nhân vật trong sách thật hấp dẫn, vì tác giả Huỳnh Bá Thành còn là Tổng Biên Tập báo Công An từ 1981 cho tới 1993 khi ông qua đời. Các chân dung các nhân vật cũng thật đẹp, thật hấp dẫn, được vẽ qua nhiều phong cách khác nhau khiến người đọc xem thật sướng mắt. Ngoài ra cuốn quý thư còn có “Góc biếm của ớt” có cả mấy chục trang nguyên trang thật đặc biệt. Khi sách được giới thiệu dịch giả Vũ Anh Tuấn đã cho các thanh viên thưởng thức một cách thích thú tất cả các đặc điểm kể trên của cuốn quý thư.

Cuốn tiếng Anh là một cuốn tiểu thuyết với một đề tài khá lạ của một nhà báo nữ sau trở thành một nhà văn nổi tiếng chuyên viết loại sách ướt át rất hấp dẫn các nam độc giả và bà cũng khá thọ vì năm nay đã 84 tuổi mà vẫn còn sống. Cuốn sách khổ 11 x 18, dày 733 trang chữ nhỏ li ti, mang một tựa đề thật hấp dẫn “Người đàn ông làm các quý ông chồng lên cơn ghen” và đại khái câu truyện là một người đàn ông tự ban cho mình một sứ mạng là bảo vệ các bà vợ bị ruồng bỏ, và trừng phạt các quý ông chồng bạc tình của họ. Với một đề tài như vậy, mà nhà nữ văn sĩ già của chúng ta viết ra được 733 trang chữ nhỏ li ti, thì quý vị độc giả có thể có dư thừa các chi tiết, các tình huống cực kỳ hấp dẫn. Dịch giả Vũ Anh Tuấn sực nhớ hồi năm trước cuốn sách đã dành của ông một lúc 18 ngày liền trong số rất nhiều ngày còn lại của ông.

Dịch giả Vũ Anh Tuấn giới thiệu 2 cuốn quý thư xong, anh Phạm Vũ đăng đàn và có với các thành viên một cuộc trò chuyện khá sinh động về chuyện giãn cách trong mấy tháng trời liền. Anh Phạm Vũ nói xong, anh Tốt, một thành viên trước có tham dự CLB, nay trở lại sau 4 năm vắng mặt, đã lên ngâm tặng các thành viên vài bài thơ. Sau anh Tốt, Thùy Mai lên hát tặng các thành viên bài Đẹp giấc mơ hoa. Tiếp lời Thùy Mai, anh Kim Long lên đọc Bài Thơ CLB Sách Xưa và Nay và hát tặng các thành viên bài Em về chỗ ngồi.

Anh Kim Long hát xong Kim Mai lên hát tặng các thành viên ba bài Còn mãi tin yêu, Câu đợi câu chờ, và Gõ cửa. Sau Kim Mai, Lệ Ngọc lên hát tặng các thành viên bài Cay đắng tình người của Lam Phương. Lệ Ngọc hát xong, chị Hoàng Thị Vinh lên hát tặng các thành viên một bài hát và ngâm tặng các thành viên một bài thơ họa.

Sau chị Vinh, chị Vũ ngọc Liên lên hát tặng các thành viên bài Tình Chúa cao vời. Chi Liên hát xong, Kim Sơn lên kể chuyện về Am Ni Cô. Kim Sơn kể chuyện
Xong, Tuyết lên hát tặng các thành viên bài Giọt mưa trên lá. Tuyết hát xong, chị Anh Đào lên hát tặng các thành viên một bài thánh ca.

Sau chị Anh Đào, cháu Tuyết Mai lên hát tặng các thành viên bài “Con xin Chúa”. Cuối cùng, anh Hùng lên nói về Covid và chia sẻ một số thông tin, và buổi họp kết thúc vào lúc 11 giờ 15 cùng ngày, mọi người vui vẻ chia tay hẹn ngày tái ngộ.

Vũ Thư Hữu


VÀI DÒNG VỀ CUỐN

“HỒI KÝ 60 NĂM CHƠI SÁCH” CỦA TÔI

Tôi đã tính viết cuốn Hồi ký này từ trên 10 năm trước. Tôi đã cẩn thận viết một đề cương và có đăng trên một số Bản Tin nhiều năm trước. Một bà bạn của tôi trước dạy tại trường Marie Curie là người đầu tiên được đọc đề cương đó, và khoảng 10 năm trước sau khi đi định cư ở Pháp, bà đã viết thơ về xin tôi đặc cách giúp bà viết trước cài chương VI, chuyên giới thiệu những cuốn sách các tác giả Dông Dương nổi tiếng đã viết mà vào thời kỳ đó tôi có trong tay khá nhiều. khoảng 5, 6 chục cuốn. Để đáp ứng nhu cầu của bà, tôi đã giới thiệu được vài chục cuốn, và cho đăng nguyên cái chương VI trên bộ Bản Tin Câu Lạc Bộ sách Xưa và Nay của tôi tới nay đã tới số 178, mỗi tháng một số trong gần 15 năm liên tục. Về 5 chương trước và chương cuối, tôi dự trù nếu dành thì giờ làm thì tôi có thể làm được trong vòng 2 tháng, vì mỗi chương đều không dài hơn 50 trang, chỉ có chương VI là dài khoảng trên 300 trang rồi.

Cuốn Hồi Ký của tôi được vài nhà xuất bản và một vài nhân vật trong ngành xuất bản quan tâm. Họ bảo tôi hoàn tất nhanh và họ sẽ tính chuyện xuất bàn cho tôi. Tuy nhiên, khi nói tời chuyện hợp đồng in ấn thì vị nào cũng không tỏ ra mấy quan tâm, nên tôi cũng vì thế, cho dù có bàn đi tính lại, nhưng cũng chưa đạt được gì cụ thể, trong khi nhiều quý bà của tôi thì lại tỏ ra muốn tài trợ để tôi sớm in lấy là tốt nhất. Kể ra thì việc này cũng là một giải pháp tốt, tuy nhiên, sau 50 hoàn toàn tự do, chẳng làm cho ai, tôi bỗng trở nên “hơi bị lười” chỉ muốn chơi, ngủ, lên mạng, đọc sách, chứ chẳng muốn phải đặc biệt quan tâm tới việc gì cả.

Tuy nhiên, mới đây tôi đã có một lời hứa với một anh bạn trong ngành xuất bản ở nước ngoài là trong vòng 6 tháng nữa, nghĩa là cho tới tháng 6 năm 2022, tôi sẽ hoàn tất tập Hồi Ký, và khi hết Covid, anh ấy về được thì hai chúng tôi sẽ lo cho cuốn sách được ra đời một cách tốt đẹp.

Trên đây cũng là một đoạn viết ngắn liên quan tới cuộc đời chơi sách của tôi, và nhất là tới cuốn Hồi Ký 60 năm chơi sách của tôi, nên tôi quyết định cũng coi lời hứa này là một trích đoạn ngắn của cuốn Hồi Ký.

Hồi Ký 60 năm chơi sách
(Trích đoạn được viết ngày 3/1/2022 lúc 5 giờ chiều)
Vũ Anh Tuấn


LỊCH SỬ

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

(tiếp theo số 178)

BÀI 16:

TÒA ÁN TÔN GIÁO THỜI TRUNG CỔ

I. TÒA ÁN TÔN GIÁO LÀ GÌ ?

Tòa án Tôn Giáo là một tổ chức pháp lý nhằm điều tra, phát giác và trừng trị những người lạc giáo. Số người lạc giáo chủ yếu thuộc các nhóm Albi, nhóm Vanđô và một số người theo ma thuật. Các nhóm này không những đe dọa sự toàn vẹn của đức tin Công Gíao mà còn có nguy cơ phá hủy cả xã hội và nền văn minh Âu Châu thời bấy giờ.

Xin đan cử trường hợp nhóm lạc giáo Albi. Nhóm này còn được gọi là nhóm những người Manikê theo kiểu mới. Họ tin vào thuyết hai Thiên Chúa, vào thuyết Luân Hồi. Đối với họ, thế giới vật chất này là công việc của ma quỷ, mọi cố gắng để cải thiện đời sống vật chất đều được xem là tội lỗi. Ngoài ra họ còn chối bỏ một số quan niệm sống bình thường. Họ lên án mọi quan hệ vợ chồng và tất cả mọi thú vui xác thịt.

Nguy cơ do các bè rối này gây nên quan trọng đến độ một sử gia người Mỹ, ông H.C. Lea, mặc dầu không mấy thiện cảm với Kitô Giáo, đã phải nhận định là nếu như các bè rối tồn tại và thu hút được đông đảo các tín đồ, thì chắc chắn nền văn minh Âu Châu sẽ trở về cuộc sống man di lúc ban đầu.

Vì sức phá hoại của bè rối như thế nên không phải chỉ có các Đức Giáo Hoàng, mà đa số các vua chúa thời đó đều lo ngại. Chính các vua chúa đã gây sức ép buộc các Đức Giáo Hoàng phải có những biện pháp cụ thể đối với các bè rối.

Lúc ban đầu, Giáo Hội chủ trương dùng những biện pháp ôn hòa như buộc đọc một số kinh, làm một ít việc đền tội, đi hành hương đây đó hoặc công khai thú tội trước công đoàn. Mục đích chính yếu là giác ngộ các người theo lạc giáo hơn là trừng phạt họ. Thế nhưng bè rối ngày càng lan tràn nhanh chóng, bất chấp các biện pháp cảnh cáo của Giáo Hội. Thậm chí bè rối Albi còn giết cả vị đại diện của Đức Giáo Hoàng Pierre de Castelnau được gửi tới để dàn xếp nội vụ.

Trước một mối nguy to lớn như thế, năm 1184, Đức Giáo Hoàng Luciô 3 đã cùng các Đức Giám Mục và Hoàng Đế Frêđêric Râu Hung đã họp hội nghị tại Vêrôna, là một thị trấn thuộc miền Bắc nước Ý. Cuộc hội nghị này nhằm phân tích tỉ mỉ tất cả các vấn đề liên quan đến bè rối, đồng thời đề ra những biện pháp đối phó và những hình phạt rõ ràng áp dụng cho từng trường hợp một. Đến năm 1215, Công Đồng Latêranô thứ 4 đặt lại các vấn đề và giao cho các Đức Giám Mục địa phận, các tu sĩ Biển Đức và các vua chúa giải quyết vấn đề bè rối. Tình trạng này kéo dài cho tới năm 1231, tức là đúng 47 năm sau hội nghị Vêrôna, Đức Grêgôriô thứ 9, trước mối đe dọa ngày một gia tăng, đã bắt buộc phải thành lập một tổ chức, tương tự như một tòa án và trao cho các tu sĩ dòng Hành Khất là Đa-Minh và Phan Sinh đảm nhiệm.

II. HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN TÔN GIÁO

Nếu ta gọi tổ chức pháp lý này là một tòa án thì cũng không hoàn toàn đúng. Tên gọi chính thức của nó là “INQUISITIO” có nghĩa là điều tra và nặng hơn nữa là “truy nã”. Qủa vậy, khi biết tại một vùng nào đó có lạc giáo đang hoạt động mạnh, tức thì có ba hay bốn tu sĩ Đa Minh và Phan Sinh được cử tới đó. Các vị này bắt đầu tập họp giáo sĩ và giáo dân tại địa phương đó lại, trước mặt một vị đại diện Tòa Thánh, rồi thuyết giảng, và kêu gọi mọi người cùng tiếp tay đưa những người lạc giáo trở về với đức tin chân chính. Các nhà giảng thuyết dựa trên hai sắc dụ sau đây của Tòa Thánh về đức tin và sự khoan hồng.

Sắc dụ về đức tin buộc các người theo lạc giáo phải tự thú và buộc những người khác phải tố giác nếu không sẽ bị vạ tuyệt thông.

Sắc dụ về sự khoan hồng đề ra một thời hạn là ba hay bốn tuần lễ, để người theo lạc giáo kịp thời hối cải. Nếu họ ra tự thú, họ sẽ nhận một việc đền tội kín đáo và được tha thứ. Qúa thời hạn trên, các giáo dân phải tố giác. Lời tố giác sẽ được nghiên cứu kỹ càng và được xác minh tại chỗ, trước khi phạm nhân bị đem ra tòa xét xử. Việc xác minh này luôn luôn tiến hành bí mật và có tính cách “Vạch lá tìm sâu”(Inquisitio). Do đó đã gây ra một bầu khí kinh hoàng khắp Âu Châu.

Trước tòa án, phạm nhân có thể tự minh oan hay nhờ một luật sư được Giáo Hội chấp nhận biện hộ. Thường thì Giáo Hội chỉ ra những hình phạt như làm các việc đạo đức, đánh đòn, bỏ tù, còn việc tuyên án và thi hành án tử hình thì Giáo Hội giao cho tòa án của các vua chúa. Theo như luật Rôma ngày xưa thì xúc phạm đến nhà vua là tội đáng chết. Nay đối với một Châu Âu toàn tòng Công Giáo thì phạm đến Thiên Chúa còn nặng tội biết là chừng nào. Chính vì quan niệm này mà đã có biết bao người theo tà giáo bị tịch thu tài sản, tù đày và thiêu sống !

Nói chung, Tòa án Tôn giáo, lần đầu tiên được bàn tới tại hội nghị Vêrôna năm 1184, được chính thức phê chuẩn tại Công Đồng Latêranô thứ 4, năm 1215, hoạt động mạnh mẽ dưới thời Đức Inôxentê thứ 3 và Grêgôriô thứ 9 tại miền Nam nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý và Hòa Lan. Toà án này tiếp tục hoạt động mạnh mẽ dưới thời Cải Cách của ông Lutêrô.

Theo một tài liệu lịch sử của người Tin Lành thì từ năm 1540 đến năm 1570 đã có mấy trăm ngàn tín đồ Tin Lành bị tòa án tôn giáo xét xử và kết án tàn nhẫn.

Năm 1542, dưới thời Đức Giáo Hoàng Phaolô 3, Tòa án Tôn giáo được giao nhiệm vụ ngăn cản Giáo Hội Tin Lành phát triển và được xem như một Tòa án tối cao bảo vệ đức tin và nền luân lý của Giáo Hội.

III. TA NGHĨ GÌ ?

Nếu đặt Tòa án Tôn giáo vào bối cảnh chung của một Âu Châu toàn tòng Công Giáo và một Âu Châu lý tưởng với các Đạo Binh Thánh Gía và những ngôi thánh đường cao vút… thì Tòa án Tôn giáo cũng chỉ là một hiện tượng, diễn tả một đức tin tuyệt đối, không khoan nhượng. Chính cái đức tin này đã thúc đẩy con người Trung Cổ làm những điều mà con người của thế kỷ 20 lấy làm khó hiểu.

Qủa vậy, đối với đa số các tín hữu ngày nay, Tòa án Tôn giáo là một kỷ niệm đáng buồn. Thái độ cứng rắn của Đức Giáo Hoàng thời đó, việc điều tra bí mật với những phương tiện tra khảo khắc nghiệt và những bản án nặng nề, quả là đi ngược với bản chất bao dung của đạo giáo, thậm chí đi ngược với sự tự do lương tâm của con người.

Việc làm của tòa án tôn giáo thật khó mà bênh vực được, bởi lẽ người ta không thể dùng vũ lực để áp đặt Đức Tin hay nếp sống luân lý Kitô Giáo. Mọi thái độ cực đoan đều không tốt, nhất là trong lãnh vực tôn giáo.

Bài đọc thêm

1. Những biến cố cần ghi nhớ

· năm 1054 : Giáo Hội Chính Thống ly khai

· năm 1076 : Hồi Giáo chiếm Giêsusalem.

· năm 1095 : Đạo binh Thánh Gía lần I.

· năm 1120 : xây cất Đại Học Paris : SORBONNE.

· năm 1194-1260 : xây cất Vương Cung Thánh Đường CHARTRES

· năm 1215 : Công đồng Latêranô thứ IV

2. Giêrônimô Savonarôlê (1452-1498)

G.Savonarôlê là một tu sĩ Đaminh, đã từng làm bề trên tại Tu Viện San Marco ở Thành Phố Firenxê kể từ năm 1491.Ngài thu hút được nhiều người đến nghe thuyết giảng. Lúc giảng thuyết, Ngài khắt khe đả kích các thói hư tật xấu thời bấy giờ. Ngài mời gọi mọi người ăn năn hối cải và thực hành nếp sống khổ hạnh. Hồi đó, Carôlô 8, vua nước Pháp, xâm chiếm nước Ý (1494), và nhà Medicis bị trục xuất khỏi thành Firenxê, đúng như lời ngài tiên đoán, nên người ta lại càng tin tưởng vào Ngài. Ngài được giao trách nhiệm soạn thảo Hiến Chương cho thành Firenxê. Nhân dịp này Ngài đã tìm cách thiết lập tại Firenxê một chế độ vừa dân chủ vừa thần chủ, với kỷ cương và luật lệ nghiêm khắc như một Dòng Tu. G.Savonarôlê đã cực lực phản đối các tật xấu của Đức Giáo Hoàng Alexan Borgia, nên đã bị vị Giáo Hoàng này phạt vạ tuyệt thông.

Rồi Ngài bị bắt, bị tra tấn, bị kết án treo cổ và thiêu sống. Những tư tưởng phong phú của Ngài, cái nhìn sáng suốt của Ngài đối với những sai trái của Giáo Hoàng cùng tài hùng biện của Ngài có thể đã mang lại nhiều lợi ích cho cuộc cải cách của Giáo Hội, giá như Ngài đã không đi quá trớn…

Théo, tr. 387a

(còn tiếp)
Bosco Nguyễn Văn Đình, Ofm
Giuse Nguyễn Hữu Triết


VỀ KINH NGỤY TẠO

(APOCRYPHA)

Tình cờ được người bạn gởi cho một email ghi lại bài Pháp ĐẠO PHẬT PHÁP MÔN - ĐẠO PHẬT NGUYÊN CHẤT do T.T. THÍCH NHẬT TỪ giảng, và bài viết của Bà Giáo Sư KYOTO TOKUNO, Đại Học Washington nói về KINH NGỤY TẠO (APOCRYPHA), tức là Kinh ĐẠI THỪA. Bà Giáo Sư cho rằng đó là do các Tổ Trung Quốc sáng tác sau Phật nhập diệt hàng mấy trăm năm, không phải là lời của Phật thuyết.

Theo nhận định của T.T, Thích Nhật Từ thì “Ngụy Kinh đã được truyền bá gần 2.000 năm qua, đã đưa chúng ta lạc ra ngoài dòng pháp của Đức Phật, đưa người tin theo trở thành nô lệ tâm linh, sẽ bị ma tâm khiển sử để trở thành quyến thuộc của ma. Nếu tiếp tục xiển dương giáo thuyết không phải của Đức Phật Thích Ca thì vô hình chung đang đóng góp cho sự tàn phá Đạo Phật...T.T. Nhật Từ khuyên mọi người “Nên thức tỉnh, tìm cách vượt thoát cái thứ 2 giáo lý ma quái do họ sáng tạo, trở về với Chân Lý Giải Thoát của Đức Phật” (Lotus Productions).

Thiết nghĩ cả hai vị, một là chức sắc cao cấp có trách nhiệm hướng dẫn Đạo Phật, người kia là Giáo Sư Đại Học rất có uy tín. Cả hai vị đã trình bày một vấn đề rất quan trọng liên quan đến Đạo Phật, làm nhiều người Phật Tử không khỏi hoang mang - Đó là NGỤY KINH, tức Kinh ĐẠI THỪA - Đề tài này ắt cũng gây ra nhiều cuộc tranh cãi, bởi người theo Thừa nào cũng cho bên mình mới theo đúng Chánh Pháp của Phật. Hơn nữa, T.T. Nhật Từ khẳng định đó “không phải là giáo thuyết của Đức Thích Ca, đưa người tin theo trở thành nô lệ tâm linh, bị ma tâm khiển sử để trở thành quyến thuộc của ma”, và bài viết nói về Kinh Ngụy Tạo rất công phu, đưa ra nhiều tựa đề Kinh, có kèm thêm xuất xứ và thời
gian mà nó xuất hiện, rõ ràng là sau khi Phật nhập diệt, càng khẳng định đó đúng là Kinh Ngụy Tạo.

Có thực sự Kinh ĐẠI THỪA “đưa chúng ta lạc ra ngoài vòng pháp của Đức Phật , người tin theo vô hình chung đang đóng góp cho sự tàn phá Đạo Phật hay không” ? Có nên gọi tất cả những Kinh được viết sau thời Phật nhập diệt là Ngụy Tạo cả chăng ? Nếu không, thì lý do tại sao ? Thế nào
mới nên gọi là Kinh Ngụy Tạo?

Với tư cách là một Cư sĩ, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu khá nhiều Bộ Chính Kinh của Đại Thừa, xin mạn phép dựa theo sử liệu của Đạo Phật đưa ra nhận định về những vấn đề mà hai tác giả đã nêu, để người đọc có thêm thông tin, rộng đường dư luận. Những điểm chống đối ĐẠI THỪA và KINH ĐẠI THỪA của Thượng Tọa Thích Nhật Từ.

Theo bài thuyết trình của T.T. Thích Nhật Từ, thì “các Tổ Sư Trung Quốc đã ngụy tạo Kinh Phật. Do đó, Tịnh Độ Trung Quốc rất khác với Tịnh Độ trong Kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà thì ghi 5 tiêu chuẩn để được vãng sinh. Trong khi đó, Tổ Sư Trung quốc dạy rằng chỉ cần TÍN-NGUYỆN-HẠNH và nhất tâm bất loạn để được vãng sinh. TÍN là có niềm tin về Cõi Cực Lạc. Nguyện là có Nguyện được về nước đó.

HẠNH là Niệm Phật. Niệm ngày, niệm đêm, niệm
cho phát sanh công đức để được vãng sanh”.

- “Niệm Phật chẳng có công đức gì hết, niệm như phương tiện cột tâm, không khởi lên vọng niệm để thiện tâm phát sanh. Nếu chỉ ngồi niệm Phật mà không hành thiện thì chuyện vãng sanh là bất khả thi, là hoang tưởng”.

- “Gần 2.000 năm qua, từ khi phong trào ngụy Kinh bắt đầu, Tịnh Độ Trung Quốc đã đưa chúng ta lạc ra ngoài dòng pháp của Phật, họ nô lệ hóa đời sống tâm linh của chúng ta bằng vào “phép lạ” của việc niệm Phật”.

- “Nhiều Thầy cũng biết chuyện Ngụy Kinh là có thật, nhưng không dám lên tiếng vì sợ đụng chạm đến sinh hoạt của Chùa”.

- “Kinh Đại Thừa chỉ xuất hiện sau khi Phật nhập diệt 500 năm, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Không biết do ai kết tập, vào thời kỳ nào ? Thông thường, phải có ít nhất 1.000 Thánh Tăng trong mỗi kỳ kết tập. Các vị Thánh Tổ cũng không thấy được nêu tên trong việc đưa ra Tông Phái Đại Thừa. Việc tạo dựng Đại Thừa rất âm thầm, có lẽ bị nhiều vị
Cao Tăng chống đối vì có tính cách làm đảo lộn Giáo Lý Đạo Phật. Đại Thừa đưa ra hình tượng A Di Đà và Quán Thế Âm để thu hút những người mê tín, ham thích lối tu hành không cần gắng sức. Đây là việc làm bất chánh, rao bán hàng giả mà tuyên truyền rằng hàng có chất lượng cao”!

“Phật A Di Đà và Quán Thế Âm là do các Tổ Sư Trung Quốc dựng lên nhằm mê hoặc tín đồ để họ chỉ biết quỳ lạy, cầy xin. Ngay cả Đức Thích Ca khi sống cũng không có để lại hình ảnh, mà sau khi Ngài mất 400 năm, các nghệ nhân mới tưởng tượng và tạc ra. Rồi từ mê tín rơi vào cuồng tín. Đạo Phật đang bị hủy diệt bởi những “con trùng trong thân Sư Tử”.

Người Phật Tử trở thành nô lệ tâm linh, xiển dương
giáo thuyết không phải của Đức Thích Ca. Nếu không ý thức thì vô hình chung chúng ta đóng góp cho sự tàn phá Đạo Phật, bởi nhiều người đã cho rằng 45 năm thuyết pháp của Đức Phật là không cần thiết, chỉ cần Lục Tự niệm Phật là đã có thể giải quyết mọi chuyện, và cảnh báo về việc ngoại đạo đang có ý đồ cải đạo của chúng ta. Qua việc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, T.T. Thích Nhật Từ khuyên mọi người nên nhìn thấy dã tâm của người Trung Quốc, và cho rằng như vậy cũng không nguy hiểm bằng việc khiển sử, lèo lái tâm linh của chúng ta để chúng ta thức tỉnh mà vượt thoát cái thứ giáo lý ma quái do họ sáng tạo để trở về Chân Lý Giải Thoát của Đức Phật”.

Vì đây là một đề tài rất là quan trọng, người Phật Tử cần hiểu rõ để tránh bị dắt đi sai lạc mục tiêu. Bởi nếu tin theo bài phân tích của hai tác giả trên, bỏ hết Kinh Đại Thừa không đọc, là một bất lợi lớn, vì trong Kinh là những bài giảng, những lời giải thích về Giáo Pháp của Đạo Phật rất cẩn thận, từ cách HIỂU, đến cách HÀNH để đi đến kết quả cuối cùng như Đạo Phật muốn hướng đến, do các Tổ ĐẠI
THỪA, là những người chính thức được Đức Thích Ca TRUYỀN Y BÁT viết ra. Nhưng bài bác những ý kiến trên thì dựa trên cơ sở nào ? Theo tôi, muốn tin hay bài bác, thì trước hết phải hiểu rõ về nguồn gốc Đạo Phật. Vì thế, để trả lời cho những điều mà hai tác giả đã nêu, xin được đưa ra 3 vấn đề :

I/- VIỆC TẠO DỰNG ĐẠI THỪA.

II/- Việc TRUYỀN Y BÁT.

III/- ĐẠI THỪA có ngụy tạo Kinh Phật hay không?

(Cũng xin mở ngoặc nơi đây để nói rõ : Tất cả những gì tôi viết ra dưới đây là ý kiến của cá nhân tôi sau thời gian dài tu học và tham khảo rất nhiều Bộ Kinh ĐẠI THỪA. Không liên quan đến Đại Thừa của Chùa chiền hay của Sư Tăng nào, vì tôi là Cư Sĩ, được Thầy của tôi cũng là một Cư Sĩ đào tạo cho).

Trước hết chúng ta bàn về việc tạo dựng ĐẠI THỪA. Việc tạo dựng Đại Thừa không phải“rất âm thầm có lẽ do nhiều Cao tăng chống đối, một việc làm có tính cách đảo lộn Giáo Lý Phật”.

- Theo sử liệu, thì ĐẠI THỪA và TIỂU THỪA xuất hiện cùng lúc, do sự chia rẻ trong nội bộ Tăng Đoàn, bắt đầu từ kỳ Kết Tập lần thứ 2, sau Phật nhập diệt khoảng 100 năm. Từ một khối, Tăng Đoàn chia ra làm 2 nhóm. Một Nhóm là các vị Trưởng Lão, gọi là TRƯỞNG LÃO BỘ hay THƯỢNG TỌA BỘ, cũng gọi là TIỂU THỪA, về sau đổi thành PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY. Nhóm còn lại vẫn tiếp tục theo sự lãnh đạo của Tổ đương nhiệm thì gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ hay ĐẠI THỪA.

- Ngược dòng Lịch sử thì chúng ta thấy : ĐẠI THỪA vẫn giữ nguyên thứ tự từ Tổ Thứ Nhất là Ca Diếp, Thứ Hai là TỐ A NAN, Tổ Thứ Ba là THƯƠNG NA HÒA TU, Thứ Tư là ƯU BA CÚC ĐA...sau đó cứ thế truyền lần xuống cho đến Tổ 33 là Lục Tổ Huệ Năng là Tổ cuối cùng. Chính các TRƯỞNG LÃO mới là nhóm tự tách ra để lập thành nhóm tu mới, gọi là TRƯỞNG LÃO BỘ hay TIỂU THỪA. Bên TIỂU THỪA cũng nhìn nhận Tổ Ca Diếp và Tổ A Nan, chứng tỏ TIỂU THỪA xuất hiện sau đời của hai Tổ này. Như vậy không thể nói là Đại Thừa xuất hiện âm thầm và không nêu lên được người có công tạo dựng. Trái lại, ĐẠI THỪA
vẫn giữ nguyên tổ chức cũ từ lúc Đức Thích Ca tại thế, không cần tạo dựng cái gì mới. Cũng vì các TRƯỞNG LÃO tách ra thành lập nhóm tu riêng, lấy tên là THƯỢNG TỌA BỘ, hay TIỂU THỪA, do đó nhóm còn lại bắt buộc cũng phải có tên gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ hay ĐẠI THỪA để phân biệt mà thôi.

- Sở dĩ có tên gọi ĐẠI THỪA và TIỂU THỪA là vì TIỂU THỪA có nghĩa là “Cổ xe nhỏ” vì chỉ “Độ” được bản thân, không độ được người khác. ĐẠI THỪA thì có thể “TỰ ĐỘ ĐỒNG ĐỘ THA”, nên gọi là “Cổ Xe Lớn”.

- Thượng Tọa Thích Nhật Từ cho rằng “Nhiều Cao Tăng chống đối” việc thành lập ĐẠI THỪA. Vì có tính cách làm đảo lộn Giáo Lý Đạo Phật.

- Theo nghiên cứu của tôi khi đọc Lịch Sử 33 Vị Tổ cho thấy : Thời điểm các TRƯỞNG LÃO (được T.T. Nhật Từ gọi là Cao Tăng), chống đối Tổ ĐẠI THỪA, không phải là vì có tính cách làm đảo lộn Giáo Lý Đạo Phật, như lịch sử của bên TIỂU THỪA gán cho ĐẠI THỪA, mà là rơi vào thời điểm Tổ Thứ 3 TRUYỀN Y BÁT cho Tổ Thứ Tư là Ưu Ba Cúc Đa - Một thanh niên trẻ 20 tuổi, mới Xuất Gia có 3 năm, đang là Thị Giả của Tổ thứ Ba - Theo suy đoán của tôi, hẳn các TRƯỞNG LÃO đnh ninh rằng mình tu đã nhiều năm, đã lên đến hàng Trưởng Lão, lẽ ra mình phải được TRUYỀN Y BÁT. Vì thế, khi thấy Tổ truyền cho người trẻ tuổi, mới vô tu, nên cho rằng Tổ thiên vị. Từ đó, các Ngài bất mãn, chống lệnh Tổ, tách ra, không chấp nhận dưới quyền điều hành của Tổ mới. Bằng chứng cho sự bất mãn đó là bên TIỂU THỪA không nhìn nhận từ TỔ THỨ BA trở về sau. Chỉ nhìn nhận hai Tổ CA DIẾP và A Nan mà thôi.

- Tổ Thứ Ba là người được Tổ A Nan Truyền Y Bát, đang lãnh trách nhiệm thống lãnh Tăng Đoàn. Theo quan điểm của người đời, thì việc tự ý tách ra của các Trưởng lão đó là “bất tuân thượng lệnh”.

Theo quan điểm tu hành thì các TRƯỞNG LÃO đã không hiểu về quyền năng và sứ mệnh của người được TRUYỀN Y BÁT. Dựa theo Phó Chúc của Đức Thích Ca khi TRUYỀN Y BÁT, thì vị TỔ Thứ Ba là người đại diện chính thức của Phật, có toàn quyền thay Phật để quyết định mọi vần đề về Tăng Đoàn cũng như phổ biến Giáo Pháp. Như vậy người chống đối việc Tổ TRUYỀN Y BÁT cho người kế tiếp chính là chống đối Phật. Với người tu hành thì việc làm đó là Phạm Giới.

Sở dĩ các Trưởng Lão chống đối việc Truyền Y Bát, theo tôi, có 2 lý do. Thứ Nhất là vì Chấp Ngã. Thứ hai, là vì không biết rằng phải là người CHỨNG ĐẮC mới được giao cho trọng trách này.

Thật vậy. Việc CHỨNG ĐẮC không đòi hỏi phải tu nhiều năm, vì “Mê nhất kiếp, ngộ nhất thời”. Đọc Sử 33 Vị Tổ, ta thấy đa phần các Vị Tổ đều là người “Trở lại” để hộ trì Phật Pháp. Vì thế mà chỉ cần có người nhắc, là các Ngài nhớ lại tiền kiếp ngay. Một trường hợp cụ thể được ghi lại trong
PHÁP BẢO ĐÀN KINH là Lục Tổ Huệ Năng, lúc đó đang là một chàng thanh niên quê nghèo dốt nát đi giao củi kiếm tiền nuôi mẹ già. Vậy mà chỉ cần nghe câu Kinh KIM CANG : “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là Ngài nhớ lại tiền kiếp nên thu xếp việc gia đình, gởi mẹ già nhờ người trông coi rồi đi tìm Chùa của Ngũ Tổ để xin tu học. (Những người có học Phật đều biết rằng trong Đạo Phật có dạy Thuyết Luân Hồi, nên đối với Đạo Phật, việc Tái sinh không có gì
lạ). Trường hợp của Tổ Thứ Tư là Ưu Ba Cúc Đa cũng thế. Nếu có đọc Sử 33 Vị Tổ ta sẽ thấy: Tổ Thứ 3 đã biết trước khi Ngài đầu thai sinh vào làm con của vợ chồng Trưởng Giả hiếm muộn. Tới năm đứa bé được 12 tuổi thì đích thân Tổ lui tới gia đình Trưởng Giả để kềm cặp, cho tới năm 17 tuổi thì mới cho Xuất Gia vô Chùa. Năm 20 Tuổi thì ngài đã Đắc
Pháp nên mới được Truyền Y Bát. Vì vậy không hề có việc thiên vị.

- Người tu Phật mà giữ đầy đủ Giới, Hạnh, tu hành chân chính thì không bao giờ có tham vọng địa vị hay tiền bạc. Sự chống đối của các Trưởng Lão cho thấy các Ngài vẫn còn ham địa vị, thích cầm đầu Tăng Chúng, chứng tỏ lòng Phàm chưa dứt, nên Tổ không TRUYỀN Y BÁT cho các Vị là đúng. Thái độ tách ra, không chấp hành quyết định của Tổ đương thời, lôi kéo những Trưởng Lão khác làm thành một
nhóm để tu riêng, chứng tỏ cái Ngã của các vị chưa điều phục xong. Rõ ràng người được Phật giao quyền cầm nắm Chánh Pháp bao giờ cũng sáng suốt. Nếu giao cho người lòng phàm chưa dứt mà cầm đầu Tăng Chúng và rao giảng Giáo Pháp của Phật, thì tương lai Đạo Phật sẽ về đâu? Thời xưa cũng như thời nay, không phải ai khoác áo Cà Sa nào cũng tu hành chân chính. Không phải tu nhiều năm đã là cao đạo ! Đọc PHÁP BẢO ĐÀN KINH, ta thấy nhiều người cũng mang danh tu hành mà nhiều thời vẫn tranh chấp Y, Bát một cách quyết liệt. Thậm chí năm lần bảy lượt họ còn theo
truy sát Lục Tổ Huệ Năng, chứng tỏ lòng họ còn đầy tham vọng Danh, Uy, thì làm sao có tư cách để phổ biến Đạo Phật là một Con Đường đòi hỏi người tu phải thanh lọc cái Tâm của mình, diệt hết Tham, Sân, Si, Thương, Ghét.. để đưa đến cứu cánh Giải Thoát?

II/- VIỆC TRUYỀN Y BÁT.

Dù lịch sử Đạo Phật có ghi lại rõ ràng, nhưng rất hiều Phật Tử không biết gì về việc TRUYỀN Y BÁT, nhất là những người bên PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY. Họ hoàn toàn không nghe nói đến, thậm chí có người còn viết cả sách để chế nhạo!

Không biết rằng việc TRUYỀN Y BÁT rất quan trọng trong Đạo Phật, do chính Đức Thích Ca, truyền lại cho Ngài Ca Diếp, sau đó truyền lần xuống. Người được TRUYỀN Y BÁT là người thay Phật để cầm nắm vận mệnh của Đạo, hướng dẫn con đường Tu Phật đúng theo Chánh Pháp của Đức Thích Ca, mà người tu nào muốn đạt đến thành công đều phải học hỏi theo. Trong quá trình nhiều đời Tổ tiếp nối nhau, những Tổ Đại Thừa có để lại Mười Hai Bộ Kinh được gọi là Chính Kinh. Những Bộ Kinh này rất quan trọng, thời nào, người muốn tu học cũng cần nương theo để mà Hiểu mà Hảnh theo, không được rời Kinh dù một chữ, vì : “Ly Kinh nhất tự đồng ma thuyết”!

Người muốn tu tập hay muốn tìm hiểu ĐẠO PHẬT không thể quên chi tiết rất quan trọng này để không bị dắt đi ra ngoài vòng Chánh Pháp. Mọi người cần hiểu rõ vì sao có việc TRUYỀN Y BÁT và mục đích của việc này, bởi vì thật sự việc này đã diễn ra, do chính Đức Thích Ca đã thực hiện và Phó Chúc các Đệ Tử “nên tiếp tục để Giáo Pháp Phật được trường tồn”. Sử liệu Đạo Phật có ghi rõ. Dù có nhiều người không biết, nhưng không thể chối bỏ.

Bằng chứng là ai cũng biết Đức Ca Diếp là người đầu tiên được Truyền Y bát.

a)- Diễn tiến của việc Truyền Y Bát.

Sử chép lại, khi Đức Thích Ca thấy mình đã già yếu, muốn tìm người để thay mình thống lãnh Tăng Chúng và giữ gìn, phổ biến Đạo Pháp. Trong một lần giữa Đại chúng, Ngài đưa Cành Sen lên.

Trong khi mọi người ngơ ngác thì Ngài Ca Diếp Mỉm Cười. Qua Nụ Cười đó, Đức Thích Ca biết rằng Ngài Ca Diếp đã thông hiểu Giáo Pháp của mình, nên đã trao Y Bát cho Ngài CA DIẾP. Khi trao truyền, Ngài nói : “Ta có Chánh Pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, pháp môn ấy mầu nhiệm vô cùng, chằng lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Vậy ngươi khá giữ gìn rồi sau sẽ truyền cho A Nan kế hậu”.

b)/- Tại sao phải TRUYỀN Y BÁT?

Như chúng ta đều biết : Không phải ai đi học cũng tốt nghiệp. Không phải ai đi tu cũng Đắc Đạo. Thân người thì hữu hạn. Đức Phật đã dạy : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, tức là cái Thân phàm sẽ có ngày phải chết, phải hoại diệt. Vì thế, trước khi nhập diệt, Đức Thích Ca chọn một trong những Đệ Tử đã nắm vững đường lối của Pháp Môn để kế nghiệp mình. Để làm tin, Đức Thích Ca đã trao Y Bát là hai vật bất ly thân mà Ngài đã dùng thường ngày. Thấy hai món đó là Thấy Phật. Nó có giá trị như Ấn, Tín của Vua truyền lại cho người nối ngôi.

Ngoài việc thống lãnh Tăng Chúng và phát huy Đạo Pháp. Người được Truyền Y Bát (cũng được gọi là TỔ), có toàn quyền thay Phật quyết định mọi việc liên quan đến Đạo Pháp. Vì thế, tất cả Tăng Đoàn phải tuân theo mọi quyết định của Tổ. Lời nói của Tổ phải xem như lời của Phật, vì đó là đại diện chính thức của Phật.

Lý do phải TRUYỀN Y BÁT cũng tương tự như một vị Quốc Vương sắp băng hà, không thể để ngai vàng, sự nghiệp, thần dân của mình cho kẻ không đủ đức, đủ tài nối ngôi, mà phải trao cho một người xứng đáng. Đôi khi không phải là một trong các Thái Tử, mà có thể là một vị quan, hay bất cứ người nào đó mà Vua hoàn toàn tin tưởng có thể tiếp tục giữ gìn ngai vàng, sự nghiệp, lo cho dân, cho nước của mình một cách tốt đẹp nhất. Để mọi người dễ nhận ra, Vua đã trao ẤN, TÍN cho người đó, để người dân cả nước biết người giữ Ấn, Tín là người chính thức được Vua chọn để nối ngôi sau khi băng hà. Mọi người không được tranh dành.
Việc giao cho người nối truyền Đạo Phật lại càng quan trọng hơn, vì Đạo Phật thời đó được xem như là một Tôn Giáo mới, có cách Hiểu, Cách Hành, kết quả hoàn toàn khác lạ đối với những tôn giáo đương thời, vì mở ra một huớng đi mới, không còn lệ thuộc vào Thượng Đế, Thần Linh, mà cho rằng mỗi người có thế tự quyền quyết định vận mạng cũng như
mọi sự sang, hèn, sướng khổ cho bản thân, kể cả những kiếp về sau, bằng cách Tu Sửa Thân, Tâm và gây tạo Nhân Quả. Muốn được như vậy, người theo Đạo Phật bắt buộc phải thực hành từng bước theo một trình tự nhất định gồm VĂN-TƯ-TU, GIỚI- ĐINH-HUỆ. Cuộc sống thì không được ra ngoài
BÁT CHÁNH ĐẠO.Thiếu một trong những điều kiện này thì việc tu hành khó mà đạt kết quả.

Về Y, BÁT. Đây không phải là những vật có giá trị vật chất, nhưng đó là hai món mà Đức Thích Ca luôn gắn bó với Ngài lúc sinh thời. Thấy Y, Bát là thấy Phật. Đức Thích Ca đã dùng hai món đó như Ấn, Tín để người nhìn thấy biết rằng người đang giữ hai món đó được Phật trao quyền thay Ngài để điều khiển Tăng Chúng và Giáo Pháp của Đạo Phật.

c)- Điều kiện để được TRUYỀN Y BÁT.

Dù lịch sử lúc đầu không có nói rõ điều kiện để được TRUYỀN Y BÁT. Nhưng lần lượt tiếp nối nhau đến 33 vị Tổ, mỗi vị đều có KỆ nói lên sự CHỨNG ĐẮC của mình. Qua đó, chúng ta có thể kết luận : Người được TRUYỀN Y BÁT phải là người đã CHỨNG ĐẮC, vì chỉ có người đã Chứng Đắc mới có thể nắm vững đường lối, cách Hiểu cũng
như Hành để đạt kết quả của Đạo, và truyền lại để người khác cũng có thể đạt kết quả như mình.

Việc Chứng Đắc hay còn gọi là THẤY TÁNH hay THẤY BẢN THỂ TÂM. Đạo Phật không đòi hỏi tu lâu hay mau, già hay trẻ, giới tính, tuổi tác, địa vị, giai cấp, học nhiều hay ít học. Trong Sử 33 Vị Tổ, chúng ta có một trường hợp điển hình là Lục Tổ HUỆ NĂNG, một thanh niên quê, nghèo, dốt nát, mới vô Chùa có 8 tháng, chưa kịp Thế Phát, Quy Y
cũng đã Thấy Tánh. Chỉ cần sửa vài chữ trong bài Kệ của Sư Thần Tú đã nói lên được cái THẤY CHÂN TÁNH của Ngài. Vì thế mà Ngũ Tổ đã Truyền Y Bát cho Ngài. (PHÁP BẢO ĐÀN KINH).

d/- Chúng ta hiểu gì về CHỨNG ĐẮC của Đạo Phật?

Đạo Phật không phải là một hành trình đi không bao giờ đến, không thể kiểm chứng. Không phải cứ vô Chùa, cạo tóc, đắp y, học vài bài Pháp rồi sống lâu lên lão làng, mở lớp dạy để đào tạo lớp kế thừa, mà có CHỨNG ĐẮC, có những Quả Vị là từng giai đoạn mà người Thầy có thể qua đó để biết Đệ Tử đã tiến bộ tới đâu. Trên hành trình đi đến kết quả Giải Thoát, người tu phải làm đầy đủ hai phần :

Hiểu rõ phần Lý thuyết, và đưa Lý vào thực hành gọi
là SỰ. Người tu hành muốn đạt kết quả thì phải LÝ SỰ VIÊN DUNG. Để Chứng Đắc, người tu phải qua Bốn giai
đoạn là KHAI, THỊ, NGỘ và NHẬP. Đầu tiên, người đệ tử được được người Thầy Khai mở cho Cái Biết về các Pháp của Đạo như Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã, Có, Không, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị nhân Duyên, Lục Độ, Lục Đạo v.v.. là những điều mà trước khi tu hành mọi người chưa hề nghe nói đến.

Họ sẽ được hướng dẫn cho quy trình tu hành gồm GIỚI-ĐỊNH-HUỆ, VĂN-TƯ-TU. Người mới nhập môn trước tiên phải có GIỚI, tức là phải không được làm một số việc có thiệt hại đến người khác hay với chính bản thân, để chuẩn bị cho một hành trỉnh mới. Họ sẽ được dạy cho NGỒI THIỀN hay còn gọi là THIỀN ĐỊNH. Tức là Ngồi Thiền để có sức ĐỊNH mà Tư Duy. Kinh gọi là VIPASSANA, tức là
THIỀN QUÁN. Tức là dùng thời gian Thiền, dừng lắng tư tưởng, không còn chạy theo ngoại pháp, để có sức Định, rồi dùng sức Định để Soi, Quán các Pháp. Khi nghe thuyết Pháp hay đọc Kinh, mọi người không nên vội Tin, mà phải Tư duy để tìm rõ ý nghĩa rồi mới áp dụng. Khi có sự hiểu biết về Các Pháp thì gọi là có Trí Huệ. Trí Huệ như ngọn đèn mà người tu sẽ dùng đó để soi rọi những gì họ chưa hiểu, để tìm những thứ mà họ cần tìm, Đặc biệt, là đi tìm CÁI TÂM. Học cách phân biệt VỌNG TÂM, CHÂN TÂM để chuyển Vọng thành CHÂN hay là “phản vọng, quy Chân”. Phải Tìm Cái Tâm, Thấy Cái Tâm để tu sửa ở đó, vì “Tu Phật là Tu Tâm”. Ngũ Tổ cũng dạy : “Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích”.

Còn tiếp

Tâm Nguyện


MỪNG XUÂN MỚI :

TẾT DƯƠNG LỊCH

& TẾT NGUYÊN ĐÁN - 2022

TẾT DƯƠNG LỊCH - 2022

Những lời chúc năm mới dí dỏm, vui vẻ nhất

- Chúc mọi người năm mới, tiền vào bạc tỉ, tiền ra rỉ rỉ, miệng cười hi hi, vạn sự như ý, cung hỉ, cung hỉ!

- Chúc mọi người hay ăn ít béo, tiền nhiều như kẹo, tình chặt như keo, dẻo dai như mèo, mịn màng trắng trẻo, sức khỏe như voi.

- Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc!- Năm mới chúc anh em “sức khỏe vô biên, kiếm được nhiều tiền, đời sướng như tiên, chẳng ai làm phiền!”.

- Tết Dương Lịch vừa tới - Ra ngõ đón xuân - Chúc bạn xa gần - Một năm mạnh khỏe - Chúc cho con trẻ - Học hành chăm ngoan - Tài lẻ tuôn tràn - Phúc, tài dư dả.

- Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều, công việc hanh thông, tiền bạc rủng rỉnh. Happy New Year 2022!

No more champagne and the fireworks are through here we are, me and you feeling lost and feeling blue it’s the end of the party and the morning seems so grey so unlike yesterday now’s the time for us to say Happy new year happy new year may we all have a vision now and then of a world where every neighbour is a friend happy new year happy new year may we all have our hopes our will to try if we don’t we might as well lay down and die you and I.

Lời Việt của bài hát Happy New Year

Không còn rượu sâm panh nữa, Và pháo hoa cũng đã tắt rồi
Chúng ta đây, em và anh, Cảm thấy lạc lõng và buồn bã
Đã tàn tiệc rồi, Và bình minh vẫn ảm đạm
Thật chẳng giống ngày hôm qua, Giờ đã đến lúc chúng ta nói.
Chúc mừng năm mới, Chúc mừng năm mới
Chúc cho chúng ta có một giấc mơ
Về một thế giới mà hàng xóm là thân hữu
Chúc mừng năm mới, Chúc mừng năm mới
Chúc cho chúng ta có nhiều hi vọng, sẵn lòng cố gắng
Nếu chúng ta không thế thì sẽ gục ngã và diệt vong, Anh và em.

TẾT NGUYÊN ĐÁN - 2022

Hoa mai & Hoa đào tượng trưng cho mùa xuân.

Tết Nguyên Đán :
Thứ Ba, 0 1 /0 2 / 2022 (Mùng 1 tháng giêng năm Nhâm Dần )

Tết Nguyên Đán là dịp lễ đầu năm mới theo âm lịch của các dân tộc thuộc Vùng văn hóa Đông Á, gồm có Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Theo biến động lịch sử, người Nhật Bản bỏ Tết Nguyên Đán, còn người Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam vẫn giữ truyền thống đón Tết này cho dù định cư tại nước khác.

Ý nghĩa : Đánh dấu ngày đầu tiên của năm mới theo âm lịch

Hoạt động : Thăm hỏi bạn bè người thân vào ngày đầu tiên của năm mới ; Thờ cúng tổ tiên; Mừng tuổi; Mở hàng đầu năm.

Giá trị ý nghĩa của ngày Tết cổ truyền dân tộc

Hàng năm, Tết cổ truyền có lẽ là ngày lễ lớn nhất từ lâu đời trong phong tục tập quán của người Việt Nam. Tết cổ truyền thực sự có ý nghĩa quan trọng trong tiềm thực của người Việt. Thứ nhất, ngày tết cổ truyền chính là đánh dấu kết thúc một năm cũ và đón chào một năm mới, một khởi đầu mới. Vào lúc này, mọi sự cũ, buồn phiền trong cuộc sống sẽ bị gạt qua một bên và mọi người cùng nhau đón năm mới sang, một sự khởi đầu mới cho vạn vật, vạn việc được tốt đẹp và thuận lợi. Thứ hai, ngày tết cổ truyền chính là ngày tết đoàn viên. Vào ngày này, anh em con cháu tụ họp về 1 nhà sau bao tháng ngày để cùng nhau sum họp, ăn những mâm cơm tình thân. Thứ ba, tết cổ truyền mang ý nghĩa của sự hiếu thảo. Khi tết sang, bàn thờ phải là nơi được dọn dẹp sạch sẽ nhất, khang trang nhất để thể hiện được sự tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên của mình. Tóm lại, ngày tết cổ truyền của Việt Nam mang ý nghĩa của một sự khởi đầu mới cũng như những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp khác của thế hệ trước.

Văn Cao tên đầy đủ là Nguyễn Văn Cao

Sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại phường Lạch Tray , Hải Phòng , nhưng quê gốc ở thôn An Lễ, Vụ Bản , Nam Định

Cuối những năm 1930, tân nhạc Việt Nam ra đời. Ở Hải Phòng khi đó tập trung nhiều nhạc sĩ tiên phong như Đinh Nhu , Lê Thương , Hoàng Quý ... Văn Cao tham gia vào nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quý cùng Tô Vũ , Canh Thân , Đỗ Nhuận ... và bắt đầu sáng tác ca khúc đầu tay là " Buồn tàn thu " vào năm 16 tuổi. Cùng nhóm Đồng Vọng, Văn Cao còn sáng tác một số ca khúc hướng đạo vui tươi khác như "Gió núi", "Gò Đống Đa", "Anh em khá cầm tay". Cũng trong thời gian ở Hải Phòng, Văn Cao làm quen với Phạm Duy , khi đó là ca sĩ trong gánh hát Đức Huy . Phạm Duy chính là người đã hát "Buồn tàn thu", giúp ca khúc trở nên phổ biến. Năm 1940, Văn Cao có một chuyến đi vào miền Nam. Ở Huế , Văn Cao đã viết " Một đêm đàn lạnh trên sông Huế ", được coi là bài thơ đầu tay.

Năm 1942, nghe theo lời khuyên của Phạm Duy , Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội .. Văn Cao còn làm thơ, viết truyện đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy . Năm 1943 và 1944, Văn Cao hai lần xuất hiện trong triển lãm Salon Unique tổ chức tại nhà Khai trí Tiến Đức, Hà Nội.

Sự kiện Nhân Văn - Giai Phẩm

Năm 1955, ông cầm bút trở lại, viết bài cho đặc san Giai Phẩm. Tháng 2 / 1956 , bài thơ Anh có nghe không được đăng trên Giai phẩm mùa Xuân. Bài thơ này bị Xuân Diệu đánh giá là "lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì". Văn Cao cùng các nghệ sĩ của hai tờ báo Nhân Văn và Giai Phẩm khi đó chủ trương đòi hỏi tự do văn nghệ, sáng tác. Đến tháng 12 / 1956 thì cả hai tờ báo đều bị đình bản.

Như những nghệ sĩ khác của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm , tuy có muộn hơn, đến tháng 7 /1958, Văn Cao phải đi học tập chính trị. Tên tuổi của Văn Cao hầu như không còn xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ ở Hà Nội. Những năm sau đó, Văn Cao tiếp tục bằng nhiều công việc, như viết nhạc không lời cho các truyện phim và truyện kịch, trang trí sân khấu cho các đoàn kịch, vẽ quảng cáo các báo, vẽ nhãn diêm... Các tác phẩm của ông, cũng như các ca khúc lãng mạn tiền chiến khác (trừ bài Tiến quân ca ) không được trình diễn ở miền Bắc. Giai đoạn này, Văn Cao hầu như không còn sáng tác.

Đến cuối năm 1975, Văn Cao viết Mùa xuân đầu tiên . Theo VnExpress "ca khúc được đăng ngay lần đầu tiên trên báo Sài Gòn Giải Phóng số mừng xuân Bính Thìn, đồng thời lập tức được dịch lời và in ở Nga". Nhưng các chương trình Việt Ngữ tại Moskva vẫn cho trình bày bài hát, và nhờ vậy Mùa xuân đầu tiên đã không bị lãng quên. Văn Thao, con trai trưởng của Văn Cao, tiết lộ tiếp rằng: "Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy Mùa xuân đầu tiên được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: "Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu. "

Năm 1981, Việt Nam phát động phong trào cả nước thi sáng tác quốc ca nhưng sau đó không công bố kết quả, cuộc thi cũng không được nhắc lại. Bài Tiến quân ca vẫn là quốc ca của Việt Nam. Cho đến cuối thập niên 1980, nhờ chính sách Đổi Mới của TBT Nguyễn Văn Linh , các tác phẩm của Văn Cao cùng những nhạc sĩ tiền chiến khác được biểu diễn trở lại.

Gia đình nhạc sĩ Văn Cao hiến tặng ca khúc Tiến quân ca

Sáng ngày 7-7-2016, trao đổi với Tuổi Trẻ, nhạc sĩ Nguyễn Nghiêm Bằng - con trai nhạc sĩ Văn Cao xác nhận các thành viên trong gia đình ông đã thống nhất sẽ hiến tặng ca khúc Tiến quân ca cho Quốc hội VN.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh & nhạc sĩ Văn Cao

Mùa xuân đầu tiên của Tuấn Khanh (sinh 1933)

Tuấn Khanh (sinh năm 1933 ) tên thật Trần Trọng Ngọc, sinh tại Nam Định là một nhạc sĩ có nhiều ca khúc nổi tiếng. Ngoài nghệ danh Tuấn Khanh... Ông còn là một ca sĩ với nghệ danh Trần Ngọc. Năm 2008, ông về thăm Việt Nam và cho ra mắt đĩa nhạc Hoa soan bên thềm cũ,

(Trong nước còn có NS Tuấn Khanh, sinh 1968 , tên thật Nguyễn Tuấn Khanh), l àm việc về báo chí , âm nhạc .,).

Mùa Xuân Đầu Tiên (1) - Tuấn Khanh

Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy, anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm, nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường, trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ đến em luôn, khi chiều tàn chim gọi đàn
Em ơi đôi lúc nghe lòng buồn, trên sườn đồi thông xanh
Sương phủ đầy vai anh, canh tàn trăng mờ ánh
Long lanh sao rớt phương đầy trời, dòng cát trắng bao la
Chờ sáng đến chim ca, cho đường dài cũng không xa
Người yêu ơi! biết chăng anh về. Người yêu ơi! nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè, Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơ
Mùa Xuân ơi! biết tôi yêu đời, Mùa Xuân ơi! nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy, Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Em đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây

Em ơi Xuân đến bên thềm rồi, nhắp rượu hồng vơi đi
Hết rồi mùa chia ly, cho tình Xuân vừa ý
Xin yêu thương đến đôi bạn hiền, để xóa hết cô đơn
Rồi quyến luyến nhau hơn, cho người em thôi giận hờn
Xuân nay ta chúc cho mẹ già, vui vườn cà thêm hoa
Vui ruộng đồng bao la, tóc bạc phơ đẹp quá
Xin yêu thương đến vơi hận thù, để tiếng hát hôm nay
Người chiến sĩ mê say, bên đàn trẻ bé thơ ngây.

Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao

Bài hát đã được nhạc sĩ Văn Cao lên ý tưởng từ sau khi hiệp định Paris được ký kết, nhưng phải đến mùa xuân đầu tiên sau khi đất nước thống nhất năm 1976 ông mới viết và hoàn thành.

‘Mùa xuân đầu tiên’ và người tiên tri của thời đại

Bài hát được viết mừng mùa xuân độc lập đầu tiên của dân tộc cũng chính tác phẩm gần cuối trong sự nghiệp sáng tác của cố nhạc sĩ tài hoa Văn Cao.

Vào một ngày giáp Tết Bính Thìn (1976), họa sĩ Văn Thao (con trưởng nhạc sĩ Văn Cao) trở về nhà, sững sờ với tiếng đàn dương cầm vọng ra từ căn gác nhỏ số 108 Yết Kiêu. Đó là một điệu valse mượt mà, dìu dặt theo như ông kể lại. Cùng với đó là cảnh tượng mà lâu lắm rồi ông không được chứng kiến: “Cha ngồi bên đàn. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím đàn ố vàng, loang lổ. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào âm vang đầy ắp căn phòng”.

Sau 20 năm kể từ lần cuối cùng Văn Cao tuyên bố gác bút, từ bỏ sự nghiệp sáng tác, ông mới say sưa như vậy bên phím đàn. “Cha sáng tác bài hát này mừng xuân đầu tiên đất nước mình thống nhất” - Văn Cao đáp lại con trai ông bằng đôi mắt sáng lấp lánh. Và Mùa xuân đầu tiên - mùa xuân hòa bình độc lập đã ra đời.

Khác với những ca khúc có cấu trúc phức tạp, ca từ hào sảng như Trường ca sông Lô, Tình ca trung du, Mùa xuân đầu tiên dẫn dắt người nghe vào một không gian âm nhạc giản dị, trong lành bằng một điệu valse khoan thai, dìu dặt mở đầu:

“… Rồi dặt dìu, mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về…”

Nhịp 3/4 đưa đẩy, chậm rãi, nhịp nhàng đón bước người trở về trong niềm hân hoan ngày hội ngộ. Mùa xuân - mùa vui đã về trọn vẹn khi đất nước lần đầu tiên được đón Tết cổ truyền trong hòa bình độc lập. Niềm xúc động ấy trào dâng trong tất thảy mọi người khi nghe đến hai chữ “đầu tiên” thiêng liêng đầy xót xa, thấm thía.

Tuy nhiên, so với các bài hát khác cũng ra đời ở cùng thời điểm này, Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao từng bị coi là “lạc điệu”. Nếu như hầu hết bài hát lúc bấy giờ như Đất nước trọn niềm vui của Hoàng Hà, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng của Phạm Tuyên, Tiếng hát từ thành phố mang tên Người của Cao Việt Bách đều được viết bởi giọng trưởng, âm hưởng hào hùng, sảng khoái, ca từ hân hoan, hừng hực khí thế chiến thắng thì Mùa xuân đầu tiên không nằm trong mạch cảm hứng ấy.

Cũng nói về mùa xuân, về đất nước, về tình yêu nhưng mùa của Văn Cao là “mùa bình thường”, đất nước của Văn Cao là “tiếng gà gáy trưa bên sông” và tình yêu dâng tràn trong mắt ông là khoảnh khắc “nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh” ngày hội ngộ.

Chính vì sự “lạc điệu ấy” mà mặc dù khi hoàn tất, ca khúc được đăng ngay lần đầu tiên trên báo Sài Gòn Giải Phóng số mừng xuân Bính Thìn, đồng thời lập tức được dịch lời và in ở Nga nhưng phải rất lâu sau đó mới được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Nhiều người cho rằng ca khúc gì mà “nghe mơ hồ rắc rối, kêu gọi tình thương một cách chung chung, thiếu tính giai cấp” (Từ đây người biết quê người… Từ đây người biết thương người… Từ đây người biết yêu người). Có ý kiến chỉ trích tính chất ủy mị, yếu đuối (nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh) của bài hát không hợp với khí thế tưng bừng trong ngày vui toàn thắng của dân tộc.

Nhưng cũng chính vì thế mà Mùa xuân đầu tiên ở lại lâu hơn trong lòng khán giả khi tất cả những ồn ào, rực rỡ qua đi. Bởi lẽ, nó đi xa hơn niềm vui tức thì, khi chạm đến những xót xa, thấm thía của một dân tộc bước ra từ đau thương, mất mát của chiến tranh.

Không sử dụng gì nhiều ngoài chất liệu hiện thực, bức tranh mùa xuân của Văn Cao ở đây gần gũi và bình dị như hơi thở, sự sống của những người dân nghèo trên khắp đất nước. Đó là tiếng gà trưa, là giọt nước mắt của bà mẹ “ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ”, là “khói bay trên sông”, là tất cả những đau thương, mất mát lẫn hạnh phúc, tin yêu về một mùa xuân mới.

Văn Cao “đi trước” thời đại có lẽ ở chỗ đó. Ở cái nhìn sâu đằng sau một chiến thắng vang dội là những gì dân tộc này đã phải đánh đổi, hy sinh. Ở cái nhìn xa đằng sau niềm hân hoan phút chốc này là bao nỗi lo về một cuộc đời mới, một cuộc dựng xây mới. Vì thế mà ông vừa bồi hồi, vừa trăn trở:

“… Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người…”

Như một niềm tin vừa được khẳng định nhưng cũng như một băn khoăn, suy tư về tương lai:

“… Từ đây người biết quê người?
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người?”

Luôn do dự và hồ nghi là tâm thế một người mang cảm thức của cả dân tộc vừa bước ra từ trong chiến tranh, nâng niu trên tay một niệm hạnh phúc diệu kỳ và mong manh như nằm ngoài sự thật. Tâm thế ấy đã vượt lên trên niềm vui thoáng chốc để dự cảm, để xót xa và để thấm thía về con đường dài phía trước mà dân tộc sẽ phải gồng mình bước qua. Với đầy rẫy những đau thương, mất mát, ly tan hay những vách ngăn không cùng giữa quá khứ và tương lai, giữa thế hệ đã hy sinh và thế hệ được hưởng trái ngọt ngày hôm nay.

Thời gian đã là câu trả lời hùng hồn nhất cho những người từng phủ nhận Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao. Đến nay, những giai điệu dìu dặt, khoan thai theo đàn chim én bay trong bài hát vẫn làm ấm lòng người Việt Nam khi Tết đến, xuân về. Nói về những giai điệu đẹp đến nao lòng ấy, nhà thơ Thanh Thảo từng ví: “Cả một dòng sông vui nhưng không trào cuộn ồn ào mà như lắng lại, nghe kỹ thấy những lượn sóng đang run run, những lượn sóng như nhắn nhủ cái gì, báo trước điều gì”.

Tác giả Dương Tấn Long cũng chia sẻ niềm đồng cảm trong một nhận xét khác: “Giai điệu và ca từ mới nếm vào thì thấy dịu ngọt nhưng cái ý, cái hồn cứ ngấm dần, nghe đắng quanh cổ xuống tận tim gan…”.

Mùa xuân đầu tiên , ý chỉ mùa xuân hòa bình, độc lập đầu tiên của dân tộc nhưng cũng chính là mùa xuân cuối cùng, một trong các bài hát cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của cố nhạc sĩ Văn Cao. Như một cơ duyên, bài hát cũng phải chịu số phận kỳ lạ, nhiều truân chuyên, trắc trở như chính cuộc đời người nhạc sĩ tài hoa ấy.

Mùa Xuân Đầu Tiên (2) - Văn Cao

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người.
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.

Phạm Vũ

(Tham khảo: Sách báo – Internet)

Phụ bản I

NGUYÊN TẮC SỐNG LÂU 100 TUỔI ...

Các nhà khảo cứu tại Anh Quốc vừa trình bày những khám phá mới nhất của ngành lão khoa ( Geriatrics ) và di truyền học (Genetics) và tiên đóan là những thế hệ trẻ trong tương lai sẽ có thể sống được trên 100 tuổi dễ dàng.

Một khảo cứu khác trên 20000 người dân Anh đăng trên tờ báo Y học British Medical Journal thì cho biết là có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch như đau tim, tai biến mạch máu não bằng 4 biện pháp sau đây : đi bộ 30 phút mỗi ngày, ăn nhiều rau cỏ và trái cây, không hút thuốc lá và giảm bớt uống rượu. Những nguyên tắc kể trên cũng được Y học Mỹ xác nhận từ lâu nhưng gần đây BS Thomas Perls của Đại Học Boston University cho biết là dựa trên kinh nghiệm của những người đã sống trên 100 tuổi thì ông đã rút ra được những kinh nghiệm như sau:

1/ Hưu trí.

Các khảo cứu về tử vong đều xác nhận là khoảng thời gian 1 năm sau khi hưu trí là nguy hiểm nhất ở những người về hưu rồi không hoạt động gì cả vì tình trạng mập phì gia tăng, tâm thần suy nhược, cholesterol xấu LDL lên cao còn cholesterol tốt HDL giảm, huyết áp gia tăng..

BS Luigi Ferruci tại Baltimore sau khi khảo sát tình trạng sức khỏe của vùng Chianti bên Ý là nơi có rất nhiều người sống trên 100 tuổi thì thấy rằng những người sau khi hưu trí thì vẫn tiếp tục hoạt động thể chất và tinh thần như trồng rau, trồng hoa, thăm viếng bạn bè, chăm đi lễ nhà thờ.
Tại Mỹ có nhiều chương trình hoạt động thiện nguyện như Expericence corps, Masters Gardeners giúp cho những người cao niên đem kiến thức truyền lại cho giới trẻ, đem lại hứng khởi cho tất cả mọi người..và kéo dài tuổi thọ.

2/ Vệ sinh răng miệng.

Phần này hết sức quan trọng nhưng ít khi được chú ý đúng mức. Một khảo cứu của Đại học Minnesota cho thấy là những người bị viêm nướu răng (gum disease) dễ bị tai biến mạch máu não và đau tim vì trong miệng có những vi khuẩn tiết ra những độc chất làm cho máu bị đông và các mạch máu bị viêm. Cần dùng chỉ đánh răng (dental floss) và chữa trị bệnh răng miệng thật sớm dể tránh bệnh đau tim và cả chứng.. Hôi miệng (halitosis) như vua Câu Tiễn đã được mô tả thời xưa!

3/ Hoạt động thể chất, đi bộ.

BS Jay Olshansky thuộc Đại Học Chicago nói ’’ đi bộ là môn thuốc trường sinh tốt nhất và không tốn tiền ‘’. Tất cả những khảo cứu về tuổi thọ đều xác nhận là đi bộ giúp cho tinh thần thoải mái, sáng suốt (tăng chất endorphins ), tránh té ngã, tăng sức cơ bắp, xương cứng tránh bị gãy xương hông, một trong những nguyên nhân tử vong ở Mỹ. Không cần phải tập luyện khó khăn như chạy marathon mà chỉ cần đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Nếu tập thêm những phương pháp giữ gìn gân cốt như yoga, tai chi thì càng tốt.

4/ Ăn ngũ cốc high fiber mỗi buổi sáng.

Các nhà khảo cứu đều xác nhận là 90 % các chứng bệnh mãn tính ở Mỹ như bệnh tim mạch, ung thư đường ruột đều có thể tránh được nếu biết dinh dưỡng đúng phép. Cần ăn sáng bằng những loại ngũ cốc có nhiều xớ như oat meal, quinoa và gần đây loại hạt Chia seed (Salvia Hispaniola) giống như hạt é (basil) vì có nhiều dàu omega 3 và giúp cho no lâu, có nhiều năng lực. Hạt Chia giúp tránh được bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch hết sức phổ biến ở Mỹ. Hiện nay ở Mỹ có khoảng 22 triệu người bị bệnh tiểu đường làm cho ngân sách Y tế tốn trên 200 tỷ USD mỗi năm.

Bữa ăn sáng rất quan trọng giúp cho cơ thể có đủ năng lực hoạt động trong ngày và đường trong máu được ổn định.

5/ Vệ sinh giấc ngủ.

Cần điều độ trong giấc ngủ, ít nhất từ 5 đến 6 tiếng mỗi tối. Không nên thức khuya xem phim bộ, phim chưởng vì theo lời BS Ferruci thì trong khi ngủ thì cơ thể phục hồi lại các chức năng bị hao mòn trong ngày. Não bộ rất cần giấc ngủ được yên và nhất là giấc ngủ REM giúp cho các tế bào não bộ thu xếp lại các dữ kiện ban ngày giống như các máy điện toán hoạt động off line processing. Những người sống trên 100 tuổi đều hết sức coi trọng giấc ngủ được bình yên.

6/ Thực phẩm hoàn toàn.

Một số sinh tố, enzyms và chất muối khoáng hết sức cần thiết cho tuổi thọ và chỉ có trong những thực phẩm tươi tốt mà các dược thảo (dietary supplements) không thể thay thế được. Những hoá chất như carotenoids, flavonoids thường có trong các loại hoa quả có màu như cà chua, cà rốt, rau xanh, mè đen nên cần được tiêu thụ mỗI ngày. Có thể đem pha lẫn với sữa đậu nành hay hạt Chia, hạt é. Nên tránh hay giảm bớt các loại gạo trắng, tinh bột vì thiếu những hóa chất kể trên và dể làm cho mập phì, tiểu đường làm cho cơ thể mau bị lão hóa, nói chung mau già.

Một vài khảo cứu trên những người sống trên 100 tuổi cho thấy là họ ăn rất ít vào buổi tối hoặc như trường hợp của ông Breuning, người sống lâu nhất ở Mỹ 113 tuổi là đã bỏ hẳn bữa ăn tối từ 35 năm qua.

7/ Tâm thần bình an.

Tất cả những người sống trên 100 tuổi đều có đầu óc lạc quan, yêu đời, ít bon chen, ganh đua , nóng giận, tham sân si. Họ có sức chịu đựng stress rất giỏi và trải qua những khó khăn dễ dàng. Tất cả những phương pháp tĩnh tâm như yoga,tai chi, cầu nguyện, khí công đều tốt cả . Không nên tìm cách giải trí bằng xem TV, uống rượu, cờ bạc, xem soap opera, ăn junk food, gây căng thẳng trí não..

8/ Nếp sống tinh thần.

Một khảo cứu trên Giáo phái Seventh day Adventist tại Loma Linda cho biết là tuổi thọ trung bình là 89 trên mức trung bình chỉ có 82. Ngoài việc tránh ăn thịt, người Adventist không hút thuốc, không uống rượu và ăn nhiều trái cây rau cỏ. Đời sống gia đình ổn đình, thể chất lành mạnh. Một BS người Adventist 94 tuổi vẫn làm việc giải phẫu tim mạch như thường lệ.

Người Adventist có chủ trương rằng thân thể là một món quà do Thượng Đế ’’ cho vay ‘’ (on loan) nên cần phải được bảo vệ kỹ càng.

9/ Thói quen điều độ.

Những người cao niên có thói quen rất chừng mực, ăn uống điều độ, sáng dậy và tối đi ngủ hết sức mực thước, ít khi ra ngoài thông lệ.

BS Ferruci cho biết là những thay đổi bất thường trong đời sống dễ làm cho hệ thống miễn dịch (immune system) bị xáo trộn, lệch lạc mất quân bình khiến dễ đüa đến những trường hợp nhiễm trùng, cảm cúm.

10/ Quan hệ xã hội, gia đình, bạn bè.

Kinh nghiệm của ngườI Adventist và Okinawa cho thấy là những liên hệ mật thiết với gia đình, bạn bè hết sức quan trọng trong việc tránh chứng bệnh buồn chán. Suy nhược thần kinh và tổn thọ. Liên hệ thường xuyên với thân sẽ giúp cho người cao niên có được sự tự tin, có nơi nương tựa nếu chẳng may hữu sự.

Nói chung là trong khi chờ đợi những phát minh mớI nhất giúp cho con người sống được trên 100 tuổi thì chúng ta đã có ngày trong tầm tay những phương pháp giản dị nhất để thực hiện điều này qua kinh nghiệm những người đã trải qua cuộc đời .. trên một thế kỷ !

BS Trường Xuân. MD. - Lệ Ngọc st.


PHỤ NỮ NGU NGỐC

VÀ PHỤ NỮ THÔNG MINH

1. Phụ nữ ngu ngốc chăm chăm vào khuyết điểm của đàn ông.

Phụ nữ thông minh tán thưởng ưu điểm của đàn ông.

2. Phụ nữ ngu ngốc cãi nhau với đàn ông mọi lúc mọi nơi, khiến cho đàn ông mất mặt.

Phụ nữ thông minh giữ thể diện cho đàn ông trước mặt người ngoài.

3. Phụ nữ ngu ngốc không ngừng bới móc quá khứ.

Phụ nữ thông minh cùng đàn ông tạo dựng tương lai.

4. Phụ nữ ngu ngốc hạ thấp đàn ông. Cô ta quên rằng hạ thấp đàn ông cũng chính là hạ thấp bản thân.

Phụ nữ thông minh tán thưởng đàn ông. Cô ta hiểu rằng tán thưởng đàn ông cũng chính là tán thưởng bản thân.

5. Phụ nữ ngu ngốc tự cho mình nhìn thấy bản chất đàn ông.

Phụ nữ thông minh sẵn lòng thông cảm tha thứ cho đàn ông.

6. Phụ nữ ngu ngốc sẽ nói: "Anh cút đi"!

Phụ nữ thông minh sẽ nói: "Anh không được phép rời bỏ em"!

7. Phụ nữ ngu ngốc xem đàn ông như cung tên, kéo càng căng, mũi tên bay càng xa.

Phụ nữ thông minh xem đàn ông như cánh diều, thong thả giữ lấy dây diều trong tay.

8. Phụ nữ ngu ngốc quá đề cao cái tôi của mình.

Phụ nữ thông minh khôn khéo gửi gắm và dựa dẫm.

9. Phụ nữ ngu ngốc không rời đàn ông nửa bước.

Phụ nữ thông minh hiểu được lúc gần lúc xa.

10. Phụ nữ ngu ngốc chỉ biết giặt giũ nấu ăn, nhưng quên mất làm đẹp bản thân.

Phụ nữ thông minh cũng biết giặt giũ nấu ăn, nhưng không quên làm đẹp bản thân.

11. Phụ nữ ngu ngốc mang đến cho đàn ông áp lực và kìm nén.

Phụ nữ thông minh đem đến cho đàn ông động lực và hứng thú.

12. Phụ nữ ngu ngốc khiến đàn ông thất bại trong những giọt nước mắt của cô ta.

Phụ nữ thông minh khiến đàn ông thành công trong nụ cười rạng rỡ của cô ta.

13. Phụ nữ ngu ngốc đả kích đàn ông.

Phụ nữ thông minh cổ vũ đàn ông.

14. Phụ nữ ngu ngốc là luôn thể hiện mình thông minh trước đàn ông.

Phụ nữ thông minh nhiều khi biết giấu đi sự thông minh trước đàn ông.

15. Phụ nữ ngu ngốc đọc xong và bĩu môi.

Phụ nữ thông minh đọc xong mỉm cười và like.

Mary Tú Vũ - Đào Minh Diệu Xuân st.


Tết Nhâm Dần (2022) - Ôn lại chuyện cọp

ÔNG BA MƯƠI ĐIỀM HÊN XUI

1. Khái niệm về thời gian

Văn hóa Á Đông phân chia thời gian theo vòng tròn trôn ốc, một vòng là 60 năm, hết 60 năm (30 cặp can chi) thì bắt đầu lại.

Cách phân chia này gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu lịch sử khi cần xác định một biến cố trong quá khứ, tức là một sự việc có thật đã xẩy ra ở một "thời điểm" (thời gian nhất định) và ở một "địa điểm" (không gian nhất định).Thời gian và không gian như Tung và Hoành trong toán học để xác định một điểm A, B, C nào đó trên một mặt phẳng.

Thí dụ một cuộc chiến xẩy ra vào năm Nhâm Ngọ - nếu chỉ nói thế thì không thể xác định được thời điểm nào vì trong quá khứ có rất nhiều năm Nhâm Ngọ. Muốn xác định được thì phải thêm một yếu tố phụ, thường là triều vua, thí dụ Tự Đức Nhâm Ngọ Niên, tức là năm Nhâm Ngọ triều vua Tự Đức (1847-1883). Vậy Tự Đức Nhâm Ngọ Niên là năm 1882 (trước khi vua băng hà một năm).

Âm lịch có Thập Thiên Can và Thập Nhị địa chi. Cọp là một trong 12 con vật đứng đầu địa chi: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi, cọp đứng thứ ba.

Văn hóa Tây phương (Âu Mỹ) đơn giản hơn, tính thời gian theo đường thẳng, lấy năm Chúa Giêsu ra đời là cột mốc phân chia thời gian thành hai phía: trước Đức Giêsu sinh ra (Trước Công Nguyên - B.C=Before Christ - a-J.C=avant Jesus Christ) và phía sau năm Chúa Giêsu sinh ra (Công Nguyên - A.D=Anno Domini):

"Đức Kitô vẫn là một

Hôm qua cũng như hôm nay

Là Alpha và Ômêga

Nghĩa là Khởi nguyên và tận cùng

Người làm chủ thời gian

Và muôn thế hệ

Vạn tuế Đức Kitô, Đấng vinh hiển quyền năng

Vạn vạn tuế - Amen."

(Lễ nghi làm phép Nến Phục Sinh tối thứ bảy Tuần Thánh)

Phía trước Công Nguyên thì đếm ngược lại cho đến năm 1 Công Nguyên: Thí dụ năm 4000 Trước Công Nguyên (B.C). Nếu có một con số tiếp theo, thì dụ năm 4000-3500 thì không cần thêm Trước Công Nguyên nữa.

Phía sau mốc Công Nguyên thì cứ thẳng tuột cho đến tận thế, thí dụ: Thời Nhà Nguyễn từ vua Gia Long tới vua Bảo Đại (1802-1945)

2. Gốc tích Ông Ba Mươi

Nguồn gốc xa xưa nhất là tập chuyện "Lĩnh Nam Chích Quái". "Lĩnh Nam Chích Quái" là một tập hợp gồm 23 chuyện quái dị ở Xứ Lĩnh Nam (Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam) do Trần Thế Pháp đời Trần soạn, sau này có Vũ Quỳnh (1452-1516) và Kiều Phú (1447-?) đời Lê tu chỉnh (bổ sung, san định). Trong những chuyện quái dị có chuyện thờ Mộc Tinh. Mộc Tinh là Thần Chiên Đàn (một loài gỗ thơm và quý trong rừng sâu núi thẳm). "Lĩnh Nam Chích Quái" chép: "Dân phải lập đền thờ, hằng năm tới ngày 30 tháng Chạp phải tế lễ và theo lệ phải mang theo người sống tới nộp mới được yên hàn." Dân thường gọi vị thần này là Xương Cuồng. Trong chuyện Mộc Tinh, Xương Cuồng là thần cây Chiên Đàn, ám chỉ Mộc Tinh là thú dữ, chúa tể rừng núi đó là hiện thân của con hổ hay cọp. Sự tích ông Ba Mươi lấy từ chuyện Mộc Tinh là chuyện tế thần (cọp) vào ngày 30 tháng Chạp hằng năm của người Văn Lang thời Hùng Vương xưa.

Sự tích Ông Ba Mươi còn một nguồn khác nữa, đó là thời xưa cọp beo nhiều, chúng thường ăn thịt người và bắt đi nhiều thú vật như heo, chó, gà, vịt, v.v… Dân chúng rất sợ hãi. Thường đêm 30 hằng tháng, trời tối mịt, tạo điều kiện thuận lợi cho cọp về làng kiếm ăn nên dân chúng sợ hãi cúng vái cho được bình an, coi cọp như một ông thần dữ tợn và gọi là Ông Ba Mươi.

Chúng ta không lấy làm lạ vì thời xa xưa dân chúng chưa được khoa học mở mang trí tuệ, còn rất mê tín dị đoan, sợ hãi và tôn thờ cúng vái những sức mạnh thiên nhiên như thần sấm, thần sét: "đất có Thổ Công, sông có Hà Bá"… Những gì là sức mạnh có thể giết người là dân chúng thờ. Trong những tác nhân giết người, ăn thịt người có Hổ, hay hùm, nên không lạ gì việc dân gian cúng vái Hổ hay hùm và gọi là Ông Ba Mươi.

Câu ca dao thần thánh hoá con cọp vẫn còn tới nay:

Trời sinh ra Hùm có vây

Hùm mà có cánh Hùm bay lên trời

Cũng có một nguồn khác nữa là Lệ Vua. Mỗi khi có ai bắt được cọp, trừ nguy hiểm cho dân thì được vua thưởng cho 30 quan tiền. Có lẽ chính vì lệ này mà có tên Ông Ba Mươi.

3. Thân phận đích thực của Ông Ba Mươi

v Ông chỉ là loài động vật có vú họ mèo

v Một trong 5 loài mèo lớn thuộc chi panthera ăn thịt, da có lông vàng sọc vằn đen.

v Tên khoa học là panthera tigris

v Thuộc gia đình Felidae order carnivora

v Có nhiều tên gọi tại Việt Nam: Hổ, Hùm, Hầm, Cọp, Khái, Kễnh, Kẹ, Hạm, Ông Ba Mươi…

- Tên gọi "Hùm" và "Khái" (Nôm) là sớm nhất. Tự điển Taberd 1838:

"Lên rừng thì sợ Khái, ngoài bể thì sợ cá ông voi."

(trong Nghệ An tỉnh Khai Sách)

- Tên gọi "cọp" xuất hiện trong tập thơ Nam Kỳ trang 14 I m primerie Nationale 1876) với từ "cọp dữ".

- Chuyện Giải Buồn của Quản Hạt 1886: "tích cọp lạy, cọp có nghĩa".

- Lục Vân Tiên (1889): "Vào rừng cọp thấy đều quỳ lạy đưa."

- Hổ (gốc Hán) mượn tiếng và hình ảnh của Tàu.

- Hạm (Nôm): "Tránh Hùm gặp Hạm." Trong Chuyện Giải Buồn trang 15. "Con Hạm" (Huỳnh Tịnh Của. 1887)

- Hầm (âm phỏng tiếng gầm của cọp) chỉ con cọp: "Hầm mạnh phải nhe nanh". Chuyện: "Đánh hổ cứu cha" của Edmond Nordermann 1898.

- Kẹ (Nôm) trong từ điển "Giúp đọc Nôm và Hán Việt" của Lm. Anthony Trần Văn Kiệm.

- Kễnh (Xuân Hương Di Cảo): "Dang tay ôm Kễnh đập lên đầu."

v Tuổi thọ 8-10 năm

v Trọng lượng từ 90-310 ký.

v Nhiều giống ở rải rác khắp các miền trên thế giới: Hổ Bengal, Hổ Siberia, Sumatra, Ba Tư, Ấn Độ, Á Châu, …

v Số lượng cọp trên thế giới: theo Liên Minh Bảo Tồn Hổ quốc tế (ITC) trong vòng 15 năm qua, quần thể hổ thế giới giảm mạnh, từ 10.000 cá thể xuống còn 3.500 cá thể như hiện nay. Hổ Siberia sắp diệt chủng hiện chỉ còn khoảng 40 cá thể. Tại Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường báo cáo năm 2012 chỉ còn 28-47 con trong rừng sâu.

4. Điềm Hên Xui với cọp

A. Điềm Hên: thân phận chỉ là một động vật không chiếm lĩnh đỉnh cao:

- Không to khỏe như voi, như tê giác

- Không được tiếng là Chúa Sơn Lâm như sư tử, thường thua sư tử khi có tranh chấp

Thế mà được một bộ phận trong thế giới loài người tôn kính mến yêu.

- Tối 30 tháng Chạp có lễ nghi cúng tế, có những lời tán tụng, cầu xin…

- Được gọi là Ông Ba Mươi

- Trong hệ thống đánh số can chi theo âm lịch, mỗi khi tới năm Dần là hình ảnh của Ông Ba Mươi đủ mọi tư thế được vẽ được in và được trưng bày khắp nơi.

- Không cuốn lịch nào thiếu hình Ông

- Các nhà kinh doanh lịch săn đón, chăm chút, trình bày Ông hầu mong thu được nhiều lợi nhuận.

- Thiên hạ đã truyền miệng nhau: "Cọp chết để lại da, người chết để lại tiếng." Da của Ông đẹp, quý được những đại gia thỉnh về treo ở phòng khách sang trọng có ý tỏ ra "mãnh lực" của gia chủ.

- Móng của ông được loài người săn tìm, bọc vàng, bạc đeo ở cổ như một "bùa" hộ mệnh.

- Nanh của Ông càng dài càng đắt tiền, loài người mua về, bọc vàng, bạc rồi đeo ở cổ như biểu tượng của sức mạnh.

- Xương của Ông trở thành "thần dược" cho sức khỏe con người. Có cả một ngành bào chế thuốc nam chuyên sưu tầm xương Ông để chế biến thành Cao Hổ Cốt, bán rất đắt giá và luôn được coi là "sức bật của tuổi trẻ, sức khỏe của tuổi già".

- Trong thuật phong thủy: Trấn phong trước nhà thường đắp nổi hình Ông oai phong lẫm liệt trấn át tất cả sức lực của tà ma chướng khí.

- Cũng trong thuật phong thủy, phía trước mỗi biệt phủ (đứng trong nhìn ra) thì bên trái là phải thiết kế "Thanh Long" (giếng, hồ nước) đối xứng phía bên phải là "Bạch Hổ" (Non Bộ)

- Loài người còn tỏ lòng kính trọng Ông qua việc "kỵ húy" không dám gọi thẳng tên cọp mà gọi tránh đi bằng cái tên: ông kẹ (Nôm) trong: Giúp đọc Nôm và Hán Việt của Linh mục. Anthony Trần Văn Kiệm.

- Gọi: ông Kễnh (Xuân Hương Di Cảo): "Dang tay ôm Kễnh đập lên đầu."

- Gọi: ông Khái: "Lên rừng thì sợ Khái, ngoài bể thì sợ Cá ông voi." (Nghệ An tỉnh khai sách)

B. Bên cạnh những điều nói ở trên kể như niềm vinh dự hay điềm Hên của Hổ thì những điều không hay như điềm Xui cũng không kém.

- Hổ luôn làm phông để tôn vinh con người. Chuyện: Võ Tòng Đả Hổ trên đồi Cảnh Dương trong Thủy Hử, một trong Tứ Đại Tiểu Thuyết của Trung Quốc do Thi Nại Am biên soạn.

Chuyện dân gian: Trí khôn tôi để ở nhà, hổ ta oai phong ra cánh đồng dạo mát thấy con trâu đang kéo cày, nó lên tiếng hỏi:

- Trâu! Tại sao mày to khỏe như thế mà lại để cho thằng người bé con nó bắt mày kéo cày, nó lấy roi quất mày?

- Bẩm ông: nó bé nhưng nó có trí khôn.

- Thằng người! Trí khôn mày đâu đưa tao xem, nếu không tao ăn thịt mày.

- Bẩm ông trí khôn tôi để ở nhà ạ.

- Đi về ngay lấy ra đây cho tao xem.

- Bẩm không được: tôi đi về ông ăn thịt trâu tôi thì sao. Nếu ông muốn tôi đi về lấy trí khôn cho ông xem thì ông hãy nằm xuống gốc cây đa này để tôi trói ông lại tôi mới về được.

- Đồng ý

Thế là hổ nằm xuống cho thằng người lấy chão trói bốn chân vào gốc đa, sau đó lấy bắp cày đập liên tục vào đầu con Hổ và tuyên bố: Trí khôn ta đây, trí khôn ta đây. Con hổ giẫy đành đạch rồi lăn cổ ra chết.

Câu chuyện cho thấy con người vẫn đứng đầu vạn vật: "Linh ư vạn vật".

Trong ngành tử vi (còn khá phổ biến trong dân gian Việt Nam) thì cọp là con vật người ta úy kỵ. Ai sinh nhằm năm Dần tức là "cầm tinh con cọp" thì lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, nhất là con gái mà cầm tinh con Dần thì 80% cầm chắc số "Ế".

Vừa quen nhau bố mẹ đã coi tuổi, tìm Tam Hợp, Tứ Xung.

Tam Hợp.

Tuổi Dần tìm đỏ mắt ra không gặp được tuổi Ngọ hay Tuất thuộc cung âm. Dần mạng Mộc, Ngọ mạng Hỏa, Tuất mạng Thổ. Cửa hôn nhân thật hẹp với tuổi Dần.

Tứ Xung: Dần Thân Tỵ Hợi

Dần gặp 3 tuổi Thân (khỉ) Tỵ (rắn) Hợi (heo) thì kể như vô phương cứu vãn. Không cha mẹ nào tin tử vi mà chấp nhận cho cưới, dù có yêu nhau tha thiết. Nếu cứ liều mà lấy nhau "mặc áo không qua khỏi đầu" thì sẽ gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc sống với gia đình hai họ. Động một tý là họ đổ thừa tại kỵ tuổi mà cố tình cãi cha cãi mẹ, bây giờ thì một là ly dị, hai là "mặc xác" đi đâu thì đi, làm gì thì làm, đừng vác mặt về nhà nữa.

Do đó, trong một xã hội mà mê tín dị đoan còn chế ngự thì con gái sinh năm Dần kể là "sinh nhằm ngôi sao xấu". Cho nên bậc cha mẹ vừa ghét vừa sợ ông Cọp, chỉ cầu mong đừng sinh con gái năm Dần. Đây chính là điềm xui.

Nhân nói về năm Dần, tuổi Dần, người viết xin mách nhỏ những bạn gái trẻ chẳng may "cầm tinh con cọp" một mẹo không sợ xui. Đó là các bạn cứ bình thản, học hành, chuẩn bị hành trang vào đời thật tốt, rồi khi tới tuổi yêu đương, hãy tìm những chàng trai văn minh tiến bộ, có lập trường không tin mê tín dị đoan để làm bạn đường và bạn đời, nhất là các bạn hãy tìm và làm quen những thanh niên Công Giáo tốt, các bạn khỏi phải phập phồng lo sợ kỵ tuổi, kỵ mạng, vì những người Công Giáo có đức tin trưởng thành không bao giờ tin dị đoan, không bao giờ coi ngày giờ, tuổi tác. Cả cha mẹ ông bà họ cũng vậy nên cứ yên tâm trau dồi cuộc sống và chờ đón hạnh phúc hôn nhân. Đối với người Công Giáo, những gì liên quan tới năm Dần điều hên cũng chỉ là mê tín, điều xui cũng chỉ là dị đoan mà thôi.

Tân Bình đầu năm 2022
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết

NB: Bài viết có tham khảo Wikipedia
và Vương Trung Hiếu TN 2/1/2022


CHUYỆN KHÓ TIN NHƯNG CÓ THẬT

LINH HỒN NHẸ NHÀNG KHI THOÁT XÁC

Cuối tháng 4/1987, người ta chở bà Mary Houghton, 68 tuổi vào bệnh viện Boston vì chứng đau tim. Bệnh nhân ngưng thở lúc 6 giờ tối, mọi cứu chữa đều vô hiệu và bác sĩ tuyên bố bệnh nhân đã chết. Xác bà được tạm đặt trong một căn phòng riêng chờ thân nhân đến làm giấy tờ tẩm liệm. Khoảng 11 giờ đêm, bà Houghton tỉnh lại bấm chuông gọi y tá. Bác sĩ trực đến khám và xác nhận bà lão đã hồi sinh.

Trường hợp bệnh nhân tắt thở vài giờ sau lại sống dậy không có gì lạ lùng với y giới nhưng bà Houghton đã nhớ lại những diễn tiến sau khi chết và kể lại như sau:

"Tôi đang ngồi ở nhà đọc báo thì thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày và tự nhiên hôn mê. Khi tỉnh dậy tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát, chung quanh tôi là một lớp sương khói dày đặc khiến tôi bỡ ngỡ không biết mình đang ở đâu. Tôi lên tiếng gọi nhưng vô hiệu.

Tôi mò mẫm đi trong lớp sương mù đó được một lúc thì nhận thức rằng có lẽ mình đã chết. Tôi biết mình mắc chứng đau tim đã lâu, bác sĩ nói rằng tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa nên tôi không lấy thế làm buồn.

Ðiều bất ngờ là khi vừa chấp nhận điều này thì tôi thấy mình đang đứng ngay bên cạnh giường quan sát thân thể của tôi nằm bất động trên đó. Sau một lúc xúc động tôi cố gắng trấn tĩnh và tự chủ rằng mình sống như thế cũng là đủ rồi. Trong khi xúc động thì luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên đen tối, khó chịu, tôi có cảm giác như bị lôi kéo vào một vũng bùn nhầy nhụa, hôi hám. Tôi bèn lên tiếng cầu nguyện thì thấy trong mình dễ chịu lạ thường, lớp ánh sáng bao quanh dần dần trở nên quang đãng hơn.

Một lúc sau tôi thấy thân thể nhẹ hẫng như có thể bay bỗng lên được. Tôi bèn để cho nó tự nhiên và thấy mình lơ lửng trên không nhìn xuống phía dưới. Lúc ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy có một chùm chìa khoá màu đỏ của ai để trên nóc tủ thuốc.

Tôi thầm nghĩ ai lại để chìa khoá ở đó làm chi?

Ðang suy nghĩ vẫn vơ thì tôi thấy mình đã đi xuyên qua trần nhà để lên lầu trên và thấy hai người y tá đang xem một trận đấu bóng rổ trên ti-vi, trận đấu vừa kết thúc khi đội Los Angeles Lakers thắng Boston Celtics, và một người y tá đánh cuộc thua phải trả cho bạn đồng nghiệp 20 mỹ kim. Tôi thong thả đi dọc theo hành lang bệnh viện và gặp rất nhiều người như tôi cũng đang lướt đi, không ai nói với ai lời nào.

Ða số có vẻ vội vã, có người hoảng hốt là đàng khác. Tôi thấy một thanh niên đang đứng cạnh xác mình một cách đau khổ, tôi lên tiếng an ủi nhưng có lẽ anh không nghe được lời khuyên bảo của tôi. Vì một lý do gì không rõ, tôi hiểu ngay sự bận tâm của anh ta vì đã không hoàn tất được một số việc. Anh ta cố sức chui lại vào cái xác đã lạnh cứng nhưng vô hiệu.

Anh đâm ra hoảng hốt khiến tôi cũng mất bình tĩnh theo nên tôi đành bỏ anh ta ở đó mà đi chỗ khác. Tôi nghĩ đến các con của tôi và lập tức thấy mình đang đứng trước mặt đứa con gái lớn. Con gái tôi đang khóc. Tôi muốn ôm lấy nó nhưng tiếng khóc của nó làm tôi thấy khó chịu.

Mỗi khi trong người khó chịu thì lớp ánh sáng bao quanh tôi lại chuyển sang một màu đen tối, nhầy nhụa khiến tôi sợ hãi. Tôi cố gắng trấn tĩnh tâm hồn và nghĩ đến hai đứa con trai thì thấy mình đang đứng ngay bên cạnh chúng. Hai đứa đang bàn việc chôn cất cho tôi.

Thằng Michael phàn nàn về việc tôi đã không chịu mua bảo hiểm nhân thọ.. Cả hai chỉ nghĩ đến số tiền mà chúng sẽ phải chi ra hơn là nhớ thương đến mẹ của chúng. Tôi không hiểu tại sao tôi lại có thể đọc rõ tư tưởng của các con tôi như vậy. Càng đứng đó tôi càng bực bội vì hai đứa cứ cãi nhau mãi về việc chôn cất và việc phân chia gia tài nên tôi lại bỏ đi.

Tôi không biết sẽ đi đâu. Tôi chẳng có thân nhân hay bạn bè nào cả. Ðến lúc đó tôi mới bắt đầu nghĩ lại cuộc đời của mình. Hình như tôi đã sống một cách ích kỷ, không giao thiệp với ai và cũng không có ai là bạn thân thiết. Cả một quá khứ bỗng hiện ra trước mắt tôi như người đang xem phim chiếu bóng.

Tôi thấy rất rõ những quyết định của mình, những lỗi lầm mà tôi đã tạo ra. Những việc mà tôi nghĩ là tầm thường, không đáng kể đều hiện ra rõ rệt và phản ảnh tâm trạng của tôi khi đó; vì sao tôi đã hành động như vậy; tại sao tôi lại làm việc đó... Hơn bao giờ hết tôi thấy mọi sự việc một cách khách quan vô tư chứ không chủ quan như trước. Tôi không
hiểu tại sao mình lại có thể bình tĩnh nhận xét như thế được.

Tôi bắt đầu cầu nguyện và tự nhiên thấy lớp ánh sáng bao quanh bỗng sáng chói một cách lạ lùng. Tôi thầm nghĩ phải chăng tôi có thể hành động khác khi xưa khi biết rõ những nguyên nhân, hậu quả việc làm của mình. Tất cả có thể quy về một điều duy nhất: Tôi là một người quá tự hào về mình, quá hãnh diện về những giá trị viển vông, tạm bợ mà không hề biết rằng những điều đó hoàn toàn vô giá trị khi người ta từ bỏ cõi sống này.

Chính vì tự hào mà tôi đã khoác lên mình những mặc cảm tự tôn, coi thường người khác, bất chấp dư luận và nghĩ rằng tôi luôn luôn có lý trong mọi công việc. Hậu quả là tôi có một đời sống khô khan, không bạn bè thân thiết, ai ai cũng muốn xa lánh tôi, ngay cả những đứa con của tôi nữa. Phải chăng tôi có thể chuộc lại những điều đã làm? Chưa bao giờ tôi lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy. Lần đầu tiên tôi hối hận
một cách chân thành và tự nhiên tôi lên tiếng cầu nguyện.

Tự nhiên tai tôi bỗng ù đi, luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên sáng chói một cách lạ lùng, tôi thấy bình tĩnh như có một sự an ủi lớn lao nào đó vừa đến với tôi, và tôi cương quyết rằng tôi sẽ chuộc lại những lỗi lầm khi xưa. Tôi chắp tay cầu nguyện Thượng Ðế hãy cho tôi một cơ hội nữa và luồng ánh sáng chung quanh tôi tự nhiên sáng chói một cách
mãnh liệt khiến tôi phải nhắm mắt lại và bất chợt tôi nghe được các âm thanh quen thuộc. Tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện... Tôi đã tỉnh lại".

Lời khai của bà Houghton đã được bác sĩ Elizabeth Kubler Ross kiểm chứng rất kỹ. Hai nhân viên trực trong bệnh viện xác nhận họ có đánh cuộc với nhau về trận bóng rổ, kết quả trận banh xảy ra đúng như lời bà Houghton đã thuật lại. Hai đứa con trai của bà Houghton cũng xác nhận họ đã cãi nhau về việc bảo hiểm và tiền chôn cất.

Ðiều bất ngờ là một bác sĩ trực đánh mất chùm chìa khoá xe hơi màu đỏ từ mấy tuần trước, nhờ lời khai của bà Houghton mà ông nhớ rằng trong lúc vội vã, ông đã ném đại nó lên nóc tủ thuốc.

Chiếc tủ này rất cao, gần chạm đến trần nhà, một người đúng dưới đất không thể nhìn thấy nó được nên mặc dù tìm kiếm mãi mà vẫn không ai thấy... trừ khi họ đứng trên trần nhà nhìn xuống.

Hà Mạnh Đoàn - Hoàng Chúc st.


Phụ bản II

CLB Sách Xưa & Nay

Tân Sa Châu trung tuần mỗi tháng

Bạn yêu sách tụ họp hoan ca

Tình thơ ý nhạc chan hòa

Sống vui sống khỏe đậm đà mến thương

Chủ nhiệm Anh Tuấn đăng đàn

Giới thiệu sách quý xưa nay mới tìm

Lời hay ý đẹp siêu thường

Để lưu hậu thế - cho người noi gương

25/11/2021, Kim Long

Cuộc đời

Cuộc đời sôi động trôi qua

Buồn vui sống chết mỏi ra cuộc đời

Người về có chỗ yên nơi

Người còn tiếp tục yêu đời lạc quan

Việc nhà việc nước sẵn sàng

Cùng nhau thi thố ca vang với người

Trẻ già cùng nở nụ cười

Niềm vui cuộc sống rạng ngời nước non

Nguyễn Văn Tốt


Kỷ Niệm Tháng 10.2021

Tháng mười năm hai không hai mốt (10/2021)

Khu phố tôi, đã bỏ phong tỏa rồi

Những hẻm giăng dây thông thoáng thấy trời

Bốn tháng trước thật là khốn khổ

Chợ không họp, siêu thị phải xếp hàng

Ngành y cả nước ưu tiên vì thành phố

Bộ đội, quân y cũng bắt tay củng cố

Đi từng ngõ, gõ từng nhà, test từng khu phố

Rồi dần dà kiểm soát, tách ép không (F0)

Bốn tháng ở trong nhà không đi đâu cả

Đường phố như thời tiêu khổ kháng chiến

Đường vắng, nhà đóng không một bóng người

Rồi để sáng ngày một tháng mười

Hàng quán được phép mở cửa từng khu

Dân còn thăm dò, nên chưa mạnh dạn

Dù ngân hàng nhà nước lên tiếng hỗ trợ

Để doanh nghiệp sớm phục hồi sản xuất

Đây là kỷ niệm một thời chống dịch

Cả nước một lòng đuổi Covid đi xa

Nhưng biến thể Delta không thể bỏ qua

Chúng ta phải tuân thủ năm ca (5K)

Khi nào hết dịch thì ta vui mừng

Thành phố chúng ta vô cùng may mắn

Trung ương trực tiếp chỉ đạo sát sao

Để hôm nay thành phố rất tự hào

Phát triển kinh tế cùng kiểm soát Cô – vi

Rồi Việt Nam bình yên đuổi đi Cô – 19.

Thúy Mai

MÁ ƠI


Kính tặng má tôi

Má ơi

Má đã ra đi trong đại dịch
giữa Sài Gòn lúc nắng lúc mưa
đứa em đứng khóc không thành tiếng
con không thể về để tiễn đưa
Chúng con xa má từ nay mãi
chỉ còn ảnh hình để lại thôi
người mẹ hiền từ bao năm tháng
dành hết cho con cả cuộc đời
Má mới chuyện trò tối hôm kia
mà nay nhiễm bệnh đã qua đời
xin Chúa rước người vào Thiên quốc
hưởng thánh nhan Người như ước mơ
Má ơi má ơi có vui không
về nơi chốn cũ má hằng mong
bên chân Đức Nữ Trinh cao.trọng
đời đời Mẹ ấp ủ bên lòng
Chẳng còn thấy má nữa thật rồi
nhớ má nghẹn lời nhớ quá ơi
trời ơi giữa bốn bề phong tỏa
chỉ còn tro cốt của mẹ tôi

01/12/2021, Hoài Ly

GỢI NHỚ

“ Lại Chúa Con là người ngoại đạo

Nhưng tin có Chúa ở trên đời “

Muôn dân tâm trạng rối bời

Tai ương giáng họa trời ơi hãi hùng

*

Đất lành gian khổ tận cùng

Say trong ão mộng ! mịt mùng tương lai

Ngó đời lăn lóc an bài

Nhìn nhau thương cảm cho dài niềm đau

*

Thôi chào quá khứ sắc màu

Noel xưa vui nhộn , nay cầu an thân

Mơ Chúa đem đến hồng ân

Chung tay tiếp lửa : đẩy dần bóng đêm

*

Chúa ban cuộc sống ấm êm

Con nhìn Máng Cỏ bên thềm cầu mong

Vũ Thùy Hương - 22/12/2021


Dẫu đại dịch hoành hành. CLB Sách - Thơ -Ca Xưa và Nay Tân Sa Châu vẫn sinh hoạt định kỳ hàng tháng : tình nghĩa , sẻ chia ... Dịch giả Vũ Anh Tuấn vừa Chủ nhiệm vừa MC rất nhiệt tình với CLB. Hàng tháng Anh đều tự mình in Bản tin với những lời hay ý đẹp từ Sách xen kẻ những bài Thơ , tình nghĩa , thời sự. Những sẻ chia của Anh , của Linh Mục Nguyễn Hữu Triết , của Anh Minh Hùng ...là một kho tàng vô giá giúp Cô, Bác Anh Chị Em mở rộng tầm mắt. Đến giờ chia tay tất cả bịn rịn gởi cho nhau những lời cầu chúc an lành cầu mong qua khỏi tai ương :

CÙNG CHUNG ƯỚC VỌNG

Sáng nay Trời đẹp làm sao

Gợi trong tiềm thức nôn nao tìm về

Tân Sa Châu vơi ủ ê

Hàn huyên , chia sẻ : tái tê phận người

*

Vần Thơ diễn đạt muôn lời

Kẻ còn , người mất ! ở nơi phương nào !?

Chung lòng hoài mộng ước ao

Toàn cầu dứt cảnh lao đao khổ sầu

*

Đêm thường thức trắng canh thâu

Thông tin thời sự lo âu trải lòng

Vẫn luôn

                            khấn nguyện cầu mong

Đất lành chào mộng

                             sắc hồng thay đen

Vũ Thùy Hương - 12 /12/2021

CÙNG MẠ SOI VE

Ngày xưa cùng Mạ soi Ve

Màn đêm buông xuống tay che đèn lồng

Vườn xanh mướt , tia sáng hồng

Hương thơm hoa Bưởi bềnh bồng cùng sương

Ve non xanh mướt thấy thương

Bám vào cây trái , cành Dương , gốc Cà ...

Đem chiên ăn ngon thấy bà

Vừa thơm , béo ngậy ôi chà tuyệt ghê

Cho thêm nước Mắm đê mê

Với vài trái Ớt khỏi chê nhớ đời

Miền Nam xa Huế tỏ lời

Mạ thời khuất núi ! Ve ơi mô rồi ! ?

Sài Gòn

dịch tăng khắp nơi !!!

Đêm khuya thanh vắng

bồi hồi nhớ xưa

Làm sao

diễn đạt cho vừa ?

Tha phương hoài niệm

đêm mưa trải lòng

Vũ Thùy Hương - 06 /12/2021

Chân thành tưởng niệm

Cụ PHAN CHÂU TRINH

(1872 - 1926)

“Tai nghe súng nổ cái đùng

Tàu Tây đã tới Vũng Thùng anh ơi!”(1)

Chiến chinh tàn phá khắp nơi

Dân tình đau khổ, cuộc đời tang thương

*

Càng lúc càng trầm trọng hơn

Giấc mơ “chuộc đất” mỏi mòn, hoang liêu

Cả miền Lục tỉnh phì nhiêu

Rơi vào tay giặc, tiêu điều xác xơ

*

Ở ngay trước ngõ Cố đô

Người dân mục kích cơ đồ vỡ tan

Đuy-phuy ngỗ ngược hoành hành

Triều đình nhu nhược cũng đành bó tay

*

Gác-niê táo tợn đánh ngay

Vào Hà Nội suốt đêm ngày lửa binh

Sĩ dân chống đối hết mình

Bọn xâm lược phải thuận tình đổi trao

*

Mưu toan chiếm đất về sau

Chiếm Hà Nội, đánh thẳng vào Thuận An

Đóng quân ngay giữa nội thành

Hàm Nghi thất bại nên đành rút quân

*

Bao nhiêu sự kiện đến gần

Quê hương cậu bé họ Phan lên mười.

Bắt đầu tiếp xúc với đời

Sớm suy nghĩ hiểu những lời thiệt hơn

*

Nghe người bàn tán xót thương

Thứ - Khiêm cải cách, tự cường tội oan (2)

Chung quanh thân thuộc họ hàng

Nhiều người chết trận, sẵn sàng hy sinh

*

Làm xao lòng cậu bé Trinh

Quyết tâm học võ, quyết dành tự do.

Mong dân chúng được ấm no

Hiệu – Dư (3) Nghĩa hội, kéo cờ Cần Vương

*

Đã thu thắng lợi can cường

Cuối cùng dao động, chiến trường lung lay

Kẻ thù ám hại Cha đây

Gia đình kinh hãi chứa đầy lo âu

*

Tuổi thiếu niên, mãi về sau

Dập dồn ấn tượng, ghi sâu trong lòng

Qua cơn loạn lạc non sông

Cậu Phan đỗ đạt, thành công lẫy lừng

*

Cùng Huỳnh – Trần – Nguyễn (4) oai hùng

Họp thành tứ kiệt, kiên trung diệu kỳ

Vua ban “Ngũ Phụng tề Phi”

Tài năng lỗi lạc, việc gì cũng hay

*

Đối phương bị khuất phục ngay

Văn chương, biện luận phân bày tuyệt chiêu

Cuối thế kỷ, ngọn thủy triều

Nghĩa quân Yên Thế vẫn nêu ngọn cờ

*

Dư ba xáo động thời cơ

Buộc người ngoài chẳng hững hờ nhìn xa

Nhật duy tân, đánh bại Hoa

Bao lần chính biến, nước nhà lao đao

*

Học trò giỏi chợt xôn xao

Tìm tòi sách báo, biện bao mọi bề

Cùng đàm đạo những vấn đề

Chiến tranh thời cuộc, tình quê ngập tràn

*

Khoa Canh Tý – đổ Cử nhân

Năm sau Phó bảng làm quan triều đình

Tuy nhiên, chẳng quản hiển vinh

Không nuôi ảo vọng, lợi danh chức quyền

Viết về cuộc sống vô duyên

“Kinh thành Nguyên Đán” của tiền hư vô

Ông mượn tiếng hát cuộc cờ

Nói lên tình cảnh ngó lơ, bù nhìn

Xóa hoàng hôn, đổi bình minh

Vẫn nuôi chí lớn “Giáp Thìn hồi thiên”.

Chủ tưởng cuộc sống tự nhiên

Gởi tâm sự lớn, tâm tuyền, thơ văn

Vấn vương người đẹp con quan

Đánh cờ, đọc sách, hòa đàn, ca ngâm

Nhưng khi thấy vợ âm thầm

Việc nhà lam lũ, lo chăm cần cù

Ông bèn kiên quyết tạ từ

Nhiệt tình đất nước, hận thì dâng cao

Phục tài đảm lược cụ Châu (5)

Gặp nhau ở Huế, lần đầu kết thân

“Xưa nay hào kiệt muôn vàn

Đem thân đổi lấy giang san là thường” (*)

Nhưng ông bài bác chủ trương

Duy trì quân chủ, đế vương lỗi thời

Ước mơ cuộc sống tuyệt vời

Toàn dân hạnh phúc, nơi nơi yên bình

Tiến hành khảo sát dân tình

Cùng hai đồng chí(6) đăng trình vào Nam

Ông rằng: “Sĩ khí nhân dân

Bị thời chuyên chế ươm mầm quan liêu”

Rất cần kích thích lòng yêu

Giang san tổ quốc, phong trào dài lâu

Văn chương thơ phú làm đầu

“Chí Thành Thông Thánh” Phan Châu Trinh đề.

Gọi nhân dân sớm quay về

Thù nhà nợ nước, tình quê đáp đền

Luôn nuôi chí lớn vững bền

Ngu Công, Tinh Vệ, gương kiên nhẫn còn

Dù cho sông cạn núi mòn

Lòng yêu nước mãi sắt son vững vàng

Khi ông vào đến Nha Trang

Thình lình phát hiện giặc đang tiến vào

Đại quân chuẩn bị theo sau

Tiến lên biến bắc, ào ào sục sôi

Tiếp thu, nhận rõ khúc nôi

Văn minh, một vực một trời cách xa

Thời gian dưỡng bệnh, ông và…

Anh em họ Nguyễn(7) mở ra học đường

Công ty, xưởng dệt hội buôn

Khiến cho Phan Thiết khơi nguồn vươn lên

Chủ trì, bàn luận chẳng nên

Nôn nao, bạo động – xây nền Duy Tân

Truyền tin rộng khắp nhân dân

Phong trào, trách nhiệm Huỳnh – Trần lo toan

Hùng hồn, linh hoạt: Cụ Phan

Vào Yên Thế - Hoàng Hoa Thám – hùm thiêng

Để tìm hiểu hoạt động riêng

Sau vào Nghệ tĩnh, gặp hiền sĩ Ngô (8)

Dư vang của cuộc Nam du

Nhân dân biết tiếng, sĩ phu học hành

Cụ Phan nhanh trí nhiệt thành

Gan dạ, xông xáo đấu tranh miệt mài

Đưa thanh niên học nước ngoài

Chủ trương kiên quyết chống, bài ngoại xâm

Mong khai dân trí chuyên tâm

Chẳng nhân nhượng Pháp, đạp tan cường hào.

Thơ văn đề xướng kết giao

Cho dân giác ngộ, đồng bào yên vui

Đinh ninh, định kiến hẳn hòi

Tăng thêm nhuệ khí, diệt loài gian manh

Dũng cảm, ý chí, tự tin

Sĩ phu sùng bái, hết mình noi theo

Thương yêu cứu giúp dân nghèo

Dù cho vượt thác băng đèo cũng cam

Thẳng tay tố cáo quan tham

Hà hiếp, bóc lột – Việt Nam não nề

*

Cụ Phan chu đáo trăm bề

Quang minh chính đại, lời thề thiêng liêng

Bứt tung khỏi ách xích xiềng

Nội tình, ngoại thế, dân quyền phân minh

Nhu cầu khôi phục hồi sinh

Thoát nghèo, vượt khó dân lành yên vui

Sao cho khỏi cảnh ngậm ngùi

Thoát vòng bảo hộ, ngọt bùi đắng cay

Ông vạch mặt lũ tay sai

Chỉ lo hưởng lợi, chẳng thay đổi gì

Trở về xứ Quảng tường tri

Khích viên cố đạo giúp thi hành liền

Bốn mươi trường học dựng lên

Võ, Văn, Quốc ngữ lập nên thịnh hưng

Cụ Phan hoạt động không ngừng

Khuyên dân cải cách, xin đừng đam mê

*

Dị đoan cờ bạc rượu chè

Phát huy quá khứ thần kỳ liệt oanh

Siêng năng cố gắng học hành

Duy Tân – chí hướng đấu tranh sinh tồn

Viết bài ca “Tỉnh Quốc hồn”

Gọi kêu, khuyến cáo phải khôn – mạnh giàu.

Học nghề, phấn đấu tầm cao

Anh em phải biết giúp nhau thật lòng

Không áp bức, chẳng cúi lòn

Xây nền tự chủ, Cháu con quật cường

Biết đoàn kết, biết yêu thương

Nông đoàn hợp tác, trồng bông nuôi tằm

Khai hoang tiết kiệm chuyên cần

Hãng buôn, cơ sở do dân tự làm

Ông khôn khéo lúc mạn đàm

Cảm ơn, lịch lãm thăng trầm, tự nhiên

“Trăm năm biển khổ chìm thuyền

Tự do là thuốc chữa chuyên cõi đời” (*)

Đông Kinh Nghĩa Thục kính mời

Ông ra diễn giảng, thức thời, cao siêu

Ông từng đăng, viết rất nhiều

Trên báo Đại Việt, đã nêu chủ đề

“Thi tù tùng thoại” (9) nói về

Châm ngôn, tư cách tinh vi tận tường

Tình hình thế sự nhiễu nhương

Biểu tình, vây phủ huyện đường ngày đêm

Bao vây bắt Lãnh binh Điền

Cùng Đề đốc Tuệ ở miền Hòa vang

Tòa Khâm Sứ khống vu Phan

Chủ mưu chống thuế, xui dân lộng hành

Bèn cho cảnh sát quân binh

Giải Phan vào Huế tường trình lý do

Hội Đồng Cơ Mật thăm dò

Điêu ngoa, chất vấn, mưu mô đã rồi

Nhưng ông khẳng khái phản hồi

Thượng thư cứng họng mới bôi bác vào

*

Định sang Nhật, chống sưu cao

Làm thơ kêu gọi, xuống tàu đi Nga

Cuối cùng kết án đày ra

Ngoài Côn Đảo vắng gần ba năm tròn

Một chín mười một (1911) cùng con

Đáp tàu sang Pháp với đoàn Đông Dương

Ở Paris phải tính đường

Gặp nhiều nhân vật, tìm phương điều trần

Giải bày tố cáo thực dân

Hành vi bạo ngược, bọn quan cậy quyền

Áng văn tiêu biểu đầu tiên

Nặng tình cảm, ý thức xuyên tim hồng

Tài hùng biện luận, dung thông

Trình bày nỗi khổ, bất công đọa đày

Kẻ nghèo đói khát trắng tay

Hàm oan, họa gởi tai bay vào mình

“Lại còn trần pháp nghiêm hình

Tự do là giặc, nhiệt tình là gian” (*)

Nổi sôi vô hạn, kêu oan

Già nua, bệnh tật, suy tàn đớn đau

Tình đồng chí nghĩa đồng bào

Tuôn theo ngọn bút, dạt dào tri ân

Phải ân xá hết tù nhân

Ông đòi chân lý, cân phân rạch ròi

Trọn lòng yêu nước thương nòi

Ông đe dọa Pháp, đứng ngồi không yên

Bức thư đạt kết quả liền

Các tù chính trị, an nhiên đề huề

*

Phục hồi học vị về quê

Dư luận quần chúng hả hê, rỡ ràng

“Trung kỳ dân biến tụng oan…”

Nội dung tập ký gởi toàn quyền Tây

*

Suốt thời gian ở Mạc-xây

Phan luôn tích cực, thẳng ngay kiên cường

Nói về bạo động Đông Dương

Chở che, bênh vực đồng hương nhiệt tình

Duyên may mắn gặp Nguyễn Tất Thành

Giao lưu, trao đổi và bình luận thơ

“Giai nhân kỳ ngộ” mong chờ

U, Lan, Tấn Sĩ bơ vơ nửa chừng

Đại chiến thế giới nổ tung

Pháp gây khó dễ, gọi Trường với Trinh (10)

Buộc ông gia nhập nhà binh

Bắt gian, vu cáo, linh tinh chất chồng

Tên quan ba Pháp Ca-rông

Đặt điều, khống chế, nhốt trong ngục tù

Bạn thân ông – Thiếu tá Ru

Lập hồ sơ án, giả mù sa mưa

*

Trong tù ông vẫn làm thơ

Không hề nao núng, giả vờ đùa chơi.

Bọn quan hãnh tiến đắc thời

Câu thơ “Nước lụt, chó ngồi…” cợt trêu

Bị giam, khốn khó trăm điều

Con mất học bổng, vợ yêu qua đời.

Gian truân chẳng nói nên lời

Không đủ bằng cớ, chúng thời lặng câm

Tháng Tám, một chín mười lăm (8/1915)

Ra tù, chưa có việc làm sinh nhai

Long đong cảnh ngộ cả hai

Cha con, câu cá, làm thuê, chụp hình

Chuyển về tỉnh nhỏ mưu sinh

Khó khăn chồng chất điêu linh cơ hàn.

Niềm tin trong suốt thời gian

Là nhiều thư Nguyễn Tất Thành gởi trao

Hai ông hợp lực cùng nhau

Rửa phim, chữa ảnh, trồng rau, họa vần

Cùng Văn Trường kết bạn thân

“Ba tay phiến loạn An Nam” dạn dày (11)

*

Về sau Phan đến Mạc – xây

Làm quen các thủy thủ này: Việt Nam

Pháp tuy chiến thắng rộn ràng

Nhưng kiệt quệ chẳng mở mang được gì

*

Rước vua Việt đến Paris

Phô trương dốt nát, tự ti quê mùa

Phan viết bức “Thất Điều Thư”

Kể bày tội lỗi như tường trình

*

Làm theo các nước văn minh

Tấn công thủ đoạn van xin lợi quyền

“Cháy nhà chó dại thằng điên

Cũng nghề bán giấy kiếm tiền cho qua” (*)

*

Văn chương “Tỉnh Quốc Hồn Ca”

Tập hai - ấm áp thiết tha nồng ấm

Một chín hai hai (1922) cụ Phan

Gởi thơ cụ Nguyễn (12) luận bàn nhủ khuyên

*

Dựa vào lý thuyết dân quyền

“Dung nội triệt ngoại” đưa thuyền ra khơi

Tiếng bom Sa Diện long trời

Của Phạm Hồng Thái, đổi đời cụ Phan

*

Được về đất nước Việt Nam

Sau lưu vong suốt mười lăm năn dài.

Đã từng tủi hận chua cay

Tang thương, thiếu thốn, yếu gầy ốm đau

*

Ông Phan đánh điện yêu cầu

Khoan hồng ân xá Bội Châu đồng thời…

Ngưng ngay kế vị nối ngôi

Của vua Khải Định suy đồi bất minh

Nói về đạo đức lòng tin

Phong tục tập quán, lý tình đông tây

Lòng chung thủy chẳng đổi thay

Ông nêu luận điệu lâu dài sâu xa

*

Lời tâm huyết thật chan hòa

Ý tình mạnh dạn đạm đà cao thâm

Cuối năm một chín hai lăm (1925)

Bệnh suy nhược nặng, đã xâm phạm vào

*

Ruột gan nội tạng tiêu hao

Cả hai bác sĩ đồng bào cử ra

Chữa cho ông cũng thật thà

Rằng không cứu vãn, thế mà ông vui

*

Chỉ đau có chút xíu thôi

Nếu cần bàn định, thì rồi sẽ qua

Ngày hai mươi bốn tháng ba (24/3)

Một chín hai sáu (1926) ông xa cõi đời

*

Hưởng năm mươi bốn (54) tuổi trời

Lễ tang hàng chục vạn người tiễn đưa.

Nỗi đau biết mấy cho vừa

Trầm hương, hoa nến, trồng người ngớt hồi

*

Nhiều đô thị ở khắp nơi

Thành tâm vọng điếu, nghẹn lời tiếc thương

Thơ ca, sự nghiệp văn chương

Snags soi vằng vặc, chủ trương tuyệt vời

*

Tinh thần bất khuất không rời

Tô nền văn học chói ngời nghĩa nhân

“Dân ta là thánh là thần

Bền gan chắc dạ quỷ thần cũng kiêng” (*)

Ngàn Phương


(1) Ca dao

(2) Phạm Thú Thứ - Ông Ích Khiêm

(3) Nguyễn Duy Hiệu – Trần Văn Dư

(4) Huỳnh Thúc Kháng – Trần Quý Cáp – Nguyễn Đình Hiến

(5) Cụ Phan Bội Châu

(6) Huỳnh Thúc Kháng – Trần Quý Cáp

(7) Nguyễn Trọng Lôi (con cụ Nguyễn Thông)

(8) Ngô Đức Kế

(9) Thơ cụ Huỳnh Thúc Kháng

(10) Phan Văn Trường – Phan Châu Trinh

(11) Câu nói của mật thám Pháp

(12) Cụ Nguyễn Ái Quốc

(*) Thơ của cụ Phan Châu Trinh

Gió xuân qua Đất Rồng...

Lão Tám Làng cầm tinh tuổi hổ

Thơ Đường Luật vẫn rèn thi thố

Xuân hồng lộc biếc nhụy hoa khai

Biển bạc đồng xanh tràng pháo nổ

Lướt cảnh tiên sơn giữa cõi trần

Qua hàng cổ thụ trên hè phố

Giai nhân đã hẹn sớm mai này

Gởi gió mây ngàn bay mấy độ

08/08/2021 Ngụy Kỳ Nam

Xuân Nhâm Dần 2022

Đổi ca Tân Sửu với Nhâm Dần

Bỗng chúa sơn lâm hiện trước sân

Rượu Tết nâng ly mời bạn hữu

Thơ Xuân họa vận chúc thi nhân

Rõ ràng nhận định điều hư thực

Tha thiết chủ trương tính kiệm cần

Ngã bóng tà dương đường sáng sủa

Lạc quan tiến bước vững bền chân.

Long An – 11/11/2021

Thanh Vĩnh _ Nguyễn Công Ân

Đường Xuân Phía Trước

họa vận Xuân Nhâm Dần 2022

Sửu sắp giao ngôi báu lại Dần

Thời Covid hiển hiện đầy sân

Tân xuân lặng lẽ lời tân khách

Cố quận đìu hiu giọng cố nhân

Bởi thiếu thơ ngân trà rượu rót

Cùng không nhạc trỗi gió trăng cần

Mười lăm bước nữa dù gai góc

Thế kỷ thèm lên gởi dấu chân

19/11/2021 Phạm Thạch

Nhành Xuân trước ngõ

Tuần hoa giáp gõ nhịp Nhâm Dần

Rực rỡ mai vàng nở trước sân

Gợi thuở non xanh rừng hổ báo

Phơi màu áo bạc tuổi phong trần

Bình minh lảnh lót Đàn Chim Việt

Giọng hót tưng bừng cả Bến Xuân

Khúc khải hoàn reo tin thắng trận

Bao năm cách trở lại quây quần

14/11/2021 Ngụy Kỳ Nam

Ôi Sài Gòn!!!

Bao nhiêu lực lượng tuyến đầu

Bấy nhiêu thiện nguyện từ lâu hết mình

Qua rồi quá khứ an bình

Sài Gòn hoa lệ hãi kinh thảm sầu

Mãi mong ban phước nhiệm màu

Qua đi đại dịch nguyện cầu ngày đêm

Trở về thuở ấy ấm êm

Cây vui trổ lá, hoa thêm nhụy vàng

Dây giăng tháo hết khang trang

Người xe nhộn nhịp thênh thang nẻo đường

Đát lành chào mộng yêu đương

Vườn hoa khoe sắc: Ánh Dương rạng ngời

Vần Thơ ngẫu hứng thành lời

Để quên... quên hết trần đời bất an

Vũ Thùy Hương


Sầu Ly Biệt

Bặt tin đã mấy tháng trời

Lòng Em thầm nhủ tình đời nhạt phai

Ngậm ngùi biệt xứ bi ai

Giọt hiu hắc nhớ cho dài mộng xa

Ngó lui hun hút quê nhà

Sóng nhồi – thác đẩy bôn ba kinh hoàng

Nỗi buồn nhức buốt bẽ bàng

Âm dương cách biệt! Mộng vàng còn đâu

Thổn thức tư tưởng âu sầu

Tái tê cam phận! Bể dâu mịt mờ

Trần đời lăn lóc nào ngờ

Đường về đất lạnh vật vờ Em mang

Trong cơn vô vọng vái vang

Tận cùng tiềm thức: sao ngang trái hoài

Vũ Thùy Hương


Sầu Ly Biệt

Ngày xưa Em bé bỏng dại khờ - Còn Anh dạn dày sương gió biển khơi – Tàu Anh đưa Em về bến giữa bom đnạ ngút Trời – Từ ly Em về quê cũ khi khói lửa tạm yên-

Ba năm sau chinh chiến tràn lan! Trùng dương cách biệt: Chúng mình xa nhau! – Bặt tin mấy mươi năm tời! Biết tìm phương nao?!

Tình cơ xui khiến được tin – Anh từ bên ấy tìm Em – Ngỡ ngàng nước mắt mừng vui: Năm năm tình thắm duyên nồng – Năm năm mơ ước đã thành-

Nhưng sao đi mãi không về - Để Em trông ngóng chờ mong – Để em nhung nhớ âu sầu!

Xa cách nhau Anh lìa cõi thế! Em nào biết đau lòng!

Giờ đây Em nơi trần thế - Còn Anh nơi ấy lạnh lùng!

Bài ca gởi Anh thương nhớ đầy vơi! Gởi anh tê tái lòng Em-

Từ nay vĩnh biệt nhau rồi! Chúng mình đôi ngả còn gì buồn hơn! Chúng mình đôi ngả còn gì buồn hơn!!!

Thơ phổ nhạc: Vũ Thùy Hương


Đợt dịch thứ ba (08/02/2021)

Nhà nhà chuẩn bị đón xuân

Covid ập đến, tan tành niềm vui

Hai Bắc (1) lại khổ quá trời

Dù rằng dương tính không mời vẫn sang

Người dân lại rất hoang mang

Nhưng rồi dịch bệnh lây lan khắp vùng

Thủ tướng chỉ đạo tập trung

Ưu tiên dập dịch, nhưng đừng âu lo

Mọi hoạt động tạm dừng cho

Giãn cách xã hội để cho yên lòng

Dịch đến dù chả ai mong

Người lính áo trắng xung phong ngại gì

Tình nguyện chẳng sợ hiểm nguy

Quyết tâm dập dịch, thắng đi mới về

Túc trực giúp đỡ chẳng nề

Ở khu phong tỏa, mọi bề ưu tiên

Khó khăn nhưng chẳng ưu phiền

Học sinh từng miền đến lớp vui sao

Kết thúc đợt dịch thứ ba

Nhờ ơn trời Phật, dân ta vui mừng

Nhưng vẫn thực hiện năm ca (5K)

Người dân đỡ khổ Đảng ta thỏa lòng.

Thúy Mai

(1) Là Bắc Giang, Bắc Ninh

Vắc xin Covid-19

Mừng quá Việt Nam đã có vắc xin

Nhưng vì có ít, ưu tiên tuyến đầu

Tiếp theo là mười một nhóm sau

Y bác sĩ cùng sinh viên ngành Y

Lao động tự do, shipper, vé số

Rồi người cao tuổi, có bệnh nền

Đến lượt sáu mươi lăm tuổi trở lên

Rồi dưới sáu lăm đến mười tám tuổi

Nhưng ưu tiên từ trên xuống dưới

Bây giờ đã bao phủ khắp toàn dân

Lãnh đạo Việt Nam hết lòng vì nước

Đăng ký mua thuốc vắc xin, ngoại giao

Nên Việt Nam cũng được trao tặng nhiều

Dù vắc xin thế giưới khan hiếm lắm

Nên các nhà khoa học Việt Nam

Cũng đang tiến hành thử nghiệm vắc xin

Rồi đây vắc xin made in Việt Nam

Sẽ ra đời. Niềm vui tràn ngập bạn ơi!

Nhưng cũng không được chủ quan lơ là

Lời Thủ tướng nhắc nhở nhân dân ta

Năm ca nhưng phải cộng vắc xin và thuốc

Nhất là Delta, biến thể khôn lường

Đừng khinh thường kẻ thù giấu mặt

Chấp nhận sống chung, và luôn cảnh giác

Đó là lá chắn giúp ta phòng ngừa.

Thúy Mai

Vui xuân cùng bạn

Hôm nay bạn hữu chúng ta

Ngâm thơ đoàn kết, dự trà đồng tâm

Muôn lòng như nở hoa xuân

Du dương khúc nhạc, bổng trầm tiếng ca

Người vui cảnh cũng thiết tha

Tình người cuộn sóng, chan hòa niềm vui.

Lê Minh Chử

Bài học trường đời

Nghe như xuân đã cận kề

Lòng chợt phơi phới nhớ về quê hương

Bao kỷ niệm yêu thương

Bâng khuâng cảm xúc thiên đường tuổi thơ

Nghe kể tích cũ chuyện xưa

Ngây thơ khờ dại khi chưa trưởng thành

Trường đời bài học còn xanh

Biết phân thiện ác, biết hành xử hay

Lê Minh Chử


Có câu 70 tuổi lớp người xưa hiếm

* * *

Các cụ đã nghỉ ngơi thôi

Không tham gia bất kể việc gì

Nay thì khác

Già xưa lão giá an chi

Già xưa ngơi nghỉ việc gì cũng thôi

Già nay thơ nhạc vui chơi

Già nay vẫn nhớ lại thời xuân xanh

Già nay sáng suốt quang minh

Già nay hướng thiện làm lành ngân vang

Già nay gia cảnh khang trang

Già nay con cháu đàng hoàng hiếu trung

Già nay huynh đệ trùng phùng

Già nay như tấm gương trong sáng ngời

Già nay nhân nghĩa không vơi

Già nay bao quản những lời thị phi

Già nay lục bát đường thi

Già nay bằng hữu mãi ghi trong lòng

Già nay gạn đục khơi trong

Già nay đã trải tấm lòng vị tha

Già nay mái tóc bạc phơ

Già nay ôn lại chuyện xưa đau lòng

Già nay trọn hiếu trọn trung

Già nay đã thoát khỏi vòng trần ai

Già nay dạo gót hiên mai

Già nay nấm mộ thảnh thơi đợi chờ

Hữu tình vịnh mấy vần thơ

Thêm vui bóng xế không mờ ngày xanh.

Hoàng Thị Vinh

Đầu xuân khai bút

Khai bút đầu xuân tứ tuyệt trần

Lời thơ lưu luyến đượm tình thân

Đào hoa đua nở hoa tươi thắm

Ngắm cảnh thêm vui họa mấy vần.

Ngắm cảnh thêm vui họa mấy vần

Trang nghiêm tiến lễ bái tiền nhân

Dâng hương khấn nguyện lòng tôn kính

Cúi lạy từ đường đáp nghĩa an.

Cúi lạy từ đường đáp nghĩa an

Phong tư nếp cũ trọn tình quân

Bậc thềm oanh yến tung tăng lượn

Dưới trướng liên hoan chén tẩy trần.

Dưới trướng liên hoan chén tẩy trần

Tổ tiên tô thắm lúc minh tân

So dây nắn phím chào xuân mới

Tiếng nhạc lời thơ họa mấy vần.

Hoàng Thị Vinh


Thơ của Đức cha Dụ

Tựa đề tự bạch

Mừng vui lễ ngọc tạ ơn trời

Chỉn chạc viên trường thấm thoát trôi

Mến đạo chay bần xa thế tục

Gìn lòng kiến tịch lánh mưu đời

Theo đà ý bút lời tâm phúc

Thanh thản hồn thơ ánh nguyệt soi

Tận hiến trọn đời cho lý tưởng

Ngàn thu còn mãi đến muôn đời.

Họa:

Lời nguyện cha dâng đã thấu trời

Cửu tuần xem tự áng mây trôi

Chay lòng sớm tránh xa thế tục

Một đạo nhìn xa chọn với đời

Năm tháng giáo điều lời Chúa dạy

Ngày đêm nghe giảng mẹ ban bởi

Nguồn thơ lý tưởng nêu gương sáng

Muôn thuở còn ghi đức độ người.

Hoàng Thị Vinh

Bài thơ không định viết

Không phải con tôi. Không phải cháu tôi

Tôi cũng chẳng bao giờ quen biết nó

Hãy trông. Nó hoàn toàn còn là một thằng nhỏ

Đạp nó thế đủ rồi. Tát nó thế đủ rồi

Nó có tội chi? Bác ơi, chị ơi

Ăn trộm ư? Một bánh mì kẹp thịt

Đây tôi trả tiền cho. Thế này nhiều hay ít

Thả nó ra, đánh đập quá đủ rồi

Mặt nó sưng vêu tím như vỏ ốc nhồi

Răng nó lung lay, mép ứa dòng máu đỏ

Có thể nó không còn mẹ còn bố

Nó đi xin vỏ bao xi măng ở các nhà xây

Giành một miếng ăn mà bị xử đến mức này

Với trẻ con, sao các người ác thế

Không ai vô can khi một em bé

Đến ngày hôm nay vẫn còn đói bánh mì...

Trần Nhuận Minh, 1-6-1994


THE POEM I DIDN’T INTEND

TO WRITE

He’s not my son. He’s not my grandson

I have also never known him

Look at him. He’s still completely a little boy

You’ve trodden on him enough. You’ve slapped

him enough

What crime did he commit? Dear uncle, dear sister

A theft? A sandwich

Well here let me pay for it. Is it too much or too little

Let him go. You’ve beaten him enough

His face swelled considerably and was purple

like the snail shell

His teeth got loose, a line of red blood oozed

from his mouth’s corner

Maybe he doesn’t have his mother or father

He’s begging for ciment bags at houses being built

Scrambling for a piece of food and be treated to

such a level

How can you be so wicked with a child

No one is cleared of all charges when a child

Up to today still runs short of bread...

1-6-1994

Trần Nhuận Minh - Translated by Vũ Anh Tuấn

Phụ bản III


BÀI HỌC XƯƠNG MÁU

Đại gia đưa Kiều nữ đi sắm đồ hiệu và Bài học xương máu - Rất đángđể suy ngẫm.

Một ngày kia, có người đàn ông trung niên tướng mạo xấu xí, dẫn theo 1 cô gái vô cùng trẻ trung xinh đẹp, đến cửa hàng chuyên buôn bán nhữngchiếc túi xách hàng hiệu cao cấp. Ông ta đã chọn 1 túi xách trị giá đến 18.000 USD cho cô gái. Khi trả tiền, người đàn ông lấy ra cuốn chi phiếu, chẳng ngần ngại điền số tiền tương ứng vào 1 tờ chi phiếu, nhân viên cửa hàng có phần khó xử.

Người đàn ông nhìn thấu tâm tư của cô nhân viên, nên hết sức bình tĩnh nói với người bán hàng: "Tôi cảm thấy dường như cô đang lo sợ đây là 1 tờ chi phiếu khống, phải không?

Hôm nay lại là Thứ Bảy, ngân hàng không mở cửa. Thôi thì tôi đề nghị cô hãy giữ tờ chi phiếu và cả cái túi xách này lại. Đợi đến đầu tuần tới, sau khi đổi được tiền rồi, thì xin cô hãy gửi túi xách này đến nhà của vị tiểu thư xinh đẹp này, cô thấy như vậy có được không?".

Cô nhân viên cửa hàng nghe xong hoàn toàn yên tâm, vui vẻ chấp nhận lời đề nghị này, lại còn hào hứng cam đoan rằng chi phí gửi túi xách sẽ do cửa hàng này đảm nhiệm.

Sáng Thứ Hai, nhân viên cửa hàng đem tấm chi phiếu đến ngân hàng thanh toán, kết quả tờ chi phiếu này quả thật là tờ chi phiếu khống.

Người nhân viên vô cùng tức giận, liền gọi điện cho người đàn ông đó, người đàn ông nói với cô rằng: "Chuyện này có gì to tát lắm đâu, tôi và cô cả hai đều không bị tổn thất gì cả.

Hôm Thứ Bảy đó, tôi cuối cùng đã chiếm hữu được cô gái đó rồi.Thật lòng cảm ơn sự hợp tác của cô".

Câu chuyện này nói với chúng ta rằng: Những gì mà chính bản thân ta "nhìn thấy tận mắt" cũng chưa chắc đã là thật. Tham hư vinh thì phải trả 1 cái giá rất đắt.

Cô gái xinh đẹp kia cho rằng cái túi xách trị giá hàng nghìn USD đó sẽ được giao đến tận cửa nhà vào sáng Thứ Hai, nên tự nhiên cũng đã buông lơi cảnh giác, cho rằng đầu tư như vậy thật là xứng đáng. Cô vốn đã không biết rằng bản thân mình đang chơi trò mạo hiểm, chẳng hề có bất cứ sự đảm bảo nào.

Tại sao yêu thương phải cần điều kiện

Một ngày kia, khi những viên chức chính phủ đang sữa chữa, xây cất một chuồng bò thì họ trông thấy trong góc nhà có một cái ổ chuột. Họ bèn dùng khói đuổi mấy con chuột trong đó chạy ra. Một hồi sau quả thật có chuột chạy ra, từng con, từng con một…

Sau đó mọi người nghĩ rằng chuột đi hết rồi. Nhưng khi họ vừa mới bắt đầu dọn dẹp thì thấy hai con chuột nữa đang chen nhau ra khỏi miệng ổ. Sau một hồi cố gắng, cuối cùng hai con lọt ra được. Điều lạ là sau khi ra ngoài ổ, hai đứa không chạy đi liền mà đuổi nhau ở gần lối ra, dường như con này đang muốn cắn đuôi con kia.

Mọi người kinh ngạc lại gần coi thử, thì họ thấy một con bị mù, không thấy gì cả, còn con kia đang cố gắng để cho con mù cắn đuôi nó, để nó kéo con mù đi tẩu thoát.

Sau khi chứng kiến sự việc xảy ra, ai nấy đều xúc động, không nói nên lời. Tới giờ ăn, nhóm người ngồi quây quần và bắt đầu bàn luận về những gì xảy ra giữa hai con chuột.

Một viên chức La Mã nghiêm nghị nói:” Tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai con chuột đó cũng giống như giữa vua và quan”. Những người kia nghĩ một hồi rồi nói:” Thì ra thế!” Viên chức La Mã rất lấy làm hãnh diện.

Một người Do Thái khôn ngoan lên tiếng: “Tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai con chuột đó giống như là vợ với chồng”. Mấy người kia ngẫm nghỉ một hồi nữa, ai cũng thấy có lý, Ông tán thành. Nói xong, mặt người Do Thái lộ vẻ mãn nguyện.

Một người Trung Hoa, quen với truyền thống rất mạnh mẽ ở Trung Hoa là hiếu thuận với cha mẹ, nói: “Tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai con chuột kia cũng giống như tình nghĩa mẹ con”. Những người kia lại nghĩ một hồi nữa, cảm thấy điều này có lý hơn. Họ tỏ ý tán thành lần nữa. Gương mặt người Trung Hoa bộc lộ nét khiêm tốn chuyên nghiệp.

Lúc đó, một người hay làm phúc, đầu óc đơn thuần đang ngồi dưới đất chống tay lên cằm, nhìn mấy người kia vẻ hoang mang: “Hai con chuột kia sao lại phải có quan hệ với nhau chứ?”

Thời gian bỗng nhiên dừng lại. Cả toán vẻ mặt sững sờ, nhìn về phía người kia, không nói một lời. Viên chức La Mã, người Do Thái, và người Trung Hoa, ba người lên tiếng lúc nãy đều cúi đầu xấu hổ, không dám trả lời.

Thật vậy, tình thương vô điều kiện không dựa vào lợi lộc, tình bạn, sự thủy chung hay huyết thống. Thật ra nó không cần một quan hệ nào cả.

Một câu chuyện cảm động

Chuyện kể rằng trên cây cầu trong ngôi thành nọ có một người hành khất.

Ông ta không biết kéo đàn, cũng không biết hát, thậm chí còn chẳng biết viết ra cảnh ngộ bi thảm của mình lên giấy, rải xuống đất để mong nhận sự thương xót của khách qua lại.

Mỗi ngày, ông chỉ biết ngồi chồm hỗm dựa vào thành cầu, co rorúc mặt vào trong đầu gối, bên cạnh đôi chân gày gò để một cái bát mẻ cũ kỹ.May mà người qua lại chiếc cầu rất đông, thi thoảng cũng có người đem vài đồng bạc lẻ vứt vào trong bát.

Khi đêm đến, người hành khất sẽ trở về chỗ trú ngụ của ông –một cái vườn rau ở ngoại ô, bị bỏ hoang đã lâu. Một hàng rào xiêu vẹo bao lấy vườn rau bỏ hoang, bên trong có một túp lều nát, người hành khất già đã lánh rét ở đó được mấy mùa đông lạnh giá.

Trong vườn rau còn có một miệng giếng khô, bên giếng có một gốc cây già. Gió mùa đông bắc ùa về, thành phố đón trận tuyết đầu tiên của mùa đông. Người trên cầu thưa thớt hẳn đi, lão hành khất đang định sẽ về nghỉ, bỗng từ đâu chạy tới một con chó nhỏ.

Con chó bị lạnh tới nỗi run lên từng chập, trõ mõm hít hít cái bát sứt của người ăn mày, thì ra là vì đêm hôm trước ông đã dùng cái bát này để thức ăn. Lão hành khất trong lòng thương xót, liền lấy trong người ra một chiếc bánh bao, khẽ khàng bỏ vào trong bát.

Con chó nhỏ ngước lên nhìn ông hồi lâu, như thể cảm động lắm, rồi gục mặt vào bát ăn lấy ăn để. Người ăn mày mang con chó về "nhà" của mình, từ đó người chó quấn quít không rời. Con chó rất thông minh, hễ đói là biết ngoạm cái bát chạy nhắng quanh chủ đòi ăn. Những người đi qua
nhìn thấy thế rất ngạc nhiên thích thú, liền thi nhau ném tiền vào trong bát.

Người ăn mày phát hiện ra đây là cơ hội lớn, liền huấn luyện cho con chó. Qua một thời gian, nó đã biết đứng bằng hai chân sau, ngoạm bát xin ăn nhảy tới nhảy lui trước mặt những người qua đường. Vậy là người ăn mày lại càng thu được nhiều tiền thêm.

Người ăn mày bỗng dưng " phát tài", liền lấy tiền đi đánh xổ số. Thật là nằm mơ cũng không tưởng được vận số ông lại tốt đến vậy, không lâu sau ông trúng giải độc đắc. Cứ như là số mệnh vậy. Người ăn mày mua lạivườn rau bỏ hoang, rồi từ mảnh đất đó xây lên một ngôi nhà lộng
lẫy, nhưng ông vẫn giữ lại túp lều nát, miệng giếng khô cùng gốc cây già và nếp hàng rào lưa thưa ngày nào ở vườn sau khu nhà mình.

Trong phòng của người ăn mày bày biện đầy những đồ xa xỉ, ông bỗng chốc mê mẩn việc sưu tầm đồ cổ, thích cung phụng những mỹ nhân chân dài, lại càng thích ánh mắt kinh ngạc, ngưỡng mộ của mọi người khi ông rút trong túi ra cả xập tiền lớn.

"Quý ngài ăn mày" bắt đầu đi gặp gỡ giới thượng lưu, dĩ nhiên lúc nào ông cũng mang theo con chó nhỏ của mình.

Các bà mệnh phụ ra sức ủng hộ nhiệt liệt quí ông ăn chơi mạnh tay này, và dĩ nhiên chẳng ai biết xuất
thân ông ra sao. Điều duy nhất làm cho "quý ngài ăn mày" cảm thấy khó xử chính là chú chó nhỏ, bởi những người thượng lưu khác đều nuôi những con chó giống quý, thuần chủng kia!

Cho tới một hôm, con chó con bướng bỉnh của ông cắn rách tai một con chó cái giống quí, ngay giữa bữa tiệc. Chủ nhân con chó nổi trận lôi đình, làm cho ngài ăn mày cảm thấy lòng tự tôn của mình bị tổn thương nghiêm trọng.

Về tới nhà, ông lạnh lùng mang con chó ra vườn sau, cạnh cái giếng cũ. Sau đó cho nó vào một chiếc thùng gỗ, buộc vào một sợi dây thừng dài và thả xuống cái giếng khô.

Người ăn mày quyết tâm giết chết con chó, giống như tiêu diệt hoàn toàn cái quá khứ khốn khổ vẫn ám ảnh ông ta.

Từ đó, bên cạnh người hành khất thiếu đi con chó nhỏ trung thành, ông ta có thể thoải mái một mình đi gặp các cô em phục vụ dễ thương ở quán rượu, hoặc đi dự những bữa tiệc thượng lưu xa hoa.

May mà dù thế nào ông cũng không quên mỗi ngày thả xuống giếng vài miếng thịt, vì tiếng sủa của con chó cho ông biết rằng người bạn ngày khốn khó xưa kia vẫn còn sống.

Chớp mắt hơn một tháng trôi qua, người hành khất ngược lại cảm thấy không hề vui vẻ, chó nhỏ đi rồi, bạn bè quý tộc của ông ta cũng không hề nhiều hơn, vả lại có một hôm, nhằm lúc ông uống rượu say lướt khướt, đã buột miệng để lộ ra cái thân phận thấp hèn ngày xưa. Lũ người kia bỗng chốc chế nhạo và quay mặt lạnh nhạt với ông ta.

Người ăn mày cuối cùng hiểu ra rằng, trên đời này chỉ có chú chó nhỏ đã từng trải qua hoạn nạn với mình mới là người bạn chân chính nhất. Thế mà ông nỡ vứt nó xuống dưới giếng khô.

Người ăn mày chạy thật mau đến bên giếng, thả cái cũi gỗ xuống. Nhưng chó con chỉ đi quanh cái thùng gỗ mà không dám nhảy vào trong.

Người ăn mày chạy đi tìm một cái dây to, một đầu cột vào gốc cây, tự mình trèo xuống đáy giếng cứu chó con. Giếng rất sâu, nhưng ông không sợ hãi chút nào. Đáy giếng tối om om, lại bốc lên mùi thum thủm, ông vội cắp con chó rồi trèo lên.

Chó con chẳng hề oán trách chủ mình, vui mừng liếm mặt người chủ lâu ngày mới gặp lại.

Bác sỹ giỏi nhất trong thành cũng không thể trị nổi
bệnh của chó nhỏ. Người hành khất vì muốn bù đắp lỗi lầm của mình, mỗi ngày đều cho nó đồ ăn ngon nhất, đi đâu cũng dắt theo. Con chó nhỏ vui lắm, lúc lắc cái đuôi nhỏ, nhưng đầu nó chỉ có thể quay nhìn đằng sau, đôi mắt lúc nào cũng ngước nhìn trời cao.

Người ăn mày mang chó nhỏ đi khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, ông cầm tiền bỏ vào tận tay những người hành khất khác. Thấy những người ấy cảm kích cầm tiền của mình, ông cảm thấy thật là mãn nguyện. Rồi ông bắt đầu có dự định mới, ông báo cho những người ăn mày trong cả thành tới nhà ông lĩnh tiền.

Tin tức truyền đi rất nhanh, đội ngũ ăn mày tới lĩnh tiền càng lúc càng đông. Những người được tiền rồi dùng mọi lời lẽ hoa mỹ nhất trên đời để tán tụng ông, khiến ông hưng phấn khôn tả. Đài truyền hình tới, bản tinbuổi tối cũng có phóng sự nói về ông.

Ngày thứ hai, mọi người như nước thủy triều xông tới nhà ông, có những người chẳng phải ăn mày cũng gia nhập vào đội quân lĩnh tiền.

Người hành khất cứ chìm đắm trong cảm giác vinh dự vui sướng, ngày nào cũng bận rộn chạy qua chạy lại giữa ngân hàng và nhà mình.

Cho đến một hôm, ngân hàng báo cho ông biết tiền trong tài khoản đã hết, ông đành phải nói với hàng dài những người xếp hàng rằng: Hết tiền để phát mất rồi!

Đám người xếp hàng lập tức biến thành một đoàn hỗn loạn. Chúng bắt đầu mắng chửi: " Đồ ti tiện!" "Sao đến lượt tao lại không phát nữa!" "Dạy cho nó một bài học!".

Bọn chúng xông vào nhà ông, ném gạch tới tấp làm vỡ hết cửa sổ. Ông chốt cửa nhà lại, nhưng cũng sắp bị đám người xô đổ đến nơi rồi.

Sợ quá, ông chạy ra vườn sau. Trông thấy sợi dây thừng còn buộc bên miệng giếng, ông vội vã leo xuống. Lúc sắp xuống tới đáy giếng, bất ngờ đầu dây thừng buộc ở miệng giếng bị rơi ra, người hành khất cùng sợi dây vẫn nắm chắc trong tay rơi xuống đáy giếng tối om.

Cảnh sát mất rất nhiều công sức mới giải tán được đám người hung hãn, nhưng ngôi nhà gần như đã biến thành một bãi hoang tàn, những thứ cóthể lấy được, người ta đều cướp đi hết.

Thời gian mỗi ngày một qua đi, người ăn mày chỉ đành trú lại ở đáy giếng vừa tối vừa lạnh, ông ta ngóc mặt lên gào với trời, với trăng, chẳng ai nghe thấy. Chó con mỗi ngày chạy đi khắp nơi kiếm thức ăn ném xuống giếng, lúc thì là chiếc bánh bao đã mốc meo, khi thì miếng xương
đã biến mùi. Chó con kiếm thức ăn rất khó khăn, vì đầu nó chỉ có thể nhìn ngược đằng sau.

Không làm thế nào được, nó chỉ biết nằm dài ra mà hít hà dưới đất, vớ được miếng thịt hỏng hay gì đó là ngóc dậy chạy về miệng giếng khô ngay. Có một lần, chó con còn vứt xuống cả xác một con mèo chết.

Chớp mắt hơn một tháng trôi qua, chó con thậm chí còn không để dành thức ăn cho bản thân, người nó gầy chỉ còn da bọc xương, thế rồi nó yếu đến mức sức lực để đi cũng không còn. Người ăn mày ngày nào cũng gào thét khản cả cổ, chẳng có ai tới cứu ông ta.

Vài ngày liên tiếp chó con không thả đồ ăn xuống nữa, người ăn mày không biết con chó đã xảy chuyện gì. Ông đau đáu nhìn lên mảnh trời hìnhtròn nhỏ bé trên miệng giếng, biết rằng mình sắp chết.

Một buổi sớm, những tiếng người nói chuyện rầm rì trên miệng giếng đánh thức người hành khất khỏi cơn mê sảng, ông thu hết chút sức tàn hô lên một tiếng.

Ông được mọi người dùng dây thừng đưa lên, ánh sáng mặt trời chói lọi làm ông không mở nổi mắt. Mọi người săm soi người đàn ông lem luốc hôi thối trước mặt:

"Nếu không phải thấy có xác con chó con chết ở miệng giếng này, thì chẳng có ai nghe được tiếng kêu của ông."

Người ăn mày nhìn cái xác gầy guộc của chó nhỏ, nước mắt rơi ướt cả bộ lông dính đầy đất bẩn của nó.

P/s : Qua câu truyện này mọi người đã rút ra đc bài học ý nghĩa nào nhỉ ?

Hoàng Kim Thư st.

BÀ NĂM SA ĐÉC

TỪ SÂN KHẤU ĐẾN CUỘC ĐỜI

Thiện Mộc Lan

Năm 1915, gánh hát bội đầu tiên của tỉnh Sadec (nay là Đồng Tháp) được thành lập do ông Cả Tam, tộc danh Nguyễn Duy Tam làm chủ. Ông cả Tam chính là thân phụ của nữ nghệ sĩ Năm Sadec (1908-1988) một tên tuổi lớn của sân khấu hát bội, cải lương Saigon trong nhiều thập niên kể từ những năm 1930.

Gánh hát bội mang tên Thiện Tiền Ban ra đời trong lúc Nguyễn Kim Chung (tên tục của nghệ sĩ Năm Sadec), mới có bảy, tám tuổi.

Thiện Tiền Ban thời ấy đã quy tụ được nhiều đào kép tên tuổi như: Nhưn Biện, Nhưn Liêng, Nhưn Thiền, kép Bảy Tửng, kép Nhành, kép Táng v.v… Bên đào có có cô Năm Nhỏ, cô Sáu Sển, cô Ba Bổn ở gánh Phước Xương của cô Ba Ngoạn Sài Gòn xuống, cùng nhiều tên tuổi khác nữa, một thời gánh hát bội của ông Cả Tam vang danh khớp Nam kỳ lục tỉnh.

Những gánh hát và những vai để đời:

Có lần nữ nghệ sĩ Năm Sadec tâm sự: “Do cha mẹ tôi thích hát bội nên khi sanh tôi ra, đặt cho tôi tên Kim Chung là để nhắc nhở đến tên tuổi một cô đào hát bội nổi danh ở Mỹ Tho (Rạch Gầm). Tên cô là Năm Chung. Thuở xưa, cô Năm Chung và cô Tư Bổn là hai cô đào hát bội tiền bối sáng danh một thời. Chắc là cha mẹ tôi ước muốn sau này con gái mình cũng nên danh như các bậc đi trước”.

Trên 60 năm lăn lóc với nghề, từ nghệ danh Năm Nhỏ (lúc thiếu thời) đến sau này rạng danh với cái tên gắn liền nơi chôn nhau cắt rốn: “Năm Sadec”, đã từng góp mặt ở các gánh hát bội: Phước Xương (Cô Ba Ngoạn), Phước Tường (ông Sáu Xường), Tấn Thành Ban (ông Trần Khiêm Chung) từ khoảng năm 1924 đến năm 1935.

Khán giả nhớ Cô năm Sadec với những vai diễn xuất sắc trong các vở hát bội:

Đổng Trác, Lữ Bố (Phụng Nghi Đình), Trưng Trắc (Trưng Nữ Vương), Cao Lan Anh (Ngũ biến báo phù cừu)…

Từ những năm trước 1940 Cô Năm rẽ sang sân khấu cải lương với các gánh: Trần Đắt (của ông Trần Đắt Nghĩa Cần Thơ), Huỳnh Kỳ (cô Bảy Phùng Há), Song Phụng (cô Năm Phỉ và Bảy Nam), Vân Hảo (Ba Vân – Phùng Há) và sau hết là đoàn Thanh Minh – Thanh Nga (Năm Nghĩa).

Từng thành công ở địa hạt hát bội nên khi bước sang lãnh vực cải lương, Cô Năm vẫn chứng tỏ một nghệ sĩ điêu luyện về mọi mặt, nhất là về diễn xuất.

Mấy thập niên trôi qua, người sành cải lương vẫn không quên một vai diễn “để đời” của cô. Đó là vai bà Phán Lợi trong vở tuồng xã hội “Đoạn Tuyệt” (phóng tác theo tiểu thuyết của Nhất Linh) trình diễn rất nhiều lần và nhiều năm trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga.

Báo chí phê bình vở hát nêu trên đều cho rằng từ trước đến nay chưa có nghệ sĩ nào đóng vai bà Phán lợi “qua nổi” cô Năm Sadec.

Về cuộc tình duyên năm 1947, cô năm đã có một người con riêng với ông đốc phủ sứ Đặng Ngọc Chấn, sau đó cô năm kết nghĩa đá vàng với nhà khảo cổ Vương Hồng Sển.

Về những ngày hạnh phúc của cô Năm với Cụ Vương Hồng Sển: Hai ông bà chung sống trên 40 năm và sanh một người con trai duy nhất vào năm 1951 là Vương Hồng Bảo (anh Bảo cũng đã qua đời khoảng 6 năm nay). Khi nhớ đến chút tình tắm mẳn với cô Năm, Cụ Vương đã viết: “…Hai lần bị phụ tình, nay mới thiệt bạn trăm năm, lại không làm hôn thú. Nhưng đây mới là tình thật”.

Theo cô Năm kể lại, khoảng năm 1984, cô có nói với Cụ Vương: “…Mình già rồi, ông và tôi cũng nên chuẩn bị trước phần mộ. Ông định…nữa mình sẽ về nằm cạnh mồ mả cha mẹ ở Sóc Trăng phải không?”

-Cụ Vương trả lời với vợ như “nửa chơi nửa thiệt” qua nụ cười.

“Tôi định như vầy: sau này khi hai đứa mình theo Ông bà, thì …quê tôi tôi về, còn bà thì về quê bà”.

Lời nói ấy như một quyết định của cụ Vương nên đến khi người bạn đời của ông vĩnh viễn giã từ cuộc đời và sân khấu, ông đưa Cô Năm về yên nghỉ tại quê nhà ở Sadec.

Tám năm sau, ngày 9/12/1996, cụ Vương Hồng Sển qua đời. Theo ước Nguyện của cụ lúc sanh tiền, gia đình đưa cụ về nằm bên cạnh phần mộ của song thân tại quê hương Sóc Trăng.

Sau ngày 30/4/1975, cô Năm đã bước vào lớp tuổi hơn bảy mươi, nhưng chưa mệt mỏi với nghệ thuật.

Ban kịch Kim Cương tiếp tục được công diễn, khán giả mến mộ cô Năm vẫn còn gặp người nghệ sĩ lão thành này qua vở “Lá Sầu Riêng” và các vở khác.

Và cuốn phim chót trong cuộc đời nghệ sĩ của cô là phim “Phù Sa” thực hiện vào năm 1987. Cô xuất hiện với vai bà Hai Lành.

Lần đó, đóng phim xong ở miền Tây, cô Năm về Saigon rồi ngã bệnh đột ngột và vội vã ra đi để lại nhiều thương tiếc cho tri kỷ mộ điệu.

Bùi Đẹp st.

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT

Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:

1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.

2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.

3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.

4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.

5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng
hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!

6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.

7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng
chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...

8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn:

“Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”

Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).

9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.

10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:

- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.

- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.

Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.

Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.

11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!

12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!

13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”.
Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.

14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!

15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.

16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào
phước báu nhân thiên.

17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên.

Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!

18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với
nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.

19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.

Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.

20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.

Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015

Minh Đức Triều Tâm Ảnh - Đỗ Thiên Thư st.


 

Phụ bản IV

THUỐC THIÊN NHIÊN

Không có loại dược liệu nào trên đời này đem lại hiệu quả tốt hơn cho con người và không tốn kém như THUỐC THIÊN NHIÊN .

Trong cuộc sống hàng ngày, con người không thể tránh khỏi mắc các loại bệnh từ bệnh nhẹ cho đến bệnh nặng. Tuy nhiên, khi bị bệnh mọi người đều nghĩ đến việc uống thuốc và hy vọng sẽ nhanh chóng khỏi bệnh, mà không bao giờ biết thay đổi thói quen sống của mình.

Thực tế có rất nhiều loại “thuốc” dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe, so với việc uống các loại thuốc Đông, Tây,… thì loại “thuốc” này không hề có tác dụng phụ, và quan trọng là không mất bất cứ một đồng tiền nào.

“Thuốc” chống ung thư tốt nhất: Đi bộ

Đi bộ là phương pháp ngừa ung thư tốt nhất. “Đi bộ có thể được xem như một loại thuốc phòng ngừa ung thư hiệu quả!” Hiệp hội các tổ chức từ thiện Anh và Macmillan Cancer Aids đã cho rằng, nếu chúng ta có thể đi bộ 2km mỗi ngày hoặc đi bộ khoảng 20 phút sẽ giúp phòng ngừa ung thư
vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng. Hơn nữa có thể giảm nguy cơ tử vong tới 50%. Vì vậy, đi bộ là phương pháp ngừa ung thư tốt nhất.

“Thuốc” giúp sống lâu nhất: Cười

Tiếng cười có thể đẩy nhanh nhịp tim và cung cấp oxy cho não. Nhiều người cho rằng muốn sống lâu, cần ăn thực phẩm đại bổ như nhân sâm, nhung hươu. Tuy nhiên, tất cả không bằng một ha'nh động nhỏ chính là nở nụ cười. Theo một nghiên cứu của Tây Ban Nha cho rằng con người càng cười nhiều thì càng khỏe mạnh. Tiếng cười có thể đẩy nhanh nhịp tim và cung cấp oxy cho não.

Lisa Rosenberger, một nghiên cứu viên tại Trung tâm y tế Đại học Rush ở Chicago, nói rằng cười là một loại thể dục dưỡng sinh. Những người có tính hài hước sẽ có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, tỉ lệ bị nhồi máu cơ tim giảm khoảng 40% và tuổi thọ trung bình có thể tăng thêm 4 năm rưỡi.

“Thuốc” bảo vệ tim mạch tốt nhất: Ngồi thiền

Ngồi thiền có thể tăng cường chức năng của tim, thúc đẩy tuần hoàn máu. Ngồi thiền có thể tăng cường chức năng của tim, thúc đẩy tuần hoàn máu. Sau khi ngồi thiền một lúc, sẽ khiến những suy nghĩ của bạn chậm lại, giúp mọi người trấn tĩnh được cảm xúc, tâm tính được xoa dịu. Khi bạn không ngủ được, có thể ngồi bắt chéo chân để thiền định. Ngoài ra, ngồi thiền còn có lợi cho việc ngăn ngừa và điều trị đau khớp, hỗ trợ hệ thống hô hấp, rất hữu ích cho việc thở đều.

“Thuốc” chống lão hóa: Ngủ

Nên đi ngủ trước 23 giờ để vừa bao đảm sức khỏe tổng thể vừa giúp đẹp da, trì hoãn lão hóa. “Thuốc” này so với những mỹ phẩm đắt tiền có tác dụng hơn gấp nhiều lần. Các nghiên cứu đã cho rằng thời gian hoạt động của quá trình chuyển hóa tế bào biểu bì ở người là từ 10 giờ tối đến 2
giờ sáng ngày hôm sau.

Nếu chúng ta có thể bao đảm giấc ngủ ngon trong thời gian này, chúng ta có thể đẩy nhanh quá trình chuyển hóa và trì hoãn lão hóa da. Ngược lại, thức đêm nhiều sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tái sinh của tế bào, rút ngắn tuổi thọ của tế bào da, dẫn đến đẩy nhanh quá trình lão hóa da.

Chuyên gia kiến nghị, tất cả mọi người nhất định phải ghi nhớ đi ngủ trước 23 giờ để vừa bao đảm sức khỏe tổng thể vừa giúp đẹp da, trì hoãn lão hóa.

“Thuốc” chống mất trí nhớ tốt nhất: Chăm chỉ đọc sách

Đọc sách báo nhiều hơn chính là phương pháp tốt nhất để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ. Một số nghiên cứu cho rằng, người có trình độ giáo dục càng thấp, sau này nguy cơ mất trí nhớ càng cao. Do vậy, nếu những đứa trẻ có nền giáo dục tốt thì có thể giúp phòng ngừa tình trạng sa sút trí nhớ trong tương lai.

Nếu người lớn tuổi cũng duy trì thói quen học tập, có thể bảo vệ chức năng nhận thức của bản thân. Vì vậy, đọc sách đọc báo nhiều hơn, mỗi ngày nỗ lực nhớ một vài cái mới xảy ra gần đây hoặc học tập để tìm hiểu kiến thức, khiến đại não luôn ở trạng thái vận động và học tập, đây chính là phương pháp tốt nhất để ngăn ngừa chứng mất trí nhớ.

“Thuốc” bổ sung canxi tốt nhất: Phơi nắng

Phơi nắng là phương pháp tốt nhất để bổ sung canxi. Phơi nắng có thể giúp cơ thể hấp thu được vitamin D, hơn nữa vitamin D giúp hấp thụ canxi vào xương tốt nhất. Canxi đi vào xương tham gia quá trình tạo xương, giúp cơ thể có vóc dáng "cân đối", săn chắc và vững chãi.

Đức Trí MD - Thúy Toàn st.


NHƯ MÙI HƯƠNG DẠ LÝ

Truyện ngắn

Khi Tú Anh dọn nhà rời Xóm Đạo về trên Công Lý, Minh Hòa buồn biết bao, vì thưở giờ, từ lúc còn chơi đánh đũa, nhảy dây, hai đứa bạn đồng tuổi, cùng trang lứa, thân thiết như chị em ruột nay lại phải xa nhau, làm sao mà không luyến tiếc cho được, dù trong xóm vẫn có Kim Hoa, Phượng Các và Phương Mai thường ngày đến rũ nhau chơi trò đóng
phim, đóng cải lương ở sân nhà Minh Hòa, nhưng cô bé vẫn thấy không thân bằng Tú Anh. Bạn Tú Anh nầy thì không thích trò hát xướng, chỉ lúc thúc trong nhà phụ việc cho dì dượng Tầm làm nghề đóng xén sách, mạ chữ vàng.

Tú Anh còn phải chăm sóc hai thằng nhóc em sinh đôi, mà mỗi khi đòi bú, đói bụng gì đó thì đều ré lên khóc một lượt làm cô chị mới hơn mười tuổi lính quýnh, lóng ngóng tay chân đến tội nghiệp. Có lần, Minh Hòa vô nhà Tú Anh chơi, thấy bạn mình ẳm hai tay hai em trai, đang khóc vang nhà, không làm sao dổ nín để đi khuấy sữa, thật tội, Minh Hòa liền ẳm đại một tên đặng Tú Anh rãnh tay đặt tên kia xuống giường đế đi pha sữa cho cả hai ông nhỏ, Minh Hòa hỏi: " Dì Hai đâu rồi? -" Má đi chợ nảy giờ chưa dìa.

Rồi cho tụi nó bú bằng gì? - Bằng bột Bích Chi" - Ủa, hổng cho bú sữa hộp hả Tú Anh?

Tụi nó tới hai thằng lận, má tui đâu đủ sữa với đâu dư tiền mua sữa hộp, tụi nó uống dữ lắm, phải bột Bích Chi mới phỉ lận bồ ơi.

Minh Hòa đành lặng thinh, nhìn lại căn nhà chật hẹp, phía trước chất đầy sách, dụng cụ đóng xén đặt lấn ra bên ngoài dưới cây mận, thấy thương bạn mình vô kể, hèn chi mà không mấy khi Tú Anh tham gia những trò chơi của mấy đứa con gái trong xóm, ngoại trừ theo cả nhà đi lễ Chúa nhựt hay là đi lễ một mình. Cho đến khi ông Khai Trí kêu cả nhà dì dượng Tầm lên ở chỗ kho sách của ông ấy, gia đình Tú Anh vui mừng rời đi vừa để giữ kho, vừa chuyển chỗ đóng xén sách rộng rãi hơn và cũng làm nơi cư ngụ cho gia đình bạn ấy thoải mái hơn, tuy khi từ giả, bạn không nói vì sao, nhưng Minh Hòa đoán nguyên nhân là như thế.

Xóm đạo lại vắng bóng một gia đình và cô bé Minh Hòa vắng một người bạn thân của những ngày thơ ấu.

Từ ngày đó, lâu lắm Tú Anh mới trở về xóm cũ một lần, lúc đám giỗ bên ngoại, khi thì lấy sách đặt đóng để giao, vội vội vàng vàng tạt qua nhà Minh Hòa nói chuyện qua loa một giây lát, rồi gấp gáp đi ngay. Ngày qua ngày, Minh Hòà lớn lên, phải đi học nội trú và chắc Tú Anh cũng thế, nên
chỉ có những mùa nghỉ hè là mới nhắn tin nhau qua nhỏ em họ của bạn.

Tú Anh cũng hay nhắn Minh Hòa lên nhà chơi, nhưng lần lựa mãi mà cô chưa đi được vì bận học hành, Tú Anh cứ nói miết làm Hòa cũng ngại bạn giận vì nghĩ mình chê nhà bạn nghèo, không tới cho đến Tết năm cả hai đứa cùng tròn mười ba tuổi, có lẻ vậy, Minh Hòa xin phép ba mẹ lên thăm nhà bạn.

Cái lần đến nhà cô bạn thân đó đã đánh dấu một xao động đầu đời của cô gái mới vừa chớm tuổi xuân mộng đến sớm trong nắng mai Cho đến hiện tại sau bao nhiêu năm tháng đã trôi qua, khi nhớ về thời xa xưa đó, Minh Hòa vẫn không khỏi ngẩn ngơ nhủ thầm: " Sao ngày ấy mình lại mơ mộng sớm đến vậy nhỉ ?"

" 13 tuổi nghe buồn lên tiếng gọi
Đưa hồn mình đi vào chốn xa xôi
Có những chiều mây tím ngập ngừng trôi
Mình ngơ ngác nghe hồn dâng xao xuyến

( Tuổi 13- thơ Ly Yên)

Đó là thời gian đẹp nhất tuổi thiếu nữ của Minh Hòa và cả Tú Anh nữa, nhưng chắc tâm tình,cảm nghĩ của hai người đều khác nhau. Tú Anh phải chăng cũng mơ ước điều gì đó, nhưng không tỏ thành lời, dù Minh Hòa có tò mò gặng hỏi bạn nhiều lần. Nhưng đến lượt Minh Hòa thì bị khai thác hết, nào là hay buồn vu vơ,khóc không nguyên cớ, còn thích
làm thơ gởi đăng báo, mà chưa lần nào được đăng, tập tành viết truyện ngắn, nhưng không dám gởi đi vì nhút nhát.

Tú Anh nghe xong,mỉm cười nói: " Bạn cứ lên tôi thường xuyên đi, sẽ có cách giúp bạn'" Minh Hòa không tin tưởng lắm, nhưng cũng gật đầu đồng ý cho bạn mình vui.

Rồi từ đó, căn gác dài, rộng của nhà Tú Anh là nơi họp bàn của hai cô thiếu nữ bắt đầu lắm chuyện nói hằng giờ, làm dì Tầm đôi khi phải để ý, bước lên hỏi lớn: “Hai cô nhỏ này có chuyện gì mà thì thầm, bàn luận mãi vậy, Tú Anh xuống phụ má cơm nước cho cả nhà nè.”

Tú Anh và Minh Hòa cùng giật mình, dạ một tiếng và đi mau xuống nhà nhanh lẹ sợ bị "ăn bánh tét nhưn mây" của dì Hai, nhưng chắc vì có mặt Hòa nên má Tú Anh chỉ cằn nhằn nhỏ tiếng mà thôi.

Rồi ngày tháng đi qua ở tuổi hoa niên của những người con gái nhỏ, Tú Anh và Minh Hòa, bàng bạc những mơ ước xa xôi nào đó chưa hình thành trên "vần thơ sầu rụng", trên các tập truyện Tuổi Hoa xanh, tím, và cũng từ đó, bỗng Minh Hòa chợt khám phá ra, ngỏ hẻm nhà Tú Anh đẹp nhất trên con đường dài nhất thành phố dẫn đến phi trường lớn nhất của thủ đô Sài Gòn và còn đẫm một mùi hương thơm ngát. Khi nghe Minh Hòa nói về việc nhận xét này, Tú Anh cười khoái chí nói: "Vậy mà tui không nhận ra chớ, bồ hay thiệt, đúng là thi sĩ có khác hé!" Minh Hòa đỏ mặt, phát nhẹ vào vai bạn: “Chọc ghẹo mình... hoài, nói thật đó mà."

Mỗi khi đi đến đầu hẻm nhà bạn, là Minh Hòa như đã ngửi được hương thơm dịu dàng đến kỳ lạ, bước sâu hơn chút, ở chỗ rẻ bên trái hẻm nhỏ đi vào ngôi giảng đường hai bên hàng rào trồng hoa không biết tên, tỏa hương ngào ngạt, không biết là trong mơ của cô bé Hòa hay đời thực nữa mà sao quyến rũ lạ thường. Cô hay hỏi bạn mình có ngửi được hương thơm đó không, Tú Anh chỉ mỉm cười, không trả lời, lâu ngày cô không chất vấn bạn nữa,mà chỉ giữ lại nỗi ngẩn ngơ trong lòng.

Bỗng một hôm Tú Anh về xóm đạo lấy những bộ báo đóng tập “Bé Ngôn Bé Luận” về giao cho khách, nàng ghé nhà bạn dúi vào tay Hòa một cái tên và một địa chỉ ngắn gọn, nói nhanh: Nè, bồ viết thư cho “chú này” làm quen đi, ta mới sưu tầm, điều tra được đó, ổng cũng làm thơ đăng báo ì xèo đó, nhớ nghe, xong là lên xe biến lẹ, Hòa không kịp nói nửa lời, chỉ đứng ngẩn ra hồi lâu, mới mở tờ giấy, đọc thầm như sau: Thế Phương - Hộp thư 1... Sài Gòn Hoàng Đạo

“Gì mà có nhiêu đây hà, cáì con nhỏ nầy, đưa vậy thôi, rồi chạy mất, làm sao đây.

Hơn một tuần đắn đo suy nghĩ, sau cùng Minh Hòa cũng bậm gan viết lá thư đầu tiên cho anh Thế Phương, phần sợ bạn giận, phần vì tính hiếu kỳ muốn làm quen với một nhà thơ, nhà văn qua giới thiệu của cô bạn chí cốt và rồi thư gởi đi trong sự hồi hộp lo âu lẫn chờ đợi hồi âm. Ngày nào cô bé Hòa cũng ra đứng trước cổng nhà để đón ông phắc tơ đi qua xem có thư gởi đến cho mình hay không dể không thôi người trong nhà, nhất là bà má biết được có người gởi thư cho cô thì nguy to, với lại giờ đang là kỳ nghỉ hè nên Minh Hòa cũng rỗi rảnh.

Hơn hai tuần sau, Hòa nhận được thư hồi âm của anh Thế Phương gởi đến, hú hồn và cũng may mắn, cô bé nhút nhát, ngây thơ mà mang nhiều mộng ước lại bạo gan viết thư cho một người xa lạ, chưa quen biết để xin kết giao, Hòa đi nhanh vào phòng, mở thư đọc ngay trong hồi hộp, tim đập nhanh trong lồng ngực.

Thư anh Phương viết cho Hòa lời lẽ rất giản dị, chân thật và đầy tình cảm, anh dường như cũng đoán biết qua nét chữ là của một cô gái nhỏ nên lời thư ngắn mà ân cần, dễ mến, anh chấp nhận làm quen với cô nhỏ, làm Hòa đọc mà rưng rưng cảm động và vui mừng biết bao, nhưng ở cuối thư, anh Phương có viết một câu làm Hòa mắc cỡ, thẹn chín người đại khái là “Hòa ghi địa chỉ ngoài phong bì gởi anh dư hai chữ là đường nhà anh ở, lần sau em chỉ viết tên người nhận, số hộp thư... Sài Gòn là đủ rồi nhé” Minh Hòa nhẩm đi nhẩm lại lời thư của anh Phương mà tâm hồn như nhẹ nhàng bay bổng, nỗi ước mơ ngày mới lớn như đã nói thành hiện thực dù chưa biết tương lai sẽ ra sao, người anh quen qua thư tín ấy có giúp đở mình trên bước đường văn thơ hay không, nhưng bây giờ cô thấy mình tràn đầy hy vọng và tin tưởng, Cô thầm cám ơn Tú Anh, mà cũng thấy buồn cười cái tính nhanh nhẩu của cô bạn thân.

Từ đó, anh Thế Phương và Minh Hòa thường trao đổi thư từ qua lại, anh chỉ dẫn cho cô những luật thơ bằng trắc, thơ Đường luật, thất ngôn bát cú... những cấu trúc văn chương gọn gãy, dễ hiểu... Hòa ra sức học hỏi qua sự giảng dạy của anh và tập tành làm thơ, viết những bài văn ngắn, nhưng chưa bao giờ đưa cho “thầy giáo” xem, bình luận cả, vì còn nhút nhát, e ngại. Điều đó, cũng làm Tú Anh la Hòa hoài, nhưng cô bé vẫn không thế nào bỏ cái nhút nhát của mình một sớm một chìều được.

Có một chiều cuối tuần, cô bạn Tú Anh bỗng chạy xe đạp về xóm rủ Minh Hòa đi dạo chợ Sài Gòn, cô bé tròn mẳt hỏi bạn: “Bộ hôm nay dì Hai phát lương sao mà có tiền rủ ta đi mua sắm vậy?” Tú Anh cười cười xua tay lắc đầu: Hổng phải, nhưng bồ cứ theo ta đi, có chuyện nầy hay lắm "

Minh Hòa còn dụ dự không muốn đi, thì cô bạn đã lanh chanh giục giã: Đi đi mà, nhanh lên, xin phép dì Năm rồi lên tui chở, chiều rồi "

Nghe vậy, Hòa chiều bạn, vội vàng vào nhà xin phép mẹ, thay nhanh chiếc áo đầm trắng, thắt ceinture màu xanh, xỏ lẹ đối giày lưới trắng, xong xuôi vuốt vội mái tóc búp bê, rồi chạy ra sân, nơi Tú Anh đang đứng đợi, miệng nói: “Nè, ta xong rồi nè”, nhưng không thấy bạn lên tiếng, Hòa ngước nhìn, thì ra Tú Anh đang ngẩn ra ngắm nhìn mình “Chà, bé hôm nay diện dữ ta ơi, tui ganh tỵ nha.”

Minh Hòa mắc cở, đỏ mặt, phát một cái lên vai bạn: “Quỹ nà, nói gì đâu á, có đi hay không đây”_ Tú Anh cười lớn, khỏa lấp: “Nào, chúng ta lên đường.”

Đợi cô bé Hòa ngồi lên một bên yên xe, gác chân lên, vịn tử tế, Tú Anh mới nhấn pê đanh chạy đi, tuy nhẹ nhàng, nhưng cũng làm cho Hòa thoáng giật mình trong tiếng cười giòn tinh nghịch.

Ra đến chợ Sài Gòn, gởi xe xong, đôi bạn trẻ nẳm tay nhau dạo vòng quanh, rồi bước vô trong chợ ngẳm các gian hàng chưng bày các đồ vật, vảì vóc, mỹ phẩm, Minh Hòa nhận thấy bạn mình chỉ xăm xoi, ngắm nghía chứ chắng mua gì cả, mà mình cũng vậy nên im lặng theo chân Tú Anh mà thôi và sau cùng bạn ta cũng tuyên bố: “Hết cái gì để xem rồi, thôi mình về”

Minh Hòa nghe theo, cùng quay ra, nhưng Tú Anh lại kéo tay bạn ra cửa hông chợ, băng qua đường đi phăng phăng về hướng nhà ga xe lửa, Minh Hòa ngạc nhiên hết sức, nhưng vẫn lặng thinh đi theo, xem Tú Anh đi đến đâu, Cô bạn lắm trò nầy đưa Hòa bước lên những bậc thềm vào bên trong nơi có những bức vách gỗ ngăn đôi nhà ga Sài Gòn làm chỗ hành khách chờ mua vé hay đợi tàu về trên sân ga phía bên ngoài, có một hai cánh cửa đóng mở cho hành khách ra vô.

Đang nhìn quanh nhà ga to lớn và dài, thì Minh Hòa bỗng nghe một tiếng nói trầm ấm cất lên: “Tú Anh, em đi đâu đây, mua vé xe cho nhà hả?” Cô giật mình quay lại, nghe Tú Anh trả lời: “Dạ không anh, em đi chơi với bạn”

Đến đây, Tú Anh kéo tay Minh Hòa lại gần mình rồi cất tiếng: “Đây là anh Thế Phương làm việc ớ nhà ga Sài Gòn, và còn đây là Minh Hòa bạn thân của em đó anh.”

Nghe những lời giới thiệu của bạn mình, Minh Hòa muốn chết đứng cô luống cuống, thẹn thùng không sao kể xiết trước sự bất ngờ nầy,chỉ biết cúi đầu chào anh, chàng trai với gương mặt hiền lành, dễ mến, đang nhìn chăm chăm vào cô, thốt lên tiếng nói ấm áp như để trấn tỉnh sự lo sợ, hoang mang trước cuộc gặp gở bất ngờ.

Anh lên tiếng nhỏ nhẹ: “Hòa em đừng lo nhé, anh vẫn quý mến em, anh em mình cứ trao đổi thư tín như từ trước đến giờ nhe, em đừng e ngại, Minh Hòa vẫn còn lúng túng, ấp úng dạ nhỏ và quay sang Tú Anh nảy giờ cứ đứng yên cười mím chi, không nói gì thấy mà ghét, Minh Hòa nói nhỏ: “Tú Anh, chúng mình xin phép anh Phương đi về, trễ rồi, mẹ mình sẽ la đó.”

Tú Anh nghe vậy, gật đầu đồng ý, liền nói với Thế Phương xin phép ra về, Anh nhìn Minh Hòa một thoáng và nói lời chia tay hai cô gái, cô vội vòng tay cúi đầu chào anh bạn, làm Tú Anh suýt bật cười, nhưng thấy vẻ mặt làm nghiêm của Hòa nên vội vàng quay mặt nơi khác Hai cô lật đật lấy xe đạp nhanh về nha Minh Hòa, suốt dọc đường cô bé làm vẻ hờn dỗi bạn, giữ yên lặng không nói một lời.

Về đến sân nhà mình rồi mà Minh Hòa vẫn giữ nguyên nét mặt nghiêm và im lặng làm Tú Anh thấy chột dạ, thấy Hòa xuống xe, lặng lẽ đi vào nhà, cô vội dựng chống xe, níu tay bạn mình đứng lại hạ giọng năn nỉ: “Bồ giận mình sao, mình chỉ muốn cho bồ một sự ngạc nhiên thú vị khi gặp anh Thế Phương bất ngờ thôi mà mình xin lỗi nhe Hòa, không ngờ bồ lại giận như vậy.” Minh Hòa quay lại nói nhỏ: “Lần sau đừng vậy nữa đó, làm người ta mắc cở muốn chết, không biết dấu mặt đâu trước anh Phương nè”.

Tú Anh cười lớn nói “À há, có vậy mà cũng thẹn thùng, đỏ mặt.” Minh Hòa vội đưa ngón tay lên môi, suỵt nhỏ: “Thôi về đi bà”, mẹ tui nghe bây giờ “rồi đứng nhìn theo cô bạn tinh nghịch của mình nhấn pê đan chạy đi, rời khỏi xóm đạo.”

Đêm đó, trong nhật ký của cô gái nhỏ đã ghi những dòng thơ:

..." Hình bóng chàng, chàng hoàng tử oai nghiêm
Len lén đến trong hồn cô gái nhỏ "

(Thơ L. Yên)

Từ đó, mối kết bạn thư tín giữa Minh Hòa và Thế Phương càng khắng khít, mà vẫn giữ tình văn thơ trong sáng.

Rồi theo Lệnh Tổng động viên của đất nước, Thế Phương rời nhiệm sở vào quân trường Thủ Đức, cho đến lúc anh ra đơn vị, Minh Hòa vẫn thường xuyên viết thư thăm người anh kết nghĩa của mình và thường theo dõi, đọc những bài thơ của Phương đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, trong đó có một bài anh viết tứ thơ lạ và hay, mà mãi đến khi không còn gặp lại, Minh Hòa vẫn nhớ hoài :

" Trong thời chiến tranh
Sống kề cái chết
Không tiếc đầu xanh
Tiếc chưa nói hết ...

Đừng hướng về tôi
Hãy hướng về Trời
Quên hết lời tôi
Nhớ lời Thượng Đế.

( mượn ý thơ Lê L.)

Thế Phương là thế đó, anh chân thành, từ tốn trong từng câu văn lẫn ý bài thơ.

Lúc nầy, Tú Anh dường như đã theo một hướng khác, không còn đế ý đến việc trao đổi thư của cô bạn mình nữa, mặc dù đôi bạn vẫn liên lạc, thăm hỏi nhau, Hòa vẫn lên ngõ hẻm nhà bạn, và mùi hương kỳ diệu ấy vẫn theo đuổi cô bé vào từng giấc mơ như hương dạ lý nhà ai lúc đêm về...

Ngày tháng trôi qua, tâm hồn của cô bé mơ mộng thuở mười ba, mười bốn dần dần mở ra và thay đổi mà cũng mơ hồ không thể biết được là tự bản thân mình mơ ước điều gì. Cho đến khi Minh Hòa mừng sinh nhật hai mươi mốt tuổi, Tú Anh báo tin sẽ theo chồng đi xa, bỏ lại một thời con gái tươi đẹp, Minh Hòa nghĩ vậy.

Đồng thời, Thế Phương cũng đã giải ngũ, trở về đời sống dân sự và giữ chức vụ cao trong một tôn giáo ở Sài Gòn.

Ngày Minh Hòa đến đưa cô bạn thân về nhà chồng và ghé vào giảng đường, nơi có hương hoa kỳ diệu thì cũng nhận được tin anh đã lập gia đình và chuyển về ở luôn trong nơi ấy. Ngày đó cũng nằm trong tháng Ramadan, người theo đạo nầy nhịn ăn từ lúc Mặt Trời lên cho tới Mặt Trời lặn, không cả uống nước và nuốt nước bọt nữa Tự dưng cô thấy cả người như khô quắt lại và cổ họng nóng ran, vội trấn tĩnh hỏi thăm mấy câu với hai vợ chồng, rồi từ giã để vô nhà Tú Anh, sợ trễ giờ làm lễ. Cô dâu phụ Mai Hương, bạn của Tú Anh đứng trước cửa nhà, thấy Hòa bước thấp bước cao đi tới, vẻ mặt xanh xao vội chạy ra đỡ đưa vào nhà, may mà đàng trai chưa đến, Mai Hương liền rót cho cô ly nước mà lần đầu tiên trong đời cô đã uống một hơi hết trọn ly đầy, một lúc thật lâu sau, Minh Hòa mới cảm thấy bình thường trở lại. Để cho bạn được trọn vui trong ngày hôn lễ, nàng gắng gượng dự cho tròn vẹn, lễ hôn phối, dự tiệc cưới... mà không hiểu sao Minh Hòa lại thấy mình như đang ở một thế giới khác vậy cho đến khi về nhà.

Đêm đó, người con gái mộng mơ đã cảm thấy nỗi tan tác giấc mơ đầu đời và tự ru mình bằng nước mắt thơ ngây.

Thời gian rồi cũng làm phai lạt những niềm đau, Tú Anh có một ngày đã thành góa phụ với đứa con thơ trên tay, riêng Minh Hòa thì lận đận, vật vã với những cuộc tình dang dở trong đời, cả hai đã không có dịp trở về cái ngỏ hẻm thơm hương nồng nàn ngày xưa của Minh Hòa mơ mộng.

Ngôi giảng đường ấy sau biến cố của đất nước đã biến đổi thành một nhà trẻ hay cơ quan gì đó, Tú Anh cũng không rõ, người thì đang ở đâu, có được bình an không, không ai biết, một gia đình chia cách nơi nào, chân trời hay góc biển không ai tường.

Bao nhiêu năm đi qua, Minh Hòa vẫn nhớ mãi những câu thơ của “người làm thơ ấy”:

"...Bây giờ thì lỡ rồi
Nên tôi mở tròn mắt trẻ thơ và hỏi :
Cô đã có lần yêu tôi?
( Lỡ rồi - thơ Lê L.)

Tình thơ của cô gái nhỏ ngày xưa vẫn bàng bạc như mùi hương dạ lý trong mơ của cô ấy dù nay đã bạc mái đầu./.

Hoài Ly


AI CÓ YÊU AI

Truyện ngắn

Hạ Lan bước vào, chưa kịp thay quần áo đã nằm lăn ra giường và... khóc.

Ba đứa chúng tôi bật cười. Thi kêu lên

- Rõ khổ! Sao vậy ...con?

Tôi ngồi dậy, đặt quyển sách xuống rồi thòng chân từ tầng giường trên, dùng ngón cẳng cái khều nhẹ tay nó:

- Tội chưa! Vì sao em khóc dzậy em?

Hạ Lan càng nấc to hơn. Thấy điềm chẳng lành, ba đứa đưa mắt nhìn nhau rồi không ai bảo ai bu lại chỗ bạn nằm.

Kim kéo nhẹ tay Hạ Lan:

- Sao dzậy bồ tèo? Nín đi, tớ cho...cục phấn!

Chúng tôi cười ồ. Bỗng dưng Hạ Lan ngồi bật dậy, chắp hai tay xá xá:

- Con lạy mấy bà để cho con yên! Huhu....

Tôi đưa tay che miệng để giấu nụ cười. Hạ Lan gào lên:

- Trời ơi, tao khổ gần chết mà tụi bây còn giỡn nữa! Huhu...

Kim chu miệng:

- Ai làm mầy khổ?

- Híc híc...thầy Tiến chớ ai!

Chúng tôi bật cười. Tôi trêu nó:

- Ổng tặng mầy một cây gậy vào vở Văn phải không? Như vậy mày có ba chân, đứng càng vững, lo gì. Hihi...

- Phải được vậy, tao đâu có khóc.

- Úi trời!

Hạ Lan kể lể:

- Đằng này, ổng đi chơi với vợ ổng.

Cả ba đứa ôm bụng cười:

- Tưởng gì. Ổng đi chơi với vợ ổng thì mắc mớ gì mày mà khóc?

- Tao khổ lắm hu hu...

Nhìn con nhỏ khóc mùi mẩn, chúng tôi bỗng lặng đi. Chẳng lẽ nó yêu thầy Tiến thật sao?

Trong căn phòng nhỏ của ký túc xá này, Hạ Lan đẹp nhất, học giỏi nhất, mà cũng lãng mạn nhất. Năm học đầu tiên, ngày vừa về tới phòng là nó đã huyên thuyên về thầy Đức, người dạy môn tâm lý. Hạ Lan tô một lớp phấn hồng quanh người thầy đáng yêu. Nó làm chúng tôi tin chắc rằng trái tim nó không còn chỗ cho ai lọt vào nữa. Nhưng, sang năm thứ hai, thầy Đức chuyển đi nơi khác, Hạ Lan đau khổ, vật vã một thời gian cho đến khi thầy Tiến xuất hiện.

Ngày đầu đến lớp, thầy đã đánh dấu sự có mặt của mình bằng một hình thức lạ. Hôm ấy, tiếng chuông báo giờ vào học đã vang lên mà các bạn vẫn tiếp tục giỡn. Hạ Lan dùng thước kẻ chọt vào hông Kim. Nhột quá, Kim chạy ra khỏi chỗ ngồi. Lan đuổi theo, hai con bé cười hăng hắc. Đúng lúc đó, thầy Tiến bước vào. Ông ngẩn người một hoáng rồi đến bên cửa sổ, nhìn về phía chân trời. Thấy nét mặt thầy không vui, tôi vội nhắc nhở bạn:

- Hạ Lan, về chỗ.

Trở lại chỗ ngồi, hai con nhỏ còn tiếc nhìn nhau cười khúc khích. Tôi nạt:

- Thầy kìa, giỡn hoài!

Lúc này, hai đứa mới chịu vòng tay, ngồi im lặng. Thầy vẫn đứng im bên cửa sổ, lơ đễnh nhìn theo áng mây trôi. Hạ Lan đưa tay che miệng thì thầm:

- Không chịu dạy còn lo ngắm cảnh.

Tôi trừng mắt:

- Im, chắc thầy giận rồi đó. Cho mày chết!

Không khí dường như bị nén chặt, chúng tôi cảm thấy nặng nề, ngột ngạt làm sao! Không còn tiếng động nào ngoài hơi thở gấp của chúng tôi. Cả lớp chờ đợi cơn thịnh nộ của thầy. Mãi năm phút sau, ông mới quay vào, mỉm cười hiền hậu:

- Chào các em, tôi là Tiến, được nhà trường phân công phụ trách môn Văn của lớp. Bây giờ, chúng ta bắt đầu làm việc được chưa, các em?

Cả lớp đồng thanh:

- Dạ được!

Chỉ có thế mà cả ngày hôm đó Hạ Lan cứ luôn mồm kêu “xấu hổ, ê mặt”. Con nhỏ cứ ra ra, vào vào, than than, thở thở:

Phải chi thầy phạt tao thì tao đỡ khổ hơn!

Và, vài ngày sau nó tuyên bố:

- Hình như...tao đã yêu rồi!

Chúng tôi đã quá quen với tính lãng mạn của Hạ Lan nên chỉ ậm ờ cho qua chuyện. Thầy nào dạy hay, nó kính phục rồi có lẽ vì thế mà nhầm lẫn với tình yêu. Lần này, chắc cũng thế thôi. Nhưng, càng ngày Hạ Lan càng đổi khác. Con nhỏ bỗng dưng giỏi văn nhất lớp. Bài làm nào của nó cũng đạt điểm cao. Nội dung thì phong phú hơn bài của tôi gấp ba lần. Và, dĩ nhiên, con nhỏ trở thành giáo sinh cưng của thầy. Ông hướng dẫn Hạ Lan làm thơ, viết văn. Nhiều bài của Lan đã được lên báo. Tên Hạ Lan trở thành quen thuộc trong giới sáng tác trẻ của trường. Thầy Tiến đã mở ra trước mắt Hạ Lan con đường văn học tuyệt vời. Lúc nào, thầy cũng tỏ ra xứng đáng là một người thầy đáng... kính. Ông cho chúng tôi
xem ảnh vợ, kể cho chúng tôi nghe về quảng đời sinh viên thơ mộng và thuở hai ngườu vừa chớm yêu. Thầy khẳng định rằng cho đến bây giờ tình yêu ấy vẫn còn mãnh liệt. Hạ Lan đau khổ lắm nhưng nó cứ yêu. Hạ Lan không chịu tin như thế. Nó hy vọng một điều gì không rõ.

Sáng nay, chúng tôi được nghỉ hai tiết văn vì thầy Tiến bận việc. Cả lớp mừng quýnh. Suốt năm nay, thầy mới chịu...nghỉ vài tiết. Cơ hội ngàn vàng đã đến. Chúng tôi bàn kế hoạch đi chơi. Đứa rủ đến vườn dưa gang ăn trái. Đứa đòi tới bắc Mỹ Thuận vừa ăn ổi vừa ngắm phà lừ đừ qua sông...chỉ có Hạ Lan ngồi yên, hồn thả tận đâu đâu. Khi chúng tôi kéo đi thì nó lủi thủi và ký túc xá. Đến trưa, quay về, chẳng thấy Hạ Lan đâu. Đang thắc mắc thì con bé vác mặt về. Nó khóc như phòng này có ai chết. Tôi hỏi:
- Sao mày biết thầy đi chơi với vợ?

- Thì vợ thầy từ thành phố xuống thăm. Ổng dắt vợ tới đây nè!

- Chi vây? Cả ba đứa tròn mắt ngạc nhiên:

- Thầy giới thiệu tao với vợ.

- Ổng nói sao?

Hạ Lan đứng lên, giả bộ đi tới đi lui, xoa tay vào nhau rồi đưa tay về một phía:

- Tụi bây coi, ổng làm vầy nè. Em, đây là Hạ Lan, học giỏi lắm! Hạ Lan là tác giả mấy bài thơ em thường khen đó.

Này, Lan, đây là Thuý Vy, vợ của thầy ...huhu...

- Rồi sao nữa. Tôi sốt ruột hỏi.

- Hai người mời tao đi ăn hu hu...

- Sướng quá vậy?

- Sướng cái con khỉ, tao ăn đâu có vô. Tao khổ gần chết mà vẫn phải làm bộ như hạnh phúc. Mà tao phải công nhận cô đẹp và dễ thương lắm huhu....bảo sao thầy....huhu...

Trong lúc chúng tôi che miệng cười thì Hạ Lan lăn ra giường rên rỉ:

- Ôi, tình yêu ...đã chết!

Xuân đi qua. Nắng hạ đốt cháy những tán lá phượng xanh non thành từng đốm lửa. Những nụ hoa học trò rực đỏ trên cao. Tiếng ve kêu vang gọi mùa thi trở lại. Chúng tôi vùi đầu vào sách vở, học miệt mài học đến nỗi quên theo dõi tâm trạng Hạ Lan ra sao trước tình yêu lãng mạn của nó.
Cuối cùng, ngày kết thúc khoá học đã đến. Khi hay tin Hạ Lan đã xin về dạy ở một trường thuộc vùng sâu, chúng tôi bàng hoàng chua xót.

Ngày đưa tiễn Hạ Lan, thầy Tién và vợ cũng theo chúng tôi ra tận bến xe. Thuý vy, vợ thầy, mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ngào:

- Hạ Lan, cố gắng lên em nhé! Cô tin ở em!

Hạ Lan mím môi, hất nhẹ mái tóc như để cho những ý nghĩ u tối rơi đi, nỗi đau theo máu chảy ngược về tim và ngủ yên trong đó. Hạ Lan bỗng rụt tay về, giọng buồn bã:

- Không, em là người có lỗi. Em đã làm cho thầy cô khó nghĩ. Em thành thật xin lỗi thầy cô.

Hạ Lan bỗng mỉm cười, giọng rắn đến bất ngờ:

- Thầy cô và các bạn hãy yên tâm. Không phải lo gì cho em cả. Ngày mai, ở ngôi trường mới, biết bao điều lạ đang chờ đợi em. Học sinh nơi nầy chắc cần em lắm. Ôi, em sẽ thực hiện những mơ ước của mình. Đến đó, là nguyện vọng của em chứ có phải là để tự đày đoạ mình đâu mà thầy cô và các bạn lo lắng. Bước đầu, tất nhiên sẽ gặp nhiều khó khăn.

Nhưng, em nghĩ, càng vất vả thì kết quả đạt được càng có giá trị. Em tin như thế.

Thầy Tiến bắt tay Hạ Lan:

- Chúc mừng em!

Hạ Lan chớp mắt cảm động. Con bé siết tay từng đứa chúng tôi rồi lên xe. Nắng và gió đuổi theo Hạ Lan. Chiếc xe lao nhanh trong bóng chiều, mang theo tình yêu của người bạn nhỏ./-

Nguyễn Thị Mây


MỤC LỤC

Chi tiết về cuộc họp ngày 11/12/2021 ...... Vũ Thư Hữu ........ 03

VÀI DÒNG VỀ CUỐN
“HỒI KÝ 60 NĂM CHƠI SÁCH” CỦA TÔI

...... Vũ Anh Tuấn ............. 10

Lịch sử Giáo Hội Cộn g Giáo (tt- số 178 )
Bosco Nguyễn Văn Đình, Ofm & Giuse Nguyễn Hữu Triết . 12

VỀ KINH NGỤY TẠO (APOCRYPHA)

Tâm Nguyện ....... ............ 18

MỪNG XUÂN MỚI ................. Phạm Vũ ............ 32

NGUYÊN TẮC SỐNG LÂU 100 TUỔI ...

Lệ Ngọc ............. 46

PHỤ NỮ NGU NGỐC VÀ PHỤ NỮ THÔNG MINH

Đào Minh Diệu Xuân ........... 51

Tết Nhâm Dần (2022) - Ôn lại chuyện cọp

Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Triết ............ 53

CHUYỆN KHÓ TIN NHƯNG CÓ THẬT
LINH HỒN NHẸ NHÀNG KHI THOÁT XÁC

Hà Manh Đoàn - Hoàng Chúc st. .......... 63

CLB Sách Xưa & Nay .............. Kim Long ........... 69

Cuộc đời ....................... Nguyễn Văn Tốt ............ 69

Kỷ Niệm Tháng 10.2021 ................. Thúy Mai ............ 70

MÁ ƠI ........................................ Hoài Ly ............ 71

GỢI NHỚ ............................ Vũ Thùy Hương ........... 72

CÙNG CHUNG ƯỚC VỌNG ............. Vũ Thùy Hương ........... 73

CÙNG MẠ SOI VE ................. Vũ Thùy Hương ........... 74

Chân thành tưởng niệm Cụ PHAN CHÂU TRINH (1872 - 1926)

Ngàn Phương ................. 75

Gió xuân qua Đất Rồng ................. Ngụy Kỳ Nam ........... 87

Xuân Nhâm Dần 2022 ... Thanh Vĩnh _ Nguyễn Công Ân ............ 87

Đường Xuân Phía Trước ............. Phạm Thạch ............ 88

Nhành Xuân trước ngõ .......... Ngụy Kỳ Nam ............ 88

Ôi Sài Gòn!!! ...................... Vũ Thùy Hương ............ 89

Sầu Ly Biệt .............................. Vũ Thùy Hương ............ 90

Sầu Ly Biệt (Thơ phổ nhạc) ......... Vũ Thùy Hương ........... 91

Đợt dịch thứ ba (08/02/2021) ............... Thúy Mai ............ 92

Vắc xin Covid-19 .................... Thúy Mai ............ 93

Vui xuân cùng bạn ................... Lê Minh Chử ............ 94

Bài học trường đời .................. Lê Minh Chử ............ 94

Có câu 70 tuổi lớp người xưa hiếm ....... Hoàng Thị Vinh ............ 95

Đầu xuân khai bút ...................... Hoàng Thị Vinh ........... 96

Thơ của Đức cha Dụ .................. Hoàng Thị Vinh .......... 97

Bài thơ không định viết .............. Trần Nhuận Minh ............ 98

THE POEM I DIDN’T INTEND TO WRITE

Trần Nhuận Minh - Translated by Vũ Anh Tuấn .......... 99

BÀI HỌC XƯƠNG MÁU ........... Hoàng Kim Thư st . .......... 101

BÀ NĂM SA ĐÉC
TỪ SÂN KHẤU ĐẾN CUỘC ĐỜI ...... Bùi Đẹp st. .......... 110

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT
Đỗ Thiên Thư st . .............. 114

THUỐC THIÊN NHIÊN ......... Thúy Toàn st. .......... 122

NHƯ MÙI HƯƠNG DẠ LÝ ............. Hoài Ly .......... 125

AI CÓ YÊU AI ..................... Nguyễn Thị Mây ......... 136





|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
|  01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
|  06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
|  11 |
 12 |
 13 |
 14 |
 15 |
|  16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
|  21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
|  26 |
 27 |
 28 |
 29 |
 30 |
|  31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
|  36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
|  41 |
 42 |
 43 |
 44 |
 45 |
|  46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 50 |
 
Netadong.com thiết kế