Hiện có 3 người xem / 1308974 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

CLB SÁCH XƯA VÀ NAY VIẾNG THĂM AN TẤT VIÊN
NƠI AN NGHỈ CỦA CỤ HỒ BIỂU CHÁNH 

Sáng ngày thứ bảy 13-12-08, các thành viên CLB gồm có LM. Nguyễn Hữu Triết, Dịch giả Vũ Anh Tuấn, Bác sĩ Nguyễn Lân Đính, tác giả Bùi Đẹp, nhà giáo Từ Nguyên và nhà thơ Ngàn Phương đã tụ tập ở Nhà Thờ Tân Sa Châu để cùng nhau đi viếng thăm AN TẤT VIÊN, nơi mộ phần Cụ Hồ Biểu Chánh.

Một số thành viên khác như quý ông Phạm Thế Cường, Hà Mạnh Đoàn, Phạm Phú Vinh, Phạm Phú Thành,… đã có mặt trước tại An Tất Viên vì dùng phương tiện riêng.

Các thành viên đã được bà Hồ Văn Vân Anh, ái nữ của Cụ Hồ Biểu Chánh đón tiếp rất nồng hậu, vui vẻ.

Sau khi đã thắp hương kính viếng trước bàn thờ, các thành viên được mời ra thăm mộ phần và được mời trở vào nhà dùng trà và bánh kẹo, và được nghe bà Vân Anh kể về những năm cuối đời của Cụ và về lai lịch An Tất Viên. Mặc dầu đã rất cao tuổi, 93 tuổi, ái nữ Cụ Hồ Biểu Chánh vẫn rất minh mẫn và kể lại các chuyện cũ bằng một giọng nói sang sảng rất rõ ràng.

Được biết Cụ Hồ Biểu Chánh có chín người con, năm trai và bốn gái. Các con cháu của Cụ đã thành đạt. Con trưởng, ông Hồ Văn Kỳ Trân là giáo sư, là nhà báo đã quản lý 2 tờ báo là Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt Tập chí, và sau là 1 Dân biểu của chế độ cũ. Con thứ bảy là Đại tá Hồ Văn Di Hinh, nguyên Thị Trưởng Đà Lạt, và cháu đích tôn là ông Hồ Văn Kỳ Thoại, Phó Đô Đốc Hải Quân trong chế độ cũ.

Ngoài việc để lại một số tác phẩm đồ sộ (64 cuốn) cho đời sau, Cụ còn rất có công với báo giới vì đã làm 2 tờ Đại Việt Tập chí năm 1918 (được tất cả 13 số) và tờ Đại Việt Tập chí năm 1942.

Ý hướng chính trong tiểu thuyết của Cụ là ý hướng đạo lý và địa vị của Cụ trong văn giới nước nhà chính là một nhà văn lớn của miền Nam có khuynh hướng đạo lý rất rõ rệt.

Ông Trời thực sự đã rất ưu đãi Cụ khi để Cụ và Cụ bà được an nghỉ giữa các con và cháu trong An Tất Viên, một nghĩa trang gia đình, trên một khoảng đất hơn 3500m2. Đây quả là một ân sủng của Hoàng thiên mà khối kẻ, dù có tiền rừng bạc biển chưa chắc đã được hưởng.

Sau hơn 1 tiếng đồng hồ tọa đàm và thăm viếng các thành viên đã ra về và kết thúc cuộc đi thăm lúc 11 giờ.

Vũ Thư Hữu

Cuốn “BẮC KỲ NĂM XƯA(Le Vieux Tonkin)
của CLAUDE BOURRIN

Phần II – Từ năm 1890 tới 1894

Trong bản tin số 31 – tháng 12, 2008, tôi đã có bài viết và một số hình ảnh về cuốn “Bắc Kỳ Năm Xưa” phần I từ năm 1884 đến năm 1889.

Hôm nay tôi xin viết nốt về phần 2, từ năm 1890 tới năm 1894.

Phần II này gồm 358 trang.

Từ trang đầu đến trang 28 là phần những Lời nói đầu, có đăng lại lời nói đầu ở tập 1 cộng với thêm một Lời nói đầu thứ nhì chỉ vỏn vẹn có 1 trang.

- Từ trang 29 đến trang 70 là dành cho các sự việc đã xảy ra trong năm 1890 như đoạn nói về cục diện Hải Phòng và Hà Nội vào thời điểm đó - về vụ bắt cóc hai anh em nhà Roque - về lễ khánh thành tượng đài Paul Bert - về các đoàn kịch Mallaivre và Greef-Caisso…

- Từ trang 71 tới trang 98 là phần nói về các sự việc đã xảy ra trong năm 1891 như là: vụ tên Đại úy thực dân de Juigné bị giết, vụ ám sát vợ chồng nhà Keeble - vụ xử trảm một người tên là Đốc Cáp, mà bọn Tây thực dân gọi là tên cướp (bandit), nhưng đối với chúng ta thì những người chống và đánh Tây lúc đó, ta phải gọi là một người anh hùng. Chúng cho biết bắt được người này ở Hưng Yên, đã cho ông ta vào cũi sắt để giải về Hà Nội. Sau đó chúng chặt đầu và gửi đầu người này trở lại Hưng Yên để bị bêu đầu, còn xác thì bị vứt xuống sông Hồng - về việc Toàn Quyền de Lanessan tới Hà Nội - về việc mở một quán cà phê rất nổi tiếng của một người tên là bà F. Coutel - về việc ra đời của tờ báo Xứ Bắc Kỳ (Le Tonkin) - về việc mở một hội chợ ngày 12 tháng 12 ở Hải Phòng - về việc khánh thành đoạn đường xe hỏa (tầu hỏa) đầu tiên từ Phủ Lạng Thương tới Kép - về việc thu dọn làm đẹp bờ hồ Hoàn Kiếm.

- Từ trang 99 tới trang 138 dành cho các sự việc xảy đến trong năm 1892 như: việc Hội Hòa Nhạc khánh thành trụ sở ở bờ Hồ Hoàn Kiếm vào ngày 16 tháng Giêng - về việc chiếc xà lúp tên là Lao-kay bị đắm có 32 người chết - về cái chết và tang lễ Đức Cha Puginier (Giám mục Bắc Kỳ) - về vụ kỹ sư Vezin bị bắt cóc, viên kỹ sư này là Chủ Tịch Phòng Thương Mại Hải Phòng - về vụ một đoàn xe của Pháp bị tấn công ở Bắc Lê chết mất 13 tên lính Tây thực dân - về việc khánh thành nhà máy diêm ở Hà Nội - về việc có thêm hai tờ báo ra đời: tờ Thức Giấc (Le Réveil) và tờ Nhật báo Annam (Gazette d’ Annam).

- Từ trang 139 tới trang 179 nói về các sự việc xảy đến trong năm 1893 như: mở trường đua ngựa - về vụ bắt cóc các anh Tây thực dân Roty, vợ chồng nhà Landes, bà đầm V. Larue và anh nhà thầu Lai Thuận - về việc cho ra đời tờ Đông Dương Tạp chí (Revue Indochinoise) - về việc từ ngày 1 tháng 2 Hải Phòng có điện trước cả Hà Nội - về việc mấy đứa tây đầm bị thiệt mạng vì tai nạn xà lúp đụng nhau.

- Từ trang 180 đến trang 346 dành nói về các sự việc xảy đến trong năm 1894 như: lễ hội tái thiết chùa Quán Sứ - cuộc thăm viếng Bắc Kỳ của một nhóm lính thủy người Nga (nhà ảo thuật đầu tiên ở Bắc Kỳ Léopold Bernard) - lễ hội mùa Xuân của Hoa Kiều ở Hải Phòng - triển khai việc đua ngựa - nhà thám hiểm Auguste Pavie đến Hà Nội - khánh thành cầu quay ở Hải Phòng - khoa thi ở Nam Định - việc giải cứu ba anh tây Roty, Bouyer, Himbert - Droz và anh nhà thầu Lai Thuận - vụ sát hại tên cai thầu Marty - vụ tù nhân ở nhà giam nổi loạn ở Hà Nội - tang lễ Tổng Thống Sadi Carnot - cuộc thi về nông nghiệp ở vườn Bách Thảo ở Hà Nội - việc ra đời của tờ báo Viễn Đông (L’ Extrême Orient) - và việc de Lanessan bị triệu hồi về Pháp gây kinh ngạc cho mọi người.

Cuốn này cũng như cuốn trước là một cuốn sách khá hấp dẫn cho những người nghiên cứu về tình hình miền Bắc thời cuối thế kỷ thứ 19, xin chia sẻ với các bạn đọc, và tôi cũng xin trích dẫn ở đây 1 vài hình ảnh độc đáo của thời xa xưa đó.

Trích Hồi ký 60 năm chơi sách, Chương VI
Vũ Anh Tuấn

MÓN ĂN NGÀY TẾT

Đứng trên quan điểm dinh dưỡng mà xét các món ăn Việt Nam, có ba câu hỏi thường được đặt ra:

· Có bổ không ?
· Có ngon không ?
· Có ý nghĩa gì, về mặt văn hoá ?

Chúng ta có thể lấy các món ăn ngày Tết, làm khởi điểm cho cuộc trở về nguồn này qua câu đối quen thuộc mà chúng tôi xin mạn phép sửa lại một chút cho hợp với quyết định cấm đốt pháo của thủ tướng từ mấy năm nay:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, dưa hấu, bánh chưng xanh.

Trở lại ngày thường, chúng ta sẽ cũng sẽ xét vấn đề theo hướng đi từ quá khứ, nhận định tình hình hiện tại để đặt mục tiêu hành động cho tương lai với ý đồ bảo vệ những cái gì hay và có ích, và loại bỏ những gì vô bổ hay có hại cho sức khỏe.

BÁNH CHƯNG

Ý nghĩa văn hóa của tấm bánh chưng không còn nghi vấn nào: Sự tích của bánh chưng được kể lại trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, ngay từ thế kỷ thứ 15, đã có trong kho tàng cổ tích của Dân Tộc: Truyện kể rằng trong kỳ cuối năm… đem trân-cam mỹ-vị đến dâng cúng Tiên-vương - tức là Tết - Vua Hùng Vương đã ra đề thi cho các con, để tuyển chọn người nối ngôi:

Ai dâng được món ăn ngon nhất, thì sẽ được trao ngôi báu. Trong cuộc thi nấu ăn đầu tiên dành cho nam giới, Hoàng Tử Lang Liêu đã đoạt giải nhất vì đã có công sáng chế ra Tấm Bánh Chưng Thứ Nhất, với ý nghĩa toàn hảo từ hình thức cho đến nội dung... nhân bánh.

Mà làm gì chẳng trúng giải, khi đã có người nhắc bài! Là vì…Hốt nhiên mộng thấy thần-nhân bảo rằng: Trong trời đất không có vật gì quí bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, người ta ăn mãi không chán, không có vật gì đứng trước được nếu lấy gạo nếp hoặc gói hình tròn để tượng trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng đất, ở trong làm nhân cho thật ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơn trời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ vui, tôn-vị chắc được.

Trở lại ngày nay, có thi cũng trúng giải, vì bánh chưng làm theo hướng dẫn của sách dậy nấu ăn, với ba nguyên liệu chính là:

· 1 kg gạo nếp
· 400 g đậu xanh
· 450 g thịt ba rọi

· Đủ để gói được 3 tấm bánh lớn, cỡ vuông cạnh chừng 2 tấc, bề dầy khoảng 5 phân, thì theo tiêu chuẩn dinh dưỡng, sẽ có các ưu điểm sau đây:

· Mỗi bánh như trên đem lại 2300 Calo, đủ năng lượng cho nhu cầu 24 giờ của một người hoạt động vừa phải.

· Thế cân đối trọng lượng giữa Đạm, Béo, và Bột - Đường bằng 1 : 1 : 4 - 5, chẳng thua gì thế quân bình dinh dưỡng của khẩu phần các nước Tây Âu hay Mỹ.

· Đậm độ năng lượng kể như tối ưu vì cứ 1g ăn vào cung cấp cho người ăn trên 2 Calo, gấp đôi đậm độ của bữa ăn hàng ngày bình thường, mỗi gram chỉ đem lại 1 Calo.

· Về mặt chất Đạm, gạo nếp có thiếu Lysine - là acid amin thiết yếu cần để trẻ con hay ăn chóng lớn, cho người lớn mau tái tạo sức lao động - nhưng sự thiếu xót này được đậu xanh bổ sung dễ dàng, vì họ đậu sẵn dư Lysine. Đậu có thiếu chăng là thiếu Méthionine - cũng là một acid amin thiết yếu, nhưng để huy động chất béo ăn vào cũng như chất béo cơ thể sẵn có - thì gạo đã lại có đủ để bù đắp cho đậu.

Ngon, No, Chắc dạ, lại Gọn và Nhẹ , chiếc bánh chưng có khả năng giúp chúng ta thực hiện được các sinh hoạt giao lưu ngày Tết, một cách phấn khởi, không biết mệt mỏi: đi mừng tuổi, vui chơi, hội hè, thăm viếng bạn bè cũng cần đủ Calo chứ!

Đi theo dân tộc Việt trong hành trình Nam Tiến, biến hình đổi dạng từ vuông đã thành hình trụ của đòn bánh Tét - phải chăng là do đọc chại đi từ Bánh Tết ? - thiếu lá dong thì dùng lá chuối để gói, cũng chẳng sao.

DƯA HÀNH VÀ DƯA MÓN

Vào thời tiết lạnh mà ăn bánh chưng thì rất thích hợp, nhất là có kèm theo dưa hành. Người nào có cảm thấy là ăn bánh chưng nặng nề, lâu tiêu thì càng nên ăn thêm dưa hành vì:

1. Hành có vị hơi cay, mùi hăng (không ăn mà thái hành cũng đủ cay mắt, trào lệ!) do chất alicin có tính kháng sinh tự nhiên và theo sách thuốc, có tác dụng “kích thích thần kinh, tăng tiết dịch tiêu hoá”. (Đông Y còn dùng hành để chữa cảm, trong bài thuốc Cháo giải cảm.)

2. Dưa chua được quá trình lên men tạo ra chất acid lactic, giúp cho việc tiêu hoá hấp thu được điều hòa ở ruột già, do làm cho môi trường nơi đây trở nên bất lợi đối với các vi khuẩn gây ung thối, và nhất là các giống hay gây bệnh đường ruột.

Và nếu bánh chưng đôi khi đổi mới thành bánh tét, thì dưa hành - tựa như Chèo Bắc vào Nam biến thành Cải Lương - theo hành trình dân tộc vào Huế và Sàigòn được cải hóa, thêm đa dạng với các món dưa góp, củ kiệu, dưa món, xử dụng toàn những loại rau, trái đang mùa, thích hợp với thời tiết như: dưa leo, củ cải, cà rốt, thơm, đu đủ, ớt.

Theo một quan niệm đã có trong Đông Y từ xa xưa, và cũng rất hợp thời bây giờ trong Môn Dinh Dưỡng, các thức ăn cũng là thuốc, nếu ta biết cách sử dụng.

· Dưa leo tươi mát, ngay cả người Anh cũng phải công nhận “fresh as a cucumber” có nghĩa là “tươi như một trái dưa leo” trước tiên hẳn là vì dưa leo nhiều nước.

· Củ cải , trong tinh dầu có Lưu Huỳnh (Sulfur), phụ giúp khử chất độc bằng cách tạo ra những chất sulfat hòa tan trong nước dễ thải hơn trong mồ hôi hay nước tiểu.

· Cà rốt giàu Caroten, có khả năng chuyển hóa thành sinh tố A. Cà rốt mà để nguyên cả vỏ còn giàu pectin, tới nay hãy còn người ưa chuộng trong việc điều trị chống tiêu chảy bằng xúp cà rốt coi như một nguồn pectin tốt.

· Dứa đem lại men Bromelin, Đu Đủ xanh thì trong nhựa có men Papain, giúp người ăn mau tiêu chất Đạm.

DƯA HẤU CÓ MẶT TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG

Không chỉ có mặt trên các thiệp chúc Tết, bàn thờ Ông Bà, và bữa ăn nhân dân, Dưa Hấu đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử dân tộc với sự tích An Tiêm.

Tuy vậy mà đọc lại năm nay thấy rất gần hiện tại: Khởi đầu câu truyện, An Tiêm được Vua Hùng tin yêu... ai cũng úy phục và chen nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có" khiến cho đương sự coi “ của cải đều là vật tiền-thân” của mình và Vua Hùng đâm “ cả giận” áp dụng xóa bỏ bao cấp đối với An Tiêm. “ Bèn đày ra ngoài bãi cát tứ phía không có dấu chân người đi đến,... (với) lương thực đủ dùng bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói.” Nhờ vững niềm tin rằng “ Trời đã sinh thì trời phải dưỡng” và một chút may mắn là có “ con bạch hạc từ phương Tây” bay lại, làm rơi sáu bẩy hạt dưa "đâm chồi nẩy lộc,... kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết”

Giống như ở một vùng kinh tế mới phát triển trồng trọt thành công dẫn tới trao đổi hàng hóa và kinh tế thị trường “ Dưa ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn; rồi cứ mỗi năm trỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con... Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương .”

Uống nước nhớ nguồn, chúng ta hãy tưởng nhớ tới An Tiêm, mỗi khi xẻ dưa hấu thưởng thức trái cây giải khát này hay khi cắn hạt dưa. Tuy nhiên, ngày Tết, người lớn có vui câu truyện khi cắn hạt dưa lách tách, cũng đứng quên cảnh giác để trẻ con (nhỏ dưới 5 tuổi) bắt chước: các hạt nhỏ này, rất có thể đi lạc vào đường hô hấp của đứa trẻ gây sặc và có khi phải đưa đi bệnh viện cấp cứu, mất vui!

TRÁI CÂY NGÀY TẾT

Nếu coi ngày Tết như một ngày Sinh Nhật Tổng Thể cho mọi người mừng tuổi nhau, thì mới thấu rõ vai trò mâm trái cây đặt trên bàn thờ Tổ Tiên - mà rồi con cháu có thể sẽ ăn, sau khi hạ xuống!

Muốn cho ngụ nhiều ý nghĩa trong việc khấn vái cầu chúc cho gia đình hay bản thân, bạn hãy kiếm cho đủ bốn, năm thứ trái cây sau đây:

Thứ nhất: mãng cầu xiêm hay mãng cầu ta (na)
Thứ nhì: một vài trái dừa xiêm hay dừa thường
Thứ ba: một trái đu đủ hườm hườm
Thứ tư: một vài trái xoài, xanh cũng được, trái mùa cũng không sao
Thứ năm: một chùm sung chín hay xanh không thành vấn đề,
Thứ sáu: tùy thích, muốn bày thêm gì thì bầy: cam, quít, lê, táo, nho, trông càng sang trọng!

Rồi hãy xem lại coi, vừa ngắm, vừa đọc nhẩm, chại chại đi một chút: CẦU VỪA ĐỦ XÀI, SUNG (TÚC) nhờ trái cây nói lên với Tổ Tiên lời cầu mong của mình.

Trở lại thực tế với các trái cây thông thường là nguồn vitamin C và Caroten (tiền sinh-tố A) tự nhiên, nếu cho thi xếp hạng theo hàm lượng sinh tố trong 100g phần ăn được, chúng ta sẽ có bảng kết quả như sau:

Vitamin C

Caroten

Giải Nhất

Giải Nhì

Giải Ba

Giải khuyến khích

khuyến khích

khuyến khích

Bưởi 95 mg

Quít 55 mg

Đu đủ 54 mg

Cam 40 mg

Dứa 24 mg

Dưa hấu 7 mg

Đu đủ 750 mcg

Quít 465 mcg

Dưa hấu 222 mcg

Cam 50 mcg

Dứa 40 mcg

Bưởi 30 mcg

CÒN THIẾU MỨT, TRÀ VÀ RƯỢU

Tết là phải thưởng thức đủ mùi, đủ vị; sau vị mặn của bánh chưng hay thịt mỡ, qua vị chua của dưa hành, vị đắng của canh khổ qua, vị chua rốt hay ngọt mát của trái cây, một lúc nào đó, cũng tới lúc thưởng thức quả mứt đủ loại: me, dứa, mãng cầu, tầm ruột, khoai, đu đủ,ngó sen, bí, mã thầy, cà rốt... thôi thì chẳng có cái gì mà người ta không chế biến thành mứt!

Ý nghĩa của mứt, ngày xưa, là kết tinh tài nội trợ khéo léo của người nữ trong gia đình đến nay chẳng còn lại được bao nhiêu! Nếp sống mới đã đưa việc làm mứt ngày Tết ra khỏi bếp gia đình, lên qui mô sản xuất đại trà của các xí nghiệp bánh kẹo.

Kể như bây giờ, nếu trong mứt có gì kết tinh thì hẳn có Đường là chính! Đường, nói chung, tiêu dễ và rất mau: chỉ vài phút sau khi bỏ vào miệng là được hấp thu vào máu, đưa huyết-đường-lượng từ mức dưới 1g lên trên 1, có khi lên gần 2g/lít. Người ăn sẽ mất cảm giác đói, mặc dù bao tử chưa đầy. Ai khôn ngoan sẽ lựa chọn ăn mứt sau bữa ăn thay vì trước bữa ăn - có khả năng làm ngang dạ, không thưởng thức được các món ăn ngon khác trong ngày Tết.

Sành điệu thì thưởng thức mứt, sau cả tráng miệng với trái cây, và cùng với một bình trà ướp hoa sói, lài (hoa nhài), hay sen. Thú vui thanh tao này thường dành cho những khoảnh khắc có chất lượng, số người tham dự thì ít nhưng khả năng thưởng lãm lại cao. Trà ngon, về mặt y dược, lại còn hàm chứa những hoạt chất có tên ngụ ý thuộc về họ Trà: Théophylline, Theobromine (Thé có nghĩa là Trà) và luôn cả một chất thuộc họ CàfêCaféine có tác dụng làm cho người ta tỉnh táo, phấn chấn: do làm tăng nhịp tim, tăng nhịp hô hấp, máu huyết lưu thông mau hơn, và cũng lợi tiểu hơn! Ngày xưa, các cụ đồ có thể nghiện trà không kém gì nghiện rượu - coi đó là hai trên ba cái lăng nhăng thường quấy phá cản trở sự nghiệp của mình.

Đông người hơn, thì mới rót rượu, nâng ly mừng Xuân.

RƯỢU thì hay gắn liền với những bữa ăn thịnh soạn, cũng tựa như khi người ta ghi trên thiếp mời dùng tiệc rượu là mình có thể biết ngay là không phải chỉ sẽ ăn nhẹ vài ba cái bánh của một tiệc trà.

Dù là Tết, cũng xin nhắc những tác dụng tác hại của rượu nói chung:

· Rượu vào thì lời ra, chóng vui, nhưng nếu quá chén, thì lại mau buồn - ít nhất cũng là buồn ngủ.
· Nói nhiều quá, coi chừng nói hết khôn, dồn đến nói dại - điều tối kỵ trong mấy ngày Tết.
· Rời bàn tiệc rượu, chưa bốc hết hơi men, xin chớ vội lái xe: lúc đó là rượu lái, dễ gây tai nạn.
· Tốt nhất là có uống thì hãy giới hạn tửu lượng đừng quá mức sau đây cho mỗi bữa

1 ly 200 ml rượu chát, hoặc
2 lon bia, hoặc
1 ly 25 phân khối rượu mạnh 40O

TPHCM, Ngày 17 tháng 12, 2008
Bác sĩ Nguyễn Lân-Đính
Chuyên viên dinh dưỡng

Báo Xuân có từ bao giờ ?

Phạm Thế Cường

Ngày nay, cái tết cổ truyền của người Việt Nam đã có thêm một món quan trọng, cần thiết để “ăn tết,” cùng với mứt, kẹo, giò, chả, bánh chưng, bánh dày đó là Báo Xuân. Đọc Báo Xuân đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong mỗi dịp Xuân về của người Việt Nam chúng ta. Báo chí là thứ Việt Nam học của phương Tây, nhưng Báo Xuân thì là sản phẩm văn hóa đặc sắc của người Việt Nam.

Báo chí bắt đầu phổ biến như một sản phẩm học thuật, văn hóa, thông tin trên toàn quốc từ vài thập niên đầu của thế kỷ 20, với Đăng Cổ Tùng Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, rồi càng về sau càng rầm rộ, phong phú. Đến nay ở nước ta đã có hơn 400 tờ báo, tạp chí được phát hành và tới nửa số báo chí đó ra số Báo Xuân.

Có người cho rằng số báo xuân đầu tiên là do báo Phụ Nữ Tân Văn do bà Nguyễn Đức Nhuận làm chủ bút phát hành vào dịp Xuân Kỷ Tỵ 1929. Nhưng theo tôi được biết tờ Báo Xuân đầu tiên là báo Nam Phong do Cụ Phạm Quỳnh làm chủ bút được phát hành vào dịp Tết Mậu Ngọ (năm 1918), nghĩa là trước Phụ Nữ Tân Văn 11 năm.

Nam Phong Tạp Chí ra đời giữa năm 1917 (Đinh Tỵ), và ngay cái tết đầu tiên của tờ báo, ông Phạm Quỳnh đã nghĩ đến việc làm một “Số Tết” một điều mà những tờ báo đi trước như Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí... chưa ai nghĩ ra. Ngay trang đầu của tờ báo xuân đầu tiên ấy, Chủ bút Phạm Quỳnh đã nêu lý do làm Báo Tết, những dòng chữ mà ngày nay chúng ta có thể coi là Tuyên Ngôn mở màn, đặt để nền móng cho công cuộc làm báo Xuân của làng báo Việt Nam, gây hẳn một phong tục mới trong dịp Tết cho dân tộc ta:

“Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung cả mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân; trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui: vui ngày Tết là cái vui dễ “truyền nhiễm” vậy.

“Bản báo đối với các bạn đọc báo những ngày thường vẫn giữ một thái độ quá nghiêm, tự hồ như lạnh nhạt, chỉ chuyên trọng đường tư tưởng học vấn, không hề chú ý đến những lối văn chương tiêu khiển, như câu hát lẳng lơ, nhời thơ bay bướm. Sự đó là bản báo cố ý như thế: đã từng nhận cái tật hư văn, cái thói ngâm vịnh hại cho nước ta nhiều lắm, nên phàm lập ngôn khởi luận vẫn thiên trọng sự thực hơn là sự phiếm. Nhưng cái thái độ nghiêm khắc ấy tuy ngày thường là phải, mà gặp những thời tiết vui vẻ, như hội Tân xuân này, đối với cảnh, đối với người, đối với lòng hoan hỉ của mấy triệu quốc dân, tựa hồ như gẩy khúc đàn sai nhịp vậy.

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu năm xuân mới, giời ấm khí hòa, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái cái chủ nghĩa lúc bình thường, bèn định in riêng ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gửi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới.

“Nhời bàn thiết thực, nghĩa lý sâu xa, đó là cái món ăn chắc bổ những ngày thường; của ăn sống người, nên trọng là phải. Nhưng thỉnh thoảng cũng phải nếm miếng bánh đường, nhắp chén rượu ngọt cho khoan khoái tinh thần, nên giọng hát êm tai, truyện vui khoái trí cũng là một món không thể khuyết được.”

Cụ Phạm Quỳnh là một trong những người tiên phong của làng báo Việt Nam và cụ là người đầu tiên liên hệ được phong tục tập quán truyền thống của dân tộc trong dịp tết với nghề làm báo và mang cái phong tục ấy, tập quán ấy làm nên tờ Báo Xuân. Chính nhờ phát kiến của cụ mà ngày nay chúng ta có một tập quán mới trong ngày Tết cổ truyền đó là làm Báo Xuân và đọc Báo Xuân.

Nguồn gốc và ý nghĩa những từ Tết 


Tết, Tết Nguyên đán, Tết Táo quân, đêm trừ tịch, giao thừa... những từ ngữ này đã trở nên thân thuộc ấy lại có nguồn gốc rất thú vị, độc đáo và mang nhiều ý nghĩa phức tạp.

Tết

Đối với người Việt Nam, tiếng Tết đã trở nên thân thuộc. Chúng ta gặp nó trong những câu tục ngữ, ca dao, dân ca mộc mạc đến những bài diễn văn trang trọng, từ những câu chuyện hàng ngày đến lời cầu khẩn trước bàn thờ linh thiêng... Và mỗi dịp cuối năm cũ đầu năm mới, nó lại nở rộ, ngự trị trong sự xốn xang của mọi người.

Không biết chính xác nó xuất hiện trong tiếng Việt từ bao giờ, chỉ biết nó vốn là một từ gốc Hán. Theo ngôn ngữ Hán, tiết có nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của tiết là "mấu tre" (vì thế khi viết chữ này, người ta phải viết với bộ trúc). Rồi nó dần chuyển nghĩa, chỉ sự tiếp nối giữ hai gióng cây, hai khúc cây, hai đoạn vật thể (tương đương với đầu mặt", "khớp", "khuỷu"… trong tiếng Việt).

Từ nghĩa này, nó tiếp tục mở rộng để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa hai khoảng thời gian phân chia theo thiên văn - khí tượng trong năm, ví dụ một năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc lập, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xư thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn).

Sau đó tiết chuyển thành nghĩa "ngày lễ, dịp cúng lễ vui mừng" - đây chính là nguồn gốc trực tiếp của tết mà ta đang đề cập.

Ngoài ra tiết còn có nghĩa là "bộ phận nhỏ của một chỉnh thể" (chi tiết, tình tiết...), "khoảng đoạn nhỏ" (chương tiết, tiết học, tiết mục...), "phẩm chất trong sạch, khảng khái", (tiết tháo, tiết hạnh, tiết khí, trinh tiết...).

Phần lớn tiếng Hán có phiên âm iê khi sang tiếng việt biến thành ê: thiêm biến thành thêm, thiết (yến) biến thành thết (tiệc), chiết biến thành chết... Tiết cũng vậy - biến thành tết. Ngoài nghĩa "ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng" như tết khai hạ, tết thanh minh, tết Đoan Ngọ, tết Trùng cửu...

Trong tiếng Việt, Tết còn dùng để chỉ một dịp đặc biệt duy nhất đầu năm - như người ta thường nói: ăn Tết, đi Tết, chơi Tết quả của sự rút ngọn và biến âm từ xuân tiết trong tiếng Hán hạy sự nói gọn từ Tết Nguyên đán (Tết cả) trong tiếng Việt.

Tết Nguyên đán

Nguyên đán là từ gốc Hán. Nguyên là "đứng đầu, số một, nhất", đán là "buổi sáng". Do đó, Tết Nguyên đán nghĩa là "Tết (mừng, của, vào) buổi sáng đầu (năm)".

Gọi như thế vì buổi sáng ngày mồng một tháng giêng là thời gian quan trọng nhất trong năm, năm mới chính thức bắt đầu, mọi hoạt động tiêu biểu nhất cho tết được tiến hành (lễ gia tiên, chúc mừng năm mới, mừng tuổi, chúc thọ người già, đại tiệc đầu năm...).

Điều kiện ngoại cảnh cũng rất đẹp và thuận lợi: bắt đầu sang xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa nở, chim hót, không khí ấm áp, trời quang đng, nhịp độ lao động vất vả của một năm tạm ngừng... Con người thư thái vui vẻ về tinh thần, trở nên lịch sự, cởi mở hơn về phong cách, rực rỡ hơn với dung nhan, trang phục mới...

Tất cả những hiện tượng trên đều tập trung vào buổi sáng đầu năm, khiến người ta cảm thấy buổi sáng đầu năm thật quan trọng và thiêng liêng. Ai cũng tin tưởng mơ ước mọi chuỵên trong năm đều diễn ra thuận tiện, suôn sẻ, tốt đẹp may mắn như buổi sáng đầu năm và cố gắng không làm điều xấu để khỏi xúi quẩy cả năm.

Tết Táo Quân

Táo gốc tiếng Hán có nghĩa là "bếp". Táo Quân hay ông Táo có nghĩa là "ông quản bếp", "ông vua bếp". Theo truyền thuyết nước ta, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá phải bỏ nhau, mỗi người một nơi tha phương cầu thực. Sau đó, người vợ may mắn lấy được chồng giàu.

Một năm, vào ngày 23 tháng chạp, người chồng cũ đi ăn xin vô tình vào phải nhà người vợ cũ. Người vợ nhận ra chồng cũ, liền đem cho nhiều cơm gạo tiền bạc. Người chồng mới biết chuỵên nghi ngờ vợ. Người vợ khó xử, uất ức lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ đau xót, cũng nhảy vào lửa chết theo.

Người chồng mới ân hận, lao vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp"...

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó có hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu trời"...

Đây có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc thời thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo"), đã được coi là một trong bẩy vị thần được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của táo quân thì không nhất quán.

Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa.

Còn sách Ty Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi...

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu), sau này mỗi năm vua chỉ lên trời vào ngày 23 hoặc 24 tháng chạp.

Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp ăn để bay và trở vua lên trời - khác với táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời)!

Đêm trừ tịch

Tịch gốc tiếng Hán nghĩa là "đêm". Tuy nhiên, theo nguyên tắc thuận ngữ, trong tiếng Việt người ta vẫn nói "đêm trừ tịch" chứ ít nói "trừ tịch", cũng như thường nói: chân thật, cây cổ thụ, sông Hồng Hà, núi Trường Sơn... Còn trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa gốc là "qua đi, bỏ đi". Như vậy, trừ tịch nghĩa là "đêm của năm qua đi" - đêm cuối cùng của năm cũ.

Tác giả Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục lại có cách lý giải hoàn toàn khác, coi trừ tịch là xua đuổi, trừ ma quỷ: Nguyên tục bên Tàu ngày xưa, cứ vào hôm ấy thì dùng một trăm hai mươi đứa trẻ con, độ chín, mười tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cần trống, vừa đi đường vừa đánh để trừ khử ma quỷ, cho nên goi là trừ tịch.

Giao thừa

Giao gốc nghĩa tiếng Hán là "xen kẽ nhau, thay nhau" hoặc "nối tiếp nhau, trao đổi lẫn nhau"... còn thừa nghĩa là "đảm nhận, thi hành (nhiệm vụ, nghĩa vụ)" hoặc "thừa kế, kế tiếp"... Gọi là giao thừa vì theo quan niệm tín ngưỡng, 12 giờ đêm ngày 30 tháng chạp - thời điểm nối tiếp giữa năm cũ và năm mới - tức là lúc mà hai vị thần cai quản trần gian gọi là ông Hành Khiển), một cũ, và một mới, "bàn giao và tiếp nhận" công việc của nhau.

Tục ta tin rằng, mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì.

Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.

Vào ngày này, nhân dân ta hay làm lễ thiên địa để cầu mong các vị thần ấy ban cho nhiều may mắn, hạnh phúc cho năm mới.

Xông nhà (hay "xông đất")

Đầu năm, nhiều người Việt cho rằng người đầu tiên bước vào nhà mình sẽ đem đến vận hên, xui cho gia đình suốt cả năm. Vì thế, cứ mỗi đầu năm là chủ nhà nhờ người có vận may xông nhà dùm. Người may mắn là người làm ăn phát đạt trong năm, gia đình sung túc, hạnh phúc. Nếu không tìm ra người, đôi khi chủ nhà đi xông nhà cho chính họ. Khách đi xông nhà thường ăn mặc chỉnh tề, bước vào cửa chính gian nhà, rồi rảo một lượt quanh nhà, xuống tận bếp, cốt để mang vận may vào từng xó nhà.

Phụ Bản I

Chúc thọ

Trong gia đình Việt Nam, người cao tuổi được kính trọng hơn hết vì có nhiều kinh nghiệm. Theo thiển ý người viết bài, sự kính trọng quý vị cao niên cho thấy một xã hội biết kiêng nể nguồn gốc và có tinh thần khiêm tốn, chịu khó học hỏi từ những người đi trước vì có ai từng trải bằng các vị ấy. Cho nên, sáng sớm mùng Một Tết là lúc con cháu trong gia tộc tỏ lòng hiếu thảo qua việc chúc tuổi ông bà, cha mẹ. Người Việt quan niệm rằng cứ mỗi độ xuân về là mọi người đều thêm một tuổi, bất kể sanh nhằm ngày nào trong năm.

Lì xì

Chữ "lì xì" được phiên âm từ tiếng Quảng Đông sang tiếng Việt, nguyên là chữ "lợi thị" (tiền bạc, lợi lộc) trong Hán tự. Để mừng tuổi các em, những người lớn trong gia đình, họ hàng, bạn bè của cha mẹ tặng các em những món tiền nho nhỏ (lì xì) và chúc các em chóng lớn, học hành đỗ đạt vv... Những món tiền này được cho vào phong bao màu đỏ trơn hoặc có hoa văn vàng. Cũng như màu hồng thắm, màu đỏ hoặc các màu có sắc đỏ được tin là tượng trưng cho sự may mắn. Thuở trước, sau khi nhận những lời chúc thọ, các vị cao niên trong gia đình lì xì tất cả con cháu bất kể tuổi tác với những món tiền nho nhỏ, vừa bạc lẻ vừa tiền chẵn, ngụ ý chúc con cháu làm ăn phát đạt, tiền bạc sinh sôi nảy nở trong năm mới.

Thăm viếng

Sau khi xông nhà xong, chủ nhà bắt đầu tiếp đón bạn bè, thân quyến đến thăm, và cũng đi thăm trả lễ. Thông thường, mùng Một được dành để chúc thọ các bậc trưởng thượng trong gia tộc, thăm hỏi họ hàng. Mùng Hai được dành để các trò đến viếng và tạ ơn thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ mình trong năm qua, nêu cao truyền thống "tôn sư trọng đạo" của học sinh Việt Nam. Mùng Ba là ngày thăm hỏi, vui chơi với bè bạn.

Kiêng cữ

Vì cho là các hành vi trong những ngày đầu năm có thể đem lại vận hên, xui trong năm, nên người Việt hết sức thận trọng với lời ăn tiếng nói và các hành động vào ba ngày đầu năm. Có một số việc nên tránh, chẳng hạn: quét rác, đặc biệt là xác pháo, ra khỏi nhà vì bị xem là quét tiền ra cửa; biếu tặng các vật "cấm" như thuốc men hay dao nhọn vì bị xem là mang dấu hiệu của bệnh hoạn và xung khắc; nói các lời nặng nề, thô tục; khóc lóc, than thở; đập vỡ chén dĩa hay gương soi vì bị xem là dấu hiệu của sự đổ vỡ trong gia đình; mặc quần áo trắng hay đen vì bị xem là màu tang tóc, vv... Vài việc kiêng cữ nêu trên đã đơn giản hóa theo thời gian, nhưng phần lớn vẫn được người Việt tin tưởng đến ngày nay.

PTC sưu tầm và giới thiệu

Hội báo xuân và 18 năm phát triển

Có thể khẳng định chắc chắn rằng Hội Báo xuân là một kiểu lễ hội đặc biệt chỉ có ở Việt Nam, không thể tìm thấy ở bất cứ một nước nào trên thế giới. Nó vừa là loại hình hoạt động văn hoá đặc sắc của giới báo chí phục vụ công chúng vào những ngày đón một mùa xuân mới của dân tộc, vừa là một hoạt động mang tính nghiệp vụ, một cuộc thi đua có tính cạnh tranh lành mạnh của các cơ quan báo chí sau một năm phấn đấu không mệt mỏi. Vậy Hội Báo xuân ra đời như thế nào? Xuất phát từ việc các cơ quan báo chí gửi ấn phẩm của mình về thư viện Hội Nhà báo Việt Nam do Nhà Văn hóa của Hội quản lý, cuối năm 1990, đồng chí Phùng Quang, Giám đốc Nhà Văn hóa lúc đó nảy ra sáng kiến mở phòng trưng bày báo Xuân, báo Tết. Ý tưởng này đã được thiếu tướng Trần Công Mân, nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, lúc đó là Phó Tổng thư ký Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, nhiệt liệt ủng hộ và chỉ đạo phải phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin cùng tổ chức. Thế là phòng trưng bày báo Xuân đầu tiên được diễn ra tại số nhà 12 – Lý Đạo Thành – Hà Nội, trụ sở của Nhà Văn hóa Hội Nhà báo Việt Nam. Khoảng 100 đầu báo, tạp chí số Xuân, số Tết được giới thiệu với hình thức triển lãm trang bìa trên các panô và ấn phẩm đặt trên bàn để nhân dân đến đọc.

Cuộc triển lãm diễn ra một tuần sau Tết. Trong thời gian triển lãm, Nhà Văn hoá tổ chức 1 buổi toạ đàm với tiêu đề “Ảnh báo Tết Tân Mùi”. Đây là một buổi sinh hoạt chuyên đề của Câu lạc bộ ảnh báo chí . Ban tổ chức triển lãm đã phát phiếu thăm dò độc giả là khán giả thăm triển lãm với 2 câu hỏi “1 - Đồng chí thích nhất ảnh bìa của báo nào? Vì sao? 2 – Theo đồng chí, tờ báo nào có nhiều ảnh chất lượng nhất? Bao nhiêu ảnh?” Trên cơ sở các phiếu thăm dò, Ban tổ chức đã chọn ra các tờ báo, tạp chí có ảnh bìa đẹp nhất và tờ báo, tạp chí có nhiều ảnh chất lượng nhất để khen thưởng.

Từ thành công ban đầu của phòng trưng bày báo Tết Tân Mùi, phòng trưng bày báo Tết Nhâm Thân – 1992 được tổ chức có quy mô lớn hơn, chuẩn bị chu đáo và bài bản hơn, ngay từ tháng 10 năm 1991. Nhờ vậy đã có 150 cơ quan báo chí hưởng ứng. Được biết có cuộc triển lãm này, một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đã tới thăm, trong đó Ban tổ chức vinh dự được đón Tổng Bí thư Đỗ Mười đến xem và khen ngợi. Ông ghi vào sổ cảm tưởng như sau:

“Báo Xuân năm nay phong phú và đa dạng, nội dung khá, đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hóa của nhân dân trong dịp Tết Nhâm Thân? Mong các đồng chí phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí nước nhà, tiếp tục đổi mới báo chí phục vụ sự nghiệp đổi mới. Hy vọng giới báo chí sẽ tổ chức tốt Hội Báo xuân vào dịp Tết Nguyên đán tới.”

Theo gợi ý của ông Tổng Bí thư, Hội Nhà báo Việt Nam đã sớm làn đề án phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin về việc tổ chức Hội Báo xuân Quý Dậu- 1993. Lần đầu tiên tổ chức một lễ hội kiểu mới không khỏi có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng. Song vừa làm vừa rút kinh nghiệm, Hội Báo Xuân Quý Dậu đã thu được thành công lớn, gây tiếng vang trong nhân dân cả nước. Bên lề Hội Báo xuân có những hoạt động quan trọng, như tổng kết và trao giải, gặp mặt lãnh đạo một số địa phương với các cơ quan báo chí, các buổi biểu diễn văn hóa, nghệ thuật vv...

Liên tục 5 năm sau đó, từ 1994 đến 1998, năm nào Hội Nhà báo Việt Nam và Bộ Văn hoá - Thông tin cũng tổ chức Hội Báo Xuân toàn quốc và càng ngày quy mô Hội Báo Xuân càng lớn.

Từ năm 1999, Hội Báo xuân được tổ chức ở các địa phương. Còn Hội Báo Xuân quy mơ toàn quốc sẽ tổ chức 5 năm một lần kể từ năm 2000. Bước đầu Hội Nhà báo các tỉnh và thành phố không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng. Một nửa số Hội địa phương không tổ chức Hội Báo xuân, do thiếu nhân lực, thiếu kinh phí, mặc dù đã được hướng dẫn là nếu khó khăn về kinh phí thì chỉ cần tổ chức phòng trưng bày để bạn đọc tới tham quan.

Thực tế cho thấy đưa Hội Báo xuân về các địa phương, cơ sở là một chủ trương đúng và rất được nhân dân các địa phương hoan nghênh. Nhất là ở các huyện vùng sâu, vùng xa, được tận mắt nhìn thấy các loại ấn phẩm báo Xuân, báo Tết như muôn hoa đua nở rất đẹp, phong phú, hấp dẫn, đồng bào các dân tộc càng thêm hứng thú đọc báo, yêu báo và làm theo báo, đài.

Hội Báo xuân giờ đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa đầu Xuân đặc sắc không chỉ của giới báo chí. Tuy nhiên, làm thế nào để xã hội hóa hoạt động này vẫn là một việc cần được đầu tư, suy nghĩ của tất cả chúng ta.

Bùi Đình Khôi

Xưa & Nay ra số đầu tiên

PTC sưu tầm

Ít ai biết Tạp chí Xưa và Nay ra số đầu tiên lại là số Xuân và mang số 0 vì lúc đó tạp chí chưa được cấp phép. Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ra đời của tạp chí tôi xin đăng lại bài viết của tác giả Hùng Long đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 207 năm 2004 , nhân kỷ niệm 10 năm ra đời Tạp chí. Bài viết kể lại một vài câu chuyện của thuở ban đầu hai bàn tay trắng làm nên cơ nghiệp như ngày nay của tạp chí.

Câu chuyện bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ ở nhà anh Dương Trung Quốc. Ý tưởng nung nấu từ lâu của anh Quốc là muốn có một tờ báo của Hội Sử học, nhằm mục đích đưa kiến thức lịch sử đến đông đảo bạn đọc. Khi đó hội đã có một “Trung tâm truyền bá kiến thức văn hóa và lịch sử”, có một cơ sở vi tính và thực hiện một số dự án. Nhưng có một tờ báo lại là chuyện khác. Viện Sử học đã có tờ Nghiên cứu lịch sử, đó là một tờ tạp chí quá chuyên sâu và quan phương, thời gian phát hành lại quá dài, đối tượng phục vụ chủ yếu là giới chuyên môn.

Cần phải có một tờ tạp chí ra hàng tháng hay hàng tuần, có nhiều hình ảnh, bài viết ngắn, thích hợp với đông đảo bạn đọc, những người ham thích lịch sử nhưng không phải là những người viết sử chuyên nghiệp. Có mặt hôm đó là một số bạn bè như Đỗ Quang Hưng, Đào Hùng, Ngô Thế Long... Xin phép ra báo thì không khó, nhưng trước hết phải có một bộ máy làm việc và tất nhiên là phải có tiền. Cuộc thảo luận nhanh chóng đi đến thống nhất, việc phân công cũng đơn giản. Người lo thủ tục xin phép, người lo chạy tiền, còn chuyên gia vi tính để tổ chức việc in thì đã có Ngô Thế Long, bước đầu sẽ dựa vào xưởng in của Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên báo đầu tiên được nghĩ đến là “Xưa và Nay”. Nhưng để cho chắc chắn, anh Quốc cũng đưa một cái tên trung tính hơn là “Lịch sử”. Nhưng may mắn là khi làm việc với Ban Văn hóa tư tưởng Trung ương, thì chính các anh ở Ban lại gợi ý nên dùng cái tên Xưa và Nay.

Khổ báo cũng là một vấn đề cần cân nhắc. Một số tạp chí mạng tính chất phổ biến kiến thức lúc đó như Kiến thức ngày nay, Thế giới mới... thường in khổ 13x19, sau này Nguyệt san Công giáo và Dân tộc cũng theo khổ đó. Đấy là khổ sách bỏ túi mà các nước trên thế giới thường sử dụng. Tiện lợi cho người đi đường. Nhưng có trở ngại là khó chuyển tải những thông tin bằng hình ảnh. Anh Quốc muốn mỗi số phải có một tờ bìa in một hình ảnh mang tính tư liệu, có thể lưu lại trong hồ sơ của bạn đọc. Như vậy là nên chọn khổ A4, vừa thuận lợi cho việc in, lại tiết kiệm được giấy.

Điều băn khoăn với ông Dương Trung Quốc là phải chọn một logo cho tạp chí vừa mang tính mỹ thuật để trình bày, vừa trở thành một biểu trưng riêng của tạp chí. Anh không muốn dùng chữ mà dùng dấu &, mà phải làm sao cho dấu & móc được chữ Xưa và chữ Nay. Công nghệ chế bản hồi đó, vào cuối năm 1993, còn rất đơn giản, đã làm gì có Windows và các phần mền thiết kế như Corel Draw hay Photoshop. Mấy buổi Ngô Thế Long cùng Quốc loay hoay trên máy tính nhưng chưa tìm ra mẫu nào vừa ý.

Mệt quá, hai người đến nhà Ngô Thế Phong làm một chén rượu. Thấy trên bàn làm việc của anh Phong có hình một dấu triện cổ của Trung Quốc. anh Quốc nói ý định của mình với anh Phong, muốn có logo theo kiểu con dấu xưa. Ngô Thế Phong làm việc ở Bảo tàng lịch sử, đâu có phải là họa sĩ hay chuyên gia máy vi tính, nhưng vui vẻ nhận lời tìm giúp. Vài ngày sau logo Xưa và Nay ra đời và được chấp nhận ngay. Anh Tuấn Anh làm việc ở công ty vi điện tử MITEC giúp vẽ lại logo trên máy vi tính, cả dương bản và âm bản và lưu lại dưới dạng file.

Mọi việc ban đầu đều được các bạn bè giúp đỡ. Công ty MITEC của hai anh Nguyễn Ngọc Lân và Đinh Phú Quốc cho mượn tạm trụ sở cũ ở số 2 Tràng Thi làm tòa soạn. Đây là gian nhà cấp bốn đã được các anh thuê lại của công an Hoàn Kiếm. Các anh còn cho mượn cả hai máy tính XT và AT286. Anh Tâm Thành là người của Viện Thông tin Khoa học xã hội phụ trách chế bản vi tính. Anh Nguyễn Văn Mùi xắn tay chuyên lo hậu cần. Bàn ghế thì anh em nhặt nhạnh từ những cơ quan cũ hoặc đem từ nhà đến. Mặc dầu còn làm việc ở các cơ quan cũ, nhưng anh em ngày nào cũng phải đảo qua “Tòa soạn” xem có gì mới.

Đơn xin phép ra báo đã gửi đi, các cơ quan chức năng cấp trên đã cử người đến gặp gỡ và tán thành việc ra báo. Nhưng muốn hoàn thành các thủ tục thì phải có thời gian. Mà lúc đó đã gần đến Tết năm Giáp tuất 1994. Để kịp ra số báo nhân dịp năm mới, Vụ báo chí Bộ Văn hóa-Thông tin cấp cho giấy phép xuất bản nhất thời ngày 7-12-1993. Như vậy đây chưa phải là số báo đầu tiên, thế là nảy ra sáng kiến in số 0.

Một số bạn bè hay tin đã gửi bài vở đến như các Giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, các anh em ở Viện Sử học như Chương Thâu, Tạ Ngọc Liễn, ở Viện Hán Nôm như Nguyễn Tá Nhí... Những người trong tòa soạn đều có bài như Đào Hùng, Đỗ Quang Hưng, Khắc Kỳ, Dương Trung Quốc đến gặp Đại tướng V Nguyên Giáp trình bày ý định ra báo. Đại tướng đã viết mấy chữ chúc mừng báo:

Chúc “Xưa Nay” tiến tới,
Chúc Sử học phát triển,
Chúc bạn đọc hạnh phúc.

Họa sĩ Nguyễn Hữu Thanh giúp trình bày tạp chí. Cả một ngày chủ nhật xoay trần vừa trình bày vừa chế bản bằng phần mền Ventura 2.0. Bìa tấm ảnh “Ông đồ già” của nhà nhiếp ảnh cao niên Lê Vượng, bìa 4 chưa có gì thì đưa quảng cáo cho Công ty MITEC. Đưa bản can sang Viện Thông tin Khoa học xã hội, anh Trần Xuân Hiến xưởng trưởng và anh Trịnh Việt Hùng thợ in chính nhiệt tình làm cả ngày lẫn đêm để báo kịp ra sớm. Suy đi tính lại mọi người nhất trí in 700 bản, một số dùng để biếu, số còn lại cố gắng bán để bù lại một phần nào chi phí. Vì lúc đó báo chưa có trị sự, chưa có tài vụ kế toán, mọi việc đều phải làm áng chừng.

Cuối cùng số 0 ra đời, kịp đưa dự Hội báo Xuân. Tờ báo ra đời một cách khá lặng lẽ. Không có họp báo, không có giới thiệu trên các báo khác. Mặc dù còn mộc mạc, nhưng số đầu tiên ra mắt đã nhận được giải thưởng khuyến khích về bìa đẹp, có ý nghĩa. Cuộc trình làng đầu tiên đã có tiếng vang.

Ngày 8-3-1994 giấy phép chính thức đã được ký, đúng vào ngày Quốc tế phụ nữ. Vậy là số 1 được ra mắt bạn đọc đúng vào dịp Đại hội Hội Khoa học lịch sử lần thứ ba.

Hùng Long, Xưa & Nay, số 207, 2004

Tuổi tròn năm thế kỷ

BÀI PHÚ ĐẦU TIÊN VỀ XUÂN SẮC THĂNG LONG

Nguyễn Vinh Phúc

Mùa xuân năm Mậu Thìn 1508, niên hiệu Đoan Khánh thứ 4, sau khi trúng thức kỳ thi Hội, có hai chàng trai đều quê ở Kinh Bắc đã lọt vào kỳ thi Đình. Rồi cả hai đều đủ điểm để đỗ Trạng nguyên. Đó là Nguyễn Giản Thanh, người làng Me (Hương Mặc) và Hứa Tam Tỉnh người làng Ngọt (Vọng Nguyệt). Thật khó xử, vì Trạng nguyên là học vị cao nhất, “trùm đầu”, chỉ có thể dành cho một người mà thôi. Vua Đoan Khánh đành phải cho thử tài lần nữa: Nhà vua cho đòi cả hai “đấu sĩ” vào trước bệ rồng và bắt mỗi người làm một bài phú nôm (hẳn là ông vua này được ai đó vốn coi trọng ngôn ngữ văn tự dân tộc đã gợi ý cho việc lấy văn nôm làm một chuẩn để xác định tài năng văn học). Sau khi bài được chấm, kết quả là Giản Thanh đỗ Trạng và Tam Tỉnh đành nhận học vị Bảng nhãn. (Nhưng ở xứ Bắc có câu “Trạng Me đè Trạng Ngọt” là ngụ ý vẫn đánh giá cao Hứa Tam Tỉnh, coi Hứa cũng là một ông Trạng).

Vậy bài phú đó như thế nào mà đặc biệt vậy? Đó là bài Phụng Thành xuân sắc, một áng văn miêu tả sắc xuân của kinh thành Thăng Long đương thời, vốn có tên là Phụng Thành.

Đây là bài phú nôm cổ nhất mà nay ta được biết, còn thấy văn bản và niên đại xuất hiện cụ thể. Bài này có 25 liên, ở phần đầu (Lung và Biện nguyên) sáu liên giới thiệu vị thế của thành Phụng:

1 - Ngao từ chia cực
Phụng đã xây thành.

2 - Sum một chốn y quan lễ nhạc
Vầy một nơi văn vật thanh danh.

3 - Trời đượm khí xuân, sắc tươi tốt khắp hòa thế giới
Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng chống cột thần kinh.

Nhớ xưa:

4 - Cõi giữa bang trung
Đứng trên thượng quốc.

5 - Đỉnh Tản Sơn hùm chiếm Tây Nam
Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.

6 - Nghìn dặm giang sơn đặt hiểm, tượng đã có danh.
Bốn mùa cảnh vật đều xuân, hoa càng thêm sắc.

Thành Phụng được khẳng định là một trung tâm (sum vầy, một chốn, một nơi) chính trị, văn hóa và kinh tế (Y quan, lễ nhạc, văn vật, thanh danh). Hơn thế, nơi đây có vị trí hiểm tuấn – so với thời đại mà vũ khí là gươm giáo – vì có dãy núi Tản là chiến lũy tiền phương canh phòng ở phía Tây và Nam, còn dòng Nhị Hà như con hào khổng lồ chở che phía Bắc và Đông. Thành Phụng – Thăng Long đúng là vững vàng đứng giữa cõi trời Nam và là bộ não của cả đất nước. Niềm tự hào chính đáng về vị thế này lại được nhân lên khi mùa xuân tới, khi đó “sắc tươi tốt khắp hòa thế giới”. Đặc biệt là ở kinh đô suốt năm (bốn mùa) là một chuỗi ngày xuân dài, tức luôn luôn tươi tốt. Vì nhịp sống ở thành Phụng là nhịp sống của cả cộng đồng dân tộc bất tử. Ngòi bút Trạng Me thật đầy tự hào và tráng khí.

Sang phần triển khai chủ đề ngợi ca xuân sắc đó (Thích thực và Phu diễn), ngòi bút rung lên tưng bừng, sảng khoái:

7 - Đòi nơi nghễu ngật
Mấy chốn lạ lùng.

8 - Chín bức lâu đài ngọc chúc
Ngàn lân la ỷ cẩm lung.

9 - Chợ chợ nhà nhà, trăm dáng tự đồ tám bức
Thành thành thị thị, muôn tía chen thức ngàn hồng.

Trong thời:

10 - Điện ngọc thâm nghiêm
Cửa vàng ngang ngửa.

11 - Liễu Chương Đài mây ngọc dờn dờn
Đào Thượng Uyển má hồng rỡ rỡ.

12 - Địch phượng lầu kia mới thổi, lòng nguyệt dễ xui
Trống rồng điếm nọ lại thôi, nhị hoa đua nở.

Ngoài thời:

13 - Chợ Hòe đầm ấm
Phố Ngọc tần vần

14 - Trai lanh lẹ đá cầu, vén áo
Gái éo le rủ yếm đôi quần,

15 - Khách Trường An cưỡi ngựa xem hoa, rợp đường tử mạch
Chàng công tử ngựa xe giương tán, rạng mực thanh vân.

20 - Thành Phụng ấy chốn yêu chốn lạ
Sắc xuân này dường tốt dường thanh

21 - Dầu chẳng có sắc xuân đua tốt
Sao cho nên thành Phụng nổi danh.

Đoạn văn trên – phần chủ yếu của bài phú – có một bút lực thật sự tung hoành! Cách miêu tả tỉ mỉ, văn pháp khoa trương mỹ lệ, cảm xúc dào ứ một niềm đắm say đối với dải đất Kinh kỳ. Đúng là một ngày xuân tưng bừng náo nhiệt của một vùng đô hội phồn hoa. Khắp mọi nhà chữ treo, tranh dán. Chợ búa ngan ngát hàng, lắm màu nhiều sắc khác nào những bức tranh “trăm dáng vẻ”. Trong hoàng thành, ngoài đường phố, muôn tía ngàn hồng chen sắc, đúng là quang cảnh đón xuân sang.

Với lối tả kỹ lưỡng, khác nào nhà điêu khắc lừa lưỡi đục vào sâu trong thớ gỗ để chạm bong, chạm lộng, ông Trạng Me đã đặc tả những mảnh đời trong cung cấm cũng như ngoài dân dã. Trong cung thì điện ngọc cửa vàng, liễu xanh tươi, đào đỏ rực, đuốc lung linh, gấm lụa phô bày, nhã nhạc dặt dìu, réo rắt. Ngoài kia thì chợ Hòe Nhai ăm ắp người, phố Ngọc Hà nườm nượp khách. Một thú chơi ngày xuân phổ biến đương thời là đá cầu. (Đời Trần vua cũng đá cầu ngay giữa triều đình). Câu văn tả thực như một đoạn phim:

“Trai lanh lẹ đá cầu” thì áo dài tất phải vén lên, giắt vào thắt lưng. Còn các cô gái thì éo le (đây là một từ cổ, nguyên nghĩa có nghĩa là nũng nịu, tức như ta nói ngày nay là duyên dáng) vì dải yếm tà dài cùng với quần thả chùng tạo ra vẻ thướt tha yểu điệu cực kỳ. Và kia, trên những nẻo đường hoa thắm, ngựa xe qua lại dập dìu… Tất cả đã làm nên vẻ yêu kiều kỳ lạ của Thăng Long. Đó phải chăng chính là nội hàm của khái niệm “sắc xuân” của chốn thành đô này.

Qua những phần trên, ngòi bút bay bổng đôi lúc tràn ngập vẻ say sưa cùng với cảm xúc lãng mạn đã miêu tả một mảng Thăng Long đẹp, sống động trong những ngày xuân tràn đầy sinh lực. Nhưng đó cũng mới chỉ là một mặt. Khác nào sau cơn say, tỉnh lại, và đối chiếu với một mảng khác của Thăng Long, mảng đời sống lam lũ thường nhật của bình dân, tác giả luận bàn:

23 - Có xuân tượng bởi có thành
Cậy hiểm chẳng bằng cậy đức.

24 - Tuy đã nhiều non nhiều nước, mạnh thửa thành trì
Sao bằng lấy nghĩa lấy nhân, bền làm phong vực.

Có lẽ thực tế những năm cuối đời vua Đoan Khánh (tức Lê Uy Mục), chính sự đã hỏng nên tác giả mới đề ra một nguyên lý mà những nhà cầm quyền cần luôn nhớ: việc cậy trông vào thế hiểm trở của núi sông không thể nào bằng được việc cậy trông vào cái đức của con người. Có đức thì muôn vạn người sẽ cùng theo, và “chúng chí thành thành” tức là ý chí của quần chúng sẽ trở thành một tòa thành kiên cố. Cho nên xây đắp nhiều thành trì vững vàng cũng là điều hay nhưng không sao bằng được lấy nhân nghĩa làm nền tảng, làm khuôn phép. Phải chăng ý tứ này là để răn vua Đoan Khánh, và ông vua này trong lúc tương tri chợt lóe sáng đã cảm nhận được và vì vậy đã trao cho Giản Thanh học vị Trạng nguyên.

Đến liên cuối cùng của bài phú, liên thứ 25, tác giả nêu một hệ luận: Nếu có đức, nếu lấy nhân nghĩa làm khuôn phép thì những thấy:

25 - Đời đời thành Phụng ấy
Kiếp kiếp sắc xuân này
Con con cháu cháu dõi truyền đến chưng muôn vạn ức.

Tức là non sông sẽ còn mãi mãi, dân tộc sẽ trường tồn và trong đó thành Thăng Long đời đời phát triển sinh sôi.

Bài phú Phụng thành xuân sắc ra đời giữa mùa Xuân năm 1508. Lúc này Đoan Khánh mới lên ngôi vua được 3 năm 2 tháng nhưng cũng đã bộc lộ sự sa đọa. Tuy vậy đất nước vẫn còn thừa hưởng sáu thập kỷ phục hưng đạt đến đỉnh cao của một thời thịnh trị với các vua Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông. Cho nên ngòi bút tác giả có khoa trương, hoa mỹ song cũng dựa trên những thực tế nhất định, nhất là tả cảnh ngày xuân của đất Kinh kỳ thì ngày xuân nào mà chẳng khởi sắc, huống chi là đất đô thành bậc nhất của non sông. Dải đất này dù làm vào chiến tranh thì hoa vẫn phô sắc trên chiến lũy, cho nên “Xuân sắc” Phụng thành – Thăng Long – Hà Nội là bất tận, là vô cùng.

Theo báo “Hà Nội Mới” Xuân Mậu Tý 2008
Bùi Đẹp st

Bài phú “Phong Cảnh Đại Đồng”

Được thưởng 2000 lạng bạc

Lúc Gia Quốc Công Trấn thủ Đại Đồng (Tuyên Quang), có mời các văn sĩ đến làm bài phú “Phong Cảnh Đại Đồng” bằng quốc âm, bài phú của Nguyễn Hãng người xứ Xuân Lũng, (tên nôm là Làng Dòng), một làng Việt cổ, cũng là làng học nổi tiếng ở vùng trung du huyện Lâm Thao (tên cũ là Sơn Vi), tỉnh Phú Thọ , chiếm giải nhất, được tặng 2000 lạng bạc.

Bút pháp Bài phú “Đại Đồng phong cảnh” nghiêng về hoành tráng, tụng ca không hề kiệm lời về chốn phồn vinh “thực đã nên danh” của thị trấn Đại Đồng.

ĐẠI ĐỒNG (1) PHONG CẢNH PHÚ

Xem chưng:
Được khí thiêng liêng;
Nhiều nơi thanh lạ.
Non Xuân sơn (2) cao thấp triều tây (3);
Sông Lôi thủy (4) quanh co nhiễu tả (5).
Ngàn tây chìa cánh phượng, dựng chỗ hư không;
Thành nước uốn hình rồng, dài cùng là đá (6).
Đùn đùn non yên ngựa (7); mấy trượng khỏe thế kim thang (8);
Cuồn cuộn thế Con Voi (9), chín khúc bền hình quan tỏa (10).

Thêm có:

Lâu đài kề nước;
Hoa cỏ hướng dương (11)
Thược dược khéo mười phần tươi tốt,
Mẫu đơn khoe hết bực giàu sang (12).
Hây hây ngõ hạnh, tường đào, quanh nhà Thái tổ (13)
Thay thảy đường hòe, dặm liễu, hóng gió thiều quang.
Má hồng điểm thức yên chi (14), đầy vườn hạnh, xem bằng quốc sắc;
Quần lục đượm mùi long não, dãy tường lan, nức những thiên hương (15).

Lại có nơi:

Tiện nẻo vãng lai;
Là nơi thành thị.
Tán (16) đầu khăn hợp khách bốn phương;
Xe dù ngựa dong đường thiên lý
Đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, nặng cổ thằng hề (17).
Dập dìu quần trả (18), áo nghê (19), dầu lòng con tí (20).
Diên đai mai (21), châu châu ngọc ngọc, nhiều chốn phồn hoa;
Viện thu thiên (22), ỷ ỷ la la, mười phần phú quí.
Xem phong cảnh chỉn (23) đã khác thường;
Gẫm tạo vật thật đà có ý.
Thửa mắc (24)
Trời sinh chúa thánh;
Đất có tôi lành.
Bói quẻ kiền (25) đòi thời mở vận;
Phép hào sư (26) lấy luật dụng binh.
Đất tam phân (27) có thửa hai, chốn chốn đều về thanh giáo (29);
Nhà bốn bể vầy làm một, đâu đâu ca xướng thái bình.
Chín lần nhật nguyệt làu làu, cao đường hoàng đạo (30)
Nghìn dặm sơn hà chễm chễm, khoe thế vươn thành (31)
Hình thế ấy khen nào còn xiết;
Phong cảnh này thực đã nên danh!

Trong quyển “Kiến Văn Tiểu Lục”- Lê Quý Đôn
Bùi Đẹp st


Chú thích:

(1) Đại Đồng: tên đất thuộc phủ Yên Bình, Tuyên Quang. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, anh em Vũ Văn Uyên ,Vũ Văn Mật chiếm giữ đất đó chống nhà Mạc. Họ Vũ, một mặt giúp binh lương cho Lê Trang Tông (khởi sự ở Thanh Hóa), một mặt củng cố nội bộ, cho nên khi ấy Đại Đồng là một vùng nổi tiếng phồn vinh.
(2) Xuân sơn: tên quả núi trong dãy núi Voi ở Yên Bình, Tuyên Quang.
(3) Triều tây: chầu về phía tây, phía trấn Đại Đồng.
(4) Lôi thủy: chính là sông Chảy, một nhánh của sông Lô, chảy qua Yên Bình, Đoan Hùng.
(5) nhiễu tả :nhiễu là vòng quanh, tả là bên trái. Trấn Đại Đồng ở bên phải sông chảy; đây nói sông Chảy chạy quanh phía trái trấn Đại Đồng.
(6) Thành nước: là thành xây bên bến nước.
(7) Non yên ngựa:dãy núi ở ngay sát trấn Đại Đồng.
(8) Kim thang: do chữ “kim thành, thang trì” trong sách Hán thư (thành xây bằng đồng, hào chứa nước sôi). Ý nói thành trì không thể phá nổi.
(9) Thác Con Voi: xem (2)
(10) Quan tỏa: Quan là cửa, tỏa là khóa: phòng thủ vững chắc.
(11) Hướng dương: Chầu về mặt trời. Câu này cũng như câu thứ (2), có ý ca tụng anh em họ Vũ.
(12) mẫu đơn khoe hết bực giàu sang: do câu “mẫu đơn hoa chi phú quý giả dã” (ai liên thuyết của Chu Đôn Di, đời Tống), ngụ ý mẫu đơn là loại hoa phú quý trong các loại hoa.
(13) Thái tổ:Đây là chỉ Vũ Văn Uyên, khi đã chết, Vũ Văn Mật lên thay. Chữ Thái tổ thường dùng để đặt miếu hiệu cho các vua sáng nghiệp -Uyên tuy chưa làm vua nhưng cũng đã sáng lập cơ nghiệp cát cứ của họ Vũ ở Tuyên Quang. Câu này có ý tôn quá mức.
(14) Yên chi: Thứ cây có hoa đỏ dùng thay phấn hồng cho phụ nữ trang điểm.
(15) Thiên hương; hương trời, dùng chỉ người đẹp.
(16) Tán: Người Mán đội khăn hình tròn to vành vạnh như cái tán.
(17) Thằng hề: hề đồng - kẻ theo hầu các Nho sĩ.
(18) Quần màu biếc như lông chim trả (còn gọi là chim bói cá).
(19) Áo nghê: Áo màu cầu vồng.
(20) Con tí:con gái.
(21) Diên:tiệc, đồi mồi - có lẽ là chén đựng rượu bằng đồi mồi.
(22) Thu thiên: cây đu.
(23) Chỉn: tiếng cổ có nghĩa là vốn, rất, lắm.
(24) Thửa mắc:Thửa là ấy, từ chỗ ấy mắc là bởi, với; thửa mắc cũng như; vì thế cho nên. Có bản lại chép là thửa mặc.
(25) Ngôi Kiền: kiền là quẻ thứ nhất trong bát quái của kinh dịch, tượng trời cũng là tượng vua, chỉ ngôi vua.
(26) Sư;tên một quẻ trong kinh dịch nói về việc mệnh tưởng ra quân, trong hào đầu, vạch thứ nhất, có câu: “sư suất dĩ luật”, nghĩa là quân xuất chính phải có luật.
(27) Tam phân: Chia ba - khi đó đất nước ta bị chia sẻ giữa các chúa phong kiến: nhà Mạc ở miền đồng bằng và miền đông bắc bộ. Lê Trịnh ở phía bắc trung bộ họ Vũ ở Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai. Tác giả đã tôn họ Vũ một cách quá đáng nên nói rằng đã có hai phần ba thiên hạ.
(29) Thanh giáo: Thanh danh và giáo hóa của nhà vua. Đây chỉ thanh giáo của họ Vũ.
(30) Hoàng đạo: Đường mặt trời đi, ở đây tác giả có ý tôn họ Vũ như mặt trời cao, sáng.
(31) Vương thành:Thành nhà vua, chỉ trấn Đại Đồng. Tác giả có ý tôn họ Vũ là bậc vương giả cho nên gọi Đại Đồng là Vương thành.

Về bộ sưu tập “Saigon vịnh
của Trương Vĩnh Ký năm 1882

Bộ sách sưu tập “Saigon d’Autrefois” của P.J.B Trương Vĩnh Ký do Nhà xuất bản C.Guillaud et Martinon in năm 1882 mà chính tác giả đã chép ra chữ quốc ngữ và dẫn giải được ấn hành làm hai tập riêng lẻ như ông Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu lịch sử Sài Gòn giới thiệu, được NXB Trẻ phát hành năm 1997 đã nhập chung lại thành một tập lấy tên “Gia Định phong cảnh vịnh” nhân kỷ niệm Sài Gòn 300 năm. Sách gồm có ba bài vịnh: Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, Gia Định thất thủ vịnh và Kim Gia Định phong cảnh vịnh.

Bài “Cổ Gia Định phong cảnh vịnh” đầu tiên là bản nôm chép tay gồm 43 câu và một bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng khi được phiên âm đăng trên tạp chí Nam Phong số 77 tháng 11/1923 có đầu đề “Bài phú Cổ Gia Định” gồm 43 câu. Có lẽ khi xưa, bài này chỉ có tên là “Gia Định phú”. Bài phú hay bài vịnh này mô tả phong cảnh Gia Định từ những năm cuối thế kỷ XVIII (1770) đến đầu thế kỷ XIX (1815). Tới khi thành Gia Định bị Pháp đánh chiếm (1859) và phá thành bình địa thì bài này trở thành “Bài phú Cổ Gia Định” hay “Cổ Gia Định phong cảnh vịnh” để phân biệt “Gia Định cũ” với Gia Định mới, bởi vì Gia Định xưa đã trở thành Sài Gòn (từ biến dạng của Sài Côn chỉ Chợ Lớn), còn tên gọi Gia Định đã bị chính quyền thực dân cai trị đẩy sang bên kia kinh Thị Nghè - Nhiêu Lộc nơi được gọi là Bà Chiểu và từ đó trở thành tỉnh Gia Định. Bao gồm các quận Gò Vấp, Phú Nhuận, Hốc Môn…

Khi cho in bài phú hay vịnh này vào năm 1882, ông Trương Vĩnh Ký giới thiệu đã cho biết: “Cái điệu vịnh Gia Định, không rõ là của ai làm, làm có đối đáp, song quan, cách cú, bạt tất đủ nói về phong cảnh Sài Gòn thuở trước Tây (Phú Lang Sa) chưa lấy, bắt nội Bến Thành, Chợ Sỏi vô tới Chợ Lớn, Chợ Gạo, Lò Gốm, Cây Gõ, Phú Lâm, Cầu Bông, Thị Nghè, Gò Vắp, đường sá, xóm làng, nhà cửa, phố phường, chùa miếu, lại thú người trên bộ dưới thuyền đủ cả. Nói cho đến người Tây, Mô Rồ, tàu bè các nước tới lui buôn bán thuở ấy nữa…”

Tác giả còn nói thêm: “Có kẻ nói cái vịnh này của ông Ngô Nhơn Tịnh, cư ngụ xứ Trà Luộc, làm ra mà chơi.” (Sđd trang 15). Ngô Nhơn Tịnh là nho sĩ giỏi văn thơ ở đất Gia Định cùng với Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức hợp thành “Gia Định tam gia” lập ra “Bình Dương thi xã” và đã viết chung “Gia Định tam gia thi tập” hiện nay vẫn còn.

Về bài “Gia Định thất thủ vịnh”, ông Trương Vĩnh Ký phát biểu: “Vịnh này ai làm thì không có biết rõ, mà văn làm hay, đối đáp cân xứng. Xem hãy còn dài hơn nữa, mà thấy các bổn chép có bấy nhiêu, thì ta cũng chép lại bấy nhiêu. Bấy nhiêu cũng đủ hiểu ý tứ và chí khí kẻ làm. Chính ý là tiếc đất cũ của mình nay đã về tay giặc, đổ cho đạo tuần huờn trời đất đổi dời khiến cho giặc mạnh, khí giới giỏi, cơ xảo đến đánh mà lấy đi.”

Bài vịnh nói trên cũng vô danh nhưng trước đây nhà nghiên cứu Thái Bạch và Lãng Nhân cho là của Phan Văn Trị vì xét thấy bài thơ chứa đựng nhiều câu có tính khẩu khí như “Tiếc đất cũ của mình đã về tay giặc”, hay “Phẫn uất trước sự bạo tàn của quân giặc”. Nhà thơ yêu nước PhanVăn Trị ở đương thời và đối lập với Tôn Thọ Tường theo làm việc cho chính quyền thực dân.

Về bài “Kim Gia Định phong cảnh vịnh” theo ông Trương Vĩnh Ký là của Hai Đức ở Chợ Lớn hiệu Tập Phước (mới mất cùng năm sách được in), làm về địa cảnh đất Chợ Lớn, Bến Nghé đời hiện đại, tức sau khi giặc Pháp chiếm đóng Sài Côn và quy hoạch chỉnh trang thành đô thị mới mang tên Sài Gòn hay “Hòn ngọc viễn đông”. Ông Pétrus Ký viết: “Văn đặt thật tình, lời nói dễ hiểu. Cũng nên in ra để đời cho người ta coi, cùng để lại cho người đời sau cho biết đời nay đất này là như vậy, hoặc sau sẽ tốt hơn nữa chăng? Dầu cuộc đổi dời cồn có hóa nên vực, vực có hóa cồn đi nữa thì cũng hãy còn tích lại mà nhắc.”

Như đã nói, ông Trương Vĩnh Ký khi ấn hành ba bài vịnh hay phú bằng chữ nôm và dịch ra chữ quốc ngữ thì làm thành hai tập: một tập gồm hai bài Gia Định phong cảnh vịnh và Gia Định thất thủ vịnh, gọi chung bằng chữ Pháp là “Saigon d’Autrefois” tức “Sài Gòn xưa”. Còn tập hai chỉ có bài “Kim Gia Định phong cảnh vịnh” có tên chữ Pháp là “Saigon d’Aujourd’hui”. Nếu nhận xét cho đúng thì hai bài vịnh trước các tác giả đã bày tỏ tình cảm, tấm lòng đối với tình hình và phong cảnh của Gia Định trước khi giặc Pháp đánh chiếm. Trước khi bị giặc chiếm đóng, Gia Định rất đẹp và dân tình an cư lạc nghiệp, qua mấy câu thơ đầu :

Phủ Gia Định ! Phủ Gia Định !
Nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn !
An ở vui thú nơi nơi

Bài “Gia Định thất thủ vịnh” quả đã gợi lại trong lòng mọi người Việt cái nhục mất nước, đau thương và tủi hổ trước cảnh nhà tan cửa nát, người người bị giặc sát hại, cầm tù. Mở đầu cho thấy cảnh điêu linh, vật đổi sao dời:

Thương thay đất Gia Định ! Tiếc thay đất Gia Định !
Vực thẳm nên cồn, đất bằng nổi sóng
Tàu khói chạy mây tuôn sống mấy khúc, lờ lạt Bến Trâu.
Dây thép giăng chớp nháng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng…

Còn bài “Kim Gia Định phong cảnh vịnh” hay “Gia Định phong cảnh quốc âm ca vịnh” là một bài thơ ca ngợi sự đổi mới của Gia Định sau khi bị giặc chiếm đóng và ngợi khen công lao xây dựng và quản lý của thực dân Pháp. Bài này đáng lẽ không nên sưu tập và diễn giải khi kỷ niệm Sài Gòn 300 năm. Còn ông Trương Vĩnh Ký sưu tập và ấn hành là ông có lý do riêng của mình vào thời thịnh hành của chính quyền thực dân đô hộ.

Dù sao, ba bài vịnh này đều có giá trị về tư liệu lịch sử và vì là “sách xưa”.

Vương Liêm

Phụ Bản II

CỔ TÍCH GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Ngày xửa, ngày xưa… khi có người gặp phải hoàn cảnh khó khăn, khốn đốn, không cần biết già, trẻ, bé, lớn… ngồi khóc, thì lập tức có Bụt hay Tiên hiện ra và hỏi: “Vì sao con khóc?”. Sau khi nghe kể rõ nguồn cơn, Bụt hay Tiên thường giúp đỡ cho họ. Oan khiên được giải tỏa. Của mất tìm lại được. Người đau khổ lau nước mắt. mỉm cười trở lại…

Ngày nảy, ngày nay... có những người gồm đủ mọi thành phần trong xã hội cùng lập nhóm, hay tham gia đơn lẻ tùy từng hoàn cảnh để giúp đỡ người khác một cách vô vụ lợi. Họ để lại số di động để bất cứ giờ nào, bất luận ngày đêm, khi có người cần máu gọi là họ đến, mà chẳng cần biết tên tuổi, quê quán, dòng họ, địa vị, giàu, nghèo, cũng chẳng cần người nhận biết họ là ai!

Có những người gần hết cuộc đời sống chui rúc trong những căn nhà tuềnh toàng trống huơ, trống hoác, giữa đồng không mông quạnh tưởng như suốt đời không còn có cơ hội lợp lại mái nhà để mùa mưa không phải nửa đêm cuốn chiếc mùng rách tươm mà chạy vì mưa dột khắp nơi! Bỗng một hôm, có một nhóm người xa lạ đến hỏi thăm rồi mang đến thợ thuyền, vật tư, xây lên một ngôi nhà đẹp đẽ, khang trang còn tặng thêm một số vật dụng, ít tiền trong sổ tiết kiệm để phòng thân.

Có những người lạc mất người thân vô phương tìm kiếm, sống lang bạt nơi xa mà lòng cứ đau đáu nghĩ đến nhau trong tuyệt vọng vì không cách nào liên lạc được. Vật đổi, sao dời, địa danh cũng đổi, cảnh cũ cũng không còn, có gặp lại người thân cũng không thể nhận ra nhau vì khi lạc nhau họ hãy còn là đứa bé, mới có mấy tuổi đời, nay thì đã vào tuổi trung niên, mặt mũi, hình dạng đều thay đổi sau ba bốn mươi năm dài đăng đẵng cách xa. Vậy mà cũng có những người bỏ công sức, tiền của, lặn lội đi tìm dấu xưa, đến từng địa danh ngày xưa nay đã đổi hẳn, xác minh từ nhiều nguồn để ráp nối lại sợi dây ruột thịt máu mủ đã lìa nhau từng ấy năm dài…

Có những người mang bịnh thập tử nhất sinh, cần một số tiền quá lớn so với những gì gia đình họ còn sót lại để trang trải cho một cuộc phẩu thuật dành lại mạng sống. Thông tin vừa đưa lên thì có những người đã chung tay, kẻ ít người nhiều. Cuối cùng dành lại được mạng sống cho con người bất hạnh.

Những điều như thế tưởng như chỉ diễn ra trong cơn mơ, trong chuyện cổ tích, vì diễn tiến và kết thúc giống y như trong cổ tích... Nhưng đó lại là sự thật, và những con người, những tấm lòng, dang rộng vòng tay, đích thân đến khi nghe có những hoàn cảnh cần cứu giúp, chẳng phải là hiện thân của Bụt hay Tiên Ông, Tiên bà đó hay sao? Sao cứ cố chấp cho rằng Bụt hay tiên ông, tiên bà nhất định phải từ cõi nào hiện đến với hào quang sáng lóa, với xiêm y thướt tha, tay cầm hồ lô hay tịnh bình đựng nước cam lồ không bao giờ có trên thực tế, mà không phải là những con người đời bình thường bằng xương bằng thịt đến bằng đường thủy, đường bộ, bằng xe hơi, bằng ghe, tàu, xe gắn máy, xe đạp, kể cả đi bộ? Và chính những Bụt, những ông, bà Tiên trong màu áo thế nhân, có thể là những Y, bác sĩ với những chíếc áo blouse trắng, những ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng, những nhà giáo, những em sinh viên với quần Jean áo pull gọn gàng, những anh công nhân còn nhễ nhại mồ hôi, những bác xe ôm bụi đường còn vương trên y phục, những chị hàng cá, hàng thịt vừa lau vội đôi tay, những nhà doanh nghiệp thành đạt, những thương gia, những cán bộ, công nhân viên, những người con đất Việt dù sống ở xa quê vẫn nghĩ đến những đồng bào còn trong cảnh khó khăn, không trực tiếp về được thì cũng nhờ người thân, bạn bè đại diện… Nhiều, nhiều lắm, kể cả những em học sinh còn mang khăn quàng đỏ. Họ dù chưa một ngày đọc tụng kinh sách, nhưng tấm lòng thì rõ ràng là Bồ Tát, đang “tầm thinh cứu nạn”. Những gì họ đang trực tiếp hành trì rõ ràng là “Bồ Tát Đạo” thì giây phút đó họ chẳng phải hiện thân cho Bồ Tát là gì?

Trong các truyện cổ tích, Bụt hay Tiên cũng đâu có dời non lấp bể, đâu có lật tung cả thế giới, mà cũng chỉ cứu giúp một vài hoàn cảnh ngặt nghèo, nhưng đa phần những người được cứu là những người lương thiện chẳng may rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Ngày nay cũng thế. Những người đáng giúp là những người chí thú làm ăn, chẳng may rơi vào hoàn cảnh thắt ngặt, hoặc những con ngoan, trò giỏi nên được địa phương quan tâm, giới thiệu. Đa phần họ đều có ước vọng vươn lên một cách lương thiện, nhưng chẳng may hoàn cảnh không cho phép.

Năm mới, chúng ta ước gì những chuyện cổ tích đời thường như thế càng được viết nhiều thêm, được nhân lên, bởi tát cạn vực nước mắt cho chúng sinh, làm trần gian vơi đi đau khổ, không chỉ là ước nguyện của chư vị giác ngộ mà cũng là của tất cả những ai có chút tình người. Bởi con người đã tỉnh ngộ ra nhiều khi vượt qua bao đau thương tang tóc, chiến tranh, chia ly. Bao nhiêu năm dài gian khổ, giờ được hưởng cảnh thái bình, an vui, đoàn tụ, mới thấy cuộc sống đáng qúy, đáng trân trọng biết bao nhiêu! Nước mắt đau khổ đã chảy nhiều rồi, mong rằng từ nay chỉ còn lại nước mắt cảm thông, sẻ chia, nước mắt của đoàn tụ, nước mắt bật ra từ niềm vui bởi những món quà bất ngờ nhận được từ những tấm lòng thơm thảo, đầy ấp nghĩa tình. Cũng là nước mắt, nhưng nước mắt này là của hạnh phúc, của xúc động nghẹn ngào mà ai chứng kiến cũng thấy mình khó cầm được gịot lệ cảm thông!

Đất nước ta giàu tài nguyên đã là điều ưu đãi của mẹ thiên nhiên. Nhưng nếu giàu thêm những tấm lòng vị tha, thì đó là tính nhân văn sẽ đưa dân tộc đến cảnh thái bình, an vui, vì người nghèo chẳng những không còn bị bóc lột đến tận xương tủy mà còn được chia sẻ thì đâu còn thấy mình bất hạnh. Trái lại, những sự giúp đỡ, cảm thông, nhờ chút vốn nhỏ đó như động lực giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn, phấn đấu để vươn lên. Người giàu làm được nhiều của cải không chỉ để trong ngân hàng, trong tủ sắt, sắm vàng, hột xoàn để đeo đầy người, mà dùng một phần để giúp xây cầu, lập trường học. Mỗi người tùy theo hoàn cảnh của mình mà thể hiện câu “lá lành đùm lá rách”. Đời thường như thế phải chăng bỗng hóa thành cổ tích? Những con người bình thường, nhưng với cái Tâm yêu thương con người, bỗng hóa thành Ông Bụt, bà Tiên, vì đã làm cho những mảnh đời bất hạnh tưởng chừng tuyệt vọng, nụ cười đã tắt, lại thấy tin yêu cuộc đời. Người neo đơn, kể cả những người mang bịnh xã hội tưởng như cuộc đời sẽ tàn lụi trong bóng tối, bị xã hội ruồng bỏ, cũng có những bàn tay, tấm lòng đến chia sẻ với họ để họ tiếp tục cuộc sống, góp phần đời còn lại vì lợi ích cộng đồng. Nếu mô hình nhân văn như thế ngày càng lớn mạnh, người nào, việc ấy, góp tay nhau xây dựng cuộc đời. Người người thông cảm, san sẻ cho nhau. Trong tâm của mỗi người đầy tình yêu thương, thì chắc chắn cuộc đời sẽ tràn ngập niềm vui, tiếng cười. Cảnh trần gian như thế thì đã quá tốt đẹp, là Niết bàn thực tế tại thế. Còn phải mơ màng ở đâu xa vời làm chi! Đau khổ bắt nguồn từ cuộc đời, từ những cái tâm ích kỷ, nhỏ nhen, tham lam, ti tiện… thì cũng phải được hóa giải bằng Cái Tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả, để cuộc đời tốt đẹp hơn lên. Đạo Phật đâu có đòi hỏi người tu phải làm chuyện gì lớn lao hơn là Tu Tâm, tức là chuyển đổi cái Tâm nhơ bẩn, thấp hèn trở nên trong sáng? Lục Tổ Huệ Năng cũng có Kệ:

“Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác.
Ly thế mịch Bồ Đề,
Cáp như cầm thố giác”

Có nghĩa là phật pháp ở tại thế gian, không rời thế gian mà giác ngộ. Rời thế gian mà tìm giải thoát thì cũng như tìm sừng thỏ”. Ràng buộc, đau khổ tại nơi đây thì giải thoát cũng phải ở tại nơi đây. Cảnh trần là nơi chúng ta đang sống, trong đó có những người đang hưởng Quả, có những người đang trả Nghiệp, theo đạo Phật đó là do nghiệp chướng quá khứ sâu dày cần được sẻ chia… Như vậy, nếu ta chỉ biết ôm mớ lý thuyết của Kinh sách, không đi vào thực tế để yêu thương, giúp đỡ những người xấu số hơn mình, chỉ lo an ổn, vun vén cho bản thân, chưa có một chút xót xa cho những cảnh đời bất hạnh để hành “hạnh Bồ Tát” với tha nhân, thì với cái Tâm vô cảm, không gợn chút lòng Từ, lòng Bi đâu có phải là Tâm Phật? Bởi “Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhân Đạo. Dục tu Phật Đạo, tiên tu Tiên Đạo”, tức là muốn tu đạoTiên trước phải tu Đạo Làm Người. Muốn tu đạo Phật trước phải tu Đạo Tiên. Đồng ý là mọi người có thể tu tắt, chẳng cần theo trình tự như thế. Nhưng dù có tu tắt cỡ nào đi nữa, nếu chúng ta chưa làm một con người bình thường, có Nhân, Nghĩa, biết yêu thương con người trước khi làm Thánh, làm Phật, thì e rằng dù ta có tu đến muôn kiếp cũng khó thể đạt được mục đích của Đạo như Đấng sáng lập hằng mong mỏi vậy.

Tâm-Nguyện (12/2008)

CÁI TÂM TRONG ĐẠO PHẬT

Trong Đạo Phật Cái TÂM rất là quan trọng. Người bắt đầu vào tu đã phải PHÁT TÂM. Hành trì gian khổ cũng chỉ để ‘đắc cái TÂM”. 33 vị Tổ nối nhau cũng chỉ TRUYỀN TÂM cho nhau. Người thầy truyền pháp cho trò gọi là TRUYỀN TÂM ẤN. Tu hành là để Thành Phật, để thực hiện lời Thọ Ký “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, nhưng “Muốn tìm Phật” thì không phải hướng về Tây Phương hay Đông Phương mà tìm, mà phải “TÌM TÂM”. Muốn được Tịnh Độ không phải ăn chay hay tụng Kinh, Niệm Phật, mà phải TỊNH TÂM. Tu hành phải học biết bao nhiêu pháp, nhưng tóm lại thì Ngũ Tổ dạy: “Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích”. BÁT NHÃ TÂM KINH cũng khẳng định: đây là con đường mà “tam thế chư Phật đã y theo để đắc a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề”. Tổ Đạt Ma khi sang Trung Quốc cũng nói: “Trời Tây 28 Tổ sư thiền đều lần lượt truyền tâm ấn cho nhau. Ta đến xứ này cũng chỉ truyền một Tâm ấy, không luận về Giới, Thí, Tinh Tiến, Khổ hạnh cả đến việc vào nước, lửa, lên vòng gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm (Thiền), thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo”, và “Phật trước Phật sau chỉ nói pháp Truyền Tâm, ngoài ra không pháp nào khác. Nếu thấu rõ pháp ấy thì phàm phu ngu dốt không biết một chữ cũng vẫn là Phật”.

Chỗ khác nhau giữa người đạt đến cứu cánh của Đạo và những người rất là thiết tha tu hành và thực hành đủ mọi phương tiện, nào là khổ hạnh, nào là giữ những giới rất nghiêm ngặt, nào là ngồi bất động rất lâu năm, nhưng cũng không thành công, theo Kinh Tâm Địa Quán thì: “Các vị còn trong phàm phu địa, không Quán Tự Tâm nên phải trôi giạt trong bể sinh tử. Chư Phật, Bồ Tát vì Quán được Tâm, nên qua được bể sinh tử, đến bờ Niết Bàn” (tr. 61). Lý do nhiều người tu Phật không biết nên làm thế nào? Bắt đầu ở đâu? là vì họ không nắm được mục đích của công việc tu hành, không biết được rằng Tu Phật chỉ là để “Độ Khổ” hay “trừ Phiền Não” cho bản thân, nên cũng không biết được rằng Khổ hay Phiền Não đều do Tâm và Mắt đem lại, mà đại diện cho những người khi hiểu chưa đúng nên tu hành không thành công chính là Ngài Anan. Cũng nhờ nhân duyên đó, Đức Phật khai mớ cho Ngài mà cũng là cho tất cả chúng ta: “Ông từ hồi nào đến giờ nhiều kiếp sinh tử luân hồi cũng vì Tâm và Mắt. Nếu ông không biết nó ở chỗ nào thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao”. Nhân cơ hội này, Đức Phật khẳng định: “Cũng như vị quốc vương, bị giặc đến xâm lăng, đem binh dẹp trừ, nếu không biết giặc cư trú tại đâu thì không bao giờ dẹp được”.

Đúng thế, đã không xác định được mục đích thì làm sao sử dụng phương tiện cho thành công? Chưa phân biệt ai là giặc, ai là dân thì làm sao để tiêu diệt giặc dể cho quốc độ của Tâm được an ổn? Đó là những điểm căn bản để người tu hành nhìn lại bản thân, kiểm tra xem bao lâu nay mình đã vào Đạo Phật vì lý do gì? Hành trì như thế nào? Để đạt được điều gì? Đã làm đến đâu? Còn phải làm đến bao giờ?

Nếu biết được thế nào là Phật và tu Phật thì phải làm gì? thì con đường tu hành xem ra không có gì quá cầu kỳ, phức tạp. Nhưng thử tưởng tượng cách đây hơn 2.550 năm, để diễn tả được cái TÂM không phải là điều dễ dàng. Chính vì vậy, Đức Phật phải mượn đủ thứ cảnh, khi nói trong, lúc chỉ ngoài, khi nói về mình, lúc nói về người…để mô tả, làm cho người nghe dễ sinh ra nhầm lẫn. Bằng chứng là trong Kinh Lăng Nghiêm, phải chỉ đến lần thứ 7 thì Ngài Anan mới nhận ra cái Tâm. May thay, càng về sau, chư Tổ cũng lần lần khai sáng ra thêm, ngôn ngữ cũng phong phú hơn, nên chúng ta dễ dàng hiểu được rằng Cái TÂM mà Đức Thích Ca cho là quan trọng nhất, là đầu mối của những dính mắc, mê lầm, đó chính là tư tưởng của chúng ta. Những tư tưởng này, dựa trên căn bản cái Thân khi tiếp xúc với các pháp nảy sinh ra.

Cái tư tưởng, hay còn gọi là CÁI BIẾT, CHO RằNG CÁI THÂN NÀY CHÍNH LÀ TA thi Đức Thích Ca cho đó là CÁI BIẾT MÊ LẦM. Vì sao gọi là Mê Lầm? Vì phát khởi từ cái Thân, là một nhóm Tứ Đại, chỉ tồn tại chừng trăm năm, mục đích là để cho Duyên Nghiệp vay trả với nhau, không trường tồn, không phải Thật Ta. Nhưng từ khi bắt đều hiểu biết, mở mắt ra là phải sống với cái THÂN, nên tưởng lầm đó là chính MÌNH. Vì thế, khi cái Thân phải đối đầu với các Pháp, thì lại đứng vào vị trí cái Thân, cho đó là đến với Mình, rồi Giận, Hờn, Thương, Ghét.. muốn lấy, muốn bỏ, tranh giành với người khác, tạo bao nhiêu Nghiệp chướng, để rồi sau đó phải theo Nghiệp Lực mà Sinh, Tử triền miên trong Sáu Nẻo gọi là Luân Hồi.

Mỗi người đều có một CÁI BIẾT SÁNG SUỐT hay còn gọi là CÁI BIẾT GIÁC NGỘ, nhưng vì bị VÔ MINH che mờ, nên trở thành Cái Biết Mê Lầm. Bản thân nó trường tồn, không Sinh, không diệt, không vướng mắc vào những lục dục, thất tình của các pháp, không khổ, không vui, tự tại, thanh tịnh…Vì thế, người Tu Phật chính là người phải phân biệt được hai Cái Biết này để Phản Vọng, Quy Chân, tức là phải biết rõ điều gì đã làm ra mê lầm để tháo gở, để thanh lọc cái Vọng, trở về với cái CHÂN, thì sẽ được Giải Thoát

Quá trình thanh lọc đòi hỏi phải có Cái BIẾT SÁNG SUỐT để hướng dẫn cho mọi hành động. Chính vì vậy, Đạo Phật đặt TRÍ HUỆ hay Trí Bát Nhã lên hàng đầu, TRÍ này mỗi người cũng đều có, nhưng do quá trình trôi lăn nên bị che mờ, vì thế phải học hỏi, phải tháo gở những lớp mây mờ che chắn. Công việc này mỗi người phải tự làm nên gọi là TỰ ĐỘ, vì không ai có thể hiểu giùm, làm giùm cho ai.

Đạo Phật dù nói thiên Kinh, vạn quyển, nhưng con đường tu chỉ có một hướng duy nhất: QUAY VÀO TRONG MÌNH, nương Kinh văn để TÌM CÁI CHÂN TÂM CỦA MÌNH, để thấy rằng RÀNG BUỘC HAY GIẢI THOÁT CŨNG DO CÁI TÂM MÊ. Hết Mê là Tỉnh hay Giác. Mọi công phu, tu hành đều tập trung ở đó gọi là TU TÂM. Tất cả những phương tiện bên ngoài chỉ là để hỗ trợ mà thôi.

Cũng tương tự như có một người bị nhốt trong một căn phòng, muốn giải cứu cho người đó ra thì phải phá cửa, đập tường, mở khóa hoặc đào đất... cách nào miễn đưa được người đó ra ngoài. Nếu ta chỉ lo đập tường, phá vách, hoặc đào đất mãi mà không giải thoát được người đang bị nhốt trong phòng thì bao nhiêu công sức cũng vô ích mà thôi! Hiểu được mục đích của việc tu hành. Chú tâm vào việc đi tìm Cái THẬT MÌNH. Khi tìm được gọi là THẤY TÁNH hay THẤY ĐƯỢC BẢN THỂ TÂM. Thấy được rồi thì bắt đầu tập sống theo bản chất thật sự của nó mà Kinh dùng thí dụ như sư tử con từ nhỏ bị lạc vào bầy giả can, cũng ăn thức ăn nhơ, cũng kêu tiếng giống như chúng. Từ khi ý thức được gốc của mình là Sư tử thì rống lên tiếng rống oai vệ của loài sư tử và không ăn thức ăn nhơ bẩn của loài giả can nữa.

Con đường tu hành tưởng chừng như cam go, nhiều người phải tìm đến tận nơi Đức Thích Ca đã lập đạo tràng để giảng dạy ngày xưa. Có người đã không ngại gian khổ tìm đến tận Tây Tạng xa xôi, hoặc nương những phương tiện, nào Tiểu Thừa, Đại Thừa, Mật Tông, Hiển Tông, hành Lục Độ, Vạn hạnh,Thiền Định, Trai Giới, Khổ Hạnh… như Đức Thích Ca đã làm ngày trước. Thế nhưng, thật ra chỉ cần hiểu rõ rồi theo hướng dẫn của một quyển Chính Kinh, như Kinh Lăng Nghiêm chẳng hạn, ta thấy Phật dạy thật đơn giản:

“Ông nay muốn đặng đạo Vô thượng Bồ Đề, thì điều cần thứ nhứt là phải hiểu hai món căn bản:

1/- Căn bản của Sinh tử là Vọng Tâm”
2/-Căn bản của Bồ Đề Niết Bàn là Chân Tâm”.

Sau khi biết được hai thứ, biết là phải Phản Vọng, Qui Chân rồi, nhưng không biết phải làm như thế nào thì ta lại thấy Phật dạy cho Ngài Anan như sau: “Ông hỏi phương tiện tu hành để độ chúng sanh trầm luân đời sau, vậy ông nên chú ý, ta sẽ vì các ông chỉ dạy: “Này Anan, Ông đã thường nghe ta dạy, tu hành quyết định phải đủ 3 điều:

1/- Dùng Giới luật nhiếp phục Tự Tâm.
2/- Nhơn Giới Tâm mới sinh Định.
3/- Nhơn Định, Tâm phát Huệ.

Đó là Phật nói vắn tắt, nhưng chúng ta cũng phải cần biết thêm là không phải chỉ cần có sức ĐỊNH là đương nhiên sẽ có HUỆ, mà phải Quán Sát, Tư Duy. Chính cái Chánh Tư Duy mới sinh ra CHÁNH KIẾN. Đó là Huệ hay Cái Biết Sáng Suốt để tự hướng dẫn đi tiếp mà Phật Ngôn dạy là: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Người tu sẽ phối kiểm, đối chiếu với chính Kinh để không bị lệch lạc, cho tới khi cái LÝ được hoàn chỉnh thì áp dụng vào cuộc sống, gọi là LÝ SỰ SONG HÀNH, bởi dù chúng ta biết rõ ràng nước dùng để giải khát, nhưng nếu không đích thân uống thì sẽ không thể nào hết cơn khát được.

Tóm lại, dù nương bất cứ phương tiện nào, chỉ cần thấy được Cái TÂM MÊ LẦM để khống chế, điều phục hay chuyển hóa nó, gọi là TU TÂM thì mới thành công, vì mọi Khổ, vui, dính mắc, phiền não, thiện, ác, Sáu Đường, Ba Cõi, Địa Ngục, Niết Bàn, Chúng Sinh, Phật… cũng từ Cái TÂM mà ra. Cứ kiên trì điều phục hay là thanh lọc nó thì việc hoàn tất chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi. Để kết thúc, xin mượn bài Kệ của Tổ Đạt Ma:

TÂM là gốc của muôn pháp lành
TÂM là chủ của muôn công đức.
Niết Bàn thường vui cũng do TÂM mà ra.
Ba cõi lăn lóc cũng theo TÂM mà dậy.
TÂM là cửa, là ngõ của đạo xuất thế,
TÂM là Bến, là Ải của đạo Giải Thoát,
Cửa ngõ đã biết, há lo khó vào?
Bến ải đã rõ, há ngại chẳng thông?

Tâm-Nguyện (Tháng 12/2008)

TÂM SỰ XUÂN VỀ

Nàng Xuân trở gót lại rồi!
Cúc đơm trước dậu mai cười bên hiên.
Khung trời thoi én đưa nghiêng,
Trăm hoa bung cánh khắp miền đua tươi.
Ngát nhà hương bánh, hương xôi,
Áo xanh ai phủ lên vai sơn hà?
Tươi nội cỏ, rực đường hoa,
Liễu tha thướt bóng oanh ca tối ngày!
Chén đào xuân ủ men cay,
Sao chưa nhắp thử mà say mộng đời!
Xôn xao bướm liệng oanh cười,
Thiếu tình nghiên bút niềm vui đâu là!
Bao lần Xuân đến, Xuân qua?
Bao lần thêm chút sương pha mái đầu!
Hoa trôi nước chảy về đâu?
Khôn nương cánh gió mà trao mộng lòng!
Tài hoa nợ trót đèo bòng,
Duyên thơ ngàn dặm nói không hết lời!
Nỗi riêng biết thuở nào nguôi?
Tâm tư gởi ánh mây trời lang thang!

TRÌNH XUYÊN

XUÂN DI LẠC

Hẹn với trần gian vạn nụ cười,
Khơi niềm hạnh phúc, tát sầu vơi.
Nào ai nức nở, trông buồn dứt.
Hỡi người mòn mỏi, ngóng vui trôi.
Kìa Mầm An Lạc đang đơm nụ,
Nọ Giống Vô Ưu đã nẩy chồi
TÂM BÌNH - biển lửa thành Sen thắm.
Xuân từ trong ấy tỏa muôn nơi.

Tâm-Nguyện

MỪNG XUÂN KỶ SỬU

Rực rỡ ngàn hoa đẹp tuyệt trần
Sắc hương gợi bóng dáng giai nhân
Phố phường lộng lẫy muôn màu áo
Thôn xóm vui vầy vạn bước chân
Người nghệ sĩ mơ theo phím nhạc
Khách văn chương mộng đến sông Ngân
Bên nhau nâng chén trà ngây ngất
Cánh én nghiêng mình đón gió Xuân.

Ngàn Phương

MỖI ĐỘ XUÂN VỀ

Xuân đến ngàn thương nhớ mỏi mòn
Lưng trời ngơ ngác mảnh trăng non
Thủy chung nguyện giữ hồn tha thiết
Trung hiếu vẹn gìn nghĩa sắt son
Khóm Bạch Mẫu đơn – màu tóc mẹ
Cánh hồng lai nhạn – tấm lòng con
Ngàn mây dệt mộng mừng năm mới
Kim tước chào xuân hót véo von.

Ngàn Phương

TÌNH CA MÙA XUÂN

Ôi ánh mắt ngày nào ta đã gặp
Sao thiết tha đắm đuối tuyệt vời
Đem vũ bão
Choàng lên cung nhạc loạn
Đem tình ca về ngự trên môi
Còn lênh đênh
Thuyền yên chưa đổ bến
Ta vì Người chối bỏ mộng ngày xanh
Hồn hoang vu
Niềm tin chưa hiện đến
Ta vì Người, xa lánh cõi trần gian.
Uống cạn hương Xuân
Làn hương ngào ngạt
Cánh môi sầu khép kín nét thanh tân
Đêm gục ngã
Trên dòng sông bích ngọc
Bình minh lên tô điểm bóng mây ngàn
Đôi cánh thêu hoa vàng rực rỡ
Đàn bướm xưa
Về dệt tiếp đoạn thơ lòng
Ngoài ngõ vắng
Gió hiền ru thảm cỏ
Ta mơ màng từ giã nỗi hoài mong
Đón giấc mơ
Lả mình bên quán gió
Dãy phím ngà đang vọng tưởng trời Xuân
Ta say đắm
Nhạc Xuân hồng êm ái
Khúc tình ca mùa nắng ấm vang ngân

Ngàn Phương

CHO MỘNG NGÁT HƯƠNG

Tôi viết hai chữ YÊU THƯƠNG
Lên vòm trời xanh bát ngát
Tôi nhắn gọi đàn chim vang tiếng hát
Đem nắng hồng nhuộm thắm buổi hoàng hôn
Đem về đây muôn cánh bướm chập chờn
Cùng dệt trọn vần thơ tình ái
Tôi viết hai chữ YÊU THƯƠNG vĩ đại
Vào không gian vời vợi trăng sao
Cho loài người tha thiết mến yêu nhau
Cho nhân thế hết u sầu đau khổ
Cho ánh trăng vàng không nức nở
Cho chiến tranh thôi tàn phá cuộc đời
Cười lên đi
Muôn hoa xuân rực rỡ
Hát lên đi
Cho mùa Xuân dài vạn thuở
Cầm tay nhau ca ngợi tình yêu
Xuân về dâng muôn sắc thắm mỹ miều
Tình tuyệt diệu không còn biên giới
Êm ái bao la ngọt ngào như tiếng suối
Thanh cao như giọng hát thiên thần
Giấc mơ hồng sáng chói
Ta nhặt hoa Xuân dệt khúc tình ca
Nhạc Xuân ngân tha thiết đậm đà
Ôi! Mùa Xuân – Mùa Xuân đầy hứa hẹn
Tôi sẽ viết hai chữ YÊU THƯƠNG trọn vẹn
Lên áng mây lam giăng mắc khung trời
Đừng buồn khổ người ơi!
Đời không sầu như cành hoa tím
Không đen tối phũ phàng như định mệnh
Không ưu tư như mưa lạnh chiều đông
Tôi sẽ viết hai chữ YÊU THƯƠNG
Vào giữa lòng vũ trụ
Cho hoa yêu rắc khắp nẻo đường
Cho tình thương về ngự trị
Cho tám phương trời Mộng ngát hương.

Ngàn Phương

NGÀY XUÂN ĐỌC BÀI “CHỢ TẾT”
CỦA NHÀ THƠ ĐOÀN VĂN CỪ

Chưa thấy ai làm thơ về Tết mà vui nhộn như nhà thơ Đoàn văn Cừ. Cảnh tưng bừng nhộn nhịp của khu vực chợ búa đồng quê, trong những ngày cuối năm, người ta nôn nao mua sắm chuẩn bị đón xuân về, dưới bầu trời trong mát rực rỡ nắng vàng. Đó là cảnh chợ Tết nhà quê, vùng sâu vùng xa, thời buổi thanh bình, chưa từng có cảnh ô nhiễm môi trường hay âm vang tiếng súng gầm tiếng đạn réo.

Hoài Thanh Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã nức nở ca ngợi: “Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có được ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn văn Cừ. Những bức tranh trong thơ Đoàn văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét... Bức tranh nào cũng đầy dẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui.” Nhưng điều đáng tiếc trong Thi nhân Việt Nam không cho thấy thân thế và sự nghiệp của nhà thơ mà chỉ đăng lại bốn bài thơ đã xuất hiện trên tạp chí Ngày nay. Có lẽ vì quá sốt ruột Hoài Thanh Hoài chân phải thốt lên: “Cho đến hôm nay viết mấy lời giới thiệu thơ Đoàn văn Cừ, tôi vẫn chưa biết gì thêm về con người ấy”, và trong phần chú thích hai nhà phê bình này đã ghi: “Khi quyển sách này đưa in chúng tôi vẫn chưa biết gì thêm về Ô. Đoàn văn Cừ tuy đã hỏi rất nhiều người”. Rồi lại ghi chú tiếp: “Vẫn chưa biết Ô. Đoàn văn Cừ ở đâu (Lời chú lần in thứ hai.)”.

Ở vào cái thời đại văn minh, khoa học tiến bộ, đất nước thanh bình con người Việt Nam sống bên cạnh những tiện nghi với công nghệ, kỹ thuật cao cấp. Hình ảnh con trâu cái cày, lũy tre làng, con dường đất đỏ đã lùi xa dần tầm mắt của người dân thành phố. Ngay ở những vùng sâu vùng xa, dù rằng sự no ấm chưa chan hòa đầy đủ, người dân quê bây giờ cũng đã tiếp cận được một số tiện nghi tương đối. Họ cũng thưởng thức được những chương trình TV hấp dẫn nếu không được ở nhà cũng có thể đến những nơi công cộng để nhìn ngắm ca ngợi sự tiến bộ của khoa học hay nắm bắt kiến thức của nền văn minh hiện đại. Con đường làng bây giờ cũng đã được trải nhựa, hoặc tráng xi măng. Ruộng đồng dần dần thu hẹp những chỗ cho các dự án sân gôn, nhà máy, công trình...

Tết đến, trên bàn thờ khói hương trầm lan tỏa mông lung, nghiêm trang, trầm mặc. Tất cả dễ dàng đưa tâm hồn những người đã qua cái thang tuổi sáu mươi, trở về quá khứ, phiêu bồng đến vùng đồng ruộng bao la chưa có tiện nghi hiện đại xâm chiếm. Con người như trải rộng tâm hồn hòa với thiên nhiên tự do thanh bình.

Hình ảnh nên thơ của những ngày xa xưa ấy bỗng nhiên hiện về một cách rõ rệt tạo thành một dòng chảy đầy màu sắc lên những bức tranh đồng quê rực rỡ do một nhà thơ tài ba với tâm hồn một họa sĩ. Đó là nhà thơ Đoàn văn Cừ.

Xin hãy bắt đầu xem bức tranh vẽ cảnh chợ Tết ở một vùng quê xa xôi mà ta có thể hình dung được ở rất nhiều nơi trên mảnh đất này. Đầu tiên với thói quen của một họa sĩ ông đã đưa lên nền vải những màu sắc rực rỡ làm nên hậu cảnh bức tranh:

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh

Hình ảnh dải mây trắng dang dần dần chuyển sang màu đỏ rực rỡ cho thấy rõ ở phía xa những mảng sương bảng lảng trên những mái tranh. Tiếp theo đó tác giả phác lên chủ đề tổng quát:

Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng đi chợ Tết.

Và tiếp theo là cảnh nhộn nhịp hiện rõ dưới bầu trời đầy ánh sáng:

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom.
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.

Trên một vùng đất của bức tranh tác giả đưa lên một hoạt cảnh: người ta đi lại nhộn nhịp, những thằng cu với màu áo đỏ, màu của Tết, các cụ già chống gậy, cô yếm thắm làm duyên, làm dáng. Chí đến thằng em bé cũng cho thấy đang nũng nịu đòi ăn. Rồi hai người thôn gánh lợn, họ không đi, mà chạy, con bò cũng cất vó chạy theo. Họ chạy cho kịp phiên chợ để chiều về thảnh thơi chuẩn bị bàn thờ đón rước ông bà về ăn Tết với đàn con cháu.Họat cảnh vô cùng linh động.

Đến đây tác giả đưa ra hình ảnh làm “xanh cốp” cho bức tranh, một chiêu phóng bút chấm phá tuyệt vời:

Sương trắng nhỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh

Vạn vật như chia sẻ niềm hân hoan của con người. Giọt sương trắng như giọt sữa lơ lững trên đầu cành cho hình ảnh một nguồn sống vô tận. Núi đồi cũng bon chen làm đẹp với áo the xanh, với son với phấn. Tất cả cùng rạng rỡ dưới ánh sáng ban mai.

Ở phía bên này gần cổng chợ, người ta ra vào tấp nập. Mỗi chỗ, mỗi vị trí trong chợ đều có một một hoạt cảnh hết sức linh động. Kẻ mua người bán, ai nấy đếu háo hức làm xong phận sự của thời gian giáp Tết trước khi về đoàn tụ với gia đình đón tiếp nàng Xuân.

Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản.
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha.
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
Con gà trống mào thâm như cục tiết,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.

Hình ảnh cụ đồ nho vuốt râu, nhẩm đọc những câu đối, bên cạnh là ông thầy khoá đang gò lưng nắn nót viết những dòng thơ xuân, ý tưởng đang tuôn trào lai láng. Mức độ sống động của bài thơ làm cho người đọc bị cuốn hút tò mò tìm từng người, từng nhân vật trong bức tranh để xem từng người bán có món hàng gì để chào mời khách hàng đi chợ. Bên ngôi miếu cổ một bà lão bán hàng có mái tóc bạc trắng với thời gian. Hàng của bà lão này có thể là những khay hàng xén, cũng có thể một hàng nước vối với vài người khách đang sì sụp uống tô nước còn bốc khói. Chợ Tết bao giờ cũng đông người, kẻ chen người lấn cốt để đi nhanh kẻ người đi trước mua hết hàng. Cụ lý không chạy khỏi, cũng bị dòng người cuốn theo làm cho khăn, áo của cụ xốc xếch lệch lạc. Bọn trẻ con cũng đi chợ Tết cũng chen lấn vào đám người lớn hết nhìn chỗ này rồi ngó sang chỗ khác, cái gì cũng hay hay ngộ nghĩnh, chúng ngắm nhìn say mê bỏ mặc bà chị đang kêu réo bảo về. Mấy cô gái ôm nhau cười nói, đùa giỡn cạnh anh chàng báo pháo đang bi bô “nổ” về mặt hàng hoá sản phẩm của mình.

Hàng hoá ở chợ nhà quê này không kém phần phong phú. Trái cây đủ loại màu sắc tươi tắn hấp dẫn người mua.

Và cuối cùng hình ảnh con gà được người mua cầm cảng dốc lên xem xét, đã đẩy sự nhộn nhịp của phiên chợ Tết lên đến cao trào...

Nhưng rồi trời cũng đã về chiều, phiên chợ đã dần dần tan. Một cảnh chợ chiều cuối năm bao giời cũng buồn hơn cành chợ chiều trong năm. Mọi người ai nấy ra về. Họ cũng đi nhanh như lúc đến để mau mau về cúng ông bà, để chuẩn bị đón Tết. Cường độ của sự hoang vắng tĩnh mịch tăng dần khi tiếng chuông chùa nổi lên vang vọng và đạt đến đỉnh cao hơn bao giờ hết khi ánh dương vàng đã kéo lê thê trên cỏ, lá rụng tơi bời.

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm,
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về.
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

Bài thơ “Chợ Tết” không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc mà có thể còn được coi một video clip sống động, do nhà thơ thực hiện không chỉ giới hạn trong khả năng một hoạ sĩ mà còn đảm trách vai trò một đạo diễn. Chính nhà thơ đã sắp xếp từng nhân vật, dàn từng cảnh trí cho cái “chợ Tết” của mình vô cùng sinh động. Một bức tranh không diễn tả được hết mọi chi tiết của bài thơ mà phải là một video clip, một đoạn phim mới nói lên được tất cả những gì tác giả muốn bày tỏ. Người ta đã nói thơ của ông tràn ngập ánh sáng, quả không sai.

Bài thơ “Chợ Tết còn đó, nhưng người đã đi rồi. Người đã đi vào cõi vĩnh hằng, nơi có đầy rẫy ánh sáng, sắc màu sinh động và hưởng thụ sự thanh bình vĩnh cửu.

Ngày Tết đọc lại bài thơ “Chợ Tết” người viết, một kẻ hậu bối tài hèn sức mọn, xin kính gửi đến nhà thơ nén hương lòng tưởng niệm.

Dương Lêh

70 N Ă M TR ƯỚ C

NGƯỜI VIỆT TA CƯỜI NHƯ THẾ NÀO?

…“Tiếng cười là 10 thang thuốc bổ”, câu này chỉ đúng với những kẻ “ít được cười” ở trên đời. Tôi tin rằng các thành viên CLB Sách Xưa và Nay đều là những người “được cười nhiều”. Do đó với các chuyện cười 70 năm tuổi này, tôi tin rằng chúng sẽ mang lại cho chúng ta những “tiếng cười bằng 100 thang thuốc bổ”. Xin mời các bạn hãy cùng tôi cười nhân dịp đầu Xuân Kỷ Sửu này…

Cây đơn

Một ông về hưu đã lâu, nhân buổi chợ, định ra mua cây đơn về giồng, để lấy lá làm thuốc. Cả dẫy hàng cây, chỉ có một hàng có cây đơn thôi, ngài hỏi:

- Cây này bán bao nhiêu?
- Ngài muốn mua? Người ta thì bán rẻ, chứ ngài… tôi xin mười nén…
- Cây có bằng một tí, lơ trơ vài cái lá… Sao nói thách với tôi?
- Ngày trước bất cứ to nhỏ, ngài cũng lấy mỗi lá đơn là một đồng…
- Kia! Lý cựu bây giờ về bán cây đấy à?
-

Kim Xuyên (Văn cười)

Đại ngôn

Ba anh cùng đi một chuyến đò dọc, cũng là tình cờ không hẹn mà nên, cùng đi tìm thầy để học nói khoác. Ngồi trên mặt nước, tất phải nói chuyện bơi tài lặn giỏi.
Bác A. – Năm ngoái tôi ở Tây về, đi qua một xứ, có người lặn mò hạt trai dưới đáy bể, họ lặn đến nửa giờ mới lên.
Bác B. – Cũng chưa lâu, tôi thấy người thủy thủ lặn từ sáng sớm, đến lúc lặn mặt trời, mới về ăn cơm.
Bác C. – Chính tôi đây này đã giật giải thi bơi… Tôi vừa bơi từ bên Tây về đây, tất cả mất một tháng sáu ngày.
Hai bác kia reo ầm lên, vui mừng quá, tìm được thầy rồi, góp tiền nhau tặng thầy bốn chữ “Đại ngôn danh khoa”.

Kim Xuyên (Văn cười)

Tài nói chuyện

Ít lâu nay người Nam ta nghe đã có tài nói chuyện. Thỉnh thoảng lại được tiếp những ông khách vui, vui đáo để. Mới rồi một ông đến chơi nói chuyện hổ. Ông tả con hổ khéo quá, thật là con hổ, chứ không lẫn với con mèo! Sau hết ông nói thêm câu này mới thú vị chứ: “Ở trên thế gian quyết không có giống nào – kể cả giống người – biết trọng danh-chỉ bằng giống hổ: một đêm kia có con hổ vào nấp ở sau nhà người Thổ bắt lợn, một người đàn bà ở trong nhà ra ngoài sân để nhổ quết giầu, nhổ thế nào trúng ngay vào đầu hổ. Hổ liền nhảy ra ngoài cửa, thét lên một tiếng thật to, ý hẳn nghĩ là: “Để cho một người đàn bà nhổ vào đầu, thà chết đi còn hơn”, thét rồi đập đầu vào đá tự tử”.

Khách nói xong, tôi ngập ngừng hỏi:
- Thưa ngài, thế chính mắt ngài đã trông thấy hổ lần nào chưa?
Khách đáp:
- Thưa ngài: chưa.

Sơn Phong (Sách cười)

Bọn đào nào?

Hồn anh chết trước gặp người bạn chết sau ở dưới âm phủ, hỏi thăm:
Này từ khi bỉ nhân xuống đây, ở trên trần gian có ai nói gì bỉ nhân không?
Có cái bọn đào… là một phần to trong xã hội, thường nói rằng: tiếc cái tài giỏi của tiên sinh lắm.

Phụ Bản III

Cũng có lẽ, khi tôi còn ở trên ấy, thường hay đi hát, và đem tài văn chương ra làm tiểu thuyết, để cổ động cho nghề học.
Không, không phải là bọn đào hát đâu!
Thế bọn đào nào?
Bọn đào… ngạch kia mà!

Sơn Phong (Sách cười)

Hội ái hữu mèo

Hội ái hữu mèo họp đại hội đồng. Khi các hội viên đến đủ mặt. Ông hội trưởng đọc một bài đít-cua, rồi hội đồng bàn vấn đề tương thân tương ái.
Ông hội trưởng vừa nói:
- Ở đời không có sự gì thú bắng sự yêu nhau.
Thì cả hội đồng đều vỗ tay khen.
Đương lúc ấy thì có người ném miếng mỡ vào hội đồng. Ông hội trưởng nhảy ra vồ trước, rồi các hội viên túm lại giằng co cào cấu nhau, sầy mày sước mặt.
Sau các hội viên hừ nhau một lúc rồi hội đồng giải tán. Hội ái hữu mèo từ đấy tan.

Sơn Phong (Sách cười)

Chớ vội tự cao

Một con ngựa ở nhà người thợ đóng móng, ra bộ mặt vênh váo chạy đi khoe với đồng loại được cái vinh chí chủ cho… đi giầy. Nhiều ngựa khác thấy thế, có ý thèm thuồng, có một con ngựa già bảo ngựa kia:
- Chú đừng tự cao. Người ta bịt móng cho chú là để dễ bắt chú làm nhiều việc khổ thân, chứ chẳng sung sướng gì đâu!
Quả nhiên ngay ngày hôm ấy, anh ngựa đi giầy phải kéo xe è cổ.

Sơn Phong (Sách cười)

Người quân tử

Có hai người Hà Nội nói với người ở xa đâu mới đến:
- Ở Hà Nội này, những người như hai chúng tôi, mới đáng gọi là quân tử. Có ngày đánh nhau đến mấy lần, có lần rất hăng hái. Thế mà sau khi đánh nhau, lại thân ái như cũ, quên hẳn sự hiềm thù. Ông bảo như thế có quân tử hay không?
- Quân tử lắm! Nhưng chẳng hay hai ông là hạng người như thế nào ở Hà thành ta mà có tín trời cho quý hóa thế?
Hai người đáp:
- Hai chúng tôi là con hát Sán Nhiên Đài!...
-

Sơn Phong (Sách cười)

Giết sâu bọ

Hôm qua là ngày Tết Đoan Ngọ, anh có giết sâu bọ không?
- Có!
- Anh còn giết sâu bọ thì còn kiết mãi!...
- Sao vậy?
- Anh hãy xem như một loài động vật kia mà được mình vàng mình bạc là nhờ về trong ruột có nhiều sâu bọ. Tục ngữ có câu rằng: “Cá vàng bụng bọ”, chỉ vì bụng bọ nên mới hóa vàng!

Hì Đình (Sách cười)

Hối lộ

Một chú Mán đón thầy về dạy chữ Nho. Thầy dạy hai chữ “hối lộ”.
- Thưa thầy “hối lộ” là gì?
- Hối lộ là ăn của đút.
Chú Mán không hiểu ăn của đút thế nào, lại yên chí là ăn thuốc phiện. Một hôm đi chơi, nghe người ta nói có một ông Mỗ ăn “hối lộ” nhiều, bây giờ béo quá! Chú Mán lấy làm lạ mà rằng: Thế sao ở mạn thượng du chúng tôi ông nào ăn “hối lộ” cũng so vai rụt cổ mà không thấy béo!

Hì Đình (Sách cười)

Hay khoe con

Một ông tính hay khoe con, đi đâu cũng phô con sáng dạ, thuộc cửu chương lắm. Có ông khách hỏi thử cậu con rằng:
- Hai lần ba là mấy?
- Là sáu.
- Vậy ba lần hai là mấy?
Cậu ngẩn mặt ra. Ông bố sẽ giơ sáu ngón tay để gà cho con. Cậu con thấy sáu ngón ruỗi ra mà bốn ngón quặp vào, lại nói:
- Ba lần hai là bốn.
Khách hỏi:
- Có chắc là bốn không?
- Chắc: cha con đã quặp bốn ngón tay vào thì chắc hẳn là số bốn.

Hì Đình (Sách cười)

Nói chuyện góp

Ba bác ngồi nói chuyện góp với nhau.
Bác thứ nhất nói:
- Năm xưa tôi đi qua cửa rừng gặp một con hổ lớn.
Bác thứ hai nói:
- Đã có một lần đang đêm, tôi đi qua một cánh đồng kia, nghe tiếng ma tự tình với nhau.
Bác thứ ba nói:
- Các bác gặp hổ và gặp ma còn chưa lạ lắm. Tôi đây gặp thần ngài quở mắng mới ghê chứ!
Các bác kia súm lại hỏi:
- Ngài quở mắng thế nào?
- Ngài bảo: chúng mày chỉ bịa khẩu.

Hì Đình (Sách cười)

Đàn ông đeo xuyến vàng

Có mấy ông đến một hiệu làm đồ vàng kia, kéo xuyến đeo cổ tay, chìa tay ra bảo thợ hàn ngay lại, để không bao giờ tháo ra được nữa.
Chú thợ thấy lạ hỏi. Mấy ông đáp rằng:
- Chúng tôi đã nhiều lần buộc chỉ cổ tay chừa cờ bạc, nhưng chỉ nào cũng đứt, vậy phải làm thế này.

Hì Đình (Sách cười)

Ông Điếc đi mừng tuổi

Ông vừa bước vào nhà, con chó sủa. Chủ nhân ở trong nhà nghe chó sủa vội chạy ra. Ông trách ngay chủ nhân:
Đầu năm năm mới đến nhà ông,
Đã bắt đầu ngay gặp sự rông:
Con chó cứ nhìn mình mà ngáp,
Thế thì nông nỗi có buồn không?
Ông kia hiểu ngay, liền ghé vào tai ông Điếc mà nói to:
- Xin quan bác tha lỗi. Con chó này tôi mua ở làng Bẹp về đấy, sáng hôm nay nó chưa được hút.
Ông Điếc gật gù mà nói:
- Thảo nào…

Sơn Phong (Sách xem tết năm canh ngọ)

Bài tựa sách cười

Cuộc đời nghĩ chẳng là bao;
Tội gì hay khóc, làm sao không cười?
Trăm năm cái cõi đời người.

Ở vào cái đời thường hay khóc này, thì cái cười cần cho sự sống, cũng như không khí cần cho sự hô hấp.

Người ta nói: Có kẻ suốt đời chẳng cười bao giờ; thế thì suốt đời khổ, không có lẽ, chẳng qua không cười là bởi cái mồm không được đẹp, nên không dám cho mồm cười, mà đưa cái cười ra đằng tai hay đằng mũi, hoặc hãm cái cười lại trong cổ họng; nếu thế thì những kẻ ấy cũng là gàn: cứ để cho mồm cười, dẫu xấu một tí cũng còn hơn là để dành mồm mà khóc!

Cười ở đâu? Ở cái buồn cười. Trong đời chỗ nào là không có cái buồn cười, mà ở ngay người đời lại càng lắm cái buồn cười lắm!

Ông Hì Đình Nguyễn Văn Tôi biết đời người ta có lúc cần cười, ông Tú Xương đã nói:

Bắc thang lên hỏi ông trời,
Trời sinh ta ở trên đời làm chi?
Biết chăng dù chẳng biết gì,
Biết ngồi nhà hát biết đi ả đầu.

Đi nhà hát, đi ả đầu tất là đi tìm cái vui cười cần cho đời, chứ có phải đến những nơi ấy ngồi ỳ ra như ông phỗng đá, đề người ta thấy lạ lùng muốn hỏi, cớ sao len lỏi đến chi đây? Nên ông Hì Đình xuất bản sách “Hài đàm” này, đem những cái buồn cười có lý thú tao nhã in ra bán cho ta xem, để ta cười một trận… Hì, hì, hì,… hả, hả, hả,… cười lúc quá thở không kịp thì cười: …Hị, hị, hị…

Nhưng mà làm một bác lái buôn cười như ông Hì Đình cũng không phải là dễ, phải có con mắt tinh đời và cái tài văn khôi hài đặc biệt, để làm cái máy chụp ảnh mà chụp những tấm ảnh buồn cười y như sự thực, thì ai xem đến cũng phải cười; hàng bác lái mới nhiều người tiêu thụ. Cái tài tình ông về nghề chụp ảnh ấy ta đã từng thấy trong báo T. B. T. V.

“Sách cười” ông Hì Đình ra đời, lo gì chả được hoan nghênh. Trước hết, ta hiện đương ở vào cái thời đại tư tưởng, thì biết bao nhiêu là bà vợ phải những ông chồng cả ngày cứ ngồi sị cái mặt ra nghĩ ngợi việc trên trời dưới biển, hoặc giả chẳng nghĩ ngợi gì… những bà vợ ấy lại chẳng lóc cóc chạy đi mua quyển “Sách cười”, rồi long tong chạy về, đưa cho những ông chồng ấy, mà bảo rằng:

Này cười đi, này cười đi!
Đừng ngồi sị mặt làm chi nữa ngài!
Người đâu như khóc than hoài!
Không cười kiếc, để cho người ta vui!

Thế thì:

Này này ông lái buôn cười!
Hàng ông đã sẵn có người hoan nghênh!

Ông Hì Đình buôn bán cũng thạo lắm! Văn minh lắm! Ông biết chiều khách: trước hết ông hãy làm quà không tiền cho những khách mua hàng một cái buồn cười đáo để, là ông bảo tôi làm bài tựa vào “Sách cười” của ông. Có phải không? Làm tựa nào có danh giá gì đâu! Phàm người làm tựa chỉ là những kẻ rao hàng cho người bán sách!

Tôi cũng xin nhận cái chức trách buồn cười ấy mà rao:

Có ai mua cười… ra mu…a!...
Cười cay, cười ngọt, cười chua, cười bùi:
Cười buồn lại có cười vui,
Cười trăm nghìn sự, mua cười… ra mu…a…

Sơn Phong (Sách xem Tết năm Mậu Thìn)
Đỗ Thiên Thư st

NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ

Để chuẩn bị tổng kết một năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị, một vài phóng viên muốn có được những bằng chứng cụ thể bèn thực hiện những cuộc phỏng vấn các du khách nước ngoài trên đường phố. Sau đây là nội dung vài cuộc phỏng vấn:

1. PV: Xin chào Ông. Ông có thể vui lòng dành cho chúng tôi ít phút cho một cuộc trao đổi nho nhỏ?

KNN: Vâng, tôi rất vui lòng.

PV: Thưa Ông, Ông đến từ nước nào ạ?

KNN: Tôi đến từ nước Anh.

PV: Thưa Ông, xin Ông cho biết vài cảm tưởng về đất nước VN và người VN chúng tôi

KNN: Ồ, đất nước VN rất nhiều phong cảnh tuyệt đẹp. Còn người VN thì rất hiếu khách, người lớn cũng như trẻ em, đến đâu cũng thấy họ vây quanh hoặc đi theo chúng tôi, mời chúng tôi mua những món hàng nho nhỏ mà họ nghĩ chúng tôi rất cần. Kia kìa, họ vừa mới lui ra xa vì sợ làm phiền cuộc nói chuyện của chúng ta.

PV: Ồ, chắc họ làm rộn các Ông quá nhỉ?

KNN: Không sao.

PV: Thế còn các món ăn VN thì sao? Ông thấy có hợp khẩu vị không?

KNN: Ồ! Món ăn VN thì ngon tuyệt! Tôi rất thích các món Phở, Chả giò… Và thức uống thì nước dừa tươi thật mát và tuyệt vời. Nhưng chúng tôi không dám ăn nhiều, uống nhiều dù trời nóng rất khát.

PV: Ồ, tại sao vậy?

KNN: Tại sao? Ôi, thật khó nói… Vì sợ…Vì ở đây rất hiếm nhà vệ sinh công cộng (!)

PV: Ồ, rất tiếc! Xin cám ơn Ông rất nhiều và xin lổi.

KNN: Không sao. Cám ơn Ông.

2. PV: Xin chào Ông. Xin Ông vui lòng dành cho chúng tôi ít phút để trò chuyện được không ạ?

KNN: Vâng, tôi rất sẵn sàng.

PV: Thưa Ông, Ông là người nước nào, đếm VN được bao lâu rồi ạ?

KNN: Thưa tôi là người Pháp gốc Thụy Điển. Tôi đến VN được hơn 1 năm, làm việc tại một công ty của chúng tôi.

PV: Hơn một năm rồi! Thế thì chắc Ông biết khá rõ về nếp sống và phong tục tập quán của người VN chúng tôi. Ông thấy có gì khác biệt với nếp sống và phong tục ở bên nước nhà?

KNN: Điểm khác biệt thì nhiều, hai nền văn minh Đông Tây mà – Tôi thấy người VN có nếp sống giản dị, tự nhiên không cầu kỳ khách sáo và hàng ngày họ dường như ít dùng đến hai tiếng cám ơn và xin lỗi hơn ở nước chúng tôi.

PV: Ồ! Chắc đó chỉ là những người bình dân ít học mà ông đã gặp đấy thôi. Ai lại vô ý thức đến thế. Thế còn điểm nào khác biệt mà Ông thấy rõ nét nhất?

KNN: À, điểm khác biệt nổi bật nhất là: có một điều mà ở đất nước chúng tôi người ta làm công khai ở mọi nơi thì ở đây người ta lại làm ở nơi thật kín đáo. Và ngược lại một điều khác mà ở nước chúng tôi người ta chỉ làm ở nơi kín đáo thì ở đây người ta lại làm ở nơi công khai

PV: Ông nói thế là những điều gì, tôi chưa hiểu. Xin Ông nói rõ hơn cho.

KNN: Điều thứ nhất là những nụ hôn. Và điều thứ hai là việc thải bỏ những thứ thặng dư mà người ta không thể giữ lâu trong người.

PV (đỏ mặt): Tôi hiểu. Xin cám ơn Ông rất nhiều. Kính chào Ông.

MAI KHANH

9 VỊ SÚNG THẦN CÔNG

Vua Gia Long sau khi toàn thắng Tây Sơn, lấy lại được cựu đô và làm lễ cáo miếu, ngài liền Sắc ban thâu dụng những khí cụ bằng đồng của Tây Sơn để đúc các súng thần công. Bắt đầu khởi công từ ngày 31/01/1803 đến cuối tháng 01/1804 công việc hoàn tất, đúc được 9 đại bác, trên mỗi đại bác đều có chạm trổ cơ đồ tỉ mỉ rất tinh xảo và có khắc những chỉ thị như sau:

- Những chữ thuộc về dấu và ấn tượng nói lai lịch việc đúc súng.

- Chức tước vua phong cho mỗi đại bác.

- Tên của mỗi đại bác khắc ở nắp đậy súng.

- Ở chốt quay: Một bên khắc nói về cách thức và phân lượng nạp thuốc súng để tác xạ; một bên nói về trọng lượng. Những đại bác này chỉ dành riêng để thờ có ý nghĩa thể hiện oai quyền để bảo vệ Hoàng triều và Đế thành, chớ không bao giờ đem dùng. Có được sắc phong: “THẦN OAI VÔ ĐỊCH THƯỢNG TƯỚNG QUÂN ”, tôn thờ trang nghiêm kính cẩn.

Theo Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1917 trang 305 có chép: Nhà súng ở góc Ngọ môn để tôn trí các thần công bị hủy hoại vào khoảng tháng 6 năm 1917, sau có dựng lại 2 xưởng khác ở cửa Thế Nhơn và Quảng Đức phía hai bên Kỳ đài (cột cờ) rồi dời súng đem đặt tại đó.

Theo Quốc Triều Chánh Biên về triều Gia Long: Mùa Xuân tháng Giêng ngày Ất Hợi năm Quý Hợi Gia Long thứ 2 (31/01/1803) khởi sự đúc 9 khẩu đại bác, tượng trưng về 4 mùa và 5 hành (nhưng theo sách Cửu trù Hồng Phạm của trung Hoa lại nói: Vua chỉ dùng đến số 9 mà thôi, vì Trời thuộc về số 9. Đất cũng thuộc số 9, nước tàu khi xưa cũng gồm có 9 châu, bởi vậy vua là thiên tử - tức là con trời – vâng mệnh lệnh Trời để cai trị dân, cho nên không thể vượt qua số 9 được), tức như: 9 cái truyền quốc đỉnh, 9 bệ cửu trùng, mà quan chức cũng đặt ra từ cửu phẩm đến nhất phẩm vv…

- Súng thứ 1 tên Xuân, nặng hơn 17.700 cân.

- Súng thứ 2 tên Hạ, nặng hơn 17.200 cân.

- Súng thứ 3 tên Thu, nặng hơn 18.400 cân.

- Súng thứ 4 tên Đông, nặng hơn 17.800 cân.

Bốn vị này còn có nhà để che.

- Súng thứ 5 tên Mộc, nặng hơn 17.000 cân.

- Súng thứ 6 tên Hỏa, nặng hơn 17.200 cân.

- Súng thứ 7 tên Thổ, nặng hơn 17.800 cân.

- Súng thứ 8 tên Kim, nặng hơn 17.600 cân.

- Súng thứ 9 tên Thủy, nặng hơn 17.200 cân.

Năm vị này không có nhà để che.

Sau khi đúc xong có khắc vào đại bác bài minh ký như sau để kỷ niệm:

Phiên âm: Tuế Giáp Ngọ đông tuần. Mậu thân tùng sư Gia Định. Tân Dậu trọng hạ khắc phục cựu kinh. Nhâm Tuất trọng hạ đại quân bắc hành. Thất nguyệt tếu tiệp, thị tuế an sư cáo Miếu hiến phù quốc tặc đốn tịnh. Quý Hợi xuân lạng tỏa thu hoạch sắc đồng chú cự bác giả cửu kỳ đệ … Tạp nguyệt tượng công cáo thoan, đặc mạng minh dĩ vi chí.

Gia Long tam niên tam nguyệt nhật.

Dịch nghĩa: Năm Giáp Ngọ (1774) ngự giá đông tuần. Năm Mậu Thân (1788) đạo quân kéo vào Gia Định. Năm Tân Dậu (1801) vào tháng thứ 2 trong mùa hè (11/6-10/7) lấy lại được cựu đô. Năm Nhâm Tuất (1802) vào tháng thứ 2 trong mùa hè (31/5-29/6), đạo chánh quân tập trung về Bắc để biểu diễn. Vào tháng 7 (29/7-27/8), tin mừng thắng trận tâu về vua đồng tất. Cũng trong năm ấy, rút quân trở về để làm lễ kỳ cáo ở Thế Miếu rằng bọn phản nghịch đã tiêu diệt. Mùa xuân năm Quý Hợi (1803) vua sắc ban thâu góp đồng lấy lại được của địch để đúc 9 khẩu Đại bác. Đến tháng 12 (13/01-10/02/1804) thợ tâu lên đã hoàn tất công việc, chỉ còn phải khắc bài minh ký để làm kỷ niệm.

Năm Bính Tý, Gia Long thứ 15 (1816) sắc phong cho các Đại bác là: “THẦN OAI VÔ ĐỊCH THƯỢNG TƯỚNG QUÂN”. Những chức tước và bài minh ký này đều khắc vào súng Thần Công. Ngoài ra trên mỗi súng Thần Công còn có cẩn chữ bằng bạc vào đồng khắc tên toàn ban Đốc công Hội đồng chế tạo:

Phiên âm:

Thần Sách quân, Túc vệ dinh Thị Trung Đô Thống Chế Khiêm Hòa hầu thần Nguyễn Văn Khiêm phụng giám đốc;

Khâm sai thuộc Nội Cai cơ Chánh quản Đồ gia Cẩn Thận hầu thần Hoàng Văn Cẩn;

Khâm sai thuộc Nội Cai cơ Phó quản Đồ gia Hiếu Thuận hầu thần Cái Văn Hiếu;

Chúng tôi nhận thấy công việc phong tước cho các quan Hội đồng trong ban Đốc công, ở đây mỗi tên gồm có hai phần. Về những tước hầu như: Khiêm Hòa, Cẩn Thận, Hiếu Thuận… là tùy theo tên của mỗi vị quan đương sự, rồi vua tự chọn thêm một chữ thích hợp để tấn phong.

- Về phía tả ở chốt quay của Thần Công có khắc về cách thức nạp thuốc súng và cách dùng mỗi khi tác xạ.

Trước khi dùng phải nạp lót ở đáy súng ba lớp:

- Lớp thứ nhất 30 cân thuốc súng với 90 cân đất;

- Lớp thứ hai 35 cân thuốc súng với 105 cân đất;

- Lớp thứ ba 40 cân thuốc súng với 120 cân đất;

Đến lượt sau cùng lại còn phải nạp thêm 20 cân thuốc súng để làm mồi tống viên đạn. Nếu muốn bắn đi xa thì phải thêm ba hoặc năm cân thuốc súng nữa, nhiều lắm cũng không được quá 10 cân. Tổng cộng số thuốc súng nạp lần trước và lần thêm sau thành số chỉ 30 cân là cùng. Nếu dùng thứ thuốc súng hạng thường thời y theo số ấy. Gặp thứ thuốc súng tốt thì thôi, chỉ dùng 20 cân là đủ hiệu lực khả quan, không được thêm thuốc súng nữa.

Lòng súng được 5 tấc 2 phân, vậy phải dùng thứ đạn 5 tấc.

Các thứ đạn thường có 3 thứ: đạn chì, đạn đồng và đạn gang.

- Đạn chì nặng 92 cân;

- Đạn đồng nặng 74 cân;

- Đạn gang nặng 52 cân 8 lượng.

Bắn thường chỉ dùng thứ đạn gang mà thôi.

Tung Hầu thuyền Khâm Sai thuộc Nội Cai Đội Giảng Luận Hầu thần Võ Quang Tuấn phụng giảo.

Vì chưa khi nào được xem tác xạ, nên không rõ chỉ thị của Võ Quang Tuấn có đem lại kết quả khả quan không? Khi bắn có nguy hại gì cho Thần Công hay xạ thủ không?

Dưới triều Tự Đức cũng có đúc thêm 9 khẩu súng khác, đúng theo kiểu cách Thần Công về triều Gia Long nhưng có phần nhỏ thua để thường dùng và di chuyển cho dễ. Những súng tân tạo này cũng đặt trong Tả Xưởng Tướng Quân, vì lúc bấy giờ ở đây là một xưởng rất rộng.

Mỗi súng Thần Công đều giống nhau, nhưng chỉ có khác về trọng lượng.

Mỗi Thần Công dài 5m10, đường kính trong miệng súng là 0m22. Đường kính tất cả về ngoài mép là 0m54. Vòng tròn về phía sau là 2m60. Chốt quay lòi ra 0m22 và đường kính là 0m22. Giá súng dài 2m75, cao 0m73 về phía trước và 0m22 về phía sau. Những bánh xe gồ ghề đường kính đo được 0m62, bề dày được 0m22 lại có niền cái vành sắt 0m80.

Mỗi súng Thần Công trang hoàng chạm trổ tỷ mỷ các thứ cô đồ và hoa lá rất tinh xảo. Tên súng được phong chức chạm ở phía sau nút bấm chót súng:

“Gia Long mạng danh THẦN OAI VÔ ĐỊCH THƯỢNG TƯỚNG QUÂN.

Về phía tả của Thần Công, trên mặt phẳng của chốt quay lại khắc trọng lượng của đại bác.

Về các giá súng bằng gỗ có chạm trổ rất tinh vi. Tuy chỉ là một bức chạm mà ta có thể tưởng tượng thành sự thật, hai con rồng xâu xé nhau, làm cho một con phải chạy trốn. Mặt trước cũng có một đầu rồng nổi rất rõ ràng.

Các súng Thần Công đều đặt trong Tả Xưởng Tướng Quân. Nơi đây là một nhà xe rộng ở phía hữu của Ngọ Môn. Dưới triều Gia Long phía nam trong thành, từ khoảng bờ thành đến chỗ cung điện toàn là những nơi để đặt súng. Trong lúc đó lại còn có nhiều công sở khác, nên chưa có Hữu Xưởng Tướng Quân. Nơi đây chỉ có chỗ tàu ngựa của vua và Tả Xưởng Tướng Quân như ta thấy hiện giờ.

Tả Xưởng Tướng Quân là một nhà trống không có vách. Trước triều Đồng Khánh, về phía ngó vào trong Đại Nội có bức vách cao độ 1m20, còn phía nam có hàng rào bằng gỗ. Khi xưa tại xưởng súng là nơi nghiêm cấm, thường dân vô phận sự không được phép xâm nhập Tả Xưởng Tướng Quân. Khách bộ hành đi ngang qua nơi đây, trước súng thần công, phải cất nón cúi đầu, tỏ ý tôn trọng những vị thần linh ứng.

Phía sau Tả Xưởng Tướng Quân có một bức vách rộng 2m50, cao 3m50, vẽ dọc 5 màu khác nhau, viết những câu đối khen ngợi nói về các khẩu súng, nhưng vì những người canh giữ tại đó đều là quan võ, nên không thể đọc chữ được. Sát vách có một cái bàn đá quét vôi, thường có thắp hương, đó là bàn thờ các vị súng thần. Hiện nay cái bàn thờ ấy không còn nữa.

Triều Gia Long đúc 9 khẩu súng Thần công này cũng như dưới triều Minh Mạng đã đúc 9 cái “TRUYỀN QUỐC ĐỈNH”. Vì sao mà trước sau hai triều cũng chỉ dùng số 9, ý kiến nông cạn này đã có trình bày ở trên.

Khi xưa vua có ban Sắc ban cho dự trù một khoản ngân sách để cho chi tiêu cúng tế các Thần Công. Lễ tế thường cử hành tại ty Hộ vệ ở trong Nội, vì các bài vị tôn thờ tại đấy. Chính tế là ông quản đốc Thần Công. Ông này chỉ có phẩm hàm Suất đội, vì là một chức quan trọng, mặc dù hàm thấp mà vẫn được phong tước, cũng như ông Võ Quang Tuấn, chỉ có hàm Cai đội, đã sáng chế cách nạp thuốc súng và các phân lượng vẫn được phong Giảng Luận HẦU.

Ông đội được quản suất 5 tên lính giúp trong việc tế và phân hiến đứng lạy các án trước bàn thờ Thần Công. Lễ tế là đại lễ, nên vua có Sắc ban dùng lễ “TAM SANH” là trâu (hay bò), heo và dê.

Kể từ năm Đồng Khánh thứ nhất trở về sau, lễ tế thường năm ấy bãi bỏ và không được dự trù ngân sách để chi tiêu về việc cúng tế. Tuy nhiên, vì thói quen không thể bỏ được, cứ đến ngày mồng một và ngày rằm trong mỗi tháng, các lính và ông Quản đốc vẫn mua sắm lễ phẩm để cúng tế trước bàn thờ thần như: Hương, trầm, hoa quả, cau trầu rượu, có khi lại còn mua giò heo quay, gà quay, với số lượng ít ỏi của chúng, các quân lính đó vẫn vui lòng tự trích bớt một số lương mà đài thọ.

Chẳng những bãi bỏ việc cúng tế các Thần công, mà giai đoạn sau này, các lính chuyên môn canh giữ Thần công cũng không còn nữa, các súng Thần công phải giao lại cho lính hộ vệ và lính chuyên môn ở ty Hỏa lệnh (chuyên việc bắn súng vào lúc ban mai, buổi trưa và buổi tối canh giữ).

Các súng Thần công không bao giờ đưa ra mặt trận. Các vị chỉ có bổn phận hộ vệ đê thành, chỉ ở nhà bảo hộ quốc gia mà thôi. Khi quân giặc hùng cường và quá đông đúc, các Thần công lại còn nhận được nhiều lễ kính biếu. Trái lại, những khi bại trận, chỉ những súng khác bị khiển trách giáng chức mà thôi.

Chẳng những chỉ 9 vị thần công mà thôi, trong Hữu Xưởng Tướng Quân, hiện nay đã biến thành tàu ngựa, thật ra khi xưa còn có 9 khẩu súng khác cũng đúc theo một kiểu với các Thần công, cũng được Sắc phong, có khi còn được vẻ vang vinh dự hơn. Cho nên chỉ những súng có tầm vóc như súng Thần công khi thua giặc thường bị khiển phạt.

9 khẩu súng tân tạo này nguyên trước đặt ở phía hữu Ngọ Môn, nhưng về sau đã đưa đi tản mát: 3 khẩu dựa vào Gia Định; 3 khẩu đã đưa vào Sơn Trà (Tourane) và 3 khẩu đưa về Thuận An. Chỉ còn lại những Thần công về đời Gia Long vẫn còn ở lại để bảo vệ Đế Thành và Đại Nội.

(Di sản thế giới – Bùi Đẹp)

TRUYỆN KIỀU
Câu 463-496 (Kỳ 8)

Rằng: “nghe nổi tiếng cầm đài
“Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ”
Thưa rằng: “Tiện kỹ sá chi,
“Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng”
Hiên sau treo sẵn cầm trăng
Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày
Nàng rằng: “Nghề mọn riêng tay,
“Làm chi cho bận lòng này lắm thâu?”

Kim said: “Your reputation on guitar playing spread to me.
“So far I’ve been longing to have sensitive ears like Chung Kỳ” (1)
“Oh, my poor skill”, said she, “is not worth mentioning
“But as you like, I think I should not refuse trying.”
On the wall, a moon guitar was hanging readily,
Kim took it down and held it out with courtesy.
“Oh, I learned this small art just for myself”, she said,
“Why trouble yourself so much for my clumsiness?”

---------------------

(1) Chung Kỳ was a close friend of Bá Nha, a famous guitarist in the old time. Whenever listening to Bá Nha playing, Chung Kỳ could read his friend’s thoughts. When Bá Nha was thinking about the mountains, Chung Kỳ said: “Beautiful! It sounds as if your were climbing up a high mountain”. When Bá Nha was thinking about the river, Chung Kỳ said: “Nice! Nice! It sounds like water running down a river”. When Chung Kỳ died, Bá Nha broke his guitar and never played again as he thought from now on, no one in this life could understand the music he played. This historical reference means to say how much in this life one needs a close friend who can understand him and share his deep thoughts. Bá-Chung friendship has become the symbol of a bosom friendship that everyone yearns for. In this sentence, Kim meant to say: “So far I’ve been longing to listen to the music you play and hope I can understand it and share your emotional thoughts”.

So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng.
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

She began to attune the four strings to fit them well
In accordance to the five-tone musical scale (2)
From these tuneful notes suddenly rose “The Han-Tchou battle(3)
One could hear the clashing of iron and gold intermingle.
Then came Sema’s “The Phoenix in search of his Jenny”, (4)
Sounding like bitter complaints in melancholy.
Next, the “The Majesty of Imperial Tombs” by Ké Kang, (5)
You would say water running and clouds floating
Finally was Tchao-Kiun’s “Passing the Frontier Gate” (6)
With bitter regrets for her Lord and homesickness
The treble notes are so clear as the sound of flying cranes,
The bass so deep as water falling half way a cascade.
The andante went so softly as gentle breeze outdoors
While the allegro rushed up like heavy rain in a shower.

----------------------

(2) Five-tone musical scale: characteristic scale of Eastern music comprising five notes Hò, Xự, Xang, Xê, Cống equivalen to Do, Re, Fa, Sol, La, or if you want it higher, Sol, La, Do, Re, Mi.

(3) “Han-Tchou Battle”: This allegro piece described the greatest battle between the Han and the Tchou in Chinese history about 200-205 B.C.

(4) Se-Ma (or Tư Mã) was the title of a civil mandarin. His name was Tương Như – The mandarin was also a good guitarist and musical composer (in the Han period). One day, during his sojoum in his native town after a long time living far away, Se-Ma was invited by his friend, another mandarin to join a dinner party at his residence. The latter had a young and attractive daughter who has just lost her husbant and came back to live with her parents. The noble beauty of the sorrowful young widow Trác Văn Quân moved the heart of the young mandarin. During the party, Se-Ma was asked to play some pieces of his own composition. He took the guitar and improvised a song to seduce the young widow.

Phượng Cầu Kỳ Hoàng
Phượng hề, Phượng hề, quy cố hương!
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng
Hữu nhất diễm nữ tại thử đường
Thất nhĩ nhân hà độc ngả trường,
Hà do giao tiếp vi uyên ương!

The Phoenix in search of his Jenny
Phoenix ! Phoenix!
Come back to your native village!
For months and years you’ve been vainly
Seeking in all parts of the world a jenny
There is a noble beauty in this residence
Her room was close, yet her heart in the distance,
Which makes my heart feel sad and wither
Oh! If only we can meet each other!
If only…, if only…
We’ll become Phoenix and Jenny!

(Translated by Thùy Dương)

After hearing this song with the tuneful music of Se-Ma, the young widow Trác Văn Quân left her home to follow the sentimental mandarin. Although this was a disgrace for a lady of noble family according to traditional moral, Se-ma’s success in his beautiful love affair has been mentioned in poetry and music throught thousands of years. We Vietnamese also have a nice song entitled “Tà áo Văn Quân” (Văn Quân’s Flap of Dress) by the late composer Phạm Duy Nhượng.

----------------------

(5) One of the famous classical melodies

(6) Tchao-Kiun was a young girl of good family. With her exalted beauty, she was selected to be an odalisque of Emperor Hán Nguyên Đế. Since there were a great number of odalisques in the Harem, the Emperor had to order a mandarin to have their pictures drawn by a painter so that the Emperor could choose the one he liked. To have a nice picture, other odalisques had to bribe the mandarin and the painter. But Tchao-Kiun didn’t do so, she was self-confident of her charming beauty. That was why the mandarin hated her and had the painter add a big mole below her eye, which meant, according to physiognomy, she would become a widow soon after being married. That was why the Emperor never chose her. When the King of a satellite country came and offered precious gifts to the Emperor, asking for an odalisque, the Emperor accepted and Tchao-Kiun was choosen to be given in marriage to the King. Only at her departure did the Emperor realize that she was the most attractive odalisque and had no mole under her eye, but it was too late then! While passing the frontier gate, on the flowery carriage with her lute she played a sad melody improvised by herself then jumped into a river nearby, thus ending her unlucky life.

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu,
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “Hay thì thật là hay,
“Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!
“So chi những bậc tiêu tao,
“Dột lòng mình lại nao nao lòng người?”
Rằng: “Quen mất nết đi rồi
“Tẻ vui âu cũng tính trời biết sao.
“Lời vàng vâng lãnh ý cao,
“Họa dần dần bớt chút nào được không.”

The flickering lamplight made the room seem gloomy,
Plunging the listener into a state of deep melancholy
Sometimes he dropped his head or leaned against the pilow,
Frowning deeply as though overwhelmed with deep sorrow.
“You played so beautifully!”, said he admiringly,
“But there seems to be something bitter in your melody!
“Why did you choose to play such mournful pieces?
“To torment yourself and fill the others’ hearts with grieves
“I’m sorry”, said she, “but I’ve been used to this fault,
“It’s God’s will, I don’t know how to change at all.
“Any way, I shall listen to your golden advice,
“And hope that I can lessen my fault as I try.”

Thùy Dương

(To be continued)

NGÀY XUÂN

C ƯỜ I CH Ú T CH Ơ I

(Ca dao hài hước)

Vua Ngô Chúa Chổm

Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng,
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
Chúa Chổm uống rượu tì tì,
Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô.


Có ta có mình

Ngày ngày ra đứng đầu đình,
Chuyện trò to nhỏ có mình, có ta.
Ngày ngày ra đứng đầu nhà,
Chuyện trò to nhỏ có ta có mình.


Không buông

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng,
Chết thời mặc chết, buông nàng không buông.


Con lợn bỏ đói

Yêu nhau chả lấy được nhau,
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già.
Bao giờ sum họp một nhà,
Con lợn lại béo, cau già lại non.


Yêu và ghét

Yêu nhau mọi thứ mọi cho,
Ghét nhau thì mảnh quạt mo cũng đòi.
Yêu nhau xé lụa may quần,
Ghét nhau kể nợ, kể nần nhau ra.


Lên đến tận trời

Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông Nguyệt lão đánh mười cẳng tay.
Đánh thôi lại trói vào cây,
Hỏi ông Nguyệt lão: Nào dây tơ hồng?
Nào đây xe bắc xe đông,
Nào đây xe vợ, xe chồng người ta?
Ông vụng xe tôi lấy phải vợ già,
Tôi thì đốt cửa, đốt nhà ông đi.


Gái tơ liều mình

Trai tơ lại lấy gái tơ,
Đi đâu mà vội mà vơ ông già?
Ông già tóc bạc phơ phơ,
Lắm tiền nhiều của, gái tơ liều mình.


Vô duyên vô phúc

Vô duyên vô phúc múc phải anh chồng già,
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng?
Nói ra đau đớn trong lòng,
Ấy cái nợ truyền kiếp, chứ có phải chồng em đâu!

Phụ Bản IV


Như cái mặt mo

Mặt mày như cái mặt mo,
Tao lấy chiếc đũa tao đo mặt mày.


Chữ trinh đáng giá

Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.
Còn như yêu vụng dấu thầm,
Họp chợ trên bụng hàng trăm con người.


Giống ai

Đẻ đứa con trai
Chẳng biết nó giống ai:
Cái mặt thì giống ông cai,
Cái đầu ông xã, cái tai ông trùm.


Mẹ ơi, con ơi

- Mẹ ơi, con đã có thai…
- Con ơi, mẹ cũng được vài tháng nay.
- Mẹ ơi, con đẻ hôm nay…
- Con ơi, mẹ cũng đẻ ngay bây giờ…


Một trăng mấy Cuội?
Một trăng được mấy Cuội ngồi?
Một thuyền chở được mấy người tình chung?


Càng già càng dẻo

Càng già càng dẻo càng dai,
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường.


Cho em tu cùng

Giàu ma không lấy được em,
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu.
- Tu đâu cho em tu cùng,
May ra thành Phật thờ chung một chùa.


Gặp chùa cũng tu

Ra đi gặp vịt cũng lùa,
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu.


Thằng Ngô

Thằng Ngô lắm nhẫn nhiều vòng,
Làm cho các ả phải lòng thằng Ngô.


Ông chủ tịch xã

Anh về công tác xã nhà,
Hỏi ông chủ tịch bây giờ là ai.
Hỏi em, em cứ mỉm cười,
Việc cần phải gặp em ơi chớ đùa.
Ửng hồng đôi má em thưa,
Ông chủ tịch xã bây giờ là… em!

Đào Thản
(Mạnh Đoàn st)

CHUYỆN VUI

CHỦ TRƯƠNG CỰC KỲ TIẾT KIỆM
CỦA ĐẠO QUANG HOÀNG ĐẾ

Theo di chiếu của Hoàng đế Gia Khánh, Trí Thân Vương lên ngôi lấy niên hiệu là Đạo Quang nguyên niên, lúc bấy giờ ông đã được 38 tuổi.

Nổ nhĩ Cáp Tề khi chưa lên ngôi Đại Hãn lập nên Kim quốc, đã bắt chước lối sống giàu có xa hoa trong những cung điện lộng lẫy của quan lại triều Minh mà họ đang phải thần phục, do đó từ đời vua Thuận Trị khi vào đến Bắc Kinh lập ra nhà Thanh, vua quan sau này tha hồ xây dựng đền đài ăn tiêu xa xỉ, cung tần mỹ nữ được tuyển vào hàng hàng lớp lớp để vua quan tiêu khiển.

Đến đời Đạo Quang hoàng đế thì lại khác, sau khi cưới vợ, ông thay đổi tính nết. Về tiền tài ông hết sức keo kiệt, cực kỳ dè xẻn không phung phí như các đời vua trước.

Ngân khố của hoàng gia rất giàu có nhứt là sau khi Gia Khánh lên ngôi đã giết và tịch thu toàn bộ gia sản của tên gian thần Hoà Khôn từng được vua Càn Long vô cùng sủng ái, vậy mà Đạo Quang hoàng đế vẫn kêu là nghèo mạt rồi bắt mọi người dè xẻn. Mỗi khi gặp bọn đại thần là ngài liền khuyên họ không được tiêu xài phung phí. Các đại thần vốn khéo chiều ý vua, ông nào ông nấy cố ý làm ra vẻ cùng kiệt, nghèo khổ. Trong số các quan lại, có một kẻ điêu xảo nhất là Mục tướng quốc. Mỗi khi vào chầu, Mục tướng quốc đều mặc áo khoác rách. Đạo Quang hoàng đế thấy vậy khen ầm lên, cho rằng ông ta là một đại thần gương mẫu bậc nhất. Vua đâu có biết ở bên ngoài ông ta tham lam, hối lộ, xa xỉ đến cực độ, về nhà thì lại có đến ba thê bốn thiếp.

Từ đó khắp triều bá quan văn võ đều bắt chước lối đó, ai cũng đều mặc quần áo rách. Ở trên điện nhìn xuống giống như hai hàng ăn mày đứng chực xin của bố thí, còn hoàng đế thì y như một lão cái bang. Bọn quan lại khắp nơi cũng không còn dám ăn mặc quần lành áo tốt nữa. Trong kinh thành, các tiệm bán quần áo cũ thoáng cái đã hết sạch, giá đồ cũ đắt chẳng thua gì giá đồ mới. Có nhiều gia đình quan lại nghĩ cách đem quần áo lành đi đổi quần áo cũ rách để mặc. Về sau, quần áo cũ đã bán gần hết thì giá lại càng cao, có khi một bộ cũ còn đắt hơn hai bộ mới nữa. Cũng có vị quan nghĩ ra kế khâu mấy miếng vá vào tay áo hoặc vào lưng vào ngực áo để cho có vẻ rách rưới cũ kỹ.

Hoàng đế thấy vậy, mới yên chí không khuyên nhủ gì về việc ăn mặc nữa.

Trời đã sang đông, thời tiết lạnh. Bọn quan lại trước đây ai cũng có năm, ba cái áo da hoặc áo lông ngự hàn. Nhưng năm nay, không ai dám đem ra mặc vì sợ hoàng đế ngài quở trách. Thế là cả bọn đành chịu rét, rét cóng cả chân tay mà chẳng anh nào dám than vãn.

Đại học sĩ Tào Chấn Dung tại điện Võ Anh bản tính cũng rất keo kiệt. Dung với Đạo Quang hoàng đế về điểm này có thể nói là rất tâm đầu ý hợp. Hằng ngày Đạo Quang hoàng đế triệu Tào học sĩ vào cung bàn chuyện. Bọn thái giám từ lâu cứ tưởng hai người luận bàn về quốc gia đại sự, ai ngờ khi nghe kỹ mới biết chỉ nói những chuyện không đâu trên trời dưới đất.

Một hôm, Tào học sĩ mặc một cái quần ống rách toác, có hai miếng vá to bằng bàn tay ngay tại trên đầu gối, Đạo Quang hoàng đế thấy thế bèn hỏi:

- Ngươi vá hai miếng vải to ấy hết bao tiền?

Tào học sĩ liền tâu:

- Chỉ hết có ba tiền.

Hoàng đế nghe xong giật mình, lấy làm lạ:

- Trẫm cũng có hai miếng vá như vậy, thế mà Nội vụ phủ tính những năm lạng bạc là tại sao?

Nói xong, ngài liền kéo áo long bào lên cho xem. Tào học sĩ chẳng biết nói gì hơn, đành phải nói rằng miếng vá của ngài đắt hơn miếng vá của ông nhiều. Đạo Quang hoàng đế thở dài đánh sượt một cái, tỏ vẻ tiếc tiền mà không dám nói rõ ra.

Nhưng sau đó, vua bắt bọn cung nữ cũng như hoàng hậu, phi tần đều phải học vá may thêu thùa, rồi cứ hễ có quần áo rách, ngài liền bắt đám này sửa chữa lại ngay cấp kỳ. Do đó, Nội vụ phủ chẳng còn xơ múi gì nữa để mà khai man, đến nỗi các quan đương ty đói rách quá, khó bề sống nổi.

Đạo Quang hoàng đế còn bảo trong cung chỉ tiêu quá tốn, rồi ngài cho bọn cung nữ và thái giám ra ngoài tự ý làm ăn lấy mà sống, khiến cả một tòa đại nội rộng lớn như vậy trở thành hoang vắng tiêu điều. Rất nhiều đình viện bị đóng cửa và niêm phong. Hoàng đế cũng chẳng thiết dạo chơi đó đây nữa mà cả ngày chỉ ở lỳ trong cung lo những chi phí chuyện gạo muối củi lửa… tính toán kỹ lưỡng lại rồi hạ một đạo thánh chỉ như sau: các khoản chi dụng tại nội đình từ nay mỗi năm không được quá hai mươi vạn lạng bạc, bọn phi tần cả năm không được may thêu áo mới, tất cả đều phải mặc quần áo cũ rách. Ngay cả trong cung của hoàng hậu cũng phải bày các bàn ghế cũ kỹ, mục nát.

Đạo Quang hoàng đế cùng với Tào học sĩ ngày ngày còn bàn tính sao cho rõ ràng và kỹ lưỡng hơn nữa. Hằng ngày muốn tiêu một món tiền gì Tào học sĩ lại phải đổ một con toán. Trong nhà ông có một cỗ xe lừa cũ kỹ, long càng bể ván nhiều nơi, do một tên nhà bếp đánh xe cho ông. Ngày nào cũng vậy, cứ mỗi phiên chầu sớm trở về thế nào ông cũng cho xe qua chợ, rồi cởi áo bào khoác ngoài, lấy cái giỏ mây trong thùng xe ra, đích thân đi mua rau cỏ đồ ăn thức uống, cùng với bọn buôn thúng bán bưng mặc cả đôi co rầm cả chợ. Nhiều lần hai bên không vừa lòng nhau về giá cả đến nỗi cáu giận, quác mồm ra mà chửi bới nhau. Cuối cùng Tào học sĩ không biết làm thế nào, đành phải rút thẻ bài Đại học sĩ từ trong bọc ra làm áp lực, rồi đưa tên bán rau vào nha môn để nhờ xử giùm. Tên bán rau nghe nói ông là Đại học sĩ thì hoảng sợ đến tè ra quần vội bò sát xuống đất, đập đầu xin tha tội và xin vui lòng tính giá rẻ mạt theo ý ông. Tào học sĩ lúc đó ăn thua hơn kém được một vài cắc bạc, lấy làm đắc ý lắm, vênh vênh váo váo bước đi.

Ông thường ra phố chợ, vào trong các tiệm ăn quán nhậu hỏi giá hết thứ này đến thứ kia. Chỉ hỏi giá nhưng không phải để vào ăn nhậu, mà là để bẩm báo với hoàng đế. Khi nghe biết được giá cả rồi hoàng đế liền bảo nhà bếp làm ngay các món ăn đó, cho ngài xơi. Chỉ tại rau cỏ trong cung quá đắt, nên ngài hết sức tính toán giảm chi đến mức thấp nhất. Chiếu lệ thì môi bữa cơm của nhà vua tính trung bình mất tám trăm lạng bạc. Đạo Quang hoàng đế thấy quá tốn, bèn giảm hết những món ăn cao quý, chỉ còn có rau dưa, mỗi bữa chỉ tốn một trăm bốn mươi lạng mà thôi. Nếu ngài muốn ăn thêm một món khoái khẩu nào đó, bất luận món gì cũng đều phải tốn thêm sáu, bảy chục lạng. Muốn ăn một cái hột gà, ngài phải bỏ ra năm lạng bạc mới được.

Lại có một hôm Đạo Quang hoàng đế ngồi bàn chuyện với Tào Chấn Dung và hỏi Dung ở nhà có ăn hột gà không, Dung trả lời:

- Hột gà là một món ăn rất bổ… Mỗi buổi sáng thần đều ăn luôn bốn chiếc trụng nước sôi.

Nghe vừa xong câu nói, Hoàng đế giật mình đánh thót một cái, vội nói:

- Hột gà giá mỗi cái năm lạng bạc, mỗi ngày ngươi ăn bốn cái, vị chi là tốn hai chục lạng bạc phải không?

Tào học sĩ hoảng quá vội tâu:

- Trong nhà thần, vốn có nuôi gà mái đẻ. Hột gà mà thần ăn đó đều là hột gà của nhà, chính những con gà mái này đẻ ra cả.

Đạo Quang hoàng đế nghe xong cười nói:

- Nuôi mấy ổ gà mái mẹ kể ra cũng đỡ tốn kém đấy!

Thế là ngày hôm sau, ngài hạ chỉ cho nội vụ phủ phải đi mua gà mái đẻ đem vào cung nuôi lấy trứng cho ngài. Nhưng khi được biết giá mỗi đầu gà phải mua tới hai mươi bốn lạng bạc thì ngài chỉ còn có nước thở dài mà thôi.

Ngày hôm sau, Tào học sĩ lại ra ngoài phố, hỏi thăm giá cả các món trong quán ăn rồi vào cung báo lại cho hoàng đế Đạo Quang.

- Tiệm ăn Phúc Hương ngoài cửa cung có món đậu hũ nấu với gan heo ăn ngon lắm, mà giá lại rẻ.

Đạo Quang hỏi:

- Đậu hũ nấu gan heo? Trẫm chưa từng được ăn? Chẳng biết bao tiền một bát?

Tào học sĩ tâu:

- Mua tại tiệm này thì giá chỉ bốn mươi đồng một bát thôi.

Hoàng đế nghe xong, nhảy lên vì sung sướng, vội nói:

- Trong thiên hạ này mà có thứ rẻ đến thế sao?

Thế là ngài cho gọi Nội giám tới để truyền lệnh cho nhà bếp từ ngày hôm sau đồ ăn gì không cần, mà chỉ cần một chén đậu hũ nấu gan heo là đủ cho một bữa cơm.

Bọn nhà bếp lâu nay vốn rành vì hoàng đế hà tiện quá nên chẳng phải nấu nướng gì nhiều. Nay được lệnh ngài, chúng bèn lăng xăng sửa soạn để đi kiếm đậu hũ nấu gan heo cho ngài. Bữa cơm trưa hôm sau, quả nhiên có món đó thật. Đạo Quang hoàng đế ăn vào, thấy ngon quá, làm luôn một lèo mười hôm mà vẫn còn thèm. Nội vụ phủ trình lên cho ngài rõ thực đơn với giá cả. Ngài thấy tổng số tiền mua đậu hũ mất hơn hai ngàn lạng bạc, phía dưới còn ghi thêm nhiều món lặt vặt khác. Thì ra cái đơn ấy ghi như sau; mỗi ngày giết một con heo để làm món đậu hũ gan heo tính giá mười lạng, một đấu đậu vàng giá mười lạng, tiền mướn hai anh hàng thịt mổ heo cho nhà bếp tính công hết bốn lạng; tiền mướn bốn thợ làm đậu hũ, mỗi anh mỗi ngày một lạng năm tiền. Ngoài ra, còn phải mua các thứ dụng cụ như dao mổ heo, nồi niêu xoong chảo, bếp lò, cối tán đậu, giàn mổ heo vv… cộng tất cả là bốn trăm sáu mươi lạng… Đồ gia vị nào là dầu, mỡ, muối, mắm, dấm, giá cũng lên tới trên một trăm bốn mươi lăm lạng… Như thế suốt một tháng Ngự thiện với món đậu hũ nấu gan heo, kể ra phải chi tất cả là hai ngàn năm trăm hai mươi lăm lạng bạc.

Đạo Quang hoàng đế xem tấm thực đơn tới đâu, đấm xuống bàn thình thình tới đó, miệng càu nhàu:

- Hỏng bét! Hỏng bét!

Lập tức, ngài truyền lệnh gọi viên tổng quản nhà bếp lên, cho một bài học nên thân, rồi bảo:

- Tiệm Phúc Hương phía ngoài cửa cung bán có bốn mươi đồng tiền một bát. Chỉ có một mình trẫm ăn mà tốn hết quá nhiều thế kia ư? Từ nay về sau bỏ cái lối làm ăn này đi. Mỗi ngày chỉ cần bốn mươi đồng tiền, chạy ra ngoài cổng kia mà mua là được rồi, nghe chưa?

Viên tổng quản nhà bếp hồi tấu:

- Theo thể lệ của Tôn tông thì trong cung không được ra ngoài mua các món ăn nấu chín.

Đạo Quang nghe tấu, khoát mạnh ống tay áo một cái tỏ ý vô cùng bực tức nói:

- Thể lệ với chẳng thể lệ, rẻ là được rồi!

Viên tổng quản nhà bếp nghe xong, chẳng dám nói thêm, chỉ còn cách rút êm ra ngõ sau, bắt buộc tiệm ăn Phúc Hương phải đóng cửa. Y lại còn bắt hàng xóm láng giềng của tiệm này phải cam kết, sau đó mới trở về cung tâu với Đạo Quang hoàng đế là tiệm đã nghỉ bán, không còn có chỗ nào để mua món đậu hũ nấu với gan heo nữa.

Qua ngày thứ ba Hoàng đế thèm món đậu hũ quá, bèn sai Tào học sĩ ra ngoài phố xem lại có đúng không, lúc đó ngài mới chịu tin lời viên tổng quản nhà bếp và đành nuốt nước miếng đỡ thèm. Nhưng rồi cũng từ đó, ngài dẹp luôn món đậu hũ này. Bọn nhà bếp lại buồn như chấu cắn. Sau lưng ngài chúng hậm hực bảo nhau:

- Bọn mình thế là khốn nạn rồi. Làm cách nào mà sống đây?

Cách một tháng sau, trong cung cử hành lễ Đại khánh. Hồi này, Đại học sĩ Tràng Linh đã dẹp yên miền Hồi Cương, bắt giải tay đầu đảng là Trương Cách Nhĩ Hạm về kinh đô.

Đạo Quang hoàng đế ngự giá tới cửa Ngọ môn để nhận chiến lợi phẩm. Sau đó, ngài cho lệnh bày tiệc ăn mừng trên núi Vạn Thọ trong Ngọc Lan đường, bảo bọn nhà bếp bầy biện rượu thịt, nhưng lại sợ bọn này thừa dịp chi tiền quá sộp, ngài bèn truyền chỉ phải hết sức tiết kiệm.

Hôm đó mời khách dự tiệc, đầy đủ các vị đại thần bá quan văn vỏ tất cả ngồi quây quanh hai thồi. Trên mặt thồi chỉ thấy lơ thơ có vài món ăn rau dưa rẻ tiền. Bọn đại thần ngồi chung quanh thồi, mặt tần ngần, tay chẳng muốn gắp chỉ sợ có một đũa là hết sạch, không còn đủ cho người khác.

Đạo Quang hoàng đế ngồi trước mặt, không uống rượu mà cũng chẳng nhắm, chỉ luôn mồm bàn bạc chuyện võ công của tiên triều với bọn đại thần. Lâu về sau ngài lại nói đến thơ, hết thơ đến hoạ, rồi còn giở chuyện câu đối ra nữa chẳng mấy chốc đã qua mấy giờ liền, rượu cũng chẳng uống, đồ ăn cũng chẳng nếm. Ngài còn bảo Đại Quân Nguyên vẽ cảnh quân thần đang vui vẻ thành một bức hoạ. Rồi tiệc tan.

Hồi đó lạnh rét căm gan. Đạo Quang hoàng đế thấy bọn đại thần đều mặc áo da chồn kỵ gió khoác ngoài, ngài hỏi:

- Áo da khoác ngoài kỵ gió của các ngươi phải bao tiền một chiếc?

Cả bọn chả anh nào hồi đáp được, chỉ có mình Tào học sĩ là người duy nhất trả lời được:

- Chiếc áo da khoác ngoài kỵ gió của thần có một lớp, giá chỉ có hai chục lượng bạc.

Đại Quang hoàng đế thở phào một cái, vội khen:

- Rẻ quá! Rẻ quá! Mấy hôm trước, trẫm có một chiếc áo da cáo màu đen, chỉ vì nó rộng quá, và muốn thêm một lớp lót, thế mà khi đưa cho Nội vụ đi sửa, chúng tính những một ngàn lạng bạc kia đấy. Thấy đắt quá, trẫm còn treo đó chưa sửa vội.

Tào học sĩ nghe đoạn, liền tâu:

- Chiếc áo da của thần không lót cả đâu!

Nói đoạn, ông liền cầm vạt áo kéo thếch lên. Mọi người nhìn xem, quả nhiên thấy chiếc áo của ông chỉ có bốn chung quanh mép áo là lót, còn phía giữa, vạt chỉ một lớp mỏng dính.

Đạo Quang hoàng đế cũng nhìn kỹ, rồi buột miệng khen “Tuyệt, và rẻ nữa”. Ngài lại còn khen là đẹp, là ấm, cuối cùng ngài gục gặc cái đầu tỏ vẻ chịu lắm và bảo thêm rằng lót hay không lót, kỵ gió hay không kỵ gió, cần gì.

Từ hôm đó, bọn đại thần mặc áo da khoác ngoài đều chẳng anh nào báo anh nào, lột cho bằng hết những tấm lót kỵ gió phía trong. Quan to đã thế thì quan nhỏ cũng phải thế, chẳng mấy chốc nó lan ra như bệnh dịch, người ta chẳng còn thấy cái áo da khoác ngoài nào còn lót nữa.

Dương Lêh st&bs

(Theo Thanh cung mười ba triều)

ĐÍNH CHÍNH

Bản tin số 31

Trang 59 Dòng thứ 5 & 6 từ dưới lên:

Le Narcotique, les injections: Amorce de destruction

L’achat des parfums, la vente des fards: Source de propagation

Xin sửa lại là:

Le Narcotique, les injections: Amorces de destruction

L’achat des parfums, la vente des fards”:(*) Source de propagation

(*) Traduction littérale de “Mua hương bán phấn” ou “Buôn hương bán phấn” ure expression désignant la prostitution.

Ngoài ra một số bản được sửa như sau:

Le Narcotique, les injections: Germes de destruction

La prostitution: Source de contamination

Lời sửa này không phải của dịch giả Thùy Dương

Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng (1909-1976) nhà văn Việt Nam chủ yếu viết bằng tiếng Pháp: Những đoản văn Pháp (pages Françaises), Eurydice, Hoa Tiên (Amour d’Annam) vv… Nhưng ông viết truyện ngắn cũng rất hay và sau đây là một truyện ngắn rất ít người biết của ông.

Đoản Thiên Tiểu Thuyết

CHUYỆN NGÀY XUÂN

Hán Thu NGUYỄN TIẾN LÃNG

Hoàng Ngọc hỏi tôi:

- Bây giờ anh viết cả chuyện đoản thiên bằng quốc văn nữa đấy, phải không?

Tôi đáp:

- Phải.

Hoàng Ngọc nói:

- Nếu thế, tôi hiến anh một câu chuyện.

- Thế thì còn gì bằng nữa.

Hai chúng tôi sánh vai ngồi trên cái bệ ở trong cái quán giữa cánh đồng làng tôi, tục gọi Quán Đìa. Sau lưng chúng tôi, ở tít đằng xa, một rặng tre xanh, ấy chính là làng Hội Xá của tôi vậy. Một vài tiếng pháo đì đạch thỉnh thoảng làm vang động, gió đưa tiếng nổ, ở tận chỗ chúng tôi ngồi cũng còn vẳng nghe thấy. Nhưng hết cả tâm trí chúng tôi đều gởi theo tầm con mắt, mải nhìn những giãy núi xanh ở trước mặt, tức là giãy núi Hương Tích Sơn. Chúng tôi rủ nhau đi “xuất hành”, theo tục cũ của ông cha. Thẩn thơ quanh làng, hết xem trên cây đa mây gái mới choai đua nhau nhún nhảy, lại nhìn những đám đông người chen chúc nhau dưới những cái điếm nhỏ đánh “búng quay” với “thò lò”, chúng tôi tới quán Đìa thì ngồi nghỉ. Nhìn xem cảnh vật của tạo hóa, non sông gấm vóc, ngắm cảnh đồng xanh ngắt, chúng tôi thấy trong tâm hồn có những cái cảm tình thanh tú mà phiếu diểu cũng như ngọn gió xuân; tình cảm vụt hiện ra vụt biến đi, vụt thành hình lại vụt đổi ra một hình khác, cũng như ánh sáng khi tỏ khi mờ, cũng như đám mây khi tụ khi tàn ở trên trời xuân sáng sủa.

- Kể chuyện đi chớ.

Tôi giục bạn tôi. Tuy mắt tôi vẫn nhìn rặng núi xanh trước mặt nhưng cũng đoán rằng bạn tôi lúc đó mỉm miệng cười. Bạn tôi cũng như tôi, chắc hẳn lúc đó đang chịu cái ảnh hưởng của cảnh trời xuân man mác, cảnh trời hoạt động biến hóa như nét mặt mộ người thanh tân yêu kiều mà nũng nịu. Cũng như tôi, bạn tôi đang để ý vào những sự thay đổi của ánn sáng trên cánh đồng bằng; ánh sáng có lúc sáng lòe, có lúc nhàn nhạt; nắng, lại râm; râm, lại nắng. Ở trên đỉnh những ngọn núi xanh ngắt, những đám mây bạc có khi che, có khi để lộ trời xanh.

Bạn tôi hỏi:

- “Tôi đã nói chuyện Trần Sinh và Thúy Liễu với anh bao giờ chưa”

- Chưa. Nhưng bây giờ anh sẽ nói !

- “Trần Sinh thật là một người tôi rất yêu kính, cũng như anh vậy. Trần Sinh là một người sung sướng. Trần Sinh là một kẻ ẩn sĩ; ở trong buổi đời náo nhiệt dơ bẩn này, Trần Sinh đã xếp đặt riêng lấy một cảnh nhàn tĩnh mà chơi. Trần Sinh yêu núi non, rừng rú, thích cưỡi ngựa, đi săn, ngâm thơ đọc sách. Trần Sinh thích những thú chơi ấy thì lại được hưởng đủ cả thú chơi ấy; tôi đã bảo chàng là một người sung sướng! – trong một cái ấp nhỏ ở miền trung du Bắc kỳ, Trần Sinh trông nom vài chục người dân phu cày cấy, còn mình thì chỉ đọc sách, cỡi ngựa, đi bắn, đi chơi rừng núi nước non. Người bạn trăm năm của Trần Sinh giúp chàng mọi việc tề gia; trên thuận dưới hòa, khắp cả vùng, vẫn lấy cặp ấy làm gương hạnh phúc.

“Mỗi năm tôi đến thăm Trần Sinh vài lần, cùng vui chơi non nước. Một bữa kia, tôi buột miệng khen Trần Sinh là một người “có phúc, được sướng hơn nhiều người ở trên đời”. Trần Sinh lặng im mà nhìn tôi và mỉn miệng cười, đôi con mắt và cái cười có vẻ sấu tư… không tả hết. Cái sầu đó là cái sầu của một người thường đem so sánh cái sung sướng bề ngoài của mình với cái u uất trong tâm can.

“Không bao giờ tôi quên được nét mặt đăm đăm của Trần Sinh trong lúc chàng thổ lộ nổi uất đó, hai con mắt như vẫn còn theo đuổi mãi cái bóng người xưa, cái bóng những khắc giờ xưa.

- Thuở trước, tôi có yêu một người con gái – Lời Trần Sinh kể chuyện. Tôi yêu nàng một cách nồng nàn khắn khít, tôi yêu nàng một cách đằm thắm đến nỗi bây giờ hơn hai mươi năm đã qua, mà mỗi khi nhớ đến nàng, suốt cả tâm hồn tôi vẫn còn không sao là không phiêu động. Khi ấy, ròng rã trong mấy tháng, tôi ôm cái mộng cùng ai trăm tuổi không lìa, tôi giữ gìn ôm ấp cái mộng ấy, như con chim ấp tổ trứng, đợi ngày nó nở ra chim con! Tôi cũng đinh ninh rằng cái mộng của tôi sẽ không đến nỗi là một cái mộng hão huyền vô vị, nó sẽ sinh hoa kết quả, mà cái hoa cái quả sẽ là một cuộc hạnh phúc đặc biệt cho đời tôi. Tôi nghĩ đến bước tương lai, thì tưởng như nếu không có người yêu mà cùng nhau dìu dắt, đường đời sẽ gai gốc, cõi trần ai sẽ không có cái gì khiến cho tôi vui mà sống, mà làm người được. Thế mà vụt chốc lát cái tình kia bỗng tan nát, như một túp lều tranh dưới cơn gió lốc.

“Cha mẹ của người yêu tôi, vốn là láng giềng với hai thân tôi. Hai cái ấp ở liền nhau trong một tỉnh. Hai thân tôi có tư hiềm với hai thân của nàng. Mẹ tôi, vốn tính hiền lành có một, thế mà riêng với nhà nàng thì ghét tệ, ghét hại! Đến khi mẹ tôi biết tôi trót thề nguyền hẹn ước cùng người ấy, thì giận vô cùng, mà buồn cũng đến cực điểm. Nếu tin ở lời mẹ tôi nói thì thế gian không còn có ai đáng khinh bỉ bằng cha mẹ Thúy Liễu, mà không riêng gì cha mẹ nàng, chính Thúy Liễu của tôi cũng là một cô ả rất thường; cái sắc thật hơn người, điều đó mẹ tôi công nhận, nhưng nết đã hư về tiểu thuyết, lại trai lơ, thâm hiểm, tham giàu, khinh nghĩa và tài đức, vừa có tính rất nóng nảy bạo động.

“Yêu nên tốt, ghét nên xấu, tôi đã biết câu tục ngữ, cho nên không lấy những lời mẹ tôi nói làm lạ, mà chỉ lấy làm buồn. Tôi tuy không hy vọng được mẹ cha đồng ý với tôi đến bực quên cái cựu hiềm với họ nhà người yêu tôi nhưng đến lúc đáo đầu sự thế, tôi thấy sắp phải chống lại với hai đứng thân của tôi, sắp phải cam chịu hai chữ “bất hiếu” với mẹ cha, trong lòng tôi trăm phần cay đắng. Tôi cố bình tâm ngẫm lại những lời mẹ cha răn dạy, nhưng dầu ở vào địa vị trung lập cũng phải công nhận rằng mẹ tôi nói oan cho người yêu tôi chớ không có điều gì thật. Tôi quả quyết, “…dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam” cốt mưu cho thành cuộc hạnh phúc trăm năm, cốt trả chút nghĩa với người thục nữ.

“Tôi nhắn nàng Thúy Liễu, xin nàng cho tôi được gặp mặt. Sự gặp nhau không phải là không nguy hiểm, vì hai nhà vốn có hiềm kỵ, ở thôn quê không việc gì là không có người đồn đi; hai chúng tôi dầu yêu nhau cũng vẫn chỉ viết thơ cho nhau mà thôi, chớ cùng nhau giáp mặt thì hồ dễ. Ở nhà quê, viết thơ cho nhau cũng khó, không biết nhờ cậy ai chắc chắn; chúng tôi thường phải dùng một cách giống như trong tiểu thuyết: trong một khu rừng ở giữa đồng, cách nhà nàng không mấy bước, mà đối với nhà tôi ở thì không bao xa, chúng tôi tìm được một gốc cây cổ thọ có cái gốc to mà cao, phải vói tay lên mới tới. Trong cái hốc ấy,chúng tôi đem bỏ những lá thơ của chúng tôi vào, rồi mượn tiếng đi hái hoa, đi săn bắn, tìm đến đó mà lấy thư.

“Sau khi xung đột cùng thân mẫu tôi, vì tôi tính viết thơ cũng không nói xiết nỗi lòng, cần phải gặp mặt nàng, cho nên phải đánh liều hẹn nàng đến trong rừng vắng. Thương ôi, cái cuộc hội ngộ của chúng tôi hôm ấy, tôi nhắc lại bao nhiêu càng đứt ruột mà thôi. Trời biếc rừng xanh chứng minh cho chúng tôi, cái tấm thân yếu ớt, tấm thân ngọc ngà, tấm thân mơn mởn của nàng, nàng đã gởi vào hai tay tôi nâng niu ôm ấp. Giọt lệ ngọc đầm đìa má đỏ, bứa khăn hồng nàng đỡ châu rơi. Nói lời rồi lại nghẹn lời, nhìn nhau mà muốn kêu trời rằng oan. Nàng run sợ như chim non lìa ổ, lờ đờ như chiếc lá lìa rừng, cảm động khôn cùng, suốt thân thể rung động như sợi tơ đồng, dưới ngón tay cay nghiệt của số phận. “Anh ơi, sao trống ngực em đánh mạnh thế này, anh ơi, em chết mất…”. Đó là lời nói của nàng mà đến chết tôi vẫn còn thấy mãi. Nàng thổn thức kể cùng tôi nghe truyện gia đình của nàng, nó cũng chẳng khác chuyện ở trong gia đình tôi, mà tôi đã được thấy: hai thân của nàng cũng đã nghe thấy tiếng đồn rằng nàng cùng tôi dan díu, gọi nàng ra mắng một cách rất nghiêm khắc. “Em ơi, như thế thì hai ta đành biệt lập ra bên ngoài xã hội, chớ biết làm thế nào? Em ơi, em nghe anh nhé! Em chìu anh nhé, em theo anh nhé, muốn đi đâu cũng phải theo anh! Ta tránh cho xa cái cảnh hiu quạnh này, ta lánh đi cho khuất mặt mẹ cha, rồi ra duyên đã kết duyên, em là con cưng của hai đứng thân bên ấy, anh cũng là con yêu nhứt của cha mẹ bên này, lo gì rồi chẳng có ngày chúng ta lại được trở về, hầu hạ sớm khuya mà chuộc tội”. Tôi ghé tai nàng mà năn nỉ mọi nỗi, tôi thấy cặp mắt đen in một vẻ mừng rỡ, miệng hoa cười chúm chím, hai tay mềm mại nâng hai má tôi lên nhìn tròng trọc nàng hỏi tôi rằng: “Thật thế ư? Anh yêu em được đến thế ư?”. Nhưng nàng lại lắc đầu mà xin tôi cho phép nghĩ ngợi ít ngày sẽ trả lời; vì cái cách của tôi muốn dùng để giải quyết vấn đề tình duyên hai chúng tôi, như vậy, thật là một cách khiến cho người nhi nữ không khỏi ngại ngùng.

“Từ biệt nhau, nàng hẹn với tôi rằng chiều hôm sau sẽ “bỏ thơ” cho tôi trong cái hốc cây cổ thọ, để trả lời cả quyết về cuộc tương lai mối tình của chúng tôi. “Nếu không trả lời (nàng nói) thì tức là xin chịu thua. Nhưng… em không chịu thua đâu!”

“Chiều hôm sau… Chao ôi, chiều hôm sau, tôi thò tay vào hốc cây thì chỉ thấy có rêu phong gỗ mục! tìm hoài cũng không có thư ai. Bóng tà dương ủ dột, làm đổ ngang hình ảnh những thân cây, tôi ngồi nghĩ đến cái mộng chung tình của tôi, đang vùn vụt lên cao, mà cũng phải đổ xiêu đổ nát. Tiếng chim chốc gọi nhau về ổ, tôi hồi tưởng lại vừa mới hôm trước, cùng ai tự tình trong bóng tà dương, thì tôi lại hy vọng rằng: nàng vì mệt hay vì một lẽ gì mà chưa ra đây hoặc vì còn muốn nghĩ kỹ, đến mai kia sẽ có trả lời. nhưng mà mai cũng không, ngày kia cũng không. Mà nàng thì tôi vẫn thấy đi chợ búa lễ bái với cha mẹ như thường, lại có hôm tôi lấy ống dòm (jumelle) đứng trên gác nhà tôi mà trông sang lối đi từ nhà nàng vào khu rừng của hai chúng tôi, thì thấy nàng thơ thẩn đi ra đến giữa đường rồi lại đi trở lại.

“Sự đã quả nhiên! Cái tình của nàng chẳng qua là cái tình yếu ớt, cái tình đơn hèn, cái tình khôpng chịu được sự chiến tranh, sự phấn đấu. Than ôi, tôi lầm, tôi lầm. Một chút nữa vì cái tình trẻ con ấy, tôi trái mạng với cha mẹ. Than ôi, tôi lầm. Ở trần gian chỉ có rặt những mối tình rất hèn, rất yếu. Chỉ có những người con gái “cha mẹ đặt đâu ngồi đấy!” mà nhứt là nước Việt Nam…

“Tối hôm ấy, tôi xin mẹ tôi năm trăm đồng bạc, lập tức sắm hành trang đi Huế. Ở Huế, hiện nay có lẽ người nào tò mò đi tìm hơi thì cũng còn có thể thấy một vài ả hồng phấn bây giờ hẳn đã có tuổi, nhưng thuở đó, đã từng biết tôi và góp cuộc chơi “phong lưu công tử” của tôi; ôi, vì tuyệt vọng mà hư vậy.

“Sau tôi lâm bệnh ở Huế, mẹ tôi vội vàng thuê ô tô vào đón tôi ra. Tôi xanh mà ốm lắm; mẹ tôi ngồi nắm lấy tay tôi mà khóc, tôi còn nhớ, mẹ tôi chỉ than một câu rằng: “Con ơi, nếu mẹ có biết cơ sự thế này thì…” Câu ấy càng làm cho tôi bực mình, tôi tưởng mẹ tôi vẫn hối vì không cho tôi thỏa lòng ước cũ; cái ước cũ ấy, kỳ thực, tôi đã nhất định coi rẻ nó đi, thế mà mẹ tôi còn phiền muộn sao? Tôi gắng uống thuốc cho khỏi, rồi theo mẹ về Hà Nội. Về Hà Nội, tôi vào lưu học ở trường Đại học; một năm rất yên lặng mẹ tôi lúc ấy mới đem truyện hỏi cưới ra, lo và bàn. Tôi lúc bấy giờ chỉ nghĩ đến chữ hiếu, vì tin rằng ở đời thật không có cái tình nào là tình thật mạnh, thật mặn nồng, đáng cho người ta sống thác vì nó, đáng khiến cho người ta đặt nó lên trên hết thảy mọi nghĩa vụ, hơn trên cả sự sống. tôi bằng lòng kết duyên với nhà tôi bây giờ. Một năm sau, chúng tôi được một đứa cháu trai.

“Đến ngày cháu đầy tháng mẹ tôi nhân một lúc ngồi riêng với tôi, để tay lên vai tôi mà nói rằng:

- “Bây giờ thì mẹ có thể nói thật cùng con được. mẹ có một lần, đã đem hủy một bức thơ của một người con gái gơi cho con.”

“Tôi vụt thấy bể lòng ngọn trào như lên như xuống, mà cổ họng tôi thì như có một vật gì chẹn lấy. Cũng may vì thế mà tôi không kêu lên được; nét mặt tôi thì mẹ tôi đã lòa; trông không rõ, cho nên mẹ tôi cứ điềm nhiên nói luôn chuyện cái việc ác nghiệt mà mẹ tôi đã đang tay làm.

- “Cái hốc cây trong rừng của con lấy làm hộp thư con tưởng mẹ không biết, nhưng mà mẹ biết đó con à. Cái thư cuối cùng của con gái nhà kia, con chờ nó, nhưng nó đã ở trong tay mẹ thì có khi nào mẹ lại buông nó ra, buông nó ra để tan nát gia đình nhà ta vì một đứa con gái hư như con Thúy Liễu hay sao? Gớm! nếu mẹ không giữ lại được cái thư ấy thì có lẽ mẹ đã mất con từ bao giờ rồi. Thúy Liễu nó cả gan hẹn với con cùng trốn đi, nó lại ép con phải trốn đi với nó ngay, kẻo chậm ngày nào nó thêm nghĩ ngày ấy, có khi sẽ lại không dám theo con nữa.”

“Mẹ tôi cứ điềm nhiên mà nói những lời nói như xâu như xé gan ruột của tôi. Ôi kẻ có tội trong mối tình xưa, thế ra chính là tôi vậy! Thảo nào, nàng chờ tôi, không thấy tôi đáp, nên có buổi đã toan tìm ra rừng vắng gửi bức thư nữa, lại vì cái khí khái của tấm lòng nhi nữ, thà chịu tuyệt tình còn hơn chịu đứng vào thái độ người van lơn năn nỉ một kẻ bạc tình. Một buổi chiều kia… Một chiều kia… Hình ảnh những khắc giờ xưa, hình ảnh người xưa, cho chí cái hương thơm của bạn, cái vẻ mềm mại mát mẻ của tấm thân ai, vùn vụt trở về trong ký ức tôi, trong xác thịt tôi; xô đẩy nhau, hiện ra lại biến đi, biến đi lại hiện ra, như ảnh trên màn chớp bóng. Nhưng mà phải trải bao ngày tháng nỗi đau lòng này tất cũng phải nguôi. Lại thêm vợ trẻ con thơ, tôi không muốn bạc tình, thì cũng phải bạc tình mà thôi.

“Vả lại tôi cưới nhà tôi về xong được ít bữa thì đã nghe tin Thúy Liễu cũng về nhà chồng. Người chồng Thúy Liễu là học sinh cao đẳng, con một vị phú ông ở Nam kỳ. Liễu sau khi cưới ít bữa, đã theo chồng vào Lục Tỉnh. Thôi thì ván đã đóng thuyền, tiếc làm gì nữa? Có lẽ Liễu lấy người kia lại sung sướng hơn lấy tôi. Tôi tạm lấy cái lẽ “số phận đảo điên” làm khuây; từ đó, hết sức không nghĩ đến Liễu nữa. Nói thế, tức là tôi đã thú với anh rằng: tôi vẫn nghĩ đến Liễu, không sao quên được.”

Bạn tôi kể cái tình sử của Trần Sinh và Thúy Liễu đến đây thì nghỉ một lát.

Bên cạnh chỗ chúng tôi ngồi, trên cái bệ xây bằng gạch, chúng tôi có đặt một bó những “cành lộc”. Cành lộc là những cành lá non và nhiều búp non, người đi chơi xuân hái ở trên cây, đem về nhà làm kỷ vật để cầu may (porte bonheur). Như ở vùng nhà quê tôi, người ta thường hái cành đa, hay bẻ cành sung, ý để cầu “đa phú qui, đa thọ khang” và sung sướng! Ấy cái tâm hồn chất phát của dân quê gởi cái hy vọng vào những cái biểu hiện dản dị như thế.

Bạn tôi kể chuyện đến đó, rút trong bó cành lộc một cành mẫu đơn có nhiều hoa đỏ đã nở, chúng tôi vừa mới bẻ bên bờ ruộng dâu. Tay nâng lên, ngắm hoa tươi giờ lâu, rồi đặt cành hoa trên đầu gối, xé tung mỗi bông hoa ra từng cành. Chả mấy lúc suốt cành hoa tan tác, những cánh hoa đỏ thẫm rải rắc trên tà áo thắm, trên bệ đá rêu xanh, như những chấm máu. Bạn tôi vẫn xé nát những bông hoa nào còn sót lại, vừa xé vừa kể tiếp câu truyện như sau này:

“Câu truyện tình duyên của Trần Sinh và Thúy Liễu khi tôi được nghe lần thứ nhất, thì chỉ đến đấy là hết. Cách đó ba bốn năm nữa. Tôi gặp Trần Sinh trên xe hỏa. Tôi mới được nghe tiếp. Tôi nhìn chàng thấy trở đại tang, bà mẹ mới mất. Chàng thấy tôi thì vội vã nắm lấy tay tôi kéo ra cuối toa xe hỏa hạng nhất, là chỗ vắng người, rồi dơ chân dơ tay, lắc đầu lắc cổ như một người nửa điên nửa ngộ, mà thì thầm với tôi rằng: “Mẹ tôi thật là một người biết người lắm. Mẹ tôi nói Thúy Liễu tính nết nham hiểm tàn ác, thật là không sai. Anh có đọc nhật trình mới đây không? Trời ơi, ghê gớm quá, ghê gớm quá. Mà phúc nhà tôi to quá! Thúy Liễu… Thúy Liễu giết chồng anh ạ! Anh xem đây này. “Rồi Trần Sinh rút trong túi ra một tờ báo ở Saigon, dúi vào tay tôi. Đọc báo thì quả là người thiếu phụ mà thuở trước tên gọi Thúy Liễu quê quán ở Bắc Kỳ, lấy chồng phú hộ trong Lục Tỉnh, sau bảy năm trời chăn gối, đã đầu độc cho chồng, một người chồng thật âu yếm nàng, thật chiều nàng, quý nàng, tuy bảy năm thành gia thất mà vẫn chưa có con. Tờ báo nhắc lại lịch sử đời dĩ vãng của Thúy Liễu mà phẩm bình rất nghiêm khắc, cho nàng những tên gọi là: dâm phụ, nghiệt phụ, quân gian ác,…

“Trần Sinh hai môi run lẩy bẩy, nắm lấy tay tôi mà nhắc đi nhắc lại rằng: “Thật phúc ấm nhà tôi còn to!”

“Nào ngờ… Nào ngờ, kỳ tàu sau, các báo trong Saigon ra, tôi mua đọc, thì nảy ra một mối ái ngại vô hạn cho Sinh. Số là các báo đều đăng rằng: “Ra trước quan Tòa, kẻ sát nhân kia đã thú nhận hết tội lỗi, nhưng chỉ khóc lóc mà than rằng: “Suốt một đời, đã hỏng vì một mối tình thất vọng. Vì trước yêu một người mà không được lấy người ấy, sau theo ông chồng này chẳng qua là muốn lánh cho khuất mặt xứ Bắc Kỳ, nhưng mà không yêu thì không sao ép lòng cho hóa ra yêu được; đã thế, tiếng bấc tiếng chì, trong gia đình, lúc nổi khùng, mới trót làm điều đại ác.”

“Thế là ba hôm sau, tôi cùng Trần Sinh tới luôn Saigon. Trần Sinh cũng như tôi, xem báo mới biết lời cung khai của Thúy Liễu; thấy vậy, chàng hoảng hốt cả người lên, đến tìm ngay tôi, van lạy cùng đi với chàng vào Saigon để chàng tìm người cũ.

“Cái thảm trạng của Trần Sinh lúc ấy đến cùng cực. Đinh ninh rằng sự thất vọng của người si nữ chính vì chàng nên mới sinh ra, đinh ninh rằng thủ phạm trong vụ án mạng, nếu vậy, chính là chàng, Trần Sinh ăn năn hối hận, ngơ ngẩn điên cuồng, tiếc duyên xưa, thương người cũ, khóc than kể lể, bàn tính lo toan, trong đời tôi chưa từng thấy một ai đau đớn băn khoăn như Trần Sinh trong lúc đi đường từ Bắc vào Nam ấy. Tới Saigon, Trần Sinh nhất định tìm đến trạng sư của Thúy Liễu, xin biên tên chàng vào làm chứng gỡ tội cho nàng.

“Thế rồi… Thế rồi tôi đố anh biết cái kết cục của thiên thảm sử ấy nó ra thế nào? Anh hẳn đã tưởng tượng ra một bức tranh “bao nhiêu năm mấy bây giờ” cùng là “mặt trông mặt ngẩn ngơ, biết bao nhiêu tình, biết bao nhiêu nghĩa…” Vâng, tôi đã biết anh là một nhà làm tiểu thuyết mà. Nhà làm tiểu thuyết của tôi ơi, tiên sinh lầm, tiên sinh lầm rồi đấy! Cái buổi tương kiến cuối cùng của Trần Sinh với người cũ, anh có dè đâu chỉ là một buổi nhục nhã cho Trần Sinh: Gái giết chồng, nhận được Trần Sinh thì khinh bỉ chàng một cách lạ thường, tặng chàng nhiều tiếng rất không nhã, gọi tên chỉ mặt chàng mà phản cung hết những lời đã khai hồi trước, thề rằng chính Trần Sinh mới là một chàng ngu ngốc đáng chê cười, nàng không hề có yêu con người như thế bao giờ, mà ví như duyên nợ khiến xui nàng đã phải kết duyên với Trần Sinh thì có lẽ nàng cũng giết Sinh đi từ bao giờ rồi, chứ yêu chi mà yêu, tình chi mà tình!...

“Trần Sinh ra về. Lại một lần nữa, mà lần này thì thật là nhất định, bất di bất dịch, chàng trở lại cõi nhàn tĩnh. Vợ chàng cũng có rầy rà ít bữa về cuộc đi Nam Kỳ rất vô lý của chàng. Chàng cúi đầu chịu vợ mắng, thật là một người chồng rất nhu mì…

“Ngày qua tháng qua, từ đó, Trần Sinh hóa ra một người hoàn toàn sung sướng, như lời tôi đã nói với anh khi bắt đầu kể câu chuyện này.

“Hết truyện đấy, nhà làm tiểu thuyết của tôi đã nghe chưa?”

Hoàng Ngọc cười khanh khách…

Tôi đáp:

- Câu chuyện của anh, khi tỏ khi mờ, khi buồn khi vui, chẳng khác nào cái ngày xuân mà chúng ta đang ngắm. Có lẽ anh cũng vì cảm cái cảnh xuân biến ảo này mà nhớ lại chuyện ly kỳ đó chăng?

Hoàng Ngọc nói: Tôi thú thật cùng anh nhá: chính như là anh nói, mà còn hơn thế nữa kia, anh ạ! Cái cảnh xuân này không phải là đã nhắc tôi nhớ lại một chuyện cũ, chính nó dục tôi vì cám cảnh mà tưởng tượng ra câu chuyện không có. Chuyện anh vừa nghe tôi kể là một chuyện tôi nghĩ vẩn vơ mà bịa đặt ra chơi trong chốc lát. Trần Sinh và Thúy Liễu chỉ là người trong mộng cả.”

Tôi còn ngờ lời nói cuối cùng của Hoàng Ngọc lắm… Song ngày xuân đã được nghe câu chuyện, thì xin cầm bút chép ghi.

Hán thu: Nguyễn Tiến Lãng

(Huỳnh Nguyệt Anh st)

Thông báo:

Kỳ họp tiếp theo của CLB sách Xưa & Nay sẽ diễn ra vào lúc 9:00 ngày 14/02/2009 tại nhà thờ Tân Sa Châu, số 387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình.

Bài viết cho bản tin nội bộ xin gửi về:

hamanhdoan69@yahoo.com

hoặc liên hệ với Mạnh Đoàn

Đt nhà: 38.469759 - Dđ: 0907.108484

Các bản tin trước có thể xem tại:

www.diendan.songhuong.com.vn

|  00 |
 01 |
 02 |
 03 |
 04 |
 05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
 10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
|  15 |
 16 |
 17 |
 18 |
 19 |
 20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
 25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
|  30 |
 31 |
 32 |
 33 |
 34 |
 35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
 40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
|  45 |
 46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 
|  00 |
 01 |
 02 |
 03 |
 04 |
|  05 |
 06 |
 07 |
 08 |
 09 |
|  10 |
 11 |
 12 |
 13 |
 14 |
|  15 |
 16 |
 17 |
 18 |
 19 |
|  20 |
 21 |
 22 |
 23 |
 24 |
|  25 |
 26 |
 27 |
 28 |
 29 |
|  30 |
 31 |
 32 |
 33 |
 34 |
|  35 |
 36 |
 37 |
 38 |
 39 |
|  40 |
 41 |
 42 |
 43 |
 44 |
|  45 |
 46 |
 47 |
 48 |
 49 |
 
Netadong.com thiết kế