Hiện có 2 người xem / 1301382 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 08/06/2019

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA & NAY

Hôm nay để mở đầu phiên họp, dịch giả Vũ Anh Tuấn đã thông báo với các thành viên tin buồn là anh Lê Nguyên vừa mất, và vì tang lễ được tổ chức ở Nhà Tang Lễ thành phố vào ngay sáng nay, nên ông đã thay mặt các thành viên mua một vòng hoa đề là “CLB Sách Xưa & Nay - Thành kính phân ưu” đem đến viếng rồi. Thông báo tin buồn xong, như thường lệ, để mở đầu phiên họp, dịch giả Vũ Anh Tuấn đã giới thiệu với các thành viên hai quý thư mà ông mới có. Hai cuốn ông giới thiệu hôm nay một cuốn bằng Pháp văn và một cuốn bằng Anh văn.

Cuốn đầu, tuy được viết bằng Pháp văn, nhưng lại do một người Việt viết. Tác giả Hoàng Xuân Nhị (1914-1990) là một dịch giả có được du học ở Pháp và viết tiếng Pháp khá tốt. Người viết thích cuốn này, đơn giản vì đã có thấy cuốn này được xuất bản bởi nhà xuất bản Stock của Pháp năm 1943 nằm trong tủ sách của cụ thân sinh, nhưng ngày rời miền Bắc vào Nam đã phải bỏ lại. Nay thấy anh bạn có, và thấy đóng khá đẹp mà lại còn nguyên bìa trước bìa sau, nên đề nghị anh nhường lại, nhưng anh đòi một giá hơi cứa cổ là 1 triệu 200 đô mít. Sau nhờ đá banh nên người viết đã mua được của anh với nửa giá! Cuốn thứ nhì bằng tiếng Anh mang tựa đề là 501 must-see movies (501 cuốn phim phải xem) dày khoảng 400 trang giới thiệu với người đọc 501 phim mà nhóm tác giả cho là mọi ngưởi phải xem vì chúng là những phim hay nhất. Thấy cuốn sách mới và đẹp mà giá chỉ là 600 đô mít, trong khi một cuốn sách loại bỏ túi (livre de poche) nhỏ téo mà cũng đã trên 200 đô mít, nên người viết vui vẻ mua để cộng thêm vào mấy cuốn về phim ảnh đã có như cuốn “1001 cuốn phim bạn phải xem trước khi đi xa” (1001 movies you must see before you die), và cuốn “Tiểu tự điển Larousse về Phim” (Petit Larousse des Films) cuốn nào cũng 7, 8 trăm trang. Vì là một người vẫn tự hào là một trong những người trên đời xem nhiều phim nhất, nên người viết cũng đã bỏ ra hai giờ đồng hồ để cưỡi ngựa xem hoa cuốn sách mới 501 phim hôm nay và thấy rằng trong 501 phim đó mình đã xem được khoảng 100 phim. Khi giới thiệu người viết có cho các thành viên xem những trang giới thiệu phim với hình ảnh các vai chính, và tóm tắt truyện phim. Sau khi giới thiệu xong, một vài thành viên đã chuyền tay nhau xem cuốn sách đẹp một cách thích thú.


Sau khi dịch giả Vũ Anh Tuấn giới thiệu sách xong, thành viên Phước Hải lên ngâm tặng các thành viên hai bài thơ của chính ông sáng tác. Tiếp lời anh Phước Hải, chị Hoàng Thị Vinh lên ngâm tặng các thành viên bài thơ “Chưa thành chữ hiếu”. Sau chị Vinh, thành viên Thanh Phong lên ngâm tặng các thành viên mấy bài Giọt lệ chiều, Lỡ duyên, Chim nhỏ của lòng anh. Và hát tặng các thành viên bài Trong nắng trong gió của Phạm Duy. Tiếp lời anh Thanh Phong, anh Nhựt Thanh lên nói về “Tương quan trong cuộc sống” và kể một tai nạn anh đã mới gặp trên xe buýt. Anh Nhựt Thanh nói xong, anh Phạm Vũ lên nói về truyện trinh thám, về điệp viên 007, về Edgar Poe được coi như thủy tổ truyện trinh thám. Sau anh Phạm Vũ, anh Thanh Vĩnh lên nói về mấy ngày kỷ niệm như Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1/6, ngày 5/6 là ngày Cụ Hồ ra đi tìm đường cứu nước, ngày 6/6 là ngày Quốc tế Người cao tuổi. Tiếp lời anh Thanh Vĩnh, anh Quang Bỉnh lên ngâm tặng các thành viên bài thơ Ao Sen. Sau anh Quang Bình, anh Lương Văn Nhung lên ngâm tặng các thành viên bài “Thơ tương phùng”. Anh Nhung ngâm thơ xong, Hoài Ly lên ngâm tặng các thành viên bài “Còn mãi yêu”. Sau Hoài Ly, Thùy Hương lên ngâm tặng các thành viên mấy bài thơ “Thổn thức nhớ cha mẹ”, “Còn đâu” và “Nhớ các cô giáo”. Thùy Hương ngâm thơ xong, anh Hùng lên nói về vài phương thuốc cải thiện sức khỏe người có tuổi. Sau anh Hùng, Kim Sơn lên nói về ngày 28/6 là ngày Gia Đình và hát tặng các thành viên một bài hát. Tiếp lời Kim Sơn, anh Thanh Châu lên hát tặng các thành viên bài Nụ cười sơn cước. Sau anh Thanh Châu, thành viên Tuyết lên hát tặng các thành viên một bài ca: “không tên”. Và cuối cùng Lệ Ngọc lên hát tặng các thành viên bài “Mỗi người là một cành lan” để điếu ca anh Lê Nguyên vừa mất.

Buổi họp kết thúc lúc 11g15 cùng ngày.

VŨ THƯ HỮU


VÀI DÒNG VỀ CUỐN

“ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP (HỒI ỨC)

- INDOCHINE FRANCAISE (SOUVENIRS)”

của tác giả PAUL DOUMER

Là người đã đọc khá nhiều cuốn sách của các tác giả thuộc địa, viết về Đông Dương thời Pháp thuộc, tôi thấy cuốn này là một trong những cuốn hay nhất, nên hôm nay, khi có nó trong tay, tôi có đọc lướt qua và có mấy dòng giới thiệu nó với các quý độc giả mà tôi coi như những thân hữu, cho dù chưa hề quen biết nhau, vì với tôi, mọi độc giả yêu thích đọc sách… đều là các thân hữu.

Trước khi giới thiệu một cách chi tiết cuốn quý thư, tôi xin có vài lời về tác giả Paul Doumer. Ông sinh năm 1857 và mất năm 1932, và là Toàn Quyền Đông Dương từ năm 1897 tới năm 1902. Sau đó ông, từng là Tổng Thống Pháp từ năm 1931 cho tới ngày 7-5-1932 khi ông bị ám sát chết. Ngày 6-5-1932, tại khách sạn Salomon de Rothchild ở Ba Lê, ông bị một sát thủ phát xít người Nga tên là Pavel Gorgoulov hạ sát và qua đời vào sáng hôm sau, ngày 7-5-1932. Tên sát nhân sau đó bị xử tử. Vì xuất thân là người con nhà nghèo, và đã có lúc làm thợ, ông đã kể lại những hồi ức một cách giản dị, chân thật, nhưng không kém phần sâu sắc, khác hẳn với các tác giả thuộc địa khác. Đặc biệt là văn phong của ông rất giản dị và không hề có hơi hướm hách dịch, coi thường người dân bản xứ.

Cuốn sách khổ 22x30, dày 421 trang, bìa cứng, ba cạnh mạ vàng vàng chóe, được xuất bản trong thời gian từ 1905 tới 1910, và gồm có 156 minh họa trong sách và 12 hình vẽ nguyên trang.


Sách được chia ra làm 7 chương như sau đây:

Từ trang 1 tới trang 8 là Lời nói đầu của sách.

Chương 1. Từ trang 9 - 37 nói về chuyến đi của tác giả sách từ Ba Lê tới Sài Gòn.

Chương 2. Từ trang 38 - 54 nói về “Một cái nhìn tổng quát về xứ Đông Dương”.

Chương 3. Từ trang 55 - 97 nói về Nam Kỳ, trang này là một kho tài liệu về Nam Kỳ vào thời điểm đó.

Chương 4. Từ trang 98 - 166 nói về Bắc Kỳ, nội dung là một kho tài liệu về Bắc Kỳ vào thời điểm đó.

Chương 5. Từ trang 167 - 236 nói về Trung Kỳ và cũng có nội dung phong phú dễ thương và chính xác như hai chương trên. Tóm lại đây là 3 chương nói về nước ta đáng quan tâm nhất trong sách.

Chương 6. Từ trang 237 - 309 nói về Cam Bốt và Lào, cũng chứa đựng rất nhiều tài liệu phong phú về hai nước nói trên.

Chương 7. Từ trang 310 - 418 nói về sự phát triển của Đông Dương, và cũng cung cấp thật nhiều chi tiết về thực trạng Đông Dương vào thời điểm đó.

Toàn bộ 156 minh họa và 12 minh họa nguyên trang, được đăng trong cả 7 chương đều bằng bút sắt cực đẹp và mô tả đủ mọi lãnh vực sinh hoạt của các nơi chốn trên. Đây là một cuốn sách đáng được coi là có giá trị, và thuộc hàng đầu trong mấy ngàn cuốn sách của các tác giả thuộc địa, và người viết rất vui khi được giới thiệu nó với quý độc giả.

Hồi ký 60 năm chơi sách, Chương VI

VŨ ANH TUẤN


NHỮNG SUY NGHĨ VẨN VƠ

TẬP 2

(tiếp theo số 157)

- Đức tin.

Có một mẩu chuyện liên quan tới nhà khoa học Newton (người Anh, 1643-1727). Ông đã thiết kế được một mô hình Thái Dương hệ tuyệt đẹp trong phòng, một hôm ông bạn không tin Sáng Thế tới thăm, khen ngợi hết mình và hỏi ở đâu ra vậy? Newton mỉm cười trả lời “ Tự nhiên nó có đấy!. Ông bạn “ Tôi không thể tin được!. Newton nhìn bạn, cười ngất… “ Thế sao cậu lại tin vũ trụ tự mình mà có?

Nếu so sánh hai niềm tin: Một là tin Đức Chúa Trời tạo thành muôn vật, hai là tin vật chất tạo thành vạn vật, thì đối với tôi, tin Chúa Trời vẫn có lý hơn vì Ngài là một Ngôi vị toàn năng toàn trí, còn vật chất vô hồn, vô ngã, vô sinh, vô quyền lực thì làm sao có thể sắp xếp được công trình kỳ diệu với những định luật (kể cả luật tiến hóa) kỳ diệu như ta thấy ngày nay: Ở đâu có luật thì ở đấy phải có người làm ra luật, luật càng tinh vi kỳ diệu thì người làm ra luật phải cực kỳ thông minh, người ngu đã chẳng làm ra được luật chính xác huống hồ vật chất vô ngã, vô tri, vô giác làm sao tạo ra được luật pháp? Thế nhưng những người phủ nhận Đấng sáng tạo vẫn cho rằng “ không thấy Chúa mà tin có Chúa là mơ hồ. Để trả lời, chúng ta hãy nghe linh mục Piô Ngô Phúc Hậu ở vùng sâu vùng xa tuốt mũi Cà Mau, kể chuyện trong “Bài Giảng Chúa Nhật” số tháng 5/2009, trang 97-101:

“Mình mở lớp giáo lý dành cho người chỉ tầm đạo chứ chưa muốn theo đạo. Bài đầu tiên là ‘ Có Thiên Chúa và Thiên Chúa là Cha của chúng ta. Tay thì vẽ tranh. Miệng thì thuyết minh. Tay và miệng như hai dòng nước cứ cuồn cuộn chảy. Thính giả cứ trợn mắt mà dòm, cứ vểnh tai mà nghe. Quá đã! Bỗng có một ông xồn xồn giơ tay chặn họng mình:

- Không thấy Chúa mà tin có Chúa là mơ hồ.

- Rất đúng, nhưng chưa phải là duy nhất đúng.

- Tại sao?

- Xét về một mặt nào đó, thì câu nói của anh là tuyệt vời. Nhưng xét về mặt khác, thì câu nói ấy chả đúng tí nào.

- Xin Linh mục nói rõ hơn.

- Câu nói của anh là tuyệt vời, vì chúng ta đang sống trong một thế giới đầy sự gian dối. Ông cha chúng ta đã phải thốt lên rằng: “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo”. Quả vậy gian dối tràn lan từ vua chúa quan quyền cho đến hàng lê thứ.

· Người làm chính trị nói dối để củng cố địa vị. Tào Tháo là mẫu người tiêu biểu vào hạng nhất.

· Nhà quân sự có thể dùng người đẹp để chuyển trái bom giết người đến cho đối phương.

· Người làm thương mại chú tâm tạo mẫu mã hấp dẫn để thu hút khách hàng hơn là tăng giá trị của phẩm chất. Đó cũng là một cách gian dối.

· Vợ chồng yêu nhau là thế: “ Ta với mình tuy hai mà một ”, vậy mà cũng giấu giếm nhau. Chồng có vợ bé mà cứ thề độc: “ Tôi mà có vợ bé thì bà Thủy bắt tôi, xe hủ lô cán tôi Vợ xúc lúa một bồ đem bán lấy tiền để ghi số đề, chồng thắc mắc: “ Tại sao bồ lúa nhà mình mau vơi thế? ”, thì vợ trả lời tỉnh queo: “ Biết đâu à ”.

· Báo chí là tiếng nói đáng tin cậy như thế, vậy mà vẫn bị bia miệng chế giễu: “ Nhà báo nói láo ăn tiền.

Sống ở một xã hội đầy gian dối như thế thì ai cả tin là bị lừa ngay. Bởi vậy, khi chưa thấy, thì cứ để đấy, đừng vội tin. Lập trường ấy là khôn ngoan tuyệt vời.

Nhưng xét về mặt khác, thì câu nói của anh chả đúng tí nào.

- Không dám đâu. Linh mục phải phân tích cụ thể, thì tôi mới chịu.

- Đồng ý. Tôi sẽ nói chuyện khoa học, rồi tôi sẽ dẫn chứng bằng đời sống thực tế.

· Khoa học khẳng định rằng: “ Vật chất không thể tự hữu ”. Nếu vậy thì vật chất hiện hữu phải xuất phát từ một siêu vật chất. Siêu vật chất ấy ở ngoài tầm tay của khoa học.

Khoa học chỉ làm việc với những gì có thể cân, đo, đong, đếm. Mà những cái “cân - đo - đong - đếm” ấy khoa học đã xác nhận là nó không thể tự hữu. Vậy nếu ta bảo cái siêu vật chất ấy là Chúa thì chẳng có gì là mơ hồ. Khoa học không thể phủ nhận ý kiến ấy, vì nó ở ngoài tầm tay của khoa học.

· Chuyện đời thường cho phép ta tin khi ta không thấy.

Anh ngồi ở đây. Tôi thấy. Tôi tin có anh. Nhưng tôi không thấy cha của anh. Dù vậy tôi vẫn có quyền khẳng định rằng anh có cha. Không những thế, tôi còn biết rõ cha anh là đàn ông, mà không cần dựa trên bất cứ tài liệu nào.

Trong phòng lớp này có bàn, ghế, bảng, đèn điện, quạt điện. Ai làm ra những thứ này, thì ta không thấy. Nhưng chẳng ai trong chúng ta dám bảo rằng: “ Chẳng có ai làm ra chúng. Nếu có ai đòi thấy tác giả đã rồi mới dám tin, bàn ghế do thợ mộc đóng, đèn điện và quạt điện do thợ nào đó lắp ráp, thì e rằng người ấy không bình thường.

Câu nói lỡ miệng của mình làm cho bầu khí lớp học trở nên căng thẳng, mình vội lái sang chuyện tiếu lâm:

“Khi chưa có siêu âm, cô y tá hộ sản phải dòm cái ‘ấy’ của đứa bé sơ sinh, rồi mới chạy ra hành lang báo tin cho thân nhân của bé đang nôn nóng chờ đợi: ‘con trai… con gái’.

Dòm và thấy trong trường hợp này là rất khoa học, rất chính xác.

Nhưng nếu ông thanh tra giáo dục hỏi thầy cô đứng lớp rằng: Tỉ lệ trai gái trong lớp này chênh lệch bao nhiêu, thì thầy cô khỏi cần dòm, khỏi cần thấy cái ‘ấy’ của các em, để trả lời cho ông thanh tra một cách khoa học và chính xác. Thầy cô cứ căn cứ trên giấy Khai sinh mà trả lời. Chính anh công an xã khi làm giấy Khai sinh, đến mục giới tính, anh cũng chỉ tin cha mẹ của bé, chứ không cần “dòm và thấy”.

(còn tiếp)

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết

(Tổng hợp nguồn báo chí và các phương tiện truyền thông)

QUY TRÌNH TU HÀNH

theo CHÁNH PHÁP

của ĐẠO PHẬT

(tiếp theo số 157 và hết)

2.17 . 32 TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT

Kinh dạy: Muốn thành một vị Phật hoàn chỉnh thì phải đủ 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp. Nhưng nếu đọc kỹ từng TƯỚNG, thì ta sẽ thấy đó chỉ là một số việc cần làm với Ông bà, Cha mẹ, Thầy, bạn và mọi người chung quanh. Mỗi việc tượng trưng cho Một TƯỚNG CỦA PHẬT.

“Mỗi một TƯỚNG TỐT đều là kết quả của sự tu diệu hạnh của Bồ Tát từ lúc mới phát tâm Bồ Đề kiên cố cho đến khi được thành Đạo Vô Thượng Bồ Đề”.

Như Lai đã từng trong vô lượng A Tăng kỳ kiếp dốc lòng tu trì Tịnh Giới, cho nên nay mới được cái TƯỚNG BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG.

Nhờ sự cúng dàng cha mẹ, Hòa Thượng, Sư Trưởng và các bậc có đức , cho nên được TƯỚNG NGHÌN XOÁY ỐC DƯỚI BÀN CHÂN.

Đối với Chúng Sinh không mang lòng làm hại, không có ý tưởng cưỡng đoạt, hễ thấy cha mẹ, Hòa Thượng, Sư Trưởng và những bậc có đức thì ra xa đến chào, sửa đặt tòa ngồi, cung kính lễ bái, dẹp bỏ lòng kiêu mạn , nhờ thế mà nay được TƯỚNG NGÓN TAY DÀI VÀ NHỎ.

Có đủ ba hạnh kể trên , nên được TƯỚNG GÓT CHÂN ĐẦY ĐẶN.

Nhờ dùng Tứ Nhiếp Pháp giúp đỡ Chúng Sinh, nên được TƯỚNG NGÓN TAY CÓ NHIỀU VÂN.

Dùng các thứ dầu thơm tắm gội cho cha mẹ, Sư Trưởng và các bậc có đức , nhờ thế mà được TƯỚNG CHÂN TAY MỀM MẠI.

Nhờ tu tập các pháp lành không biết chán mỏi nên được TƯỚNG BỤNG TRÒN ĐẦY ĐẶN.

Nghe pháp vui vẻ, thích nói lại cho người khác nghe và ưa làm việc đạo , nhờ thế mà được TƯỚNG MẮT CÁ CHÂN BẰNG PHẲNG.

Nhờ Ba Nghiệp thanh tịnh, khám bệnh cho thuốc, phá trừ lòng kiêu ngạo, ăn uống có chừng mực, nên được TƯỚNG TAY DÀI BẰNG GỐI.

Thấy người ta chia rẽ, dùng lời nói khéo cho người ta đoàn tụ với nhau, biết tự tu tự hổ thẹn, lại dạy người tu, nhờ thế được TƯỚNG NĂM CĂN ẨN KÍN.

Tự mình tu sạch Ba Nghiệp, lại dạy người khác tu. Nếu Chúng Sinh nào đau ốm thì tìm cách chạy chữa , như thế mà được TƯỚNG THÂN MÌNH TRÒN LẲN.

Nhờ lòng vui vẻ nghe pháp, lại hay nói lại cho người khác nghe mà được TƯỚNG LÔNG TRÊN MÌNH ĐỀU HƯỚNG LÊN PHÍA TRÊN.

Suy nghĩ ý nghĩa sâu xa của các pháp, cứ tu các pháp lành, cúng dàng cha mẹ, Sư Trưởng và những bậc có đức, nếu đi dọc đường gặp Pháp hoặc Tăng Phường đề u cúng dàng. Giữa đường nếu có gạch đá, gai góc hay vật bẩn thỉu thì dọn đi, nhờ thế mà được TƯỚNG LÔNG TRÊN MÌNH ĐỀU XOÁY VỀ BÊN PHẢI.

Nếu đem đồ ăn hoặc đồ châu báu cho người thì không bao giờ sinh lòng sân hận , nhờ thế mà được hai tướng: MỘT LÀ SẮC VÀNG, HAI LÀ THƯỜNG CÓ ÁNH SÁNG VÀ LẠI ĐƯỢC TƯỚNG DA MỊN MÀNG, KHÔNG BỊ DÍNH BỤI NHƠ.

Thường giúp cho người những thứ cần dùng , nhờ thế mà được TƯỚNG NỬA MÌNH TRÊN NHƯ MÌNH SƯ TỬ, TƯỚNG CÁNH TAY TRÒN LẲN VÀ TƯỚNG XƯƠNG NGỰC BẰNG PHẲNG, TƯỚNG NGÓN TAY NHỎ VÀ THÂN MÌNH ĐẦY DẶN.

Nhờ không nói lưỡi hai chiều và làm cho những người tranh giành phải hòa thuận mà được TƯỚNG CÓ ĐỦ 40 RĂNG, TƯỚNG RĂNG KHÍT KHÔNG HỞ KẼ, TƯỚNG RĂNG BẰNG NHAU, ĐỀU ĐẶN.

Nhờ tu các Nghiệp Từ Bi, thiện lạc mà được TƯỚNG RĂNG TRẮNG NHƯ NGÀ.

Thấy người thiếu thốn, vui vẻ giúp đỡ, đón đưa , nhờ thế mà được TƯỚNG HÀM VUÔNG NHƯ HÀM SƯ TỬ. Coi hết thảy Chúng Sinh như con một, vì thế mà được TƯỚNG ĂN THỨC GÌ CŨNG THẤY MÙI VỊ THƯỢNG HẢO.

Thường hay Bố Thí Chúng sinh pháp vị vô thượng. Gặp người hay quên thì cho trí nhớ. Tự mình giữ Năm Giới , lại dạy cho người cùng giữ. Tu tập lòng Từ. Hay bố thí Pháp cho mọi người. Nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG NHỤC KẾ, TƯỚNG LƯỠI DÀI, RỘNG.

Cứ như thực mà nói pháp cho mọi người vui mừng, nói những lời êm ái, dịu dàng, không đúng giờ không nói , do đó mà được TƯỚNG TIẾNG PHẠM ÂM.

Chứa góp lòng thương, coi hết thảy Chúng Sinh như cha mẹ , nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG SẮC MẮT XANH BIẾC VÀ TƯỚNG MẮT NHƯ MẮT NGƯU VƯƠNG.

Thấy những người có đức thành thật tán thán , do đó mà được TƯỚNG BẠCH HÀO.

Đó là BA MƯƠI HAI TƯỚNG. Tuy có những nhân duyên khác nhau, nhưng nhân duyên chính là cái nhân “Trì Giới” và “Tinh Tiến ”. Tại sao vậy? Vì nếu không chịu Trì Giới và siêng tu Tinh Tiến thì đến thân người còn chẳng được làm, nói chi đến BA MƯƠI HAI TƯỚNG!

Lại nữa, phàm đã làm việc thì lòng nhất định không hối hận, nhờ thế mà được TƯỚNG BÀN CHÂN BẰNG PHẲNG, và khi làm việc thì dốc lòng làm, do đó mà được TƯỚNG NGHÌN XOÁY ỐC DƯỚI BÀN CHÂN, TƯỚNG NGÓN TAY CÓ NHIỀU VÂN, TƯỚNG BẢY CHỖ BẰNG PHẲNG, TƯỚNG CÓ DA MỊN MÀNG, TƯỚNG THÂN THẲNG VÀ TRÒN, TƯỚNG LƯỠI DÀI RỘNG. Thường tu các pháp Thập Thiện và dạy người khác tu, cho nên được TƯỚNG NGÓN TAY DÀI, NHỎ, TUỚNG TAY DÀI CHẤM GỐI, TƯỚNG THƯỜNG PHÁT RA ÁNH SÁNG CÁCH XA TÁM THƯỚC và TƯỚNG RĂNG KHÍT, KHÔNG THƯA HỞ. Nhờ công phu tu sạch ba Nghiệp nên được CÁC TƯỚNG khác.

Lại nữa, đối với chúng sanh sinh tâm thuần thiện, nhờ nhân duyên ấy được TƯỚNG TAY CHÂN MỀM MẠI, DA THỊT MỊN MÀNG, BỤI NHƠ KHÔNG BÁM. Vì theo thứ lớp và thời tiết mà tu tập các pháp lành, cho nên được TƯỚNG THỨ HAI, THỨ BA và THỨ TƯ. Ưa làm điều lành, lòng không chán nản, nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG THÂN SẮC VÀNG, TƯỚNG THÂN TRONG SÁNG; TƯỚNG RẮNG TRẮNG, TƯỚNG GIỮA KHOẢNG LÔNG MI CÓ SỢI LÔNG TRẮNG. Nếu nghe người ta ca ngợi đức tính của mình, không sinh lòng kiêu mạn, dấu diếm việc lành không cho người khác biết, nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG MÃ TÀNG.

Phàm tu các việc lành đều hồi hướng cho Đạo Bồ Đề , vì thế mà được TƯỚNG LÔNG TRONG MÌNH ĐỀU XOAY THEO BÊN PHẢI, TƯỚNG TRONG MIỆNG CÓ 40 CHIẾC RĂNG, TƯỚNG KHI ĂN THẤY MÙI VỊ THƯỢNG HẢO.

Nhờ nhân duyên siêng tu tinh tiến nên được TƯỚNG HÀM VUÔNG NHƯ HÀM SƯ TỬ, TƯỚNG NỬA MÌNH TRÊN NHƯ MÌNH SƯ TỬ

Dốc lòng thương nhớ hết thảy Chúng Sinh như mẹ thương con , nhờ nhân duyên ấy mà được TƯỚNG RĂNG NHỎ VÀ BẰNG PHẲNG, TƯỚNG MẮT XANH BIẾC NHƯ MẮT NGƯU VƯƠNG. Nhờ tu tập các pháp lành không biết chán nản cho nên được các TƯỚNG KHÁC.

Các bậc Bồ Tát khi y vào tịnh hạnh mà tu 32 TƯỚNG TỐT, khi các Nghiệp đã được thanh tịnh, tuy có 32 TƯỚNG TỐT như thế nhưng chưa đầy đủ, chưa được hoàn toàn trong sáng. Bồ Tát còn phải tu theo Mười Ba Hạnh để thấu suốt đầy đủ hết thảy Pháp của Phật. Trong vô lượng Tướng, Chúng Sinh không giống nhau, có Thượng, Trung và Hạ không thể nghĩ bàn. Bởi thế Phật nói: Trong 32 Tướng đem công đức tích góp lại của hết thảy Chúng Sinh mà so sánh thì mới chỉ bằng cái TƯỚNG MẢY LÔNG CỦA NHƯ LAI. Hết thảy các lỗ chân lông đều có công đức, chứa góp, hòa hợp mà thành MỘT VẺ ĐẸP, rồi tập hợp CÔNG ĐỨC CỦA 80 VẺ ĐẸP TĂNG GẤP TRĂM LẦN MỚI THÀNH MỘT TƯỚNG. Duy hai TƯỚNG BẠCH HÀO VÀ NHỤC KẾ thì phải tập hợp hết thảy CÁC TƯỚNG KHÁC, TĂNG ĐẾN NGHÌN LẦN MỚI THÀNH HAI TƯỚNG ĐÓ. Bởi đem hòa hợp hết thảy công đức, đem công đức của 32 TƯỚNG TỐT và 80 VẺ ĐẸP TĂNG LÊN NGHÌN VẠN ỨC LẦN MỚI THÀNH ĐƯỢC CÁI TƯỚNG LÔI ÂM CỦA NHƯ LAI mà âm vang xa thẳm đến vô lượng vô biên thế giới của Chư Phật nhiều như vi trần cũng đều nghe thấy. Vì làm lợi ích cho Chúng Sinh mà Bồ Tát tu hạnh Đại Từ Bi, nhớ ơn, đền ơn, tu tập các pháp sâu xa màu nhiệm khó thể nghĩ bàn và các tướng tốt vi diệu như thế. Trong mỗi TƯỚNG có thể làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn vạn ức Chúng Sinh, khiến cho đều mở lòng Bồ Đề, lần lượt tu tập đầy đủ công đức cho thành được 32 Tướng tốt đẹp. Khi có đủ các Tướng tốt đẹp rồi đều khiến đi đến gốc cây Bồ Đề hàng phục ma quân, chứng thành Phật Quả, quay bánh xe pháp, độ cho Chúng Sinh qua khỏi bể khổ, ngu si, sinh tử mà lên bờ giác ngộ, Giải Thoát yên vui để thành tựu công việc lợi ích cho hết thảy Chúng Sinh”. (Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân).

Qua những công việc được cho là người tu cần phải làm để có được những TƯỚNG TỐT, VẺ ĐẸP của Phật, ta thấy Đạo Phật đâu có chê cuộc đời là ô trược? đâu có kêu người tu bỏ đời? Trái lại còn dạy người tu phải xây dựng cuộc đời qua yêu cầu phải Đền Tứ Ân và cách ứng xử với mọi người trong cuộc sống để có được những TƯỚNG TỐT bằng cách: Giữ Giới, tu Thập Thiện, hành Thiện Nghiệp, đối xử tốt với Ông, bà, cha mẹ, Sư Trưởng và mọi người chung quanh. Yêu thương Chúng Sinh, Giúp đỡ mọi người, không gây chia rẽ, lại nói lời làm cho mọi người hòa thuận với nhau, không kiêu mạn, nói lời êm ái, dịu dàng, Đại Từ, Đại Bi, nhớ ơn, đền ơn. Đặc biệt nhấn mạnh là: “Tuy có những nhân duyên khác nhau, nhưng nhân duyên chính là cái nhân “Trì Giới” và “Tinh Tiến”. Vì nếu không chịu Trì Giới và Tinh Tiến thì đến thân người còn chẳng được làm, nói chi đến BA MƯƠI HAI TƯỚNG”.

Tất cả các Tướng đó đều do những việc làm mà mỗi người tu thực hiện để có. Tướng như thế thì làm sao có thể phù hộ, độ trì, ban ơn, giáng phúc cho ai được? Vậy thì ta nghĩ sao khi mang ra để chạm khắc lên vàng, bạc, xi măng, gỗ, đá v.v... thành ra pho Tượng để thờ, để cầu xin?

Tu Phật là để được Giải Thoát khỏi những nỗi Khổ của kiếp sống. Cái Giải Thoát được Phật ví như Hoa Sen, vẫn ở ngay trong bùn, mà không bị bùn làm cho ô nhiễm. Sen không sợ bùn, không phải xa lánh bùn, không bứng đi trồng vào chậu nước tinh khiết. Người tu Phật cũng vậy, phải sống giữa trần gian với muôn vàn đau khổ, động loạn mà vẫn an ổn nhờ điều chỉnh cái Tâm. Ta nghĩ sao khi chê cuộc đời là ô trược, rồi bỏ lên non cao, động vắng, hay vô Chùa tránh tiếp xúc với thế nhân, mà hàng ngày vẫn sử dụng những sản phẩm của cuộc đời, từ hạt gạo, ngọn rau, cho tới y phục, tọa cụ, thuốc men, phương tiện… liệu có phải là mâu thuẫn lắm không? Hơn nữa, không có đối đầu, thử thách để chiến thắng các Pháp, thì sao gọi là “Chiến đấu thắng Phật”?

Lục Tổ Huệ Năng đã khẳng định: “Phật Pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác”, có nghĩa là muốn tìm Giải Thoát thì phải ở ngay chính trong cảnh ràng buộc. Thế gian là chốn ràng buộc, đau khổ. Muốn Thoát Khổ, Thoát ràng buộc, thì ở ngay chỗ bị ràng buộc, đau khổ, vì nơi đó mới cần tháo gỡ. Đang Khổ mà Thoát được Khổ mới có giá trị. Do đó, Lục Tổ nói tiếp: “Ly thế mịch Bồ Đề. Cáp như cầm thố giác”. Có nghĩa là rời thế gian mà đi tìm Giải Thoát thì cũng giống như đi tìm sừng thỏ. Thỏ thì không có sừng. Ở chỗ nỗi Khổ không chạm tới thì cần gì phải Thoát? Và tránh Khổ, né Khổ sao gọi là Thoát Khổ?

Mỗi việc cần làm trong Đạo Phật đều có nguyên do chính đáng, và tùy thời, tùy lúc. Về việc người Xuất Gia phải tập trung vô Chùa, không được tham gia việc đời, kể cả việc mưu sinh cho bản thân, chờ bá tánh cung dưỡng cho để tu hành chỉ đúng vào thời Phật mới lập Đạo. Đúng thế. Sở dĩ ngày xưa những Đại Đệ Tử của Phật phải tập trung với nhau ở một nơi, trước hết là để giữ gìn nhau. Sau đó là vì đó là thời điểm mới lập Đạo, cần một lực lượng nòng cốt để tương lai phổ biến Đạo. Nhưng vì thời đó chưa có chữ viết để ghi lại thành văn bản, cho nên các Đại Đệ Tử của Phật phải học thuộc lòng những lời Phật giảng, trong tương lai giảng lại. Vì thế, họ cần tập trung, phải bỏ hết việc đời, không được bận bịu gia đình, vợ con, để toàn tâm toàn ý nghe giảng và ghi nhớ. Chính vì vậy, Phật phương tiện kêu gọi những Cư Sĩ lo cung cấp thực phẩm cho họ đủ dùng để họ yên tâm tu học, bằng cách nói rằng: “Cúng dường cho người tu hành thì sẽ được phước báo vô lượng”, hay “phước báo trả lại gấp trăm, nghìn lần”.

Nhưng từ sau khi Phật nhập diệt khoảng 200 năm thì đã có chữ viết. Những lời Phật dạy được in lại thành Kinh, thì việc bỏ đời, không tham gia việc đời trở thành phí phạm kiếp sống và thiếu trách nhiệm với cuộc đời. Người tu đâu có thiếu tài liệu để tham khảo? Thậm chí Kinh Sách còn được gọi là “Thiên Kinh vạn quyển”. Ở đâu cũng có. Muốn thỉnh bao nhiêu tùy thích. Thậm chí gõ trên mạng cũng đầy dẫy, đâu cần phải học thuộc lòng và ghi nhớ, mà phải bỏ hết mọi việc?

Lý do cần Phát tâm theo Đạo Phật và những việc phải làm gọi là tu hành mà tôi đúc kết từ rất nhiều Bộ Kinh như Kim Cang, Viên Giác, Hoa Nghiêm, Bát Nhã Tâm Kinh, Duy Ma Cật, Sáu Cửa vào Động Thiếu Thất, Pháp Bảo Đàn Kinh, Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bát Niết Bàn, Lăng Nghiêm, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Tâm Địa Quán, Kinh Kiến Chính, Kinh Thắng Man, Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Phạm Võng, Kinh Hiển Thức, Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni, Kinh Nhân Vương Hộ Quốc, Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Pháp Cú… rất là đơn giản như sau:

Con người, khi đã sinh ra, có mặt trong cuộc đời là phải Sống cho đến hết kiếp. Trong kiếp sống, vì không hiểu rằng cái Thân không phải là họ, vật chất là tạm bợ, không bền, nên họ quay cuồng theo cuộc sống, đấu tranh, giành giật nhau để có, mà phục vụ cho cái Thân, do đó không ngừng tạo Nghiệp. Do Nhân Quả của việc tạo Nghiệp mà phải tái sinh để Trả những gì đã Vay gọi là Luân Hồi. Người Phát Tâm Tu hành là người đã ý thức rõ cuộc đời là giả tạm, cái Thân không trường tồn. Biết rằng tạo Nghiệp thì phải trả. Tin chắc rằng gieo Nhân thì phải gặt Quả. Vì vậy, họ nương hướng dẫn của Đạo Phật để vẫn tiếp tục sống trong cuộc đời mà không để cho dòng đời lôi cuốn họ vào Danh, Lợi, một cách bất chính. Không để cho vật chất hấp dẫn để cho Tham, Sân, Si nổi lên kéo tạo ác nghiệp. Họ cũng nương lời Phật dạy để tin rằng Cái Thân này không phải thật sự là họ, nên dấn thân đi tìm cái TA THẬT, hay THẬT MÌNH. Biết rằng thủ phạm của mọi sai lầm là Cái Vọng Tâm, nên công năng tu tập của họ là tìm nó, gặp được rồi thì khống chế nó, điều phục hay chuyển hóa nó để nó không còn dắt cái Thân đi tạo Ác Nghiệp, trái lại hành những Thiện Nghiệp để cho kiếp sống được an ổn và kiếp sau cũng không phải đọa.

Có thể dùng một thí dụ cho dễ hiểu là có một căn nhà nhưng chủ đi vắng, có tên khách lạ nào đó đến chiếm ngụ và kéo thêm đồng bọn lưu manh đến phá phách, bày bừa, làm cho nhà trở thành ô uế. Khi chủ trở về rồi, thì dẹp bọn xấu đi, sắp xếp mọi thứ lại để nhà trở lại trật tự, ngăn nắp, sạch sẽ, không còn bừa bộn như xưa rồi sử dụng. Hoặc Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dùng thí dụ là căn nhà đang cháy, sắp sập, nếu người ở trong đó không chạy ra thì phải bị lửa đốt cháy. Đó là nói về Căn Nhà Ngũ Uẩn mà mọi người đang trú ngụ trong đó. Từng sát na bị lửa Tham, Sân, Si thiêu đốt. Nếu ta không tỉnh táo để chạy ra thì sẽ phải chết cùng cái Thân khi nó hết thời hạn phải tan rã.

Nhưng “chạy ra” không phải là bỏ mặc cái Thân, hay hủy cái Thân đi, mà chỉ cần dập tắt Lửa Tham Sân Si là ta sẽ được yên ổn, tiếp tục sống trong ngôi nhà đó cho đến hết kiếp. Không phải như người Y Ngữ giải thích là bỏ nhà thế gian để vô Chùa! Bởi khi chưa tu hành thì cái Thân là oán tặc, vì làm bao nhiêu việc ác để ta phải luân hồi mà trả. Nhưng khi tu hành rồi, thì chính nó là ân nhân đưa ta đến cứu cánh Giải Thoát. Nhờ có Mắt mà ta đọc được những lời khuyên dạy của Phật, của Tổ và Chư Vị Giác Ngộ. Nhờ có Tai mà ta nghe được những lời dạy của các bậc Thầy. Nhờ có cái Thân mà ta có cuộc sống và làm biết bao điều tốt đẹp. Cho nên Phật dạy người tu Phật không chê bỏ cái Thân, không bỏ bê nó hoặc để cho nó sống dật dờ, chờ chết, vì kiếp sống tuy nói rằng ngắn ngủi nhưng cũng kéo dài cả trăm năm, thời gian đó con người có thể làm được nhiều việc tốt cho xã hội, cho mọi người, cho bản thân, dùng đó để tu hành, Giải Thoát. Phật dạy người tu nên xem nó như thây ma mà người đắm tàu giữa biển ôm lấy nó để bơi qua sông Sinh Tử.

Nhiều người đã biện minh cho việc đúc nhiều tượng Phật cho to là để cho bá tánh nhìn thấy rồi phát tâm tu hành. Việc dùng hình tướng Cạo Tóc, Đắp Y, Mang Bát cũng được giải thích là: “Dụng tướng tầm chân”. Thật ra, cái Chân chính là ý nghĩa của hình tướng đã được giải thích trong Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN:

Xuất Gia là RA KHỎI NHÀ LỬA TAM GIỚI.

Cạo tóc là CẠO SẠCH PHIỀN NÃO.

Đắp Y là GIỮ CHO THÂN, TÂM THANH TỊNH, KHÔNG NHUỐM SẮC TRẦN.

KHẤT THỰC là đi xin Pháp Thực để nuôi Huệ mạng, không phải là đi xin cơm trần tục để nuôi Thân Phàm.

Kể cả việc Xây Chùa, Đúc Tượng cũng đều là những việc cần thực hiện ở nơi Tâm. Do vậy, hình tướng đâu còn cần thiết nữa. Có vậy Đạo Phật mới không bị hạn chế và phổ biến đến mọi tầng lớp như mong mỏi của Đức Thích Ca được.

Việc tu hành thì không ai có thể tu giùm ai. Phật không phải là Thần Linh để chúng ta cầu nguyện gia hộ cho người khác để Trả Ân được, thì việc bắt người khác cung dưỡng cho mình nhàn thân tu hành là mắc nợ Nhân Quả. Không trả kiếp này thì cũng kiếp khác, không tránh khỏi. Không phải là Đạo Phật không nhắc nhở người tu. Đọc Quy Sơn Cảnh sách hay Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, ta sẽ thấy trong đó nói về Nhân Quả của những người lợi dụng hình tướng tu hành để hưởng thụ của bá tánh cúng dường. Do đó, người ý thức Nhân Quả sẽ không dám coi thường.

Do kết quả tu hành là “ai tu nấy đắc”, nên dù có tu hành nghiêm chỉnh mà thọ dụng của người là vẫn không thoát được Nhân Quả. Phật không có quyền cho phép hay gánh vác Nhân Quả thế cho ai được. Và chúng ta nên biết là khi ta làm tội, gây Nghiệp, thì người chịu trách nhiệm là chính bản thân ta.

Việc Sám Hối được hiểu như sau: Khi ta gây tội hay Tạo Nghiệp thì chính bản thân ta là người phải chịu hậu quả, không phải Phật nào khác. Vì thế ta không có gì phải Sám Hối với Phật để xin tha thứ, mà phải Sám Hối với chính Bản Thể Tâm của mình, vì ta đã bôi bẩn Phật của chính mình, không thể làm tổn hại Phật của ai khác.

Thế nhưng, từ xa xưa, nhiều Tu Sĩ do chưa Chứng Đắc, chưa hiểu hết về Đạo Phật đã họ đã quá quan trọng hóa công việc tu hành, đề cao vai trò của Tu Sĩ, nên tách Phật tử ra làm hai nhóm: Một nhóm là Tu Sĩ, mang đầy đủ sắc phục, hình tướng của những Đệ Tử của Phật thời trước, tập trung cùng nhau, cư ngụ trong Chùa chuyên tâm tu hành và Giảng Pháp để quảng bá Đạo Phật, và số đông còn lại là Phật Tử, chỉ cung dưỡng cho Tu Sĩ để được nghe giảng Pháp. Họ cho rằng chỉ Tu Sĩ thanh tịnh mới đắc đạo được, còn những Cư Sĩ, do có vợ con và tham gia việc đời thì không thanh tịnh nên không thể tu hành đắc đạo được. Họ quên rằng thanh tịnh hay không là do nơi cái Tâm, không phải do hình tướng hay không tham gia việc đời. Trái lại, Đạo Phật còn dặn dò người tu còn cần phải đóng góp cho xã hội để trả ơn cho cuộc đời bằng Tứ Ân. TU chỉ có một nghĩa là SỬA. Ai chịu Sửa cái Tâm, cải ác, hành thiện, thì người đó chính là Tu Sĩ, Cái đầu, chiếc Y không nói lên được điều gì. Phật ngôn có câu: “Nếu chiếc áo Cà Sa có uy lực giải trừ Tham, Sân, Si thì cha mẹ hay người thân đứa bé chỉ cần khoác nó lên người khi đứa bé vừa chào đời là đã được toại nguyện”.

Đạo Phật theo đúng Chánh Pháp không vọng ngoại, không hình tướng, không Chùa chiền, bởi vì những thứ đó đều được thực hiện nơi Tâm của người tu. Do đó, nếu không muốn trở thành người “báng Phật, nhạo Pháp”, và có lỗi với cuộc đời và với chính bản thân, thì người tu cần đối chiếu những điều mình hiểu, hành với Chính Kinh xem có khế hợp hay không? Vì có đạt được mục đích tu hành hay không là do phần nội dung, không phải là ở những hình tướng đạo mạo, trang nghiêm bên ngoài.

Về những người đúc, tạc Tượng Phật và chuông mõ, hương khói để thờ được Kinh Kim Cang khẳng định đó là những người hành Tà Đạo qua Kệ:

“Ai nương sắc thấy ta

Dùng âm thanh để cầu ta

Kẻ đó hành tà đạo

Không thể thấy Như Lai”

Như Lai được tả là “Đến, đi không động”, nhưng không phải nói về sự di chuyển bằng thần thông, mà nói về sự thành tựu của người tu. Khi Pháp đến, Pháp đi, không còn bị động tâm, không bị lôi cuốn bởi các Pháp, không chạy theo các Pháp, cho nên “Thấy Như Lai” là như thế. Không phải là thấy Vị Phật Tổ Như Lai quyền uy trùm khắp... mà là bản thân người tu phải hành trì để chính mình trở thành Như Lai.

Để “Thành Như Lai” thì Kinh Viên Giác viết: “Đây là phương tiện đầu tiên tu hành của Hành giả, tức là Ba Pháp Quán (Chỉ, Quán, Chỉ Quán song tu). Nếu các chúng sanh tinh tấn siêng tu Ba Pháp Quán này được hoàn toàn tức là Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy” (Chương Phổ Giác, Kinh Viên Giác).

Tất nhiên không phải chỉ cần Quán, thấy được các Pháp mà đã thành Như Lai. Quán chỉ là giai đoạn TƯ, sau đó còn TU thì mới có kết quả được. Đó là sự nhầm lẫn của các Thiền Sinh ngày trước, khi khám phá ra được một Công Án nào đã vội cho mình không những thành Phật, còn cao hơn Phật! (Ngài Vô Môn, trong Vô Môn Quan).

Tu Phật là để Thành Phật. Thành Phật không phải là thành Thần Linh quyền phép vô song mà chi là thành tựu con đường Giải Thoát.

Để Thành Phật, Kinh Viên Giác có Kệ:

Nếu người đoạn Thương, Ghét

Cùng với Tham, Sân Si

Chẳng cần tu gì khác.

Cũng đều đặng Thành Phật

(Chương Di Lặc Bồ Tát, Kinh Viên Giác)

Chỉ cần trừ Tham, Sân, Si, Thương, Ghét là sẽ được Giải Thoát tức là Thành Phật. Do đó, Đạo Phật không phải chỉ dành riêng cho những người Xuất Gia, bởi Đạo Phật được đặt ra là vì con người, mục đích làm cho con người Thoát Khổ. Người nào muốn Thoát Khổ thì đều có thể hành theo, như một loại công thức điều chế mà ai nắm được và làm đúng quy trình đều thành công, không đòi hỏi điều kiện nào? Ở đâu? Độc thân hay có gia đình, mà bất cứ ai chịu tu sửa Thân, Tâm, không tiếp tục để cho Vô Minh điều khiển, chấp nhận Giữ Giới, sống trong Bát Chánh Đạo, Cải Ác, Hành Thiện thì người đó đã là Tu Sĩ. Việc tu hành không đòi hỏi hình tướng, sắc phục, nơi chốn, giờ giấc, mà cả đời sống, từng sát na đều phải tu sửa nếu muốn Giải Thoát, và Giải Thoát cũng có nghĩa là Phật, cho nên không cần phải thờ Phật nào khác.

Đồng ý rằng chúng ta tri ân Đức Thích Ca, vì đã mang Đạo Giải Thoát đến cho cuộc đời, nhưng không có gì phải đúc tượng, xây Chùa, để hẳn một lực lượng còn trẻ, còn sức để phụng sự Ngài, và phổ biến Đạo Pháp, mà mỗi người chúng ta cần phải thực hiện lòng biết ân đó bằng cách nương theo hướng dẫn của Ngài và Chư Vị Giác Ngộ để bản thân trở thành Phật. Đó mới là điều mong mỏi của vị sáng lập Đạo qua lời Kệ: “Xá Lợi Phất nên biết. Ta muốn tất cả chúng. Bằng như ta không khác” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa).

Kiểm điểm lại cuộc đời của con người chúng ta thấy không ra ngoài quy luật Sinh Lão Bệnh Tử. Kiếp sống thì ngắn ngủi không quá trăm năm mà chỉ vì tranh giành với nhau những vật chất để hưởng thụ, cung phụng cho cái Thân làm cho cuộc sống bất an. Nhưng dù sống một cuộc đời giàu sang tột bực rồi thì cuộc sống rồi sẽ qua đi, có giành cũng không mang theo được, thì tại sao không hạn chế lòng tham để bản thân, gia đình và mọi người chung quanh, giàu hay nghèo tùy phận của mình đều được sống trong an vui. Người đã được Giải Thoát không để cho Lợi, Suy, Hủy, Khen, Tán thán, Chê bai, Khổ, Vui... làm động tâm. Ngoài ra, khi đã hoàn tất cho mình rồi thì phải mồi ngọn “Vô tận Đăng”, để cho Chánh Pháp không dứt diệt.

Cuộc đời được cho là Bể Khổ hay là Bể trầm luân mà cả kiếp sống của con người cứ phải từng ngày bị dập vùi trong đó. Nhưng dù là cầu được Quả vị hay cầu Thoát Khổ mà phát tâm tu hành thì cuối cùng, nếu thực hành đúng, người tu Phật cũng sẽ đạt tới mục tiêu hết Khổ. Đó là kết quả cuối cùng mà người tu đạt được, không phải là Tứ Quả Thánh hay các Tây Phương Cực Lạc, Đông Phương Tịnh Quốc mà Đạo Phật hứa hẹn, vì đó chỉ là trâu gỗ, ngựa gỗ, lá dương vàng… cha mẹ đưa cho con đang khóc để dỗ cho nó nín. Chính vì con người quá ham mê vật chất, nên dù biết là Khổ mà không chịu buông bỏ, nên Đức Thích Ca phải vận dụng biết bao nhiêu Phương tiện nào là Quả Vị, Phật Quốc, Tây Phương Cực Lạc v.v... nhưng tất cả chỉ là giả cảnh của cha mẹ để dỗ cho con nín khóc được mô tả trong ANH NHI HẠNH Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN đã trích ở phần Phương Tiện.

Người tu không thay đổi cuộc đời mà thay đổi cái nhìn của họ đối với cuộc đời. Nhờ nương theo phân tích của Đạo Phật mà họ cũng biết rằng do cứ mải tìm cầu mà phải Khổ. Dứt được cái Tâm tìm cầu là sẽ Hết Khổ. Đi một vòng, quay trở lại chúng ta sẽ gặp câu Kinh Lăng Nghiêm: “Ông nhiều kiếp Sinh tử Luân Hồi cũng do Tâm và Mắt”. Khi cái Tâm đã điều phục xong rồi thì Mắt vẫn nhìn thấy Sắc Trần, nhưng không còn bị nó cuốn hút nữa thì sẽ được Thoát Pháp. Cái thấy Các Pháp đều Như gọi là NHƯ THỊ.

Kết luận:

Tu hành theo Đạo Phật không phải để Thành Phật, Thành Thánh. Kết quả tu hành không phải là Quả Vị, không phải là cao, thấp, hơn thua. Nước Phật cũng không phải ở Đông Phương, Tây Phương xa vời, khi chết mới được về đó, mà khi cái tâm thanh tịnh là Phật Quốc đã hình thành nơi đó. Người tu vẫn tiếp tục sống nơi cảnh trần gian, nhưng các pháp không còn khảo đả họ được nữa, mà họ sẽ được hạnh phúc, an vui ngay tại kiếp sống, gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn. Đó là mục đích của Đạo Phật mà Đức Thích Ca đã vận dụng bao nhiêu phương tiện để giúp cho con người đạt đến. Người đạt được kết quả của Đạo Phật được ví như Hoa Sen, vì Hoa Sen sống giữa bùn mà không vương mùi bùn, còn con người sống giữa phiền não mà không còn bị phiền não nhiễu hại. Thành Phật cũng chỉ có có nghĩa đó mà thôi. Kết luận, người tu theo Chánh Pháp nhờ tự mình Quán Soi, thực hành mà Thoát Pháp, còn người theo Tà Pháp thì cho rằng Phật, Bồ Tát là Thần Linh để cầu xin, nương tựa. Đó là chỗ khác nhau giữa Chánh pháp và Tà pháp dù cùng tin theo Đạo Phật vậy.

TÂM NGUYỆN

Tháng 01/2019


Phụ Bản I

Kinh thánh của Jefferson

TỔNG THỐNG THỨ 3:

THOMAS JEFFERSON


Thomas Jefferson ( 1743 - 1826 )

T ổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , người sáng lập ra Đảng Dân chủ - Cộng hòa Hoa Kỳ , và là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại. Ông sinh ngày 13 - 4 - 1743 tại Shadwell, bang Virginia , lúc đó còn là vùng biên giới hoang vu, trong một gia đình kỹ sư gốc Anh. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, rồi sau đó vào trường Đại học William & Mary ( 1760 - 1762 ). Năm 23 tuổi, ông trở thành luật sư. Bảy năm sau, ông thôi hành nghề với một tài sản kha khá và với mối ác cảm sâu sắc về giới luật sư, rồi sống cuộc sống của một nhà quý tộc nông thôn độc lập.

Tuy nhiên, sự quan tâm đến các vấn đề xã hội của Jefferson không cho phép ông hưởng thú ẩn dật. Ông được cử làm thành viên Viện đại biểu bang Virginia, và khi các vấn đề thuộc địa trở nên gay gắt, ông đóng vai trò tích cực ngày càng tăng trong phong trào đấu tranh giành độc lập. Những kiến nghị của Jefferson trong đoàn đại biểu Virginia với Hội nghị lục địa được công bố trong quyển sách nhỏ tựa đề “Quan điểm tóm tắt về các quyền của nước Mỹ”, đã đưa ông lên vị trí của một trong những nhà lãnh đạo cách mạng hàng đầu. Ông được cử làm công tác đặc biệt ở Anh, và tại Mỹ ông được các cộng sự chọn để dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 .


Tượng 4 vị tổng thống Mỹ:

George Washington , Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt

Abraham Lincoln trên núi Rushmore

Từ bỏ ghế đại biểu ở Quốc hội, Jefferson quay ra quan tâm đến việc xây dựng một bản hiến pháp cho quê hương Virginia. Nhiều tư tưởng của ông tập trung trong văn kiện đó, và nhiều ý tưởng khác được thể hiện trong các đạo luật ban hành những năm sau đấy. Năm 1779 , Jefferson được bầu làm thống đốc bang Virginia và giữ chức vụ này cho đến năm 1781 . Năm 1783 , trở lại tham gia Quốc hội một lần nữa, ông đứng đầu ủy ban được cử ra để xem xét hiệp ước hòa bình với Anh. Năm kế ông được cử làm công sứ đại diện cho chính phủ Mỹ non trẻ ở Pháp và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Từ năm 1789 , với tư cách là ngoại trưởng Mỹ trong nội các của Tổng thống George Washington , ông đã công bố tư tưởng dân chủ mà dựa vào đó Đảng Dân chủ Hoa Kỳ được xây dựng, điều này đã đưa đến việc Jefferson đắc cử Tổng thống Mỹ năm 1800 . Sau 2 nhiệm kỳ, ông rút lui và cống hiến những năm cuối đời cho việc thiết lập trường Đại học Virginia , được ông xem là một trong những công trình quan trọng nhất của mình.

Jefferson mất ngày 4 tháng 7 năm 1826 Monticello , gần Charlottesville , tại căn nhà tự ông xây cất, cùng một ngày với John Adams , hưởng thọ 83 tuổi. Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: “Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia”.

Kinh thánh của Jefferson

Đó là một quyển kinh thánh được viết ra từ vị Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ. Nhắc đến Thomas Jefferson , mọi công dân của nước Mỹ đều nghĩ đến một nhà chính trị tài năng, cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ , một nhà phát minh ...

Jefferson luôn đấu tranh để bảo vệ tự do tôn giáo, ông từng nói: “Tôi chẳng cảm thấy bị tổn thương nếu hàng xóm của tôi nói rằng có 20 vị chúa hoặc không có vị chúa nào. Nó chẳng tổn hại đến túi tiền của tôi và cũng không làm đau chân tôi”.

Thomas Jefferson nhận thấy mình xung đột với một số quan điểm trong bốn cuốn Kinh Phúc âm của Matthew, Mark, Luke và John nên ông đã chọn hướng đi độc nhất vô nhị: tự tạo Kinh thánh cho riêng mình sử dụng.

Jefferson đánh giá cao giáo lý của Giê-su nhưng ông không đề cao cái mà ông gọi là “những sai lệch trong đạo Thiên Chúa”. Ông cho rằng các sách Phúc âm Tân ước có quá nhiều nội dung không nên đưa vào. Vì vậy, ông cắt và dán bốn cuốn Phúc âm của Tân ước để tạo ra phiên bản của mình theo một nội dung mạch lạc chỉ còn trong 46 trang giấy nhỏ và dịch ra 3 thứ tiếng Pháp, Hy-lạp và La-tinh.

Ngày nay, nó được biết đến là cuốn Kinh thánh của Jefferson.

Trong cuốn Kinh thánh của Jefferson, Chúa Giê-su không có phép lạ. Ngài không tuyên bố mình là người của Chúa. Và ngài không lên thiên đường sau khi bị đóng đinh trên cây thánh giá. Ông chấm dứt Kinh thánh mới nầy bằng đám ma của Giê-su thay vì bằng phép lạ phục sinh của Giê-su.

Ngài Tổng thống đáng kính nghĩ rằng tất cả những điều này đã được các tín đồ “ngốc nghếch” và “tinh nghịch” của Giê-su thêm vào. Chúa Giê-su theo quan điểm của Jefferson là người đàn ông bình thường, có linh hồn và sùng tín.

Kinh thánh của Jefferson gồm rất nhiều lời dạy của Chúa Giê-su, được kể dưới dạng truyện ngụ ngôn và những bài thuyết pháp. Jefferson xem Giê-su là một nhà triết học và có điểm khác biệt với ông: “Tôi là một người theo chủ nghĩa duy vật trong khi Chúa lại đứng về phía những người duy tâm”.

Jefferson đã giấu công chúng việc viết lại Kinh thánh vì sợ nó sẽ khơi nguồn cho một cuộc tranh cãi lớn. Ông nói với bạn bè rằng: “Tôi không chỉ không viết gì về tôn giáo. Tôi còn hiếm khi cho phép mình nói về nó”.

Ngài Tổng thống đã thành công trong việc che giấu quan điểm trong suốt cuộc đời. Cuốn Kinh thánh Jefferson chỉ được công bố 75 năm sau ngày mất của ông.

“Thánh Kinh Jefferson” thể hiện quan điểm về Thượng Đế và Đức tin của vị Cha già lập quốc của dân Mỹ

Năm 1813, trong một lá thư gửi từ tư thất ở Monticello đến (cựu Tổng thống) John Adams, Jefferson đã viết rằng “cuốn sách nhỏ tí” của ông đã được dựa trên những suy tư và trầm tưởng của suốt một đời. Theo ông thì cuốn sách nhỏ này chứa đựng “những luân thường đạo lý cao siêu và nhân đức nhất cho loài người”. Ông đặt tựa cho cuốn sách là “Cuộc đời và Đạo lý của Giê-su ở Na-da-rét”. Bạn bè của ông thì gọi cuốn sách này là “Kinh thánh của Jefferson”.

Đây có lẽ là biểu trưng đầy đủ nhất của quan điểm của vị Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, và cũng là tác giả chính của bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam có chép một đoạn của bản này) về những điều hay ho về đạo đức trong Phúc âm và trong cuộc đời của Giê-su. Ông nói: “Tôi làm chuyện này cho riêng tôi sử dụng bằng cách cắt bỏ ra khỏi Kinh Thánh từng đoạn một và sắp xếp lại các sự kiện chắc chắn là thuộc về Giê-su mà ai cũng thấy một cách dễ dàng như nhìn một viên kim cương trong bãi cứt trâu...”

Vài bản sao của cuốn sách bọc da nho nhỏ này, đang nằm trong thư viện Huntington ở San Marino (Nam California), đến ngày nay vẫn còn làm kinh ngạc các học giả chuyên nghiên cứu về mối liên hệ đa dạng giữa những vị Cha già lập quốc của dân tộc Mỹ và cuốn sách thiêng liêng nhất của thế giới Tây Phương.

Theo bà Lori Anne Ferrell, giáo sư lịch sử cận đại và văn chương của viện Đại học Claremont, câu hỏi quan trọng nhất là: “Ai có thể tưởng tượng được phản ứng của quần chúng sẽ như thế nào nếu chúng ta biết được vị Tổng thống của nước Mỹ đã dùng kéo cắt bỏ nhiều đoạn trong Kinh Thánh rồi dán những đoạn còn lại với nhau trên giấy và nói: Tôi chỉ tin những đoạn dán trên giấy này?”

Giáo sư Ferrell là tác giả cuốn sách sắp xuất bản “Kinh Thánh và Dân Gian” trong đó bà cũng có đề cập đến cuốn Kinh Thánh của Jefferson này. Bà nói tiếp: “Jefferson là sản phẩm của thời đại của ông ta. Nhưng ông là người cuối cùng mà tôi muốn cùng đọc kinh chung. Jefferson là người nghi ngờ tôn giáo nhiều nhất trong số các vị Cha già lập quốc của dân tộc Mỹ”

Một thí dụ trong cuốn Kinh Thánh của Jefferson là Giê-su vẫn được quấn trong tã sau khi sinh ra ở thành Bết-Lê-Hem. Nhưng không có đoạn nói về các thiên thần thông báo cho các du mục rằng đêm ấy sẽ có một đấng cứu rỗi được sinh ra. Jefferson giữ lại đoạn Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá nhưng chấm dứt cuốn sách bằng cái chết chứ không bằng sự sống lại của Giê-su.

Dẹp bỏ những phép lạ trong cuộc đời của Giê-su là một trong những công việc đại quy mô của một người với một đầu óc nổi tiếng là năng động. Năm 71 tuổi, Jefferson đọc cuốn “Nền Cộng Hòa” (Republic) của Plato bằng tiếng nguyên bản Hy Lạp và đã phê bình cuốn này là đáng chán.

Theo ông Robert C. Ritchie, Giám đốc Nghiên cứu của Tổ chức W.M. Keck tại thư viện Huntington, thì vì Jefferson vốn là một nhà khoa học nên ông đã dùng mủ tươi của những gia súc bị bệnh làm thuốc chích ngừa bệnh đậu mùa cho vợ con ông và những người nô lệ trong trang trại của ông.

Ông Ritchie cũng nói: “Đối với nhiều người, lấy kéo mà cắt Kinh Thánh là một hành động phạm thánh ít ai dám làm, nhưng điều này cho ta thấy được tầm nhìn của Jefferson đối với Kinh Thánh. Ông coi đó không như những lời huyền khải mà chỉ là một cuốn sách in thường ai cũng cắt bỏ được”. Jefferson là một người cao ráo và cường tráng. Ông thích đọc tác phẩm của các tác giả cổ điển về chiến tranh và chính trị như Thucydides và Cicero hơn là đọc các nhật báo.

Trong thế kỷ 18, ông không phải là lãnh tụ duy nhất có những thắc mắc về kinh điển Thiên Chúa giáo. Cũng như George Washington và những trí thức thuộc giai cấp thượng lưu của nước Mỹ cộng hòa, Jefferson là một nhà thần luận (deist).

Nhà thần luận khác với người theo đạo Thiên Chúa ở điểm họ không tin ở những phép lạ và những điều tiên tri. Những nhà thần luận chấp nhận khái niệm một vũ trụ có trật tự được Thượng Đế sáng tạo nhưng vị Thượng Đế này không nhập thế mà đã xuất thế vào cảnh siêu việt. Thần luận đã bị chỉ trích là một cố gắng để hòa hợp tôn giáo với những tiến bộ của khoa học một cách lộn xộn. Với những nhà duy lý của Thời đại Ánh Sáng thì thần luận là một trong những lý thuyết chủ trương giải phóng nhân loại ra khỏi tình trạng mà họ coi là mê tín dị đoan.

Người mà Jefferson đặc biệt thán phục là Joseph Priestley, một khoa học gia kiêm Linh mục và cũng là bạn của chính ông. Priestley - người khám phá ra dưỡng khí và sáng chế ra nước cacbonat và tẩy bằng cao-su - là một tác giả của nhiều sách nổi tiếng vì chỉ trích nặng nề những phép lạ trong Kinh Thánh. Jefferson đặc biệt thích những so sánh của Priestley về cuộc đời và lời dạy của Socrates và Giê-su. Những thảo luận và thư từ trao đổi giữa Jefferson và một người bạn khác ở Philadelphia, bác sĩ Benjamin Rush, đã gợi hứng cho Jefferson hoàn thành “cuốn sách nhỏ tí” của ông. Trong một lá thư gửi ông Rush ngày 21 tháng Tư năm 1803, ông viết công việc kiểm duyệt Kinh Thánh của ông là một kinh nghiệm để ông thử xem có thể gạn lọc được những lời đạo đức của Giê-su ra khỏi những thêm thắt vào đạo Thiên Chúa trong hai ngàn năm sau đó.

Jefferson đã viết cho ông Rush: “Dĩ nhiên là tôi chống lại những gì thối nát trong đạo Thiên Chúa và hoan hô những lời dạy thật sự của chính Giê-su”. Vì vậy, ông Ritchie đã nói: “Đối với Jefferson, Kinh Thánh chỉ là một cuốn sách mà ta có thể giữ gìn hoặc sửa đổi”.

Cuốn Kinh Thánh của Jefferson chỉ được lưu hành trong một số bà con và bạn bè cho đến năm 1904 mới được phát hành công khai theo lệnh của Quốc hội Mỹ. Đã có khoảng 9,000 cuốn sách này được xuất bản và phân phối tại Thượng viện và Hạ viện Mỹ. Ngày nay, nhiều ấn bản của cuốn sách này đã được bày bán trong các tiệm sách. Người ta cũng có thể đọc Kinh Thánh của Jefferson này qua các ấn bản điện tử. Một trong những ấn bản đó thuộc Jefferson Monticello, www.monticello.org/library/links/jefferson.html...

Không ai biết được là Jefferson sẽ buồn hay vui khi thấy sách này được xuất bản công khai như vậy ngày hôm nay. Ông đã từng tuyên bố: “Đừng nói gì về tôn giáo của tôi. Đây là điều riêng cho tôi và Thượng Đế của tôi mà thôi. Hãy nhìn vào cuộc đời của tôi để thấy mức độ tu tâm tích đức của tôi; nếu những hành hoạt của tôi là lương thiện và nghiêm túc đối với xã hội thì hẳn nhiên là tôn giáo của tôi không đến nỗi tệ”.

TÓM TẮT

Tổng thống Jefferson đã loại ra những gì mà ông cho là tạp nhạp mà người ta thêm thắt vào trong Kinh Thánh, và đã giữ lại những điều ông cho là tinh túy của giáo lý Đức Ki-Tô truyền dạy để làm ra cuốn “The Life and Morals of Jesus of Nazareth”, sau này được gọi là Jefferson Bible.

Nếu ta biết làm như Thomas Jefferson, ta có thể học hỏi và thừa hưởng được từ bất cứ truyền thống tâm linh nào, và vì vậy ta không còn chống đối hay kỳ thị một truyền thống nào khác, trái lại ta có thể giúp cho việc thanh lọc được truyền thống của chính ta và giúp cho các bạn của những truyền thống khác thanh lọc được chính họ.

Ví dụ học Phật, ta có thể đem áp dụng tứ diệu đế, bát chánh đạo, tam pháp ấn, tứ niệm xứ v.v… vào đời sống hàng ngày của ta. Ta không cần phải tin những chuyện như thái tử Siddhartha sinh ra từ phía hông phải của hoàng hậu Ma-gia và khi mới sanh đã có thể bước đi 7 bước và tuyên bố: Trên trời dưới đất chỉ có mình ta là tôn quý hơn cả. Ta có thể cho những chi tiết ấy là không quan trọng, là do đời sau thêm thắt vào. Còn khi đọc Phúc Âm, ta cũng chỉ cần học những đạo lý mà đức Ki Tô dạy trong đời sống hàng ngày và trong cách tiếp xử.

Thái độ cởi mở và bao dung này đưa tới sự xây dựng tình huynh đệ, xóa bỏ mọi kỳ thị và đây là công tác căn bản cho hòa bình thế giới.

PHẠM VŨ

Tham khảo: Tài liệu trên Internet và sách Tuổi trẻ, Tình yêu, Lý tưởng của Thích Nhất Hạnh.


Trời sắp mưa

Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Đồng hồ trên tường thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái lò nướng. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ “nấu” sang nút “giữ ấm” nghe cái “cắc” một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại chung quanh cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình đi tới điện thoại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói “Họ không có ở nhà”, ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.

Trí Dì miên man nghĩ tới đứa cháu ngoại chắc chắn nó sẽ bới nửa chén cơm và ba hột rồi ôm đũa ngó, đợi không ai chú ý đem chén đũa để trong chậu rửa chén rồi tới mở tủ lạnh lục bánh trái gì đó ăn dằn bụng qua loa. Tội con nhỏ không ăn được những món Việt Nam nghèo thuần túy, món của quê nhà đồng ruộng. Dì mở tủ lạnh lấy gói thịt bầm làm hai cái hamburger cho con bé.

Trong khi nướng Dì nghĩ vẩn vơ về hai đứa con gái trong nhà. Con Trinh không gần gũi thân mật là bao nhiêu mặc dầu đã sống với nó từ mười năm nay, mến chân mến tay từ hồi còn nhỏ. Dễ thương thì dễ thương thiệt, nhưng nhiều khi nó ngồi yên cả giờ đồng hồ không nói, chăm chú trước máy truyền hình, hay cười như nắc nẻ lúc nghe được chuyện gì hay. Gợi chuyện với nó thì nó dạ dạ mà coi bộ cũng hững hờ lắm, không có gì tha thiết. Nhiều lúc vui vui buột miệng kể chuyện lúc nó còn nhỏ ở Việt Nam, thì lần nào cũng như lần nấy nó chận họng: “Chuyện này bà ngoại kể hoài, bộ bà ngoại hổng nhớ sao”.

Con nhỏ giống má nó in hịt càng ngày càng thấy xa lạ, như tụi nó không là con cháu mình nữa. Tụi nó lúc nầy và lúc trước ở Việt Nam là những người khác. Cũng mắt mũi đó, cũng tên họ đó, cũng bộ điệu đó, nhưng mà như là uống nước xứ này nên bị rửa ruột trở thành người khác, Việt chất đã bị hủy diệt. Nói năng không lựa lời lựa vốn, bạ đâu xâu đó, nhiều khi nghe muốn tức cành hông.

Còn con Chuyên mắc giống gì không biết lại mình lại thương mến nó vô cùng tận. Có lẽ nhờ nhỏ nhẹ dịu dàng. Có lẽ nhờ mới qua. Có lẽ chịu nghe, chịu góp chuyện. Ở đây có khi cả tuần, có khi cả tháng, trong nhà mới có vài câu nói, trả lời ngắn gọn, lạnh tanh, ngoài ra là thời khoảng im lặng ai lo chuyện nấy. Người trong nhà như những cái bóng vật vờ đi làm-về-ăn-ngủ-đi làm... Một chu trình trôn ốc liên tục tiến lên theo thời gian bất tận. Hai vợ chồng là hai vòng trôn ốc ngoài nhau, không có điểm chung nào. Dì là đường thẳng đơn côi riêng biệt với họ, ít khi có dịp giao thoa. Lặng lẽ, cô đơn, thèm được chuyện trò. Rồi Chuyên, đứa con riêng của chồng của con gái Dì, xuất hiện tưởng không thể thân thiện được lại đến như một niềm vui, một sự khơi dậy ánh lửa đèn cây tươi mát trong lòng Dì. Dì còn nhớ ngày đầu tiên gặp gỡ, bữa ba người kia đi phi trường rước Chuyên về. Được giới thiệu với Dì, Chuyên đã chào thật cung kính, thật tươi:

- Thưa Ngoại.

Dì cảm động rớt nước mắt. Dì đã hồi hộp chờ ngay từ lúc “họ” ra xe lên phi trường. Cái giòng con gái cỡ trong ngoài hai mươi khó chịu lắm. Con nào hỏng thương mẹ, qua đây thấy chuyện ba nó có vợ khác thế nào cũng nầy cũng kia. Mình bị ghét lây cũng đành chịu. Không dè mọi chuyện xảy ra khác xa bình thường. Ánh mắt Chuyên không biểu lộ một sự gượng gạo, khó chịu, trái lại là một nụ cười thân thiện. Hai bà cháu bà con chống bảy sào không tới từ đó lại thương nhau hơn cật ruột… Người dưng nước lã đã biến thành máu mủ. Bây giờ tình thương càng ngày càng chất chồng, nó đi đâu một chút thì nhớ thì trông.

Nghe mùi thịt nướng thơm thơm, Dì Tư gắp xuống để trong dĩa, sửa soạn pickle, cà tô mách, củ hành, tất cả xếp trong một cái dĩa kiểu, các thứ rau cải xanh đỏ trắng nổi lên trên nền men trắng màu ngà coi thiệt đẹp mắt.

Dì đi lại phòng, gõ cửa ló đầu vô gọi cháu:

- Trinh ra ăn hamburger con!

Con nhỏ đương nằm lơ mơ nghe nhạc, con gấu để trên bụng, một tay ôm, một tay vuốt ve, nghe kêu, nhíu mày lại một giây trước khi chểnh mảng ngồi dậy.

Dì Tư dọn “cơm” mà lòng dửng dưng, không mấy thích thú vì đã làm một điều lợi ích cho cháu con, cũng không thấy khó chịu vì bận bịu. Lòng Dì trống rỗng, như lúc mở cái cửa, lúc xoay lại cái ghế cho ngay ngắn hay lấy cái nùi giẻ lau những miếng thức ăn vụn nho nhỏ rơi rớt trên bàn sau buổi ăn. Những công chuyện bình thường không tên ngày này qua ngày khác của một đời không bước ra khỏi ngõ…

Tiếng xe quen thuộc ngừng trên con đường dẫn vô nhà xe. Tiếng đóng cửa xe cũng quen quen, tiếng gót giày đều đều mà Dì mường tượng đã nghe rất nhiều lần trong đời tiến lần về phía cửa.

Dì lên tiếng với cháu:

- Chắc mẹ mày về đó. Tao nghe có tiếng xe, sao bữa nay về sớm vậy cà!

Con Trinh không lấy làm lạ về câu nói của bà ngoại mặc dầu nó không nghe gì hết. Chuyện trong nhà bà rất thính mũi thính tai đoán không bao giờ trật.

Bên ngoài đứa con gái của bà ngó quanh khung cảnh sân cỏ trước nhà. Xanh mướt, bằng phẳng, sang trọng như một minh tinh. Mùi cỏ mới cắt phảng phất trong không gian một hơi hướm thiên nhiên tươi mát tinh khiết, khiến chị nín hơi hít những hơi thật dài, đầy phổi.

Hoa giật mình ngỡ ngàng khi cửa mở cùng lúc với cái bấm chuông của chị:

- Ồ má! Sao má biết con về hay vậy?

Ngó sự chậm chạp già nua của mẹ, nhớ lại chuyện thực tế, chị cằn nhằn:

- Má mở cửa mà không check coi người lạ hay quen, nguy hiểm lắm. Ở đây coi vậy chớ tụi cướp tới lúc nào không biết đó. Cái điệu má cà rịch cà tang nếu là người lạ thì trở tay đâu kịp.

Chị cố gắng hạ giọng để câu nói có vẻ thật bình thường.

- Con nói với má hoài mà má cứ thờ ơ. Có chuyện gì rồi ngồi đó than trời trách đất.

- Ối tao già rồi đâu còn sợ gì nữa. Nhà đâu có tiền mặt đâu mà sợ.

Hoa nhăn mặt không vừa ý:

- Má nói vậy sao được! Má già, nhưng còn con Trinh mần chi, nó lớn trọng cải rồi, má có một mình nó là cháu ngoại đó.

(còn tiếp)

Nguyễn Văn Sâm

Làm gì để được

An lạc Thân & Tâm?

Rõ ràng là khi thân có an thì tâm mới lạc.

Ngược lại, khi tâm cứ mãi lo âu phiền muộn

thì không chóng thì chầy thân sẽ lâm vào bệnh hoạn.

Chỉ có những người nào đó đã trải qua trạng thái gọi là “bị stress” và thực hành Thiền thì mới biết Thiền là gì, đặc biệt mới thấm thía Thiền hóa giải stress một cách kỳ diệu ra sao. Nhiều người trong chúng ta luôn mong ước “thân tâm an lạc” và đây cũng là lời chúc mà chúng ta gửi gắm cho nhau khi gặp gỡ tiếp xúc nhau. Rõ ràng là khi thân có an thì tâm mới lạc. Ngược lại, khi tâm cứ mãi lo âu phiền muộn thì không chóng thì chầy thân sẽ lâm vào bệnh hoạn.

Trong thời đại ngày nay ta thường nghe nhiều người, thậm chí là chính ta than vãn một cách rã rời: “Sao mà lúc nào cũng cảm thấy hết xí quách!”. “Hết xí quách” đây là để chỉ tâm trạng mệt mỏi đang làm giảm đi chất lượng cuộc sống rất nhiều. Xin có đôi điều về trạng thái bất như ý này vì “hết xí quách” là biểu hiện của hai rối loạn khác nhau. Một là rối loạn xuất phát từ thân và hai là rối loạn xuất phát từ tâm.

“Hết xí quách” hay mệt mỏi rã rời là dấu hiệu báo cơ thể cần phải nghỉ ngơi hoặc ngủ để phục hồi sức khỏe. Thông thường sau thời gian nghỉ ngơi hoặc ngủ đủ, cơ thể sẽ hết mệt mỏi, cảm thấy sung sức, hưng phấn, làm mọi việc như ý muốn. Nhưng nếu mệt mỏi không được hóa giải, sau khi nghỉ ngơi mà ta vẫn thấy rã rời, sức khỏe không hồi phục thì có thể đã bị một rối loạn nào đó thuộc về thân thể con người. Tình trạng rối loạn này nếu kéo dài nhất thiết phải đi khám bệnh để bác sĩ khám, chẩn đoán tìm nguyên nhân. Có khi cơ thể đã bị một số bệnh tiềm ẩn nào đó nhưng nhờ bác sĩ khám, định bệnh và cho hướng điều trị đúng đắn kịp thời mà giải quyết được vấn đề mệt mỏi “hết xí quách” kéo dài.

Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển thường xảy ra hội chứng có tên là “Hội chứng mệt mỏi kinh niên” (Chronic fatigue syndrome, viết tắt là CFS) mà nguyên nhân sinh bệnh rất khó xác định và hiện nay CFS cũng thường xảy ra ở các nước đang phát triển như nước ta. Hội chứng CFS thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn, gần như gấp đôi so với nam giới, với lứa tuổi thường là 25 đến 45. Hội chứng có triệu chứng mệt mỏi rã rời là chính (100%) còn kèm theo: nhức đầu, khó tập trung suy nghĩ, đau họng, nhức cơ, đau khớp, khó ngủ, sụt cân (có người lại tăng cân) v.v…

Một số công trình nghiên cứu vào những năm 1990 ghi nhận, CFS có liên quan đến nhiễm siêu vi như retrovirus… Việc chữa trị hội chứng này có khó khăn vì khó xác định nguyên nhân. Bác sĩ phải khám và loại trừ tất cả các bệnh thực thể có triệu chứng gây mệt mỏi và gần như không tìm được nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến hội chứng này để chỉ có thể gọi đó là “mệt mỏi vô cớ” (cũng giống như triệu chứng sốt thường hay chẩn đoán “sốt không rõ nguyên nhân”).

Về thuốc điều trị CFS, chủ yếu bác sĩ cho dùng thuốc trị triệu chứng liên quan. Đối với triệu chứng “hết xí quách”, bác sĩ cho dùng thuốc bồi dưỡng sức khỏe. Ở một số ít nước phương Tây trước đây, người ta chuộng sử dụng thuốc tiêm chích là cao gan (hy vọng bổ dưỡng cơ thể các chất bổ dưỡng lấy từ gan súc vật, kiểu như ở nước ta trước đây rất chuộng dùng Campolon, Campovit, Sirepar là thuốc trích tinh gan và nay không còn sử dụng nữa) hoặc thuốc tiêm chứa acid folic, vitamin B12 nhưng nay đã được chứng minh là chẳng có tác dụng gì với CFS. Bác sĩ có thể cho dùng các thuốc trị các triệu chứng khác như: thuốc chống viêm giảm đau để trị nhức đầu, đau nhức cơ xương; thuốc kháng histamin và thuốc co mạch chống sung huyết để điều trị chứng như viêm mũi dị ứng, viêm xoang; thuốc chống trầm cảm để trị chứng mất ngủ do trầm cảm và làm người bệnh cảm thấy hưng phấn trở lại…

Đối với người bị mệt mỏi vô cớ, trước đây ngay ở ta đã có tình trạng tự ý lạm dụng thuốc rất nguy hiểm. Đó là tình trạng người bệnh không đi khám bệnh mà tự ý mua và dùng thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương là amphetamin (biệt dược MAXITON nổi tiếng ở miền Nam trước đây) và một số dẫn chất của nó để trị chứng “hết xí quách”. Và hậu quả của việc sử dụng thuốc bừa bãi này là một số người bị nghiện thuốc (giống như nghiện ma túy và sau đó phải dùng đến ma túy), bị một số tác dụng phụ về tim mạch và nhất là, có khuynh hướng tự tử sau khi ngưng thuốc. Điều cũng cần lưu ý là “thuốc lắc” (dimethyl - dioxy - methamphetamin, viết tắt MDMA) hiện nay bị lạm dụng một cách nguy hiểm chính là dẫn chất tương tự như amphetamin, cũng có tác dụng kích thích làm cho người ta hết mỏi mệt, hưng phấn và có thể khiêu vũ, nhảy nhót thâu đêm suốt sáng.

Hiện nay, nhiều người bị “hết xí quách” cũng thế, không đi khám bệnh mà tự ý dùng thuốc gọi là trị suy nhược chức năng như uống thuốc: Polytonyl, Sargenor, Activarol, Surfortan, Magné B6, Glutaminol B6, Arcalion… và xem thế là đủ. Hoặc có khá nhiều người hằng ngày dùng thuốc dạng sủi bọt cung cấp các vitamin và chất khoáng gọi là chống oxy hóa, chống stress và chống triệu chứng “hết xí quách” vẫn không cải thiện. Nên lưu ý, tất cả các thuốc vừa kể chỉ có tác dụng hỗ trợ (bị “hết xí quách” nhiều khi phải dùng thuốc do bác sĩ chỉ định) và nên dùng thuốc hỗ trợ này đúng liều lượng (như vitamin C ngày không nên dùng quá 1 gram, dùng nhiều không có lợi vì có nguy cơ gây sỏi thận).

Xin lưu ý khi bị mệt mỏi thường xuyên, trước hết hãy xem lại chế độ làm việc, sinh hoạt có quá căng thẳng để sắp xếp lại tạo sự thư giãn cần thiết, chế độ dinh dưỡng có đảm bảo đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng, kế đó có thể dùng thêm các thuốc gọi là hỗ trợ, bồi dưỡng kể trên. Nhưng nếu rối loạn cứ kéo dài, nhất thiết phải đi khám bệnh để bác sĩ giúp tìm nguyên nhân. Nên lưu ý, “hết xí quách” rất có thể là dấu hiệu của bệnh trầm cảm là bệnh rất dễ xảy ra hiện nay cần được phát hiện sớm để chữa trị đúng cách (bệnh trầm cảm nếu không được chữa trị sớm, đúng cách có khi là nguy hiểm).

Ngoài biểu hiện của CFS nói ở trên, “hết xí quách” còn biểu hiện của một rối loạn khác là STRESS. Stress là những áp lực về mặt tâm lý và những biến động trong gia đình, trong xã hội tác động lên con người gây mất cân bằng. Đáp ứng của con người bị stress là cảm thấy có “sự căng thẳng” và sự mất cân bằng thể hiện trong cơ thể là những biến đổi sinh học, sinh lý nhằm đối phó lại các áp lực, các biến động vừa nêu.

Ta cần lưu ý, stress không phải luôn luôn là xấu. Với mức độ vừa phải, chính stress giúp ta có sự hưng phấn, cảnh giác, tập trung cao độ để đối phó lại tình huống không thuận lợi. Do con người luôn sống trong môi trường có những tác nhân xâm phạm, đặc biệt có tác nhân xâm phạm về mặt tinh thần, tâm lý, nên chính nhờ stress mà ta có những phản ứng cần thiết để đối đầu với các tác nhân xâm phạm đó, giúp ta có những suy nghĩ tích cực, tìm cách làm chủ thực tế, quyết tâm giải quyết khủng hoảng đó và thường là thành công trong công việc vượt qua stress.

Tuy nhiên, nếu stress cứ lặp đi lặp lại và ta không làm chủ được nó, không thích ứng với những biến đổi do nó đưa đến, cơ thể ta có thể bị rối loạn về mặt thể chất và tâm thần. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khi bị stress, cơ thể có những biến đổi mà những biến đổi này có thể trở thành nguy cơ gây bệnh như sau:

- Khi bị stress, có sự tăng tiết hormon (nội tiết tố) như các glucocorticoid và adrenalin ở tuyến thượng thận (tuyến nằm úp trên hai quả thận) làm cho mạch máu co lại, giữ natri và nước lại trong cơ thể làm bài tiết ít nước tiểu đưa đến tăng huyết áp. Vì vậy, người bị stress thường xuyên dễ có nguy cơ bị tăng huyết áp.

- Khi bị stress, có sự tăng tiết các hormon ở hệ thần kinh như hormon tăng trưởng (somatostatin), prolactin, các endorphin (còn gọi là morphin nội sinh, đây được xem là “ma túy” do chính cơ thể tiết ra). Các hormon này cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của cơ thể làm giảm sự đề kháng đưa đến dễ bị nhiễm trùng.

- Khi bị stress, có sự phóng thích insulin hoặc insulin tiết ra đủ nhưng tế bào “lờn” insulin không tiêu thụ được đường glucose dẫn đến tăng lượng đường này trong máu được gọi là bệnh đái tháo đường týp 2.

- Khi bị stress, có sự rối loạn chuyển hóa chất béo làm tăng lượng triglycerid, tăng lượng cholesterol “xấu” trong máu mà nhiều người gọi là “cao mỡ trong máu” dẫn đến đóng cặn mỡ trong thành động mạch gây xơ vữa động mạch. Người bị stress thường xuyên dễ có nguy cơ bị các bệnh tim mạch, bị đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, bị đột quỵ, bị tai biến mạch máu não chính một phần do cao mỡ trong máu.

Ngoài các rối loạn thể chất kể trên, stress thường xuyên cũng dễ đưa đến các rối loạn tâm thần như: mất ngủ, suy nhược tâm thần, trầm cảm… Người bị stress thường xuyên cũng thường ăn uống kém, hoạt động thể chất kém và dễ tìm đến rượu, thuốc gây nghiện (có người tìm đến ma túy) dùng làm phương tiện giảm thiểu stress, do đó dễ trở thành người nghiện.

Những điều trình bày ở trên cho thấy đúng là khi tâm không an tức bị stress thì thân sinh ra bệnh. Nhưng có điều rất quan trọng cần biết là đối với stress, phòng dễ hơn trị. Người ta bàn nhiều về các biện pháp phòng chống stress. Có các biện pháp đơn giản như: tìm đến nhà tham vấn, học cách chấp nhận, chia sẻ với bạn tâm giao, lập danh sách ưu tiên trong công việc, biết giới hạn của mình và không cho mình luôn là đúng, dành thời gian thích hợp cho nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và giúp đỡ người khác… Và để hóa giải stress một cách hữu hiệu, thế giới hiện nay quan tâm ngày càng nhiều đến phương thức kỳ diệu đã được các nhà tu học phương Đông thực hành từ ngàn xưa, đó là Thiền.

Thiền là gì?

Thật khó để mô tả cái gì đó không phải để nói mà là hành động. Chỉ có những người nào đó đã trải qua trạng thái gọi là “bị stress” và thực hành Thiền thì mới biết Thiền là gì, đặc biệt mới thấm thía Thiền hóa giải stress một cách kỳ diệu ra sao. Không chỉ hóa giải stress mà người hốt nhiên ngộ Thiền nhờ “hành thâm bát nhã ba la mật” (Tâm kinh) sẽ đạt được an nhiên tự tại, thậm chí “thõng tay đi vào chợ” và tiếp nhận cái thâm diệu bất khả tri.

Trong hạn hẹp của ngôn từ, mạo muội mô tả đôi điều Thiền hóa giải stress ra sao. Nếu “thất tình - lục - dục” đưa đến stress thì Thiền chính là sự tự do giải thoát từ bất cứ động cơ nào của thèm muốn, sợ hãi lo âu, sầu hận, xung đột triền miên trong tâm lý. Nếu stress tạo ra do sự vong thân trong tình trạng đảo điên của cuộc sống thì Thiền là sự im lặng tuyệt đối để khám phá lấy chính mình, để là một cách thấy giúp con người thấy được “bản lai diện mục” tràn đầy an lạc. Nếu bị stress do sự lăng xăng, bép xép, bất an của tâm lý vì cứ hướng về quá khứ, tương lai thì Thiền là chấm dứt vọng niệm, chứng nghiệm hiện tiền để buông xả trọn vẹn.

Thiền, Yoga và Zen

Phương pháp “Thiền” (Yoga) phát xuất từ Ấn Độ khoảng 6 đến 7 ngàn năm trước, tiếng nguyên thủy theo Sanskrit là “yuj” có nghĩa là kết hợp giữa linh hồn cá nhân (atma) và tinh túy vũ trụ (paramatma). Khởi thủy, Thiền được lập ra với mục đích đi tìm sự Khai Ngộ (Enlightenment), sau đó đã chuyển hóa thành nhiều môn phái Yoga khác. Mỗi môn phái lại có những tư tưởng chỉ đạo khác nhau như Karma Yoga chú trọng vào sự Từ Bỏ Bản Ngã, Bhakti Yoga chú tâm về sự Dâng Hiến, Jnana Yoga, Raja Yoga chỉ quan tâm về Kiến Thức... Những thế, thức tập luyện cũng khác nhau, có thể bất động, hay động, mỗi thế, thức lại biến hóa thành nhiều kiểu dáng, khó có thể đếm được hết mọi loại kiểu, thức. Sau khi được truyền qua các quốc gia khác, nhất là Tây Âu, Thiền tập trung nhiều về Chữa Bệnh, Điều Hòa Tâm Linh, tìm ra sự An Vui cho cá nhân một khi tâm thân hợp nhất, khỏe mạnh, và hạnh phúc.

Trong khi đó, “Thiền” (Zen) đặt trọng tâm vào sự suy tưởng có tính chất tôn giáo, nguyên thủy khai sinh từ Ấn Độ với tên gọi từ tiếng Sanskrit: “dhyàna”, triển khai tại Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 6 dưới thời Tổ Sư Bồ Đề Lạt Ma (Bodhiharma) cũng đồng thời là Tổ Sư của môn phái Thiếu Lâm. Vào thế kỷ thứ 9, Thiền được truyền bá sang Đại Hàn và được gọi là Seon. Thế kỷ thứ 12, Thiền được phát triển ở Nhật bởi Tổ Sư Myòna Eisai sau khi Ngài đến Trung Hoa rồi về nuớc, lập ra hệ phái Linji, còn gọi là Rinzai. Ở Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỷ 16, Thiền Sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) người Ấn Độ đến Việt Nam phổ biến về Thiền, và dưới thời Ngài Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền được phát huy mạnh mẽ nhất cho đến ngày nay. Trên thế giới, hiện tại, những hình thức về Thiền rất đa dạng. Ngoài Tu Thiền (Thiền Tông), những người thực tập Thiền còn thể hiện Thiền trên hội họa (Tranh Thiền), thi ca (Thơ Thiền), cắm hoa (Thiền Hoa), trang trí (vườn Thiền), hay kiến trúc theo Thiền... Những vườn cỏ với sỏi trắng được vun theo những đường nét đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa của Nhật nổi tiếng khắp thế giới và được hàng triệu người từ Đông sang Tây rất hâm mộ.

Vì sự đa dạng về Yoga và Zen như thế, người viết đã đặt tên cho phương pháp phối hợp giữa Yoga và Zen thành “Thiền Công” (Thiền = tập trung tư tưởng, Công = khí công, sự vận dụng sức lực tinh thần hay vật chất), để tránh sự ngộ nhận với Tu Thiền. Và cũng vì mục đích là để tìm sự An Vui, Hạnh Phúc qua Sức Khỏe, không mang tính chất tín ngưỡng, trong bài này, người viết xin bỏ qua khía cạnh liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng, không đề cập đến “Tu Thiền” mà chỉ nhìn đến phương diện vật lý. Như vậy, “Thiền Công” là một sinh hoạt thể dục bất động, khép kín, và cưỡng chế phối hợp với hơi thở để làm trẻ hóa cơ thể, đem lại một sinh khí mới cho những bộ phận đã bị lão hóa, cùng phát huy sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người để sống lâu hơn với một tinh thần minh mẫn trong một thể xác tráng kiện.

1. Thể dục bất động: Người tập Thiền sẽ đặt mình vào một vị trí bất động trong một thời gian dài hay ngắn tùy theo cơ thể và sự tập luyện, có thể năm phút một thế tập hay vài tiếng đồng hồ.

2. Khép kín: Việc tập Thiền phải được thực hiện trong một môi trường kín đáo, không tiếng ồn, để tránh phân tâm.

3. Cưỡng chế: Những động tác Thiền không đơn giản như ngồi thẳng, mà là những thế cần phải bẻ tay, chân, đầu, cổ, thân, lưng... theo một hướng nào đó.

Tất cả những động tác thể dục bất động này, phối hợp với việc thở đúng cách sẽ làm trẻ hóa cơ thể và tự trị được một số bệnh. Như chúng ta đã biết, con người sống được là nhờ đường, nước, và khí Oxy là yếu tố quan trọng nhất cho sự sống. Thiếu đường, người ta sẽ kiệt sức và chết dần. Thiếu nước, thì sinh ra đủ thứ bệnh. Nếu thiếu hai yếu tố này, con người cần phải có những cách điều trị riêng để duy trì được cuộc sống. Nhưng với Oxy, chỉ cần thiếu ở não trong 2, 3 phút là chết ngay.

Bình thường, máu luân chuyển khí Oxy đến các tế bào một cách quân bình. Tuy nhiên, nếu có phần nào trong cơ thể phải “gồng” lên, hoặc bẻ cong đi, máu sẽ luân lưu tại chỗ đó mạnh hơn, như vậy, sẽ mang đến Oxy nhiều hơn. Vì vậy, nếu chúng ta ép những bộ phận cơ thể theo một hướng nào đó, chúng ta sẽ làm cho những nơi đó trẻ lại và từ đó, sẽ ngăn được những căn bệnh sinh ra bởi phần cơ thể thiếu Oxy ấy.

Thiền ở đây là những bài tập thể dục bất động được chia ra hàng trăm thế đứng, thế nằm, hay thế ngồi và không mang theo một tư tưởng tôn giáo nào. Người tập sẽ thấy trẻ trung, vui vẻ, chữa được một số bệnh sau khi tập một thời gian. Nội dung bài viết này, vì được phối hợp với “Thiền” trong tư tưởng và “Thở” trong vật lý nên được gọi là “THIỀN CÔNG ” với mục đích vừa Chữa bệnh, vừa Trẻ hóa cơ thể, vừa tạo được một tinh thần minh mẫn.

Có bốn thế chính: Ngồi, nằm, đứng, và quỳ. Trong mỗi thế này, lại phân thành những chi thế nhỏ. Mỗi ngày tập khoảng 1 tiếng đồng hồ, thì chỉ trong vòng 1 tháng, cơ thể và tinh thần sẽ đổi khác, tươi trẻ hơn, khỏe mạnh hơn, làm việc bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn, và một số bệnh kinh niên có thể biến mất.

A. NGỒI

1- Tọa thiền:

Ý Nghĩa = Con người là trung tâm điểm của vũ trụ. Không có Con Người, vũ trụ chỉ là con số không. Ngồi xếp bằng tròn, không nhất thiết phải gác chân lên nhau, hai bàn tay để lên hai đầu gối, ngón trỏ và ngón cái của mỗi tay chạm nhau, lưng thật thẳng (Nếu ngồi cong lưng, sẽ bị đau lưng, vì xương sống sẽ bị cong, chạm vào dây thần kinh làm đau. Nếu không tự ngồi thẳng được, thì ngồi sát tường, cho lưng dựa vào tường). Nhắm mắt lại, tập trung tư tưởng, không nghĩ ngợi bất cứ điều gì, rồi hít vào thật chậm, khi hơi xuống tới bụng (đan điền) thì nén hơi lại và đếm 1,2,3,4,5 rồi từ từ thở ra. Trong khi hít vào và thở ra, phải tưởng tượng đến luồng khí đi từ lỗ mũi vào trong ngực, xuống bụng, tưởng tượng đến hơi thở đang nằm trong bụng, rồi tưởng tượng đến hơi thở đang ra ngoài lỗ mũi. Cách dễ nhất để tập trung tư tưởng là trong khi hít vào thì đếm theo nhịp tim từ 1 đến 10, khi nín thở thì đếm 1 đến 5, khi thở ra cũng đếm từ 1 đến 10. Sau này, khi quen rồi, thì tăng cường nội lực lên bằng cách đếm nhiều hơn, thay vì 10, thì đếm đến 15, 20. Người giỏi nhất chỉ đếm đến 20 là phải ngưng. Những ngày đầu tiên, chưa quen, có thể cảm thấy hơi thốn lưng, nhưng dần sẽ quen và không thấy thốn lưng nữa. Hít thở từ 10 đến 20 lần.

Thế này trị bệnh tim, mạch, ổn định thần kinh, thăng bằng trí nhớ, điều trị sau cơn “stroke” hay “heart attack”, chống sự hồi hộp, lo lắng, mất ngủ. Có người chỉ hít thở như thế hơn 10 lần đã ngủ ngon. Tập chừng một tháng, trí óc minh mẫn, sáng suốt hơn gấp bội.

2- Bái Tổ:

Ý Nghĩa = Xã hội có thứ tự trên dưới. Biết kính trên, nhường dưới, cuộc sống mới tươi đẹp. Cũng ngồi như trên, nhưng hai bàn tay chắp lại trước ngực. Hít thở từ 10 lần trở lên. Tác dụng chữa bệnh giống như Tọa Thiền.

3- Hoành Thiền:

Ý Nghĩa = Con Người được tạo ra bình đẳng. Nên tôn trọng lẫn nhau.

Ngồi như trên, nhưng hai tay dang thẳng ngang ra hai bên. Hít thở tối đa 10 lần. Cùng một tác dụng như hai thế trên.

4- Trung Thiền:

Ý Nghĩa = Nhìn lại bản thân xem mình đã làm gì cho những người chung quanh vui vẻ chưa? Ngồi cúi đầu xuống, nhìn vào bụng mình. Hít thở như trên. Chữa các bệnh về tiêu hóa. Làm 10 lần. Khi xong, phải xoay cổ vài lần từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, cho cổ không bị xơ cứng.

B. QUỲ

1- Hổ Phục:

Ý Nghĩa = Con Người chỉ là cát bụi và thật nhỏ bé trước thiên nhiên. Quỳ úp trán xuống đất, hai tay để thẳng, cùi chỏ để trên đất, xoải dài trên đầu. Hít thở chừng 10 lần. Giúp ổn định tim, mạch, thần kinh. Khi quá mệt sau một công việc nặng, tập thể thao quá độ, đánh võ... chỉ cần quỳ xuống và hít thở trong vài phút là khoẻ lại ngay.

2- Tàng Long:

Ý Nghĩa = Đôi khi chúng ta phải biết thu nhỏ mình lại, Quỳ áp một bên má xuống đất, nếu áp má bên trái xuống thì thọc tay trái qua dưới nách của tay phải, nếu áp má bên phải xuống đất, thì thọc tay phải qua nách trái. Ép mình xuống thấp. Hít thở. Trị mất ngủ. Thay đổi tay từ trái sang phải, mỗi bên hít thở 10 lần.

3- Độc Long:

Ý Nghĩa = Vận dụng ý chí để hướng thiện. Quỳ theo thế Hổ Phục, nhưng giơ một chân thẳng lên trời. Hít thở. Trị bệnh thiếu máu, hay xây xẩm, hay nhức đầu.

4-Thiềm Thừ: Ý Nghĩa = Tận dụng năng lực trước, phó thác cho Thiên Mệnh sau. Qùy áp trán xuống đất, hai tay bỏ xuôi theo thân mình, hai bàn tay hướng về phía bàn chân. Hít thở. Trị yếu tim, thần kinh.

C. NẰM

1- Bình Sơn:

Ý Nghĩa = Chan hòa với mọi người sẽ được mọi người yêu thương…

Nằm ngửa, không gối, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ rút gót chân về, nhấc thân mình lên, chỉ bám trên đất bằng gót chân và hai vai, giữ trọng lượng ở thắt lưng. Hít thở chừng 5 lần thôi, không cố gắng quá. Trị đau bắp thịt thắt lưng, yếu sinh lý, người có hơi thở quá ngắn và gấp rút. (Thế này không áp dụng được với người mổ xương sống, thay thận, tật xương sống bẩm sinh...)

2- Cung Tận:

Ý Nghĩa = Ý Chí của Con Người như cánh cung, càng căng càng mạnh. Nằm sấp, hai tay xuôi theo thân mình. Ngẩng đầu lên và giơ chân lên, trong khi dán bụng xuống đất, cho đầu và chân lên tạo thành hình cây cung, hít thở 3 lần rồi hạ đầu và chân xuống, nghỉ vài giây, lại cong lên, hít thở. Chữa đau thắt lưng, yếu sinh lý, lãnh cảm. (trừ người đang hoặc đã mổ xương sống)

3- Thiên Vị:

Ý Nghĩa = Bỏ cái “Tôi” đi, thì tiến buớc nhanh nhẹn hơn. Nằm ngửa, không gối, hai tay xuôi theo mình, từ từ rút chân về gần mông, nhấc hẳn mông lên cao, mắt nhìn theo đùi, hít thở. Chữa yếu sinh lý, lãnh cảm, đau thắt lưng.

4- Phân Thân:

Ý Nghĩa = Mọi vật đều vô thường. Ta có thể là Ta, có thể không là Ta. Dành riêng trị bệnh mất ngủ.

Nằm thẳng, không gối, hai tay xuôi theo mình. Nhắm mắt, hít thở chậm rãi chừng 10 lần, theo dõi hơi thở. Sau đó, tập trung tư tưởng, hít sâu tối đa, nén hơi, đếm 1, 2, 3, rồi thở ra chừng 10 lần nữa, bắt đầu “phân thân”, tức là chia mình ra làm hai. Tưởng tượng “mình” đang đứng bên cạnh giường, ngó lại “mình” đang nằm trên giường. Ngó từ chân lên đầu. Trước hết, ngó ngón chân cái, bên trái, cố nhớ lại những kỷ niệm xẩy ra ở ngón chân này (chẩy máu, sứt móng...) từ hồi còn nhỏ... Hết ngón cái qua ngón bên cạnh, lần lượt ngó hết 5 ngón chân trái, qua bên chân phải, cũng đi từ ngón cái. Hết năm ngón chân, qua gót chân trái, gót chân phải, rồi lên mắt cá chân, lên cổ chân, lên ống quyển, đầu gối, lên đùi... Hết một chân, qua chân kia. Hết chân, lên bụng, lên cổ, qua vai, xuống cánh tay, cùi chỏ, bàn tay... lộn lên tay kia... rồi tới cổ... mặt... Thường thì lên tới cánh tay, đã ngủ say... Ngủ kiểu này giúp tăng cường sức mạnh, an thần, không cần ngủ 7, 8 tiếng mà vẫn khoẻ.

D. ĐỨNG

1- Bạch Hạc:

Ý Nghĩa = Con người như chim Hồng, chim Hạc, luân chuyển không ngừng. Đứng thoải mái, hai tay chắp trước ngực, từ từ giang tay ra hai bên, cúi người về trước, đầu từ từ cúi xuống rồi cho thân mình gần như song song với mặt đất, trong khi một chân giơ lên ngang với mặt đất. Giữ sức nặng toàn thân trên một chân. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

2- Độc Kê:

Ý Nghĩa = Tự chủ thắng sức mạnh. Đứng thoải mái, hai tay chắp trước ngực, từ từ co chân trái lên, gác bàn chân trái vào sau bắp vế chân phải, hai tay từ từ giang ngang ra hai bên. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.

3- Kim Quy:

Ý Nghĩa = Hãy lắng nghe nhiều hơn là nói. Đứng áp sát vào tường, má trái áp vào tường, 10 đầu ngón chân cũng sát tường, tay trái thọc ngang, xuyên dưới nách phải, hít thở. Đổi ngược lại, áp má phải, thọc tay phải qua tay trái. Trị tim mạch.

4- Hướng Thiện:

Ý Nghĩa = Sống hướng thiện, hưởng quả phúc. Đang đứng chân trước chân sau, từ từ rùn chân trước xuống, chân sau duỗi thẳng ra, cho thắt lưng thẳng, hai tay song song từ từ đưa về phía trước, hai bàn tay chụm lại, rồi đưa thẳng lên trời. Khi hai tay giơ lên, thì hít vào, nén hơi, rồi từ từ thở ra, xong thả người trở lại vị trí đầu. Tiếp tục nhịp nhàng như vậy 10 lần. Tăng cường sức mạnh toàn thân.

Lưu ý :

Để Thiền Công có thể chữa hết bệnh này mà không tạo ra bệnh khác, phải luôn luân chuyển các thế Động và Bất Động. Những người muốn ngồi Thiền thật lâu, phải tập từ nhỏ để cơ thể quen dần. Lớn tuổi, không nên để bất cứ bộ phận nào Bất Động lâu. Những người dùng Computer, thợ may... có thể bị mổ cổ tay vì cổ tay luôn để Bất động. Có người phải mổ vai. Muốn tránh đau nhức, thỉnh thoảng phải lắc, xoay cổ tay chừng vài phút. Lắc trên xuống dưới, lắc trái sang phải, lắc về phía trước rồi ra sau. Các vị cao niên, sau khi ngồi các thế Thiền chừng 20 phút, phải đứng dậy, vặn vẹo thân thể cho các khớp xương không bị cứng. Sau thế Hoành Thiền, phải xoay vai theo một vòng tròn trước sau, mà trung tâm điểm của vòng tròn là đầu vai. Xoay từ sau ra trước rồi ngược lại từ trước ra sau. Trong khi xoay, vặn như thế, phải tiếp tục hít sâu và thở dài. Trường hợp hay bị bệnh đau vai, đau bàn tay, hay vai bị sái: đứng khom người xuống gần 90 độ, một tay vịn vào bàn, tay kia thả lỏng và vẽ một vòng tròn tưởng tượng trên mặt đất chừng 10 vòng, rồi trở lại tay kia. Làm chừng 20 lần sẽ hết đau vai.

Trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi, có thể còn thiếu sót, mong được cao nhân chỉ giáo thêm và cũng chân thành gửi tới mọi người lời chúc “sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc”.

CHU TẤT TIẾN - ĐỖ THIÊN THƯ st.


Phụ Bản II

NGƯỜI XƯA

KHÔNG CHO NHƯ THẾ

LÀ “ĐẠO VĂN”

Mới đây có người đưa lên Facebook bài thơ Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng(1) của vua Trần Nhân Tông và cho rằng nhà vua đạo văn, vì trong bài thơ bốn câu của nhà vua có hai câu cuối giống hai câu thơ trong bài Hành Cung của Nguyên Chẩn, một nhà thơ thời vãn Đường của Trung Quốc.

Bài thơ

XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG

Tì hổ thiên môn túc

Y quan thất phẩm thông

Bạch đầu quân sĩ tại

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG

Nghìn cửa đầy tráng sĩ

Áo mũ thảy tinh ròng

Người lính già đầu bạc

Kể mãi chuyện Nguyên Phong(2)

HÀNH CUNG

Liêu lạc cố hành cung

Cung hoa tịch mịch hồng

Bạch đầu cung nữ tại

Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

(Nguyên Chẩn)

Bài dịch:

HÀNH CUNG

Hoa nở trong quạnh quẽ

Lặng lẽ cố hành cung

Cung nữ già đầu bạc

Ngồi rỗi nhắc Huyền Tông(3)

Người này kết luận rằng: “Nghe nói ngày ấy cũng có nhà nho biết nhưng không dám nói vì sợ vua mất lòng. Không như bi giờ trên sóng người ta nói văng mạng”(!).

Thực ra, trong thơ văn cổ của ta chuyện tương tự như thế này là không hiếm và ngày xưa không ai cho như thế là đạo văn.

Ví dụ:

Bài ca trù Chí Làm Trai

của Nguyễn Công Trứ:

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả, trả vay

Chí làm trai nam bắc đông tây,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Đã chắc rằng ai nhục ai vinh

Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ

Cũng có lúc mây dồn sóng vỗ,

Quyết ra tay lèo lái với cuồng phong

Chí những toan xẻ núi lấp sông

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ

Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,

Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,

Thảnh thơi thơ túi, rượu bầu.

Hai câu chữ Hán:

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

(Người đời xưa nay có ai không chết đâu

Chỉ muốn lưu lại tấm lòng son trong sử xanh thôi)

là hai câu cuối trong bài thơ “Quá Linh Đinh dương” (Qua biển Linh Đinh) của Văn Thiên Tường, một nhà thơ nổi tiếng, và là thừa tướng của nhà Nam Tống bên Tàu.

Bài thơ Chí Làm Trai của cụ Nguyễn Công Trứ vốn rất được các nhà nho ưa thích, và ai cũng biết hai câu thơ của Văn Thiên Tường, nhưng không ai nói Nguyễn Công Trứ đạo thơ cả. Ngày xưa vốn không hề có khái niệm đạo văn; trái lại, những sự kiện như thế rất được tán thưởng vì được coi là hiểu hiện của tài năng mà chỉ những người có học hành giỏi giang mới làm được.

Trong nền văn học cổ của Ta và của Tàu, và có lẽ kể cả với những dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa và học thuật Trung Quốc, những chuyện tương tự diễn ra rất bình thường và phổ biến.

Với nền nho học ngày xưa, người đi học phải thuộc hết kinh sách của “thánh hiền”. Ngoài Tứ Thư(4) và Ngũ Kinh(5) họ phải thông thạo các sách của Bách gia chư tử, tức là các vị triết gia khác ngoài Khổng Tử. Nhiều người còn đọc thêm “ngoại thư” tức những sách truyện “ngoài luồng” như Sử Ký, Đường Thi, Chiến Quốc Sách, Tam Quốc Chí, Lã Thị Xuân Thu, Tả Thị Xuân Thu (hay Tả Truyện), Tình Sử, Liêu Trai, v.v... Đọc càng nhiều thì sự hiểu biết càng uyên bác. Nhưng không chỉ đọc hiểu không thôi mà người ta còn phải thuộc lòng cả cuốn sách, nhiều cuốn sách. Những người có học hành giỏi giang thuộc lòng nhiều kinh sách thường biểu lộ sự uyên bác của mình bằng cách trích dẫn lời trong sách, cả thơ văn, trong khi viết lách, thi cử, hoặc chuyện trò đối đáp.

Người có học vấn thời đó, có dùng được chữ trong sách để làm bài thi cử, biện luận hay để thù tiếp nhau mới chứng tỏ sự thông thái và lịch lãm. Để được vậy phải thuộc lòng càng nhiều kinh sách càng tốt. Nhưng thuộc không thôi chưa đủ mà cần có sự mẫn tiệp nữa. Trong đối đáp, sự thuộc lòng nhiều sách giúp người ta nhận ra “đối phương” dùng chữ trong sách, và từ những sách nào, để thách thức mình, và có đủ sự mẫn tiệp để cũng dùng chữ trong sách đáp lại ngay. Hầu như trong mọi trường hợp người ta trích dẫn văn hoặc thơ của các học giả Tàu. Lý do là vì họ học toàn kinh sách của Tàu. Người ta trích dẫn, viết ra, hoặc ứng khẩu nói ra, một cách tự nhiên mà không cần phải chú thích dẫn lời của ai, từ sách nào. Từ sách nào thì những người có học tất phải biết. Nếu dẫn được thơ văn từ sách nào càng ít người biết thì càng tỏ ra kiến văn của mình rộng lớn hơn người, và rất được ngưỡng mộ là người từng đọc thiên kinh vạn quyển, kiến thức uyên bác, “nói có sách”, người khác không theo kịp.

Với trường hợp vua Trần Nhân Tông, không những các quan trong triều đình nhà Trần mà tất cả những ai có học trong dân gian, có đọc hoặc thuộc lòng kinh sách thời bấy giờ đều biết vua Trần Nhân Tông đã sửa hai câu thơ của nhà thơ Tàu Nguyên Chẩn cho phù hợp với thi ý của mình. Và không ai cho đó là “đạo thơ” mà “sợ nói ra làm nhà vua buồn lòng” cả. Trái lại, điều đó chỉ chứng tỏ nhà vua là người có học thức, thông kim bác cổ, rất được người đương thời ngưỡng mộ.

Sự uyên bác của họ khiến họ luôn luôn “nói có sách”, tức là nói bằng lời của “thánh hiền” trong sách chớ không phải họ “đạo văn” như quan niệm của chúng ta bây giờ. Ngay cả để mắng một ai đó, người ta cũng dùng chữ trong sách cho được sang trọng và kín đáo. Có giai thoại về một kép hát chuyên diễn các vai hề trên sân khấu. Về già ông ta có rất nhiều con cháu. Khi ông ta làm tiệc mừng thọ, có người tặng một bức liễn mừng có bốn chữ: “Tử tôn thằng thằng”. Người tặng nói cho ông biết đó là chữ trong Kinh Thi có ý mừng con đàn cháu đống. Theo quan niệm ngày trước con cháu nhiều là nhà có phúc. (Cho nên ngày Tết người ta thường chúc nhau “Đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái!”) Ông ta rất mừng treo bức liễn lên giữa nhà. Nhưng câu chữ đó trong Kinh Thi có thêm một từ “hề” ở cuối. “Tử tôn thằng thằng hề”. “Hề” chỉ là một hư tự để nhấn mạnh ý câu, chớ tự nó không có nghĩa. Thời đó người ta còn nặng quan niệm “xướng ca vô loài”, người tặng bức liễn ngầm ý biếm nhẽ: lũ con đàn cháu đống của một thằng hề!(6)

Cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến từng có đôi câu đối “dùng chữ sách” rất được tán thưởng:

Người nước Nam, hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo”.

Nhà hướng Bắc, người chưa rét thì mình đã rét, người chưa bức thì mình đã bức, mới gọi là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”.

Câu “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” (coi việc làm sáng tỏ cái đạo của tiên vương là phận sự của mình) là câu trong sách Trung Dung của Khổng Tử. Câu “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” (lo trước nỗi lo của thiên hạ) là trong bài Nhạc Dương Lâu Ký của Phạm Trọng Yêm, đời Bắc Tống. Đôi câu đối được đánh giá rất cao, đã biểu lộ sự uyên thâm của tác giả.

Trong nhiều giai thoại về trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đi sứ bên Tàu đối đáp với người Tàu có chuyện kể một hôm ông cưỡi lừa đi trên đường phố Bắc Kinh đông đúc, tình cờ va phải một viên quan Tàu cưỡi ngựa. Viên quan Tàu nhìn biết Mạc Đĩnh Chi là sứ thần của Đại Việt, y vọt miệng hỏi:

“Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân dã?

Tây di chi nhân dã?”

(Chạm vào người ta đang cưỡi ngựa kia

là tên rợ phía Đông hay rợ phía Tây vậy?)

Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đáp ngay:

“Áp dư thừa lư, Nam phương chi cường dư?

Bắc phương chi cường dư?”

(Kẻ chèn ép ta đang cưỡi lừa hãy xem

Nam phương mạnh hay Bắc phương mạnh”.

Thấy đối phương dùng chữ “Đông di chi nhân dã? Tây di chi nhân dã” trong sách Mạnh Tử, Mạc Đĩnh Chi dùng chữ trong sách Trung Dung “Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư?” để đối lại khiến viên quan Tàu phải nể phục.

Một lần khác, tại triều đình nhà Minh, một viên quan Tàu ra một câu đối chê tiếng Việt như tiếng chim hót:

“Quích thiệt chi đầu đàm Lỗ luận:

Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri”

(Miệng lưỡi chim trích trên đầu cành bàn sách nước Lỗ: Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế là biết).

Đối phương dùng chữ trong sách Luận Ngữ (Khổng Tử, tác giả sách Luận Ngữ là người nước Lỗ) với các âm tri chi… tri chi… để ngụ ý chế giễu tiếng Việt líu lo như tiếng chim, ông Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đáp lại ngay bằng chữ trong sách Mạnh Tử:

“Oa âm trì thượng độc Chu thư: lạc dữ thiểu nhạc lạc, lạc dữ chúng nhạc lạc, thục lạc?”

(Tiếng ếch nhái trên ao đọc sách nhà Chu: Vui nhạc với ít người, vui nhạc với nhiều người, đằng nào vui hơn?”)

Chu thư là sách của người thời nhà Chu, tức sách Mạnh Tử. Vị trạng nguyên họ Mạc đã dùng các âm “nhạc lạc nhạc lạc” để chê tiếng Tàu ồm ộp như tiếng ếch nhái.

Trong các trường hợp đó, nếu ông Mạc Đĩnh Chi không thuộc nhiều sử sách để kịp nhận ra đối phương dùng chữ trong sách nào tấn công mình, và không có đủ sự mẫn tiệp dùng chữ trong sách để phản công lại thì ắt ông đã thua kém đối phương, và tất bị đối phương coi thường rất nhục nhã. Đi sứ đến nước nào mà bị người nước đó coi thường, không chỉ nhục cá nhân mình mà làm nhục cả quốc thể. Chính sự uyên bác và mẫn tiệp của ông đã chinh phục tình cảm ngưỡng mộ của từ vua đến quan trong triều đình nhà Minh lúc bấy giờ, và ông được hoàng đế “thiên triều” tặng danh hiệu “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Đó không phải là đạo văn. Đó là tài hoa, và tài hoa rất lớn, cùng với sự thông minh mẫn tiệp.

Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) là người triều Trần, thế kỷ XIII - XIV, nhưng tập quán “nói có sách” trong giới nho học Việt Nam có lẽ đã bắt đầu từ khi người Tàu áp đặt sự đô hộ và nền giáo dục của chúng lên người Việt từ sau khi tướng Lộ Bác Đức của nhà Hán chiếm được nước Nam Việt của họ Triệu từ cuối thế kỷ II trước Công nguyên. Nhưng sự kiện “nói chữ sách” đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ X.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: Sau khi Lê Hoàn (Lê Đại Hành) lên ngôi, nhà Tống bên Tàu sai Lý Giác đi sứ sang Đại Cồ Việt. Lý Giác vốn là người văn học uyên bác, lại thích thơ. Vua Lê cử các đại sư Ngô Chân Lưu và Pháp sư Đỗ Thuận (cũng thường gọi là Sư Pháp Thuận) đi đón sứ giả. Sư Pháp Thuận hóa trang làm người chèo thuyền. Khi thuyền đang đi trên sông, nhân thấy hai con ngỗng bơi dưới nước, sứ giả Lý Giác ứng tiếng ngâm hai câu thơ:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha

(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng

Ngửa mặt nhìn chân trời)

Sư Pháp Thuận lúc bấy giờ trong vai giả danh người chèo thuyền, bèn ứng khẩu đọc nối:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba

(Nước lục phô lông trắng

Chèo hồng sóng xanh bơi)

Lý Giác kinh ngạc và hết sức kính phục.

Sử chỉ chép có vậy mà không nói tại sao chỉ qua hai câu thơ “ứng khẩu” đó chẳng có gì ghê gớm mà Lý Giác, một học giả uyên bác của Tàu, phải kinh ngạc và kính phục người chèo thuyền xứ Đại Cồ Việt.

Về sau những người chép lại giai thoại này tự ý lý giải rằng Lý Giác kinh ngạc thấy một người dân quê Đại Cồ Việt mà cũng biết làm thơ nên kính phục.

Thật ra, hai câu thơ của sư Pháp Thuận có tính kỹ thuật, phô diễn một bức tranh với những màu sắc tự nhiên: trắng (bạch mao), xanh lục (lục thủy), hồng (hồng trạo - cái bơi chèo màu hồng, tức chân con ngỗng), và màu sóng nước xanh (thanh ba); ngoài ra đó chỉ là hai câu thơ bình thường tả cảnh linh động hai con ngỗng đang bơi, chẳng có ý nghĩa gì cao xa cả.

Sự thật là như vầy: Bốn câu thơ đó vốn không phải do hai người là tác giả ứng khẩu, mà cả hai đều đọc lại một bài thơ của một nhà thơ nổi tiếng đời Đường của Tàu mà họ thuộc lòng. Nhà thơ Tàu tác giả bài thơ đó là Lạc Tân Vương. (Ai có đọc sử Tàu cũng biết Lạc Tân Vương là người giúp Từ Kính Nghiệp thảo hịch chống Võ Hậu - về sau là Võ Tắc Thiên).

Ngày xưa, nhất là vào thời xảy ra giai thoại trên đây cách đây hơn một ngàn năm (Vua Lê Đại Hành: 942 - 1005), sự học là hết sức khó khăn và hạn chế; hầu như đó là một đặc quyền của giai cấp thượng lưu và quan lại trong nước - cả ở ta và ở Tàu. Và chỉ họ mới có điều kiện tiếp cận được nền văn học và chữ viết (của Tàu). Nhưng ngay cả với họ, việc đọc được tác phẩm văn học không phải là dễ, vì số người đi học vốn đã hết sức ít ỏi mà sách vở rất hiếm. Do kỹ thuật in ấn thô sơ bằng cách khắc chữ trên bản gỗ, số lượng tác phẩm in không nhiều, thường là chỉ từ vài mươi cuốn đến không quá trăm cuốn. Hoàn toàn không có việc kinh doanh sách vở. Việc phổ biến văn học qua biên giới càng không có. Người ta phải chuyền tay nhau chép tay để có mà đọc.

Trong điều kiện như thế, một anh dân quê chèo thuyền xứ Đại Cồ Việt, thường bị người Tàu coi là chưa khai hóa, có thể lâm thời ứng khẩu đọc nối ngay được bài thơ của sứ giả, chứng tỏ sức học của anh ta là hết sức uyên bác: anh ta không chỉ từng đọc mà còn thuộc cả tác phẩm của một thi sĩ Trung Hoa xa xôi cách trở. Như vậy kiến thức của một anh dân quê Đại Cồ Việt ngang ngửa chớ không thua kém Lý Giác, một người nổi tiếng đương thời về văn học của nước lớn Trung Hoa. Sự kiện đó khiến Lý Giác nhận thấy sự học của người dân Việt phổ biến rộng rãi đến chừng nào, dân trí họ cao và bắt kịp cả trình độ của các danh sĩ Trung Quốc. Sự kinh ngạc và kính phục của sứ thần Lý Giác là do vậy.

Sử gia Ngô Sĩ Liên ghi lại sự kiện đó, mà không nói Lý Giác và sư Pháp Thuận đạo văn. Không phải ông không biết bài thơ là của Lạc Tân Vương. Những người tài hoa học cao, đọc rộng thời đó có lẽ ai cũng biết tác giả bài thơ nên không cần nói nhiều. Và người ta cho hai người như thế là thông minh mẫn tiệp, đọc và thuộc hết sách trong thiên hạ, chớ không phải đạo văn.

Đọc Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, có câu:

Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,

Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.

Ngô Tất Tố dịch:

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Đó là Nguyễn Trãi phỏng theo hai câu trong bài hịch của Lý Mật đời Đường chống Tùy Dạng đế:

Quyết đông hải chi ba lưu ác bất tận

Khánh nam sơn chi trúc thư tội vô cùng.

(Khơi sóng biển Đông rửa không hết ác

Chẻ trúc Nam sơn ghi không hết tội)

Các nhà nho tất biết rõ chuyện này và chắc chắn là họ phải… rung đùi thích thú lắm.

Trong Truyện Kiều cũng có nhiều câu thơ của các thi sĩ đời Đường bên Trung Quốc được thi hào Nguyễn Du dịch ra thơ lục bát rất tài tình.

Chẳng hạn các câu:

Thuyền tình vừa ghé đến nơi

Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ (câu 69 - 70)

được dịch từ hai câu thơ trong Đường thi:

Nhất phiến tình chu sơ đáo ngạn

Bình trầm hoa chiết dĩ đa thời.

Hai câu:

Sống làm vợ khắp người ta,

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

(câu 87 - 88)

là được dịch thoát từ hai câu thơ cổ của Tàu:

Sinh vi vạn nhân thể,

Tử vi vô phu quỷ.

Câu:

“Một nền Đồng tước khóa xuân hai Kiều” (câu 156)

là được dịch từ câu “Đồng tước xuân thâm tỏa nhị Kiều” trong bài thơ Xích Bích Hoài Cổ của Đỗ Mục, một trong những nhà thơ lớn đời Đường.

“Màu hoa lê hãy đầm đìa hạt mưa” (câu 226)

là được dịch từ hai câu này trong Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị tả Dương Quý Phi đang khóc:

Ngọc dung tịch mịch lệ lan can

Lê hoa nhất chi xuân đái vũ.

“Một mình nương ngọn đèn khuya” (câu 602)

là từ câu “Cô ảnh bạn tàn đăng” trong Khuê Oán

“Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” (câu 1274)

là từ câu “Phạ hoàng hôn đáo, hựu hoàng hôn” của Tống Thi.

“Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” (câu 1651)

là dịch từ câu “Xuân tàm đáo tử ty phương tận” trong bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn thời vãn Đường,

“Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giầy cầu sương”

(câu 2030)

là từ hai câu này trong bài Thương Sơn Tảo Hành của Ôn Đình Quân thời vãn Đường:

Kê thanh mao điếm nguyệt

Nhân tích bản kiều sương.

“Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” (7)

(câu 2174)

là lấy ý từ hai câu thơ của Hoàng Sào:

Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng

Nhất trạo giang sơn tận địa duy

Hay:

“Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”

(câu 2747 - 2748)

là từ hai câu trong bài thơ Đề Tích Sở Kiến Xứ của thi sĩ Thôi Hộ đời Đường:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Hoặc các câu tả tiếng đàn trong truyện Kiều:

Khúc đâu đầm ấm dương hòa!

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?

Khúc đâu êm ái xuân tình!

Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?

Trong sao châu rỏ duềnh quyên!

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

(câu 3199-3204)

là được dịch từ những câu thơ trong bài Cẩm Sắt - lại cũng của Lý Thương Ẩn:

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,

Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên.

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,

Lam điền ngọc noãn nhật sinh yên.

Trong Truyện Kiều những câu thơ được dịch hoặc lấy ý từ thơ văn cổ của Tàu như thế là nhiều lắm, nhưng không ai nghĩ đó là đạo văn.

Nguyên tác Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm. Những người thời trước đọc được chữ Nôm là đã rất giỏi chữ Hán; đó là các nhà nho thông thạo kinh sử, biết rõ những câu thơ được Nguyễn Du dịch trong Truyện Kiều là phát xuất từ đâu, và người ta chỉ thấy rõ sự uyên bác của Nguyễn Du, và càng ngưỡng mộ tài năng của tác giả Đoạn Trường Tân Thanh thôi.

Đến lượt mình, Truyện Kiều cũng được những người đọc tài hoa trích ra từng câu một ghép lại thành một bài thơ tả một chủ đề mới, gọi là “Lẩy Kiều” hay “Tập Kiều”. Tức là lấy một câu sáu ở nơi này ghép với một câu tám cùng vần ở nơi khác trong Truyện Kiều thành một bài thơ để mô tả những điều mà vào thời của Nguyễn Du không có. Sách Chơi Chữ của cụ Lãng Nhân từng ghi lại những bài “Lẩy Kiều” thật đặc sắc. Chẳng hạn để tả:

CÁI ĐÈN CẦY

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài

Một mình âm ỉ canh chày

Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi.

Hoặc:

XE ĐÁM MA

Sắm sanh nếp tử xe châu

Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn

Phất cờ gióng trống lên đàng

Họa là người dưới suối vàng biết cho.

Thậm chí người ta có thể “lẩy Kiều” để tả một cái… trung tiện:

Trông ra nào thấy đâu nào

Hương thừa dường vẫn ra vào đâu đây!

Không chỉ “lẩy” những bài thơ ngăn ngắn như thế, nhiều người đã “lẩy” những bài thơ dài với nhiều đề tài thú vị. Ngoài ghép câu như trên, người ta còn có một cách lẩy Kiều độc đáo khác: Lấy hai câu tám trong Truyện Kiều, mỗi câu ngắt đi một chữ cuối để làm thành đôi câu đối rất phù hợp với hoàn cảnh hay sự việc:

Ví dụ:

Câu đối dán cửa vườn hoa:

Dường gần rừng tía dường xa bụi

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng…(8)

Một người có hai vợ cùng ở chung nhà. Vì có mặt vợ lớn, ông ta gần gũi với người vợ bé không được thoải mái lắm. Thấy vậy, một nhà nho lẩy Kiều đôi câu đối cho ông ta dán cửa phòng vợ bé:

Khi vào dùng dắng khi ra vội

Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng(9)

Sách Chơi Chữ của cụ Lãng Nhân kể chuyện có hai bố con cùng âm thầm dan díu với một phụ nữ. Về sau khi hai bố con tình cờ chạm mặt nhau và sự việc đổ bể, để chữa thẹn, cả hai bố con cùng mắng người tình bằng một câu đối lẩy Kiều:

Bố mắng:

Chẳng hổ mình sao? Dám đem trần cấu dự vào bố.

Người con cũng mắng:

Tuồng gì hoa thải, mượn màu son phấn đánh lừa con!(10)

Chắc là chuyện đặt điều của một nhà nho nào đó, nhưng câu đối lẩy Kiều khá phù hợp với tình huống. Họ làm như thế mà không cần chú dẫn hay khai báo gì cả nhưng ai cũng biết họ lấy từ Kiều; tuy vậy, người ta chỉ khen họ giỏi mà không ai nói họ đạo văn.

“Lẩy” những câu Kiều để làm thành “tác phẩm” của mình cũng gọi là Tập Kiều. Tương tự, “lẩy” những câu thơ cổ trong các sách cổ ghép lại thành bài thơ riêng của mình, gọi là “Tập cổ”. Nhiều nhà nho Việt Nam ngày trước rất thích “lẩy” thơ cổ và đánh giá cao nghệ thuật “tập cổ” này, nhưng có lẽ người thành công rực rỡ nhất là cụ Phan Mạnh Danh (1866-1942) với tập Bút Hoa, (nhà Trí Đức Thư Xã Hà Nội xuất bản lần thứ nhất, 1942).

“Bút Hoa là một thi phẩm vừa “tập cổ” vừa “tập Kiều” cực kỳ công phu. Tác giả đã để ra đến 45 năm “cóp nhặt đến hơn ngàn câu thơ thanh tao diễm lệ trong thơ cổ chữ Hán, đối chiếu với hơn ngàn câu bóng bẩy chải chuốt trong truyện Kiều của ta, ghép vần ghép điệu, lựa ý lựa lời, nôm với chữ, chữ với nôm, phảng phất xa gần, tựa hồ dịch mà không phải dịch, rất có công phu, thật cũng tài tình…”

(Lời Tựa của Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Giáo Dục)

Tác giả giải thích cách làm của mình: “Theo lối này thì lẩy trong các sách Tàu ra mỗi chỗ một câu thơ, rồi ghép lại thành một bài thơ tứ tuyệt đủ niêm luật; bài thơ chữ Hán ấy đọc vần xuống bốn câu Kiều liền, mà bốn câu Kiều liền này hình như dịch nghĩa những câu chữ Hán ấy ra”.

Ví dụ, với bài thơ đầu tiên trong tập Bút Hoa, bốn câu thơ chữ Hán ở trên “lẩy” từ bốn sách Tàu (chữ trong ngoặc đơn sau mỗi câu thơ là tên sách), vần với bốn câu Kiều tiếp liền nhau phía dưới; có vẻ như bốn câu Kiều dịch ý bốn câu thơ chữ Hán bên trên. Hết sức tài tình.

Lưu thủ dư tình bổ Hóa công (Liêu trai)

Hồng nhan lưu lạc hận nan cùng (Bách mỹ)

Sinh tiền cá cá thuyết ân ái (Kim cổ kỳ quan)

Mạnh lý vô thời tổng thị không (Thăng bình truyện)

Phủ phàng chi mấy Hóa công

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha

Sống làm vợ khắp người ta

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

(Kiều)

Bài kế tiếp:

Quế luân tà chiểu phấn lâu không (Tình sử)

Thủy tế, hoa gian ảnh đạm nùng (Trụ xuân viên)

Trù trướng đông lân thiên thụ tuyết (Thi lâm)

Hải đường khai tận nhất đình hồng (Đường thi)

Gương Nga chênh chếch dòm song

Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân

Hải đường lả ngọn đông lân

Hạt sương gieo nặng cành xuân la đà.

(Kiều)

Tác phẩm “tập cổ” Bút Hoa từng được dâng lên Hoàng đế Bảo Đại “ngự lãm,” và được Hoàng đế khen ngợi, “chuẩn thưởng Huy chương Tam hạng Kim Khánh”.

Lẩy thơ của thiên hạ kim cổ mỗi nơi một câu ghép lại thành thơ của mình, hợp vần điệu và niêm luật, nhất quán về ý nghĩa, phải là tài năng văn chương lỗi lạc mới làm được như thế, không những được mọi người khen ngợi mà còn được vua chúa ban thưởng!

Người xưa coi đó là tài hoa - phải cực kỳ tài hoa mới làm được, chớ không phải đạo văn.

Thiếu Khanh

Ghi chú:

1. Chiêu Lăng là lăng vua Trần Thái Tông

2. Nguyên Phong là niên hiệu thứ ba dưới thời vua Trần Thái Tông, từ 1251 đến 1258. Vào năm cuối cùng của niên hiệu này, quân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lăng Mông Cổ lần thứ nhất.

3. Huyền Tông, tức vua Đường Minh hoàng.

4. Tức bốn sách: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, và Mạnh Tử.

5. Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, và Kinh Xuân Thu.

6. Lãng Nhân - Chơi Chữ.

7. Chữ đàn ( 彈 ) trong “gươm đàn” là cây cung (bắn đạn hay bắn đá) (Từ điển Thiều Chửu) chớ không phải cây đàn âm nhạc. “Bán kiên cung kiếm” = gươm đàn nửa gánh (hay nửa vai cung kiếm).

(Nói thêm: động từ đàn là bắn. Đàn chỉ thần công 彈指神工 mà Hoàng Dược Sư dạy cho Dương Quá trong truyện Thần Điêu Hiệp Lữ là công phu búng ngón tay, tức thuật bắn đá hay búng ngón tay bắn đá).

8. Câu Kiều:

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

9. Hai câu Kiều:

Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng

Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.

10. Câu trên của người bố từ hai câu Kiều liền nhau:

Nghĩ mình chẳng hổ mình sao

Dám đem trần cấu dự vào bố kinh.

Câu của người con cũng từ hai câu Kiều liền nhau:

Tuồng gì hoa thải hương thừa

Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.

HUYỄN DỤ

Này em
Hãy nhìn qua bóng núi
Là mây là sương là chút mơ màng khói mỏng
Vài tia nắng chập chờn óng ánh
Quyện vào nhau thành một sắc màu huyễn dụ

Này em
Hãy nhìn vào bóng đêm
Khi thành phố lên đèn tung tẩy bao hình sắc
Những mờ mờ tỏ tỏ đi đi lại lại
Hợp thành một đa tầng nhân ảnh đầy huyễn dụ

Này em
Hãy nhìn kia phía cuối trời
Khi bóng tà nga ngả ánh lên chút hoe hoe
Lẫn trong làn mưa bụi những chiếc lá non lóng lánh
Mê hoặc ngẩn ngơ một cõi trầm huyễn dụ

Này em
Hãy nhìn những nói cười ngả nghiêng
Những ánh ve vuốt những chập chờn ma quái
Cuốn em theo cơn thác lũ phù hoa
Có khi nào em chợt nhìn xuống bàn chân
Để biết chính bản thân mình cũng đong đầy huyễn dụ.

ĐÀM LAN

TRÁCH THẦM

Anh vẫn nhớ ngày thần tiên tuổi nhỏ
Trong lớp nhìn theo gió, cánh phượng bay
Đùa trong nắng phượng thướt tha lơi lả
Phượng mơ màng vương vấn gót chân ai !
Nắng ban mai lung linh đôi tà áo
Mái tóc buông dài, em thả theo mây
Dáng tiểu thư gót ngọc bước trang đài
Anh vội vã viết vần thơ mộng ảo...
Em đâu biết những canh dài thao thức
Ấp ủ trong tim những tha thiết ân cần
Chỉ là mơ... lúc nhớ, lúc bâng khuâng
Bên cửa lớp anh ngượng ngùng lóng ngóng...
Những bài thơ ép trong trang vở mỏng
Những lời yêu sao ấp úng ngập ngừng
Anh khờ khạo,... một câu dù muốn nói
Đã nhiều lần, chẳng thốt được nên lời...
Anh chôn dấu những lời yêu vụng dại
Tự trách mình sao nhút nhát, - vì đâu ?
Để bây giờ, vạn dặm cách xa nhau
Nhớ thương mãi, dáng phượng xưa yêu dấu !..

Phạm Thị Minh-Hưng

SÓNG BẠC ĐẦU

Sóng bạc đầu sóng vỗ xô bờ

Ta bạc đầu mái tóc bạc phơ

Sóng bạc đầu trôi giạt mù khơi

Ta bạc đầu trôi tuột thời gian

*

Sóng bạc đầu sóng vỗ miên man

Ta bạc đầu bởi đời gian nan

Sóng bạc đầu giận dữ dâng tràn

Ta bạc đầu giận cả thế gian

*

Sóng bạc đầu xô vào ghềnh đá

Ta bạc đầu chìm vào hoang vu

Nửa đời người lạc cõi miên du

Giận đời mình giận cả người dưng

*

Sóng bạc đầu sóng vẫn vô tư

Ta bạc đầu ôm mối ưu phiền

Trái tim hóa đá im lìm ngủ

Giật mình thảng thốt : Ôi ! Cô đơn.

HUỲNH THIÊN KIM BỘI

CÒN MÃI YÊU

Tặng TH.

Vẫn chưa bao giờ hết yêu người

Thời gian mờ phai nét son tươi

Dù tuổi thanh xuân vàng như lá

Hơn nửa đời qua đã ngậm ngùi

Vẫn chưa bao giờ nguôi yêu ai

Vườn khuya trăng chiếu bóng cây dài

Từ mùa thu cũ người mang đến

Tình yêu một thuở chẳng phôi phai

Vẫn chưa bao giờ thôi nhớ nhung

Người nay xa vắng cách muôn trùng

Bên kia vạn dặm trời mây nước

Phương nầy còn lại những mông lung

Vẫn chưa bao giờ quên cố nhân

Nơi xưa dường như in dấu chân

Chiều đến đêm đi ngày trở lại

Đợi chờ, chờ đợi mấy mùa xuân.

HOÀI LY

Thiên duyên

Không duyên, không nợ không tình

Đường đời muôn lối sao mình gặp ta.

(Ca dao)

Giữa cơn bão táp phong ba

Dìu nhau vượt bể ái hà gian truân

Tình ta lướt khỏi thế nhân

Trắng trong chẳng gợn bụi trần đam mê

*

Thủy chung giữ vẹn lời thề

Đường xưa lối cũ tìm về căn nguyên

Hẹn hò tiền định, thiên duyên

Nghĩa ân trọn đẹp ước nguyền sắt son

*

Trăm năm biển cạn non mòn

Nghìn thu thao thức chưa tròn giấc mơ

Nhớ ngày lạc nẻo bơ vơ

Thuyền ta rẽ sóng sang bờ Ngân Giang

*

Người đi nhặt ánh trăng vàng

Dệt thành ánh đạo hào quang chói ngời

Người tìm nhặt cánh sao rơi

Ghép lời kinh nguyện xa khơi u hoài

*

Mắt Người rực ánh sao mai

Đưa ta đến trước Phật đài thiêng liêng

Tấm lòng Đức Phật vô biên

Cứu nhân độ thế xa miền trầm luân

*

Ngỡ ngàng tỉnh giấc phù vân

Quay về Chân lý - dừng chân cửa thiền.

NGÀN PHƯƠNG

HẠT CÁT

LẶNG CÂM

Lên giữa cầu thang

Em đã gọi rồi

Ào ạt như gió

Em đến với tôi

Sống hết mình

Như lá non căng nhựa

Giữa trời xanh

Sao lá vội rơi

*

Con sóng nào

Cuốn xô em ngã

Tên cướp nào

Chiếm đoạt đời em

Giữa mênh mông biển dữ

Em vẫn chỉ như chiếc lá cỏ mềm

Không một lời chia tay

Em đi trong lốc xoáy

Không một bàn tay vẫy

Chỉ có mây giăng đầy

Phút chốc đã mười năm

Mười mùa đông lạnh giá

Em nằm trong biển cả

Làm hạt cát lặng câm

Chẳng còn nghe được nữa

“Em còn nhớ hay quên”

Lời bài ca da diết

Trên gác nhỏ thân quen

Không bao giờ còn được

Những giây phút bình yên

Và những chiều dạo bước

Những tối ngắm trăng lên

*

Vẫn bậc cầu thang cuốn

Còn có dấu chân em

Đã nghìn lần lên xuống

Tôi vẫn mải mê tìm.

LÊ NGUYÊN


HÈ VỀ

Hè về nắng tỏa mênh mông

Hoa phượng đỏ cánh rung trong gió đùa

Hàng tre trúc mọc chen đua

Ve sầu vang tiếng giữa trưa nồng nàn

*

Hè về gọi gió đưa sang

Con diều tung cánh ngút ngàn trời xanh

Tuổi thơ nhộn nhịp chạy quanh

Vui chơi múa hát âm thanh tuyệt vời

*

Hè về mây trắng lừng trôi

Đàn chim tung cánh đến nơi an toàn

Bước chân lữ khách hà phang

Tìm về lửa ấm an khang gia đình

*

Hè về oi bức đinh ninh

Nước tuôn nhỏ giọt ướt mình ngày đêm

Mong sao mưa sớm mát thêm

Cho cây nở lộc, cho thềm nở hoa !...

Thanh Châu

ĐỜI THAY ĐỔI

Đời thượng cổ năm không nhớ rõ

Núi có hang, hang có suối không

Đá, khe xếp khéo vô cùng

Càn khôn một hạt, mở trong bầu trời

Cõi không, không biết nơi biết hướng

Lòng riêng, riêng chỉ tưởng chỉ thiền

Bao la, cửa Phật tự nhiên

Trông thành thấy cảnh biến thiên mà buồn.

LANG NGUYÊN

ĐÊM BUỒN

Huyện Cần Giờ trước thôn Thanh Thảo

Đêm tờ mờ một lão ở đây

Trăng trong mặt nước ao đầy

Đèn hiu trên vách, muôn cây gió dồn

Lối sinh kế ông còn ngây dại

Nghiệp chướng tiêu thư thái đôi khi

Ngư tiều, có bạn tương tri

Mây ngàn cỏ nội nơi đây vui cười.

LANG NGUYÊN

HOA SEN

SEN nở hoa tươi trên ruộng đồng

SEN màu đẹp sắc tỏa hương hồng

SEN bông rực rỡ dâng lên PHẬT

SEN ngó thân cây thẳng duổi dòng

SEN búp trơ cành vàng bén nhụy

SEN khoe dáng điệu ngát hương nồng

SEN bùn đất ướt vươn cây tốt

SEN củ vị thanh uống mát lòng.

QUANG BỈNH

XA BẠN

Uống cạn men nồng rồi cứ say

Vơi dần hũ rượu vẫn không hay

Nhớ người vợ cũ giờ xa khuất

Thương bạn chung chăn đau xót thay

Đâu tiếng câu hò nương gió thoảng

Để lòng thổn thức áng mây bay

Hồn thơ xin gởi qua trang giấy

Hồi tưởng mơ hình nhớ bóng ai.

QUANG BỈNH

HÈ VỀ

Lật bật mà nay lại đến hè

Gió Nồm Nam thổi rách phên tre

Sân vàng trải nắng vang lời kẻ

Phượng đỏ xoe cành rộn tiếng ve

Tạm biệt xa thầy buồn ruột thắt

Giã từ cách bạn xót tim se

Hương mùa sắc hạ đang chờ đón

Dậy tiếng tơ lòng chợt thoảng nghe.

THANH VĨNH

NHỚ THUỞ HỌC TRÒ

Mái trường mờ tỏ núp hàng cây

Kỷ niệm êm đềm nhớ ngất ngây

Phượng đỏ rung cành đùa với gió

Tuổi thơ dệt mộng thả theo mây

Bạn xưa thân mến tình trong sáng

Thầy cũ kính thương nghĩa đủ đầy

Áo trắng một thời như sống lại

Dẫu đời xế bóng ngả về tây.

THANH VĨNH

ANH ƠI ! VĨNH BIỆT

Anh ơi ! sao vội ra đi

Bao người tưởng nhớ - chia ly chạnh lòng

Anh còn đâu nữa mà mong

Từ đây tình nghĩa Vợ Chồng cách xa

Riêng Em lẻ bóng chiều tà

Cháu - Con - Dâu - Rể não nề thê lương

Bà con lối xóm tiếc thương

Bạn bè quý trọng còn vương vấn hoài

Thơ ca vọng tưởng bi ai

Về Nguồn Võ Vũ không phai nghĩa tình

Từ nay Chủ Nhiệm Thờ Hình

Đâu còn ngâm tặng rồi bình Thơ Ca

Bao nhiêu tha thiết đậm đà

Bấy nhiêu u uất thật là bi thương

Vĩnh Long tiếng vọng quê hương

Giang tay đón nhận ánh dương rạng ngời

Anh nằm nơi ấy lạc loài

Vườn hoang nhà trống mấy ai chu toàn !

Anh ơi ! Em dấu lệ tràn

Chắp tay khấn nguyện vái van lưu tình

Ở nơi ấy có hiển linh

Hãy về đón nhận thâm tình của Em

Em cùng Họ Tộc xin đem

Lòng thành tưởng niệm đi kèm lệ rơi.

VŨ THÙY HƯƠNG

MẶT TRÁI CỦA…

Lễ hội và chùa chiền đầu năm

Lại là nơi xô bồ và nhộn nhạo

Điểm hội tụ những thành phần bất hảo

Bói toán, cờ bạc, móc túi và lừa đảo

Ai đó nghĩ rằng lễ lạc càng nặng

Vàng mã đốt càng đắt tiền

Là được đấng siêu nhiên

Cho hưởng nhiều phúc lộc

Khắp nơi đặt hòm “công đức”

Phải chăng cúng dường nhiều thì mới nhiệm màu

Món tiền khổng lồ, ai biết sẽ về đâu ?

Không minh bạch tất nảy sinh cái xấu

Bề mặt là vấn đề văn hóa

Tiềm ẩn sâu xa lại là hiểm họa

Là thiếu niềm tin giữa người với người

Thiếu niềm tin vào sự bình đẳng

và công bằng xã hội

Bề ngoài là thực hành tín ngưỡng

Nhưng sâu xa là cầu sự hỗ trợ của thần linh

Ngẫm xem, lạc hậu hay văn minh ?

LÊ MINH CHỬ

PHẢI LAU CHÙI

Trường kỳ kháng chiến chẳng hề lui

Nắng bụi mưa bùn, vẫn thấy vui

Cuộc sống quanh năm, cay đắng chát

Hương đời một thuở, ngọt thơm bùi

Liên Hoa, giáo lý nghe như điếc

Phật Pháp, đường tu thấy giả đui

Phúc lộc trên ban, ta cứ hưởng

Lòng này vướng bụi, phải lau chùi…

PHƯỚC HẢI

PHÚC LỘC NINH

Gương mẫu dạy người vẫn chứng minh

Không tuân pháp lực, khổ đời mình

Thân tâm Phật Pháp, tâm thanh tịnh

Thoát cảnh trần gian, cảnh tử sinh

Thế sự giòng đời, thêm ý nghĩa

Thăng trầm mạch sống, tạo nhân tình

Thiên thời biến đổi nhiều tai họa

Địa lợi nhân hòa, phúc lộc ninh.

PHƯỚC HẢI

Mậu Tuất 16/12/2018

SẦU LẺ BÓNG

Thuở ấy, đôi mình gặp gỡ nhau
Nhẹ nhàng như nắng cuối nương dâu
Những mong hạnh phúc bên nhau mãi
Và... sẽ yêu nhau đến bạc đầu...

Tình ta nồng mặn biết bao nhiêu
Quấn quít bên nhau suốt sớm chiều
Hạnh phúc dâng trào như sóng biển
Hương tình ngây ngất trái tim yêu

Sao một chiều anh nỡ bỏ đi
Để em buồn : hát khúc chia ly
Đêm đêm tựa cửa sầu riêng bóng
Thương nhớ bâng khuâng, biết nói gì

Giận hờn buồn tủi mãi không nguôi
Hận gã nhân tình bạc tựa vôi
Mới đó nồng say như mật ngọt
Mà nay : muôn dặm cách xa rồi !

Mới biết : đời người như giấc mộng
Công danh sự nghiệp chẳng bền lâu
Tình yêu như sóng trôi ra biển
Xô trái tim đơn xuống vực sầu !

Chiều nay, lê gót bước lang thang
Thương mối tơ duyên lắm bẽ bàng
Trở lại vườn xưa tìm kỷ niệm
Nhớ người xa cách mấy quan san...

THANH PHONG

VỀ TRƯỜNG CŨ

Tôi hẹn em ngày trở về trường cũ
Mắt đầy sao, em nở mãi nụ cười
Má ửng hồng trong ánh nắng ban mai
Ngày hội ngộ, chắc em tôi xinh lắm…

Tôi nhắc chị : thời gian còn rất ngắn
Nhớ về cho vườn cũ nở hoa xưa
Chị cằn nhằn, mái tóc đã bạc phơ
Hoa cũ nở, ai là người đón đợi ?

Tôi nhắc anh, người phương xa vời vợi
Quê nhà luôn mỏi mắt ngóng nhau về
Mùi đất cũ nồng hơi nắng sau mưa
Nghe bì bõm vết chân thời đi học…

Tôi nhớ ai, kẻ rời xa cõi đất
Một nén hương, một ngụm rượu chân tình
Một bài ca nhớ tưởng thuở bình yên
Bài ca nữa lại đong đầy khói lửa…

Tôi thăm anh, người thêm lần bỏ lỡ
Chốn dưỡng đường giờ là chỗ nương thân
Nhưng trong tim vẫn thắm sắc phượng hồng
Xa mà vẫn gần như thời xưa ấy…

Tôi dặn tôi, đường dẫu xa vời vợi
Nhớ tìm thăm lũ bạn thuở rong chơi
Nhớ ủi an, ai người phải xa xôi
Nhớ tất cả, đừng để gì hoang phế…

LAM TRẦN

VIẾNG MẸ TÀ PAO

Mẹ là một “Giấc mơ đẹp”

Mẹ là vầng trăng sáng

Đến với Mẹ Tà Pao

Với chiều cao 429 bậc

Con vừa đi, vừa thở, vừa đọc :

Kính mừng Maria

Tiếng con không vang xa được

Chỉ thầm thĩ trong lòng

Maria Mẹ ơi !

*

Được bao nhiêu rồi nhỉ ?

Lần tới lại lần lui

Chắc được hai chục rồi

Nếu mỗi bậc là một kinh thì sao ạ ?

Ồ! Khủng khiếp quá !

Như tổ phụ Abraham

Con trả giá năm chục thôi

Vừa đi, đứng, nằm, ngồi

Tựa cả người vào lan can giá lạnh

Chân bước thấp bước cao

Bảo nó khó khăn quá

Có những lúc tưởng chừng như vấp ngã

Thở hơi vắn hơi dài

Tiếp tục Ave Maria

Chắc được chừng một nửa

Thêm sức cho con với Mẹ ơi

Con muốn đứt hơi rồi

Kính… Mừng… Ma..ri..a

Ô kìa Mẹ đã ở trước mặt con

Mẹ rạng rỡ và con cũng phấn khởi

Tới nơi rồi thở phào và sung sướng

Chạy ào tới bên Mẹ

Cũng chỉ Kính Mừng Maria…

HÀ MẠNH ĐOÀN

Tà: Đẹp (theo nghĩa linh thiêng)

Pao: Giấc mơ


TÌNH MẪU TỬ

Tình mẫu tử, tất nhiên, không chỉ là

“Mang nặng đẻ đau” - khó khăn và đau đớn.

Là đứa bé, mai sau khôn lớn

Thành điều diệu kỳ - thế là mẹ yên tâm…

Đến khi con chim non - cục cưng vàng,

Cô gái nhỏ ngọc ngà quý giá,

Bỗng nhiên cuối cùng hiểu ra

tất cả cuộc đời của mẹ…

Những năm tháng qua tôi đã hít thở bằng gì…

Tất cả lo toan, những chăm chút ưu tư…

Rồi một bữa đứng bên nhau chung vai sát cánh,

Chúng tôi đứng bên nhau cảm thông im lặng

Và cùng nhìn con đường của chúng tôi đi tới ngày mai

Thì bấy giờ mới hiểu ra cốt lõi “tình mẫu tử”cao dày.

*

Đã được năm năm kể từ ngày

Chúng tôi chôn cất cha chúng tôi.

Khi đưa người tới nơi mộ huyệt,

Tuyết trắng tối sầm, tối cả đất trời.

Nghĩa địa nằm ở mãi sau làng

Con đường tới đó dài bất tận

Đâm vào gò tuyết to sừng sững

Cánh vung lồng lộn gió cuồng điên

Sợi chỉ gắn chúng tôi một mối

Những tưởng bữa này đã đứt tung

Nhưng mẹ đột nhiên như bừng giấc:

- Còn sống cả đây… - sống trọn cùng!

Và bàn tay ngăm đen của mẹ

Che đi những giọt lệ héo khô…

Ngoài trời tuyết mịt mù, băng giá…

Mẹ nhóm lửa lên cháy rực lò.

Thúy Toàn dịch

Mưa

Chiều khuất đêm về mưa tả tơi

Gió giật từng cơn giật liên hồi

Nhớ lại ngày xưa vai gánh nặng

Đường về nước ngập bước chơi vơi

Mấy chục mùa mưa đã qua rồi

Một lần tháng sáu xác phượng trôi

Tàn mưa nhặt phượng ôm lên ngực

“Phượng hỡi mai thi tốt nghiệp rồi”

Dòng đời trôi mãi trôi vô tận

Cánh phượng ngày xưa lạc chốn nào

Đêm nay dai dẳng mưa không tạnh

Kẻo kẹt võng buồn chạnh nhớ nhau.

NGUYÊN LÊ - TRẢNG BÀNG

22/6/2017 ngày thi tốt nghiệp phổ thông, chiều mưa dầm đến tối. Nhớ lại ngày xưa vừa đi bán vừa đi học. Nhớ Thầy Cô nhớ bạn bè nằm một mình kẽo kẹt võng đưa, thật tình mình rất nhớ.

ĐẾM LÁ

Tiễn em đi : cành bạch dương trắng tuyết,

Đón em về : lá vẫy gọi, rờn xanh.

Em đếm lá, ngày lại ngày, sẽ biết

Bấy nhiêu lần mong nhớ của lòng anh !

Matxcơva, 27-4-1989

VŨ ĐÌNH HUY

COUNTING LEAVES

Seeing you off : the white poplar branch

was whitened by snow

Welcoming you back : greenish leaves waved.

Just count the leaves day after day, then you’ll know

The number of times my heart was missing you !

Moscow, 27-4-1989

VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN

MỜI RƯỢU

Matxcơva tuyết trắng trời,

Chồng tôi ngồi tiếp mấy người bạn Nga.

Tôi thì tíu tít vào ra,

Cá khô, thịt, rượu vốt-ca dâng mời.

Tiếng Nga chỉ hiểu đôi lời

Mà tôi nghe ấm tình đời xứ xa !...

Matxcơva, 05-12-1989

VŨ ĐÌNH HUY

AN INVITE TO WINE

In Moscow, white snow whitens the sky

My husband was treating some of his Russian friends.

I bustlingly go in and out

Offering vodka, dry fish, meat, and wine.

Knowing only one or two Russian words

But I do feel a warm humanitarian love in

a far away country !...

Moscow, 05-12-1989

VŨ ĐÌNH HUY - Translated by VŨ ANH TUẤN

Phụ Bản III

NGHĨ VỀ CON ĐƯỜNG DU LỊCH KỲ THÚ

Đà Lạt - Tháp Chàm - Ninh Chữ

Trong chúng ta, nhiều người được nghe, nhưng cũng không nhiều người được biết và đã đi trên tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt. Con đường khởi công ngày 01-7-1914, năm sau đặt đường ray và bắt đầu chạy năm 1916. Năm 1922, kỹ sư Porte của Công ty thầu khoán Á Châu mới được nghiên cứu làm đường xe lửa răng khế mà người ta gọi là răng cưa hay móc xích để nối liền Krông-Pha đến Đà Lạt.

Hơn 18 năm mới xây xong, ngày 08-12-1932 mới khánh thành toàn bộ tuyến đường dài 84,064 km. Sở dĩ mất nhiều thời gian và công sức như vậy vì con đường phải leo dốc, có đoạn Krông-Pha đến đèo Ngoạn Mục dài 8 km phải leo từ 180 mét lên cao 1000 mét, nghĩa là dốc 12%, và đục đá hoa cương làm hầm, xây cầu, cống, ga trên tuyến đường.

Vùng núi gần đèo Ngoạn Mục lúc bấy giờ là nơi sơn lâm chướng khí, dân miền xuôi không ai chịu lên đó để làm đường, nên việc tuyển mộ nhân công gặp nhiều khó khăn. Nhà cầm quyền Pháp phải giao cho quan lại, tổng lý cung cấp. Bọn này đành phải bắt những người không có thẻ thuế thân hoặc căn cước, đày lên cho đủ số. Việc làm quá nguy hiểm, có đi mà ít có về, số cùng đinh này lên vài hôm rồi cũng trốn mất.

Đến năm 1936, công việc kiến thiết mới hoàn thành, việc khai thác cũng bắt đầu từ đó. Ngoài việc chở hành khách, hàng hóa được chuyên chở là các loại hải sản tươi khô, cùng hóa phẩm khác lên Đà Lạt và ngược lại: rau, quả tươi trở về xuôi cho một số tỉnh miền Trung.

Vì tuyến đường xe lửa này phải leo dốc, nên từ ga Krông-Pha hệ thống đường sắt và bánh xe phải dùng loại dây xích để khỏi tuột dốc khi lên hoặc xuống, sau khi đã xảy ra nhiều tai nạn với lối di chuyển thông thường như ở đồng bằng.

Trên đoạn lên, xuống dốc, cụ thể trên đường này là độ dốc 12% trở lên phải dùng đến răng cưa để đưa đoàn tàu vượt qua dốc và xuống dốc. Cấu tạo của đường sắt răng cưa: ngoài 2 đường thông thường ở giữa tim đường còn lắp thêm 1 ray có răng cưa. Tương ứng với đường ray, trên đầu máy người ta cũng chế tạo bộ phận bánh răng cưa khớp với bánh răng cưa trên đường ray. Những đoạn đèo dốc nhỏ thì bộ phận răng cưa không hoạt động, khi bắt đầu leo dốc lớn, người lái tàu sẽ điều khiển cho bộ phận bánh răng này “ngoạm” chặt vào trục bánh răng cưa ở giữa 2 đường ray rồi khóa hệ thống bánh răng và như vậy xe lửa bắt đầu leo hoặc xuống dốc. Đầu máy chỉ chạy với tốc độ 5-10 km/giờ, leo dốc 12% đó là đầu máy cũ. Ngày nay, ở các nước Thụy Sỹ, Pháp, Đức… đặc biệt là ở Thụy Sỹ đã đưa vào sử dụng loại đầu máy có thể vượt dốc 30-40%, với tốc độ 30-40 km/giờ lên dãy núi Alpes.

Bình quân, cứ 7 km có 1 nhà ga, trong đó nổi bật nhất là ga Đà Lạt, do hai kiến trúc sư người Pháp là Moncet và Reveron thiết kế, là 1 trong những ga xe lửa đẹp nhất Đông Dương.

Bề ngoài 3 mái cong trông như đôi cánh máy bay Dakota đang sẵn sàng cất cánh, bên trong phòng đợi là đại sảnh khang trang đầy đủ chỗ cho 300 khách chờ đợi, vừa được khôi phục như cũ.

Đầu năm 1991, một công ty đường sắt Thụy Sỹ đầu tư khôi phục nâng cấp toàn tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm và từ ga Tháp Chàm đến bãi biển Ninh Chữ (10km). Phía Đà Lạt chạy vòng quanh Hồ Xuân Hương, qua chợ hoa Đà Lạt, vòng về sân vận động, xuống thung lũng Tình Yêu, phục vụ khách du lịch và nhân dân. Tương lai không xa dự án còn đề cập đến việc đưa đường sắt đến các cụm công nghiệp, khu mỏ, khu khai thác gỗ của Tây Nguyên, để vận chuyển đi khắp nơi.

Tháng 9-1991, lễ thông đường sắt Đà Lạt - Trại Mát dài 7 km đoạn đầu của cuộc hồi sinh tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm và được nối dài đến bãi biển Ninh Chữ (Ninh Thuận).

Đà Lạt xinh đẹp và thơ mộng, với núi rừng, đồi thông, suối, thác Cam Ly, hồ Than Thở, rừng Ái Ân… Đối với khách Đà Lạt đẹp nhất vào mùa hoa đào nở, lúc đó trời nắng dịu, không khí trong lành, thời tiết ấm, trăm hoa đua nở khoe sắc dưới nắng ấm muôn hồng nghìn tía, khiến cho con người hòa hợp với thiên nhiên dễ dàng và cảm thấy yêu đời, thanh thản.

Ngược lại, cùng trên một vĩ tuyến, cách xa tấc gang mà Phan Rang (Ninh Thuận) khí hậu khô nóng nhất Việt Nam, khách viễn phương được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo của vương quốc Chiêm Thành “trơ gan cùng tuế nguyệt” như tháp Hòa Lai, đền thờ Pô Nagar, đền thờ Chế Bồng Nga, cùng các kho tàng chứa nhiều báu vật của vua Pô Klong Garai, Pô Rôme, văn bia Pa-Sah, cùng phong tục tập quán người Chăm, người Churu… nhất là lễ hội Katê, Chabur mừng năm mới của người Chăm. Con đường chưa đầy 100km, hình thù như con quái vật uốn lượn quanh co theo sườn núi, lúc chạy song song, lúc lượn qua với con đường quốc lộ 20, lúc chui hầm, leo dốc phì phà mệt nhọc… Xuống đồng bằng, con đường nhẹ nhàng, bò qua đồng lúa vàng, liên tiếp vườn nho xanh nặng trĩu quả chín mọng, hệ thống thủy lợi đã biến vùng đất trắng thành vùng chuyên canh hành, tỏi nổi tiếng cả nước.

Khách du lịch đến Đà Lạt đắm say với hương rừng, thác nước bao nhiêu thì biển cũng làm thỏa chí cho khách với nước trong, cát trắng, gió mát vi vu, với trời xanh bát ngát của miền nhiệt đới. Khách viễn du cũng hài lòng với những tối ái ân gối êm nệm ấm; với những ngày vẫy vùng với sóng biển vỗ về cùng ánh nắng chói chang, hòa lẫn trong “huơng trời sắc nước”.

Con đường thật kỳ thú dành cho ai hành trình đến đó…

BÙI ĐẸP st.

Ghi chú:

· Độ dốc chênh lệch Tháp Chàm - Đà Lạt: 1480m.

· Hầm dài nhất: 650m

· Cầu: 72 cái (dài nhất 260m)

· Cống: 208 cái (tổng chiều dài 1711m)

· Răng cưa: 3 đoạn ((dài nhất 8412m, ngắn nhất 1462m)

· Ga: 12 cái

· Các kho báu hiện nay không còn, bị thất lạc.

NGƯỜI ĐÀN BÀ CUỐI CÙNG

(tiếp theo số 157)

HOÀI LY

Ngày rồi đêm trôi qua, đôi nam nữ mãi để tâm lo lắng cho đứa bé tội nghiệp mà hầu như quên đi thời gian. Sau bữa tối, thấy người cha ngồi tư lự bên ngọn đèn dầu leo lét, cô dọn rửa chén bát xong đi ra ngoài, tiến đến gần, ngồi xuống bên cạnh,nhỏ giọng:

- Sao chú buồn quá vậy, có việc gì xảy ra cho chú và cháu bé, mà hai cha con phải đi đến tận đây cực khổ quá, chú có thể kể cho tôi nghe được không?

Người đàn ông quay mặt về phía cô ta, ánh đèn yếu ớt soi lên gương mặt hằn nét khắc khổ, phong trần lẫn đau khổ. Anh ta như nuốt nghẹn một lúc lâu mới đáp lời:

- Không dấu gì cô, tôi đem con bé theo mấy tháng rồi.

Cô giật mình thảng thốt:

- Sao phải đi đường xa giữa mưa gió, giông bão như vầy?

- Hai năm trước, tôi nghe lời bạn bè theo vô rừng tìm trầm, gỗ quý về bán lấy tiền nuôi vợ con…

Lúc tôi đi Hà My vợ tôi đã mang thai, nên tôi đưa cô ấy về gởi cho má tôi lo dùm. Sau đó tôi lên đường luồn rừng từng ngày rất gian nan, cực khổ, nhưng suốt năm mãi vẫn không được gì hết như mong muốn, lại còn phải trốn tránh bộ đội biên phòng, cả những người giữ rừng phòng hộ. Tôi nản lòng nên bỏ về nhà.

Anh thở dài nói tiếp:

- Cô biết không, phải chi tôi đừng về mà cứ ở lại rừng thì không gặp hoàn cảnh buồn như vậy. Căn nhà vắng lạnh chỉ có bà cháu ôm nhau ngồi nơi ngưỡng cửa, bóng Hà My thì đã biền biệt từ lúc nào. Tôi hỏi thì má tôi chỉ nói cô ta về quê một thời gian, gởi con bé còn bú mẹ cho bà má già yếu.

Cô gái sốt ruột hỏi:

- Rồi sao đó thì sao chú?

- Lúc đó cháu Hương con tôi quá nhỏ, cứ khóc hoài đòi mẹ, làm má tôi và tôi thật bối rối, đành cho nó uống sữa hộp, dỗ dành mãi nhưng cách một hai ngày lại khóc thét trong giấc ngủ, cuối cùng, tôi xin đem cháu về quê tìm mẹ, chớ để lâu ngày nó thiếu hơi mẹ dễ sanh bệnh. Má tôi đành đồng ý, tôi liền đưa con đi, nhưng khi đến nơi thì được biết cô ấy không trở về đó mà lại đi theo người bạn qua L.A. làm gì không ai biết, nhưng có người bà con cô ta nói riêng cho biết nơi ở của vợ tôi, nhưng vì xứ lạ, lại gặp mưa đổ xuống nên đã gặp cô giúp đỡ như hôm qua đến giờ.

Cô gái cảm thương cho tình cảnh người mới quen, liền đánh bạo đề nghị:

- Tôi nghe chuyện chú buồn quá, thôi giờ tôi tính vầy: Chú cứ ở tạm đây đi, chờ cháu khỏe lên rồi hãy đi tìm thím ấy tiếp, còn nếu bé không bớt mình phải đưa lên huyện chữa mới được. Hông thôi chú cứ đi một mình, còn bé Hương thì để đây tôi giữ cho, chừng nào gặp vợ thì trở lại đem nó về cho cha con vợ chồng sum họp, được không chú?

Người cha khốn khổ nói như khóc:

- Tôi rất cám ơn tấm lòng của cô, nhưng cha đâu con đó, làm sao tôi xa cháu cho được.

- Bộ chú sợ tôi làm hại con chú, làm gì xấu hả, tôi vầy thì đi đâu được chớ?

- Không đâu cô, nhưng sao tôi nỡ bỏ cháu lại cho cô lo lắng như vậy?

Cô gái thở ra:

- Thì thôi tùy chú vậy.

Nói xong, cô đứng dậy đi vào trong, làm người đàn ông hoảng hốt, vội đưa tay kéo cô ngồi lại, nói ngay:

- Xin lỗi cô vì những lời thật tình tôi vừa thốt ra, cô hãy hiểu cho tôi nha.

Cô thấy tội nghiệp nên nén lòng ngồi xuống, lúc lâu không nghe nói gì, anh vẫn cúi mặt nín thinh, cô mới lên tiếng:

“ Chú à, sẵn đây tôi cũng kể hoàn cảnh đơn chiếc của tôi trong căn nhà dột nát nầy cho chú hiểu rõ, khỏi ngại ngùng nữa: Cách đây đã lâu, lúc tôi còn nhỏ xíu, chỉ lớn hơn bé Hương bây giờ chút thôi, đã theo cha mẹ đến nơi nầy sinh sống. Ba mẹ tôi dựng lên mái nhà nầy trú nắng mưa, ra sức cuốc đất trồng rau trái, gieo lúa má để ăn và bán nơi chợ xã, huyện. Lúc đó, ở đây có chừng năm mười nóc nhà có người sống và khai khẩn đất đai. Mẹ tôi giỏi lắm, ngày làm rẫy, lên liếp, tối rảnh lại mang chỉ len ra đan, móc áo người lớn, con nít đem bày bán chung bên cạnh rau trái vườn nhà. Ba tôi thì đan lưới, đánh bắt cá kiếm thức ăn thêm cho gia đình ở con rạch đằng sau nhà.

Ông biết nhiều chữ lắm đó chú, ngày nhỏ, tôi thấy ông chong đèn đọc sách tới khuya, tôi biết đọc biết viết cũng do ba tôi dạy đó. Mẹ tôi kể hồi trẻ ba là một sinh viên khoa ngoại thương năm thứ hai, trong lúc đi công tác hè ở miền quê mẹ S.Đ, gặp mẹ ở đó rồi hai người thương nhau, nhưng ông bà ngoại không ưng vì ba ngoại đạo, còn là trẻ mồ côi mà nhà ngoại vốn đạo gốc từ Bùi Chu di cư vào miền Tây sinh sống. Hai người trẻ tuổi liều lĩnh dắt tay nhau bỏ trốn. Mẹ tôi còn nói: “Đi đến chỗ nầy vài tháng lâu lắm là một năm, hễ nghe tin ông ngoại cho người bắt về, lập tức cuốn gói đi tiếp, miết cho đến nơi khỉ ho cò gáy nầy thì hai người ở tới giờ”.

- Rồi chuyện ra sao nữa cô?

- Ba mẹ tôi đã quyết định cư trú lại, cuốc đất trồng rau, lưới cá vì lúc đó mẹ tôi đã mang thai em trai tôi rồi. Hồi ấy, các chú bác ở chung quanh đây đều hiền lành chăm chỉ việc đồng ruộng cùng mọi người. Ba mẹ có kết thân với một gia đình có người con trai lớn hơn tôi hai tuổi, ông bà rất thương mến anh ta, tôi nhỏ quá nên không biết được sự xếp đặt của người lớn, nên xem như anh trai mình, ngày qua ngày vẫn chơi đùa bên nhau.

- Bây giờ sao cô lại sống một mình, mà ở đây thì vắng vẻ quá vậy?

Cô gái thở dài:

“ Để tôi kể tiếp từ khi mẹ tôi mang em bé, tội nghiệp bà ốm yếu, nhỏ nhoi mà làm việc nặng nhọc quần quật ngày qua ngày, khi sanh nở lại ở nơi đồng quê xa xôi, không kịp đi trạm xá hoặc bệnh viện huyện nên bị băng huyết kéo dài, em bé nhờ bà mụ vườn đỡ ra, nhưng èo uột yếu ớt, nên thấy cháu Hương con chú bệnh vậy, tôi sợ lắm. Sau đó, mẹ tôi đau rề rề hoài, sức khỏe ngày một yếu, ba tôi lo lắng bán hết đồ đạc trong nhà để chữa bệnh cho mẹ, ai bày thuốc gì ba chạy nấy nhưng mẹ không qua khỏi, em trai tôi được ba tháng thì mẹ tôi chết bỏ mấy cha con bơ vơ, em tôi thiếu hơi mẹ, thiếu sữa cũng theo mẹ về trời.

Ngày đó, tôi mới hơn ba tuổi đầu còn nhỏ nhưng tôi cảm thấy rõ nỗi buồn vô tận của ba tôi, ông ngồi kề bên giường mẹ, cầm tay bà mãi, nước mắt chảy hai hàng, không muốn rời người vợ yêu quý, thấy ba đau khổ như vậy, liền chạy lại ôm chặt ông òa khóc theo.

Sau nầy, ba nói với tôi:

- Mẹ đi rồi, em cũng mất, lúc đó ba chỉ muốn theo hai mẹ con cho trọn lời thề hứa với nhau, nhưng nghĩ lại con còn nhỏ quá, ba không đành lòng nên phải gắng gượng sống chờ con trưởng thành. Rồi theo ngày tháng cha con lây lất với nhau, ba tôi vẫn cuốc đất trồng rau, lên giàn bầu mướp dắt theo tôi đi bán ở các chợ, thỉnh thoảng ông quăng lưới trong rạch để thay đổi thức ăn cho tôi”.

Cô gái ngừng lời, thấy người đàn ông vẫn lắng nghe, cô thở ra, nói tiếp:

“ Chúng tôi đã quen chỗ nầy, dù nơi đây lần lượt có người dời nhà ra xã, huyện hay nơi khác vì đất ngày càng khô cằn, không còn màu mỡ lại hẻo lánh nhưng ba tôi cứ ở lại, ông nói còn mồ mả mẹ và em còn ở nơi này.

Những tưởng cuộc sống của ba và tôi êm xuôi bình yên, nhưng năm tôi mười ba tuổi bỗng bị một cơn bịnh nặng, nóng sốt cao, ba tôi cắt thuốc Nam cho uống mà hổng bớt chút nào, càng nóng đi nóng lại, tôi đau nhức khắp mình mẩy, nhất là cẳng trái, tôi rên la khóc lóc quá chừng, ba vác tôi lên vai chạy băng qua mấy cánh đồng mới lên đến huyện để chữa trị.

Bác sĩ nói tôi bị sốt tê liệt, chuyển lên tỉnh, ba tôi một phen vất vả, chạy ngược xuôi để chữa bệnh cho con. Thời gian sau, tôi lành mạnh về nhà, nhưng chân trái bị cong lại và đi khập khểnh từ đó.

Tôi khóc hết nước mắt vì bịnh tật của mình buồn đến nỗi không muốn trò chuyện với ai, kể cả ba tôi, thêm nữa là tình cảnh nhà nghèo trống trải, chỉ còn lại những đồ vật cũng nát. Ba ôm tôi vào lòng, vuốt đầu an ủi:

- Của đi thay người con à, miễn con lành mạnh vui sống mãi với ba là được rồi.

Từ ngày đó, tôi cố gắng vui vẻ cho ba yên lòng, nhưng chú biết không, cũng từ lúc đó, tôi thấy đầy mặc cảm nghèo nàn, bệnh tật”.

Anh ta an ủi:

- Cô đừng buồn, cảnh đời của mọi người đó trên đặt để hết, mình cứ sống tốt là quý rồi.

- Ba tôi cũng dạy tôi vậy đó. Thôi, để tôi kể tiểp cho chú nghe:

“Gia đình tôi và hàng xóm tôi kể hồi nãy, từ ngày mẹ mất vẫn đi lại thân tình, nhưng... đến năm tôi mười tám tuổi, trong lúc uống trà vui chuyện, ba tôi tiện miệng nhắc lại chuyện hứa hôn của tôi và anh Thế con bác ấy, thì hình như vẻ mặt bác liền thay đổi, lảng sang chuyện khác. Thấy vậy, ba đã hiểu nên im lặng cho đến khi bác Ba chào về. Tiếp sau đó khoảng hai tháng, cả nhà bác lẳng lặng dọn đi nơi khác không ai hay. Đêm đêm ba tôi lại chong đèn ngồi thở dài miết. Tôi an ủi: Không sao ba à, con đâu có thương anh Thế con bác Ba Thời, ba đừng buồn, con sẽ ở vậy với ba hoài. Ba tôi chép miệng thở ra: “Tội nghiệp con gái tôi!” Từ ngày đó, ông gầy yếu hơn, đôi lúc ho khúc khắc, tôi hỏi thì ba làm ra vẻ tươi tỉnh như vẫn khoẻ mạnh. Ông thật đáng thương phải hôn chú?

Tôi lớn lên đã thay ba gánh rau đi bán. Thương tôi đi đứng khó khăn, ông xin chiếc xe đạp cũ của lối xóm sửa lại vừa tầm, tập tôi chạy xe đạp để ra chợ cho tiện.

Ba năm trước, vào một đêm mưa lớn, ba tôi đi lưới cá về, quần áo ướt đẫm, người run rẩy lạnh ngắt, tôi lật đật đốt lửa hơ cho ông, thay đồ khô, nhưng suốt đêm ông vật vã, thở mệt nhọc và kêu đau ngực, tôi chỉ biết lấy dầu thoa cho ba mà thôi. Sáng sớm hôm sau, tôi đưa ba đi ra trạm xá, người ta lại chuyển bệnh lên huyện, chẩn đoán ông bị sưng phổi nặng lắm, tôi sợ điếng người, rụng rời tay chân. Các bác sỹ, y tá đều hết lòng điều trị cho ba, nhưng bệnh ngày một tăng thêm, tôi lại hết tiền, thấy vậy, ba tôi cương quyểt đòi về, tôi năn nỉ mãi mà ba không chịu nên đành xin bệnh viện đưa ba về nhà. Đêm đến, ông trở bịnh, thở rất khó khăn khò khè và làm mệt nhiều hơn, tôi chỉ biết nhìn ba mà khóc.

Ba nắm chặt tay tôi, không nói được nữa, chỉ đưa mắt nhìn về phía bàn ba thường ngồi. Lúc đó, tôi không hiểu gì, sau đó thì ông nhắm mắt, thở hắt ra và qua đời.

Thấy ông nằm im hoài, tôi hoảng hồn, lay gọi miết mà ba vẫn không trả lời. Vậy là ba đã bỏ tôi đi, ông đã theo mẹ về thiên đàng”.

Cô gái kể tới đây, nước mắt tràn đầy trên khuôn mặt thanh tú đầy buồn tủi.

Người đàn ông cũng xúc động không kém trước câu chuyện của cô, nhưng chỉ biết đặt tay lên vai nàng vỗ nhẹ, khuyên nhủ:

- Chuyện qua lâu rồi, cô ráng phấn đấu để tìm một tương lai tốt đẹp nghe cô, mà sao cô không tìm về quê ngoại xem còn ai, để họ hàng của mẹ sẽ giúp đỡ phần nào chăng?

Cô sụt sùi một lúc, kéo tay áo lên lau nước mắt

Cô quay ra nhìn anh, trong bóng tối, đôi mắt đen như hai đốm sáng lấp lánh, mời gọi. Anh nắm tay cô, hai người bỗng chợt nằm sát nhau, anh ôm chặt cô trong tay, hôn lên môi nàng, cô chỉ khẻ ưỡn mình lên một chút, rồi chiều theo từng cử chỉ của anh, cả hai cùng chầm chậm đi vào trong nhau đầy khao khát và đảm mê.

Sáng hôm sau, khi tỉnh giấc nhìn quanh giường trống trơn, cha con đã đi mất, chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ. Cô thẫn thờ cầm lên đọc những dòng chữ viết vội:

Em,

Tôi phải đưa bé Hương đi tìm mẹ nó như đã hứa, không biết chúng ta còn cơ hội gặp lại nhau nữa không, hãy tha thứ cho sự xúc phạm em đêm qua, tôi rất hối hận về việc đó nên không thể gặp mặt để từ giã, cám ơn em rất nhiều đã cực nhọc vì cha con tôi mấy ngày qua. Mong em hiểu cho tôi em nhé.

Phương Nam

Cô gái chỉ biết gục đầu khóc tức tưởi cho số phận hẩm hiu của mình, người ấy đã bỏ đi rồi còn đâu.

Nuốt nước mắt cô tự nhủ thầm: “Em sẽ chờ một ngày nào anh trở lại”.

Dòng đời vẫn trôi đi. Mái tóc người con gái ấy nay đã dài đầy búi. Một năm nữa lại qua.

Người phụ nữ ấy, vâng, bây giờ nàng đã như cô phụ chờ mong một bóng hình ai đó.

Nàng mang quang gánh tất tả trên đường về nhà, đầu đội chiếc nón lá cũ, mắt nhìn xuống, chân bước mau trong chiều. Chợt như có một linh cảm nào đó, người thiếu phụ ngước nhìn về hướng nhà mình, nàng chớp mắt mấy lần để nhìn cho rõ, một bóng người tay dắt đứa trẻ đứng trước cửa như chờ ai.

Về gần nhà, mắt bỗng nhòa lệ, quăng bỏ thúng, gánh lại bên đường, chiếc nón lá cũng bay đâu mất, nàng chạy như lướt trên cỏ, tóc xõa tung ra trong gió, đến trước mặt Phương Nam, phải, đúng là người đàn ông năm ngoái, ngã vào người anh, òa khóc.

Người đàn ông phong trần ấy cũng xúc động không kém, chẳng nói nên lời, chỉ kịp đưa tay đỡ người thiếu phụ, trước đôi mắt ngạc nhiên hết sức của đứa bé lên hai đứng kế bên. Đến khi đứa gái nhỏ giật mạnh vạt áo của ba nó gọi: “Ba, ba ơi” hai người đứng lặng bên nhau nãy giờ, mới sực tỉnh, trở về thực tại.

Nàng vừa mếu máo vừa cười:

- Anh về tới hồi nào, anh và con khỏe hôn, anh có gặp chị ấy hôn, hai người ra sao rồi?

Cô hỏi liền miệng làm Nam đành mỉm cười chớ không trả lời được gì. Thấy vậy, nàng thấy mắc cở, xấu hổ, nên im bặt một hồi rồi nói nhỏ:

- Sao không trả lời em?

Anh cười, trả lời:

- Em hỏi liền liền, anh có chen vô được câu nào đâu mà trả lời.

Cô ta định mở miệng nói thì con bé lại kêu: “Ba, đói…” làm hai người giật mình.

- Hai cha con vô nhà em nấu cơm ăn nha, chiều rồi.

- À, bé Hương ăn cơm được chưa vậy? Hay vẫn còn uống sữa?

- Con bé đã ăn cơm được, nhưng ít lắm, tối lại đòi bú sữa thêm nữa.

Người đàn bà trẻ bới tóc lại rồi lanh lẹ đi xuống bếp tất bật lo cơm như ngày trước.

Nam đặt con ngồi ngay ngắn trên bộ ván rồi đi ra nhà sau. Trong bóng hoàng hôn sắp tắt, dáng nàng ngồi xổm vo gạo, lặt rau trông thật đằm thắm.

Anh đến gần, ghé tai cô thì thầm: “Ấy cho tui phụ với”. Tiếng nói khẽ làm cô ta giật bắn người suýt đổ hết nồi cơm xuống đất.

- Cái ông nầy, làm người ta hết hồn nè!

Vẻ nũng nịu, mắng yêu như một người vợ trẻ với chồng khiến Nam cảm thấy bồi hồi hơn bao giờ. Hai người cùng lăng xăng trong gian bếp bé tẹo mà ấm áp, và mâm cơm mừng ngày gặp lại của đôi người trẻ cũng xong xuôi, rồi cùng nhau bên ngọn đèn mờ tỏ.

Nam nhìn bữa ăn quá đơn sơ, vẫn mắm, rau được bày ra, ngậm ngùi nhỏ giọng:

- Bao lâu nay, em mãi sống đạm bạc vầy sao?

Nàng vừa đút cơm cho bé Hà Hương vừa đáp lời:

- Em tiết kiệm để dành dụm tiền là muốn đi tìm “người ta”, nhưng anh đã như một cánh chim tận trời nào (em bắt chước câu của ba viết trong sổ của ông đó), mà em đâu biết, với phần nghĩ lại là anh đi tìm vợ, nên thôi và cứ mong chờ từng ngày hy vọng ạnh sẽ quay trở lại đây một lần.

- Sao em không về quê ngoại sinh sống, mà cứ ở lại một mình nơi quạnh vắng nầy?

- Trước đây, có mấy lần dì cậu đến biểu em về với ngoại, nhưng em cứ lần lựa hổng đi, vì sợ nỗi anh có về qua đây thì hông biết em ở đâu mà tìm. Còn anh thì sao, có tìm thấy chị ấy cho bé Hương hôn, sao nay anh trở lại có hai cha con thôi?

Người đàn ông và miếng cơm, nuốt vội rồi đáp:

- Chuyện tìm mẹ con bé buồn lắm, em cũng ăn đi rồi đến tối anh kể cho nghe.

Lúc nầy, đứa bé đã no, không muốn ăn nữa nên ngậm miệng, lắc đầu lia lịa làm cô tức cười, bỏ chén xuống mâm, lau miệng cho nó và ăn phần mình.

Sau khi xong việc, cô lại ru bé ngủ say. Buổi tối ở miền quê buồn nhưng êm ả, trầm mặc hơn trong căn nhà nầy, tiếng côn trùng vẫn rả rích bên ngoài.

Hai người lại ngồi bên nhau như một năm về trước, bây giờ Nam mới từ từ kể:

- Ngày đó, anh bỏ đi như một tên tội phạm lẩn lút chạy trốn, anh xin lỗi đã gây đau khổ cho em, nhưng anh phải tìm cho được Hà My. Cuối cùng cũng kiếm được cô ta ở một vùng đất gần biên giới Campuchia…

- Rồi sao chị ấy không về với anh và con?

- Gặp thì mừng vậy chớ làm sao sum họp được em, vì... bởi cô ta đã lập gia đình khác, chồng con đề huề, sống sung túc thảnh thơi rồi, còn cha con anh lúc đó thì nghèo khổ, rách rưới như ăn mày, cô ta thấy còn không muốn nhìn ngó đến, nói gì đến nhận chồng con, bé Hà Hương đi lẫm đẫm đến trước mặt, níu áo cô ta nói u ơ dễ thương đến vậy, mà Hà My còn nỡ quay đi mà em. Anh nghẹn ngào đứng chết trân, nhìn cô ta bỏ đi, con bé thì khóc thét, anh bồng nó chạy đi với tủi buồn, uất giận. Rồi cha con anh lại lang thang quay về, đi từ nơi nầy đến nơi khác, làm mướn kiếm ăn lúc không có việc thì phải đi ăn xin dọc đường vì nơi xứ xa, người lạ nên đành khuất phục hoàn cảnh chớ biết sao giờ. Những lúc đó, anh nghĩ đến em, nhớ thương em nhiều lắm, anh cho là bản thân bị quả báo, anh đã phụ tình em và bị người phụ bạc trả lại, thật đáng đời cho anh.

Sau đó, anh cũng lần về thăm nhà. Má anh nay đã trên tám mươi tuổi, nhưng vẫn minh mẫn, khỏe mạnh tuy mắt đã mờ. Anh kể hết cho má nghe về chuyện lỡ dở vợ chồng anh, và cuộc gặp gỡ tình cờ của chúng ta. Em biết má nói gì không, má biểu anh quay về đây tìm em, xin tha thứ lỗi lầm đã làm dang dở đời em.

Người đàn bà trẻ nắm chặt tay người thương, mắt rưng rưng:

- Anh không chê, mà trở về với em là được rồi.

Cô ngã đầu vào vai anh, mỉm cười sung sướng.

Lời tự sự của Phương Nam thay cho đoạn kết câu chuyện:

“Từ bây giờ, tôi và con gái Hà Hương sẽ ở lại căn nhà nầy với Kim Minh, phải, đó là tên nàng, đến giờ mà cô ấy vẫn chưa cho tôi biết, nhưng tình cờ tôi tìm thấy tên em viết trên nhãn của một quyển vở cũ.

Kim Minh, Kim Minh, tôi gọi tên em hằng đêm, khi trăng mọc cao trên đỉnh đồi xa xa, hay trong cơn mưa nhẹ rơi xuống mái tranh. Mỗi đêm của chúng tôi đều là những tân hôn mới. Nàng yêu kiều, dịu dàng và tuyệt vời khi gần nhau. Chúng tôi dâng hiến cho nhau đến tận cùng cảm giác yêu thương. Tôi tận hưởng niềm vui sướng tột cùng mà nàng trao tặng. Cô là người đàn bà hiền thục, tốt bụng, đảm đang lại yêu quý cha con tôi thật lòng, thì tôi còn mơ ước gì cao xa hơn nữa. Kim Minh, Kim Minh, anh thương em nhiều lắm, từ đêm đầu tiên gần gũi đó em biết không?

Tôi tự hứa với lòng mình, em sẽ là “Người Đàn Bà Cuối Cùng”, bến đỗ muôn đời của tôi đến trọn cuộc đời nầy.

Tôi sẽ đưa em về ra mắt má tôi và tổ chức một bữa tiệc nho nhỏ trình diện với họ hàng. Sau đó, hai chúng tôi về thăm bên ngoại và quay trở về sửa lại căn nhà tranh kỷ niệm, chiếc xe đạp cũ. Chúng tôi sẽ cùng chung tay làm việc để sinh sống và xây dựng một gia đình tròn vẹn.

Xin Thượng Đế nơi cao xanh thương đến cuộc đời gian truân, đau buồn của chúng con, chứng nhận lời hứa trân trọng nầy của con, người đàn ông đau khổ đã tìm được hạnh phúc của đời mình”.

HOÀI LY

NGHIỆP THIỆN ÁC

KHI LÂM CHUNG

Trong sử 33 vị Tổ có kể về một vị Tăng Ấn Ðộ, tôi không nhớ rõ tên.

Một hôm Ngài đi khất thực ngang qua nhà ông Trưởng Giả, nhưng ông Trưởng Giả đi khỏi. Trong nhà có con chó chạy ra sủa to. Ngài nhìn nó và quở: Ngươi bị bệnh tiếc của mà trở lại làm chó, đã không biết còn sủa om sòm. Nghe nói vậy, con chó buồn bỏ ăn.

Ông Trưởng Giả về, thấy con chó cưng của mình bỏ ăn. Ông liền hỏi lý do và được người nhà kể lại: Hồi sớm mai, có vị Sa Môn đi ngang, nó thấy liền sủa. Rồi không biết ông ấy nói gì với nó, từ đó nó buồn bỏ ăn.

Ông hỏi vị Sa Môn đó ở đâu và ông tìm gặp được Ngài.

Với tâm rất sân hận, ông hỏi: Hồi sáng ông nói gì mà con chó của tôi nó buồn đến bỏ ăn?

Ngài bảo: Ông đừng nóng, để ta nói cho ông nghe. Con chó đó là cha của ông.

Ông càng tức hơn, hỏi: Tại sao con chó đó là cha tôi?

Ngài nói: Nếu không tin, ông hãy về tìm ngay giữa giường nơi cha ông khi xưa ngủ, mà bây giờ là chỗ con chó hay nằm, ông đào xuống sẽ thấy ché vàng. Vì khi cha ông chết, không kịp trối trăn lại với ông, nên bây giờ tiếc của mới sanh trở lại làm chó để giữ của. Nếu không tin ta, ông về đào lên sẽ thấy.

Khi ấy, vị Trưởng Giả không còn lớn tiếng với Tổ nữa, mà trở về nhà đào chỗ Tổ đã chỉ. Quả nhiên ông thấy có một ché vàng. Ông liền chạy tới xin Tổ cứu cha ông. Tổ khuyên nên đem của đó bố thí cho cha ông hết nghiệp. Trưởng Giả nghe lời Tổ dạy liền đem ché vàng bố thí. Sau đó con chó chết.

Như vậy, vì tiền của nên trở lại làm chó để giữ của, đó là điều đáng sợ. Nên ở đây, tôi nhắn 3 điều cấm kỵ trước khi lâm chung.

Phật Tử phải nhớ đừng để bao giờ xảy ra.

Tôi lập lại: điều thứ nhất là tâm sân giận, điều thứ hai là tâm oán thù, điều thứ ba là tâm yêu tiếc, tức là yêu con, tiếc của.

Nhớ đừng có 3 tâm đó mới khỏi đọa vào con đường khổ. Có 3 tâm đó là nguy hiểm.

Nếu khi sắp lâm chung mà khởi tâm thiện thì sẽ được điều lành, điều tốt.

TÂM THIỆN LÀ TÂM GÌ?

- Ðiều thứ nhất, khi sắp lâm chung phát tâm bố thí, giúp đỡ người nghèo, kẻ bệnh; mình có phương tiện tới đâu phát tâm tới đó.

- Ðiều thứ hai, đối với người Quy Y rồi, thì phát tâm cúng dường Tam Bảo, còn chưa Quy Y thì phát tâm Quy Y để thiện tâm tăng trưởng. Làm như vậy là đã hướng về điều thiện và sẽ đi theo con đường thiện.

- Ðiều thứ ba là phát tâm phóng sanh nghĩa là cứu các con vật bị người ta bắt và sẽ bị giết. Mình cứu nó bằng cách mua lại đem thả, hoặc tìm cách nào cứu con vật không bị chết.

Bố thí, cúng dường, phát tâm phóng sanh là tâm lành, nhờ phát tâm lành, tự nhiên lần lần chúng ta sẽ đi theo con đường lành. Ðó là những điều tâm nên khởi khi sắp lâm chung.

Người Phật Tử biết tu, khi sắp lâm chung, cần phải biết ứng dụng Pháp Phật dạy, gìn giữ tâm mình luôn luôn đi đúng, không bị lệch lạc.

Ðối với người tu Tịnh Ðộ thì chuyên niệm Phật, không quên.

Lúc nào tâm mình cũng hướng về Phật không lơi lỏng, không nghĩ tới con, không nghĩ tới cháu, cũng không nghĩ tới tài sản gì hết. Ðược như vậy thì sẽ theo Phật không nghi ngờ. Ðó là trường hợp thứ nhất.

Thứ hai, đối với người không chuyên niệm Phật, mà thường hay xem kinh sách thì phải nhớ một bài kệ. Chẳng hạn, nếu quí vị thường tụng Kinh Kim Cang, thì phải nhớ một bài kệ, tức là: nhớ tới Pháp như nhớ tới Phật, niệm Phật vậy.

Chúng ta nghiên cứu kinh điển, học Pháp của Phật thì phải nhớ Pháp, như tụng bài kệ sau đây trong Kinh Kim Cang:

Nhứt thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán

Nghĩa là:

Tất cả pháp hữu vi

như mộng, như huyễn,

như bọt, như bóng,

như sương, như điện,

phải luôn luôn quán như thế.

Chúng ta tụng mãi bài kệ này thì tâm chúng ta được trong sáng, không kinh hoàng khi sắp lâm chung.

Ðó là trường hợp thứ hai.

Trường hợp người biết tu Thiền, tâm được yên tĩnh phần nào, thì nhớ lúc sắp lâm chung, mình hằng sống với tâm thanh tịnh, đừng chạy theo vọng tưởng điên đảo.

Nghĩa là nhớ trong thân bại hoại này có cái không bại hoại. Nhờ vậy, chúng ta không kinh hoàng, không sợ sệt mà hằng sống với tâm bất sanh bất diệt của mình.

Thân này chẳng qua là tướng hư ảo, có đó rồi mất đó chớ không bền. Chỉ cái thể chân thật của mình là thanh tịnh, không sanh không diệt muôn đời. Ðó là chúng ta biết tu.

Trong ba trường hợp tôi kể trên, người tu niệm Phật thì chuyên niệm Phật, không nhớ chuyện đời. Người chuyên nghiên cứu Pháp thì nhớ bài kệ. Người tu Thiền thì nhớ ngay nơi mình có cái chẳng sanh chẳng diệt, hằng thanh tịnh, không có gì đáng sợ, không có gì đáng lo.

Người biết tu nhớ được những điều ấy không bị mê muội, không có gì sợ hãi, ra đi êm ái nhẹ nhàng.

Bây giờ tôi nói tới hậu sự, tức là việc sau khi mình chết. Nhiều vị nghĩ rằng, khi mình chết phải trối trăn lại với con cháu làm thế này, làm thế kia. Ðiều đó dư. Tại sao?

Bởi vì thân này do tứ đại hòa hợp mà thành, chúng ta sống cũng mượn tứ đại mà sống, uống nước giúp cho thủy đại, ăn giúp cho địa đại, thở giúp cho phong đại v.v…

Như vậy bốn đại đó nhờ vay mượn bên ngoài mà tồn tại. Ðến khi chết là không vay mượn nữa thì trả về cho tứ đại. Tứ đại trả về cho tứ đại thì chỗ nào cũng là tứ đại hết.

Tại xứ người, tứ đại cũng là tứ đại, ở quê hương mình thì tứ đại cũng là tứ đại.

Ðừng nghĩ bỏ thân ở xứ người là thiệt thòi. Thiệt thòi nhất là cái tâm, tinh thần của mình ra đi mà không sáng suốt, đó mới thật thiệt thòi. Còn thân tứ đại này bỏ ở đâu cũng được hết.

Người ta hay nói, thân này là thân cát bụi, khi chết trả về cho cát bụi, chứ không phải trả về xứ mình thành vàng thành ngọc gì, cho nên đừng quan trọng nó.

Thân này để con cháu giải quyết bằng cách nào thuận lợi nhất thì tốt, mình khỏi cần dặn dò gì hết. Dặn dò bắt buộc nhiều khi làm con cháu phải lúng túng. Thí dụ nơi đó không có lò thiêu mà bảo phải thiêu, trong khi có đất chôn mà không chịu chôn.

Hay ngược lại, chỗ đó không có đất chôn mà có lò thiêu, mình lại không chịu, nói thiêu nóng lắm, phải tìm đất chôn.

Như vậy con cháu lo sợ không biết tìm đất đâu mà chôn, càng làm cực khổ cho người sống chớ không có ích lợi gì.

Ðã là thân tứ đại, hoại rồi thì còn biết gì nữa mà sợ nóng, còn biết gì nữa mà đòi đem về quê hương. Biết chăng là cái tinh thần, là cái tâm của mình. Do đó quý vị đừng có lầm lẫn thân này trở về quê hương mới tốt. Nghĩ như vậy là sai lầm.

Chính cái tâm của chúng ta, tâm lành thì đi tới chỗ tốt, điều đó mới quan trọng.

Ðó là những lời nhắc nhở để quí vị biết sau khi chúng ta có trăm tuổi không làm phiền hà con cháu.

Tôi chỉ nói một phần ngắn cho quý vị biết khi đau, bệnh, già và sắp lâm chung. Theo đó quý vị có hướng lựa chọn, đừng bị tâm phàm tục làm cho mình đau khổ ngay hiện tại và kéo dài sau khi lâm chung. Ðó là những điều thiết yếu. Mong rằng tất cả quý Phật Tử nghe rồi, khéo ứng dụng để tự cứu mình, đó cũng là lời Phật dạy cho chúng ta thoát khổ.

Kính thưa quý vị và các bạn,

Dù theo bất cứ tôn giáo nào, con người cần phải tu nhân tích phước, cứu người giúp đời, trong cuộc sống hàng ngày. Phước đức đó sẽ cứu con người khi tai họa xảy đến. Đừng đợi đến khi gặp nạn mới van xin, cầu khẩn, cầu nguyện thánh thần thiên địa. Khi đó, không ai kịp cứu con người, chỉ có PHƯỚC BÁO của chính con người cứu người đó mà thôi. Đây là CHÂN LÝ không phân biệt tôn giáo.

TTT. - Hoàng Kim Thư st.

LUẬT CÂY TRE

Tre mất 4 năm chỉ tăng thêm 3 cm. Nhưng từ năm thứ năm trở đi, nó sẽ phát triển mạnh mẽ với tốc độ 30 cm mỗi ngày và chỉ mất sáu tuần để phát triển lên 15 mét.

Trên thực tế, trong 4 năm đầu tiên, rễ tre kéo dài hàng trăm mét vuông trong đất. Làm người làm việc cũng tương tự như vậy. Đừng lo lắng những nỗ lực của bạn tại thời điểm này không được đền đáp, bởi vì những thứ bạn bỏ ra đang là nền tảng vững chắc cho bạn sau này, như rễ tre vậy. Đời người phải có tích lũy, có bao nhiêu người đã không thể kiên trì như tre chờ đến ngày có thể vượt qua 3cm?

Giá trị là gì? Hai cây tre giống nhau, một cây dùng làm sáo, một cây dùng làm giá phơi đồ. Một hôm, cây dùng làm giá phơi đồ mới hỏi cây dùng làm sáo:

- Tại sao chúng ta sinh ra cùng một nơi, đều là tre trên núi. Nhưng tôi mỗi ngày đều phải dãi nắng dầm mưa, còn bạn lại rất đáng tiền?

Sáo trả lời:

- Bởi vì bạn chỉ chịu một nhát dao khi bị chặt ra, còn tôi đã trải qua hàng ngàn nhát dao, được người ta chế tạo cẩn thận.

Giá phơi quần áo im lặng…

Đời người cũng như vậy, nếu có thể chịu được cực khổ, cô đơn, cọ xát vào thực tế, dám đảm đương và đứng lên chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình, cuộc sống mới có giá trị. Khi nhìn thấy vinh quang của người khác, bạn không cần phải ghen tức, bởi vì người khác trả giá nhiều hơn bạn.

Thật ra trên thế giới này có rất nhiều người thông minh, nhưng lại có quá ít người có thể kiên trì đến cuối cùng, thế nên số người chiến thắng chỉ là số ít. Người càng thông minh, họ càng hiểu rõ khuyết điểm của mình và luôn cố gắng đến cùng.

Trưởng thành không phải là trải qua thất bại một lần, mà phải tích lũy nhiều lần, cả về tri thức lẫn kinh nghiệm sống.

Đây chính là luật tre!

Dương Tiến Cần st.

KHI TÔI GIÀ

Có một ngày nào đó, bạn bỗng nhận ra mình đã già, đó là khi bạn không còn hứng thú với những thứ lòe loẹt, những cảnh sắc rực rỡ, những nơi náo nhiệt và ồn ào thanh âm.

Già, là khi bạn thức dậy lúc 4 giờ sáng, chỉ để nghe tiếng gà gáy ban mai và nằm đợi ánh bình minh lóe sáng sau rèm cửa.

Già, là tối tối pha một ấm trà vừa đủ đặc, bật đài nghe những bài hát xưa cũ, đọc những cuốn sách cũ, chiêm nghiệm về cuộc đời, nửa gần nửa xa.

Già, là khi bạn thích lang thang trên đường phố một mình, thích nhìn những bức tường loang lổ, những gốc cây rêu phong, những mái nhà cũ kỹ, thích những quán cổ, bàn ghế phủ bụi, không gian mốc thếch và mặt người trầm tư sau lớp sương thời gian.

Già, là khi bạn thích cảm giác được yên tĩnh một mình, chỉ một mình chìm trong những hoài niệm. Dạo này, thường nhắc đến những chuyện cũ. Có lẽ bởi thời gian đã gấp quá rồi.

Già, là khi bạn thấy mình ngày càng kiệm lời. Kiệm lời với chính bản thân, nhiều khi nghe tiếng nói của mình vang lên cũng giật mình.

Già, là khi bạn bắt đầu tìm kiếm một nơi thật sự để đến, để sống và cất giữ tuổi già. Không phải để an dưỡng mà là để tách khỏi những ồn ào, thị phi.

Già, là khi bạn thôi không bận tâm những yêu thương, ghét bỏ, để lòng mình tha thứ cho qua hết giận hờn, buông bỏ bớt những nhạt nhòa, nghi kỵ. Chỉ giữ lại cho mình những niềm tin và đích đến, sống lặng lẽ và nhẹ nhàng, tự do trong khoảng trời riêng của chính mình.

Già, là sống chỉ đủ cho mình, cho những người mình yêu, thế thôi… Còn lại thì cứ như mây trời, lang bạt qua đời nhau, đã từng vui, đã từng buồn rồi mỗi người đôi ngả. Năm tháng đã qua ấy, gọi tên là thanh xuân.

Nếu ta không gieo trồng trí thức khi còn trẻ, nó sẽ không cho ta bóng râm khi về già (Chester Field).

Kim Sơn st.

Nhà ta có giàu không bố?

Đây là câu trả lời làm thay đổi cuộc đời con bạn.

Cùng một câu hỏi, nhưng cách trả lời khác nhau của 2 ông bố đã đưa cuộc đời 2 đứa bé đi theo hai hướng hoàn toàn… ngược nhau.

Một hôm, đang chơi trong vườn cùng chú cún nhỏ của mình cậu bé người Mỹ bỗng nhiên chạy lại hỏi bố:

- Bố ơi bố, nhà chúng ta có giàu không ạ?

Ông bố nghe xong liền mỉm cười, xoa đầu cậu con trai:

- Bố có tiền, nhưng con không có. Tiền của bố là do bố tự mình cố gắng phấn đấu mà có được, tương lai con cũng có thể thông qua lao động của mình mà kiếm được tiền.

Cậu bé người Mỹ nghe xong lời của bố mình sẽ nhận được vài thông điệp sau đây:

1. Bố của mình rất giàu có, nhưng tiền của bố là của bố.

2. Tiền của bố là do bố thông qua cố gắng mới có được.

3. Nếu như mình muốn có tiền, cũng phải thông qua lao động và cố gắng để có được.

Nghe xong trả lời này của bố, cậu bé sẽ rất cố gắng để trở nên giàu có như bố mình. Quan trọng hơn đó là một loại giàu có về tinh thần mà sẽ giúp cậu bé hưởng lợi ích cả đời.

Ở một nơi xa xôi, cách nước Mỹ một nửa vòng Trái đất, một cậu bé người Trung Quốc cũng hỏi ông bố giàu có của mình một câu tương tự:

- Bố ơi bố, nhà chúng ta có giàu không ạ?

Ông bố sẽ trả lời rất hãnh diện rằng:

- Nhà chúng ta có rất nhiều tiền con ạ và lớn lên tất cả những gì cha có sẽ thuộc về con.

Đứa bé sau nghe được câu trả lời đó của cha, sẽ nhận được vài thông điệp sau:

1. Bố mình là người giàu có, nhà mình có rất nhiều tiền.

2. Tiền của bố mình chính là tiền của mình.

3. Mình không cần cố gắng đã có rất nhiều tiền rồi.

Cái mà ông bố Trung Quốc này truyền cho con mình chỉ có loại giàu có về vật chất và đích thị là một “con dao hai lưỡi” không hơn không kém.

Cho nên là, sau khi trưởng thành, đứa bé này sẽ không biết cố gắng, không biết trân trọng những gì mình đang có. Đứa bé sẽ tiếp nhận sự giàu có từ bố và giữ vững truyền thống của người Á Đông là “không ai giàu quá ba đời!”

Cách giáo dục không giống nhau quyết định cuộc đời của những đứa bé đi theo hai hướng khác nhau. Rất hiển nhiên, câu trả lời của ông bố người Mỹ có thể giúp một đứa con xây dựng quan niệm giàu có và quan niệm sống chính xác, từ đó trở thành một người làm giàu bằng chính thực lực của mình, còn câu trả lời ông bố người Trung Quốc chỉ có thể làm con trở thành đứa con ăn bám yếu đuối và vô dụng mà thôi.

Bài học mà chúng ta có thể rút ra ở đây là:

Không nên quá nuông chiều con cái.

Cha mẹ cho đi một cách dễ dàng sẽ làm con trở nên vô tình và bất tài; yêu thương vô điều kiện và ban tặng chỉ làm con biết đòi hỏi và không biết báo đáp. Làm cha mẹ, phải học cách buông tay, để con hiểu được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, trưởng thành trong việc thực hiện những trách nhiệm và nghĩa vụ này.

Thay vì muốn đem tất cả những thứ tốt đẹp nhất cung cấp cho con, chi bằng bồi dưỡng cho con khả năng theo đuổi mọi thứ tốt nhất.

Dạy con làm sao trở thành một người giàu có, chứ không phải chỉ cho nó tiền.

Chúng ta cũng nên giống ông bố người Mỹ đó, nói với con khi được con hỏi câu tương tự:

- Bố có tiền, con không có. Bố không nợ con gì cả. Vì vậy, con phải dựa vào chính mình, dùng hiểu biết của con để kiếm tiền từ đó sáng tạo cuộc sống tương lai theo cách mà con muốn. Không nên chờ sung từ trên trời rơi xuống hay ngồi hưởng thành quả của người khác.

Như vậy con bạn sẽ rất độc lập và mạnh mẽ, có thể đối diện với những khó khăn, giông bão trong cuộc đời, bởi cái bạn truyền cho con là một loại giàu có về tinh thần - thứ mà sẽ giúp chúng giàu có cả đời.

Lm. Mi Trầm chia sẻ


Phụ Bản IV

TƯƠNG QUAN

TRONG SANH SỐNG

I. Đại cương.

Có lẽ sự sống trong vũ trụ nầy đều có một sự tương quan mật thiết với nhau. Cây cỏ sống được phải nhờ có nắng, gió, mưa… Con người sống được phải nhờ có rau củ quả… Do đó, tôi chia tương quan trong cuộc sống làm bốn nhóm: con người, con vật, cây trái… và đồ vật. Tuy là bốn nhóm nhưng giữa các nhóm cũng có sự tương quan với nhau.

II. Các mặt tương quan.

A. Con người

Có lẽ ai cũng thấy trong sự sống của con người có một sự tương quan mật thiết giữa người và người. Muốn dời một vật nặng, một người thì khó lắm, hai hay nhiều người hợp lực thì dời một cách dễ dàng. Do đó, tất cả con người trong vũ trụ đều cần có một sự tương quan với nhau.

Tương quan thứ nhứt là tương quan vợ chồng. Hai vợ chồng sanh sống thì khi trái gió trở trời, vợ hay chồng giúp giải quyết kịp thời đúng lúc. Nếu vợ hay chồng có sự lợi dụng nhau, lường gạt nhau thì đó là trường hợp cá biệt, đó là kẻ xấu ta không kể tới. Trong xã hội có những điều ngang trái, tôi cho đó là tác dụng của nhân quả mà thôi. Người xấu càng nhiều thì nhân quả càng lớn, xã hội có nhiều sự trái ngang. Muốn dứt sự trái ngang là giáo dục cho con người biết nương nhau để sống thì xã hội sẽ yên vui. Nếu đặt ra hình luật khắt khe để trừng phạt kẻ xấu, tôi cho rằng chưa chắc đã có hiệu quả. Xưa, thời Đông Châu liệt quấc, nước Tấn có trộm cướp nổi lên khắp nơi, vua dùng nguyên soái Tuân Lâm Phủ, ông này dùng Khước Ung là người có tài bắt trộm. Mỗi ngày ông bắt được vài chục tên. Nhưng không bao lâu, ông đang đi thì bị bọn trộm vây đánh chết. Vua lại dùng Sĩ Hội là người Tín, Nghĩa, Liêm, Sỉ… thay Tuân Lâm Phủ. Sĩ Hội bỏ hết điều luật bắt trộm, ông dạy cho dân làm điều thiện, sống cho phải đạo. Ít lâu sau, nạn trộm cắp không còn nữa. Giáo dục mới giải quyết trọn vẹn vì nó đi vào cội rễ của vấn đề.

Ngoài vợ chồng ra còn có bạn bè và xóm giềng nữa. Bạn bè, xóm giềng giúp nhau trong cơn hoạn nạn đó là nghĩa cử đáng đề cao. Nhưng ta phải sống cao hơn tình bạn bè, xóm giềng nữa. Đó là tình người với người tức là tình nhơn loại. Thấy người gặp nạn, ta không cần biết người đó là ai, ta cứ giúp mà không cần biết họ có trả ơn cho ta hay không. Sống như vậy mới là một cuộc sống đẹp.

Một ví dụ, ngày 18-4-2019, đang đứng trên xe buýt chờ xuống, bỗng tôi ngã rầm một cái. Một thanh niên tới đỡ dậy và dìu xuống xe. Tôi tới băng chờ xe ngồi cho khỏe rồi về thì té bật ngửa lần thứ hai. Khi tỉnh dậy, tôi thấy chính thanh niên trên xe buýt hồi nãy đỡ dậy và kêu xe ôm để đưa tôi về nhà tuy tôi từ chối.

Khi nằm nhà thương, có người cùng đi xe với tôi tới thăm, ông ta nói: “Khi xe chạy một chút, cậu thanh niên đỡ anh la lên: Không yên tâm, Ngừng! Ngừng cho tôi xuống để tôi lo cho ông già. Xe ngừng, cậu xuống và trở lại đỡ tôi.

Có khi là thầy giáo hưu, tôi đã giúp nhiều cho học trò… nên khi cần, bỗng dưng có người xa lạ tới giúp tôi. Cuộc sống đẹp giữa người và người là vậy.

Giữa người với con vật thì ai cũng nói: “Vật dưỡng nhơn” nên người ăn thịt con vật. Kể ra đó cũng là tương quan của sự sống vì ta cần thịt nó để ta sống. Nhưng tình người với vật cũng có. Ta nuôi dưỡng trâu bò… và ngược lại, trâu bò cũng giúp ta trong việc đồng áng.

Cây trái cỏ cũng có tương quan sự sống với con người. Thời hái lượm, ta hái lượm trái cây ăn để sống. Ta ăn các loại rau mọc trên mặt đất, phải nói là cỏ đấy.

Tóm lại, sự sống của con người có một tương quan rất rộng trong vũ trụ nầy.

B. Con vật

Bất cứ tổ chức sống nào cũng có sự tương quan với nhau. Nếu vô rừng quan sát, ta sẽ thấy từng đàn con vật. Cọp có một đàn cọp. Cọp mẹ tha mồi về nuôi cọp con. Trây cũng có từng đàn, voi cũng có từng đàn. Khi có nguy cơ bị cọp tấn công, trâu hay voi xoay lưng vào nhau thành một vòng tròn để đối phó. Con vật cũng có tình sống. Chuyện cổ Trung Hoa, có người muốn giết một đứa bé, người ẵm đứa bé đi giết lại không nỡ giết. Hắn đem bỏ vô rừng cho nó sống chết làm sao kệ nó. Con gấu tha về hang ổ của nó để nuôi dù gấu cũng xé xác người đấy. Đứa bé đó là Đấu Cấu Ô Đồ, một danh nhân trong sử cổ của Trung Hoa. Đó là chuyện của hơn hai ngàn năm trước, nó như thế nào không ai rõ. Hiện đại, báo Thanh Niên ngày 11-5-2005 có đăng việc bé gái nặng ba ký bị bỏ trong rừng ở Kenya. Bé được một chú chó tha về sống cùng đàn với nó. Có người phát hiện, đứa bé được đưa vô nhà thương chăm sóc và được đặt tên là Angel. Tương quan sự sống của sanh vật là vậy. Con vật sống được cũng nhờ có cây trái, cỏ… Tất cả hỗ trợ nhau để sống.

C. Cây, trái, cỏ…

Cây trái, cỏ… muốn sống tốt, chúng cũng vầy đoàn với nhau. Bỏ một nhúm cỏ vô một khoảng đất trống, ít lâu sau nó mọc thành một đám cỏ, rồi một bãi cỏ. Nó sanh sôi nẩy nở giành phần cho loại cỏ chúng nó độc quyền sống. Lúa cấy xuống ruộng mà làm sạch cỏ không tốt, khi lúa còn non yếu thì cỏ sanh sôi nẩy nở lấn át cả lúa để đồng loại cỏ của nó sống.

Cây có lẽ cũng thế thôi. Trên đường đi từ Saigòn ra Cần Giờ, hai bên đường, có đoạn tôi thấy toàn là cây đước. Dường như có một sự phân chia nào đó, tôi thấy chúng cách nhau gần như đều đặn. Các cây thẳng đứng vươn cao song song nhau. Nhiều loại cây cho trái giúp người ăn để sống như cam, quýt, ổi, vú sữa… Người ăn rau đắng, rau muống, rau dấp, rau lang… phải nói đó là loại cỏ sống tràn lan trên mặt đất. Người trồng mướp, khổ qua… bón phân, tưới nước cho nó sống tốt, nó cho trái cũng giúp người sanh sống vậy. Như vậy, giữa cây cỏ với cây cỏ, với người, với sanh vật đều có một sự tương quan gắn bó để sống vậy.

D. Đồ vật

Cây gỗ, lá tàn mọc mé sông, đốn lìa gốc, nó là đồ vật. Ta dùng cây làm cột, thả đòn tay dựng thành sườn nhà rồi dùng lá tàn lợp lên để che mưa, che nắng. Như vậy đồ vật cũng giúp vô sự sống của con người. Ngoài ra, cây còn bó lại thành bè để ở hay chuyên chở. Sắt, đồng, nhôm… ta chế biến để làm nhà, nồi, chảo… để nấu nướng. Nhựa cây, dầu mỏ… cũng giúp cho sự sanh sống của con người. Ta chế vỏ xe, các vật dụng bằng nhựa, chế xăng dầu để đốt để chạy máy, chế các vật dụng hàng ngày như thùng xách nước, giỏ đi chợ, nón bảo hiểm… Nón bảo hiểm ngoài việc che nắng để chặn tia nắng độc hại nó còn giúp người khi té chỉ bị chấn động não thôi, không nguy đến tánh mạng. Nếu không cò nón bảo hiểm, ta dễ bị chấn thương sọ não nguy hiểm hơn, có thể chết. Đồ vật giúp nhau để sanh tồn thì không có gì rõ nét, có cũng như không tưởng không có gì đáng quan tâm nhưng tương quan sự sống giữa người và vật là cần thiết và giúp cho sự sống của con người được tốt hơn.

III. Tổng kết

Nhìn chung vạn vật trong vũ trụ đều có một sự tương quan trong cuộc sống. Làm sao giữa người với người có một sự tương quan tốt trong khi hiện tại hở một chút là đánh nhau, giết nhau, cướp giựt của nhau. Thực trạng đó phải nói là một sự tương quan không tốt. Tôi thấy báo chí cũng như ở trường học đều có nêu gương người tốt việc tốt nhưng xã hội, việc không tốt vẫn xảy ra. Mấu chốt vấn đề ở đâu? Tôi cho là ở giáo dục cả và giáo dục vấn đề gì? Tôi cho đó là tinh thần trách nhiệm. Khi tinh thần trách nhiệm ăn sâu vô tâm trí con người thì khi hành xử, họ nghĩ đến trách nhiệm việc làm của họ. Giáo dục tinh thần trách nhiệm đồng thời cũng nhấn mạnh đến yếu tố tình người, lòng nhơn đạo, tinh thần tương trợ… Nói thì dễ nhưng thực hành mới khó. Tất cả đều quy vô cái phong phú và sâu sắc của người viết sách và cũng quy cả vào lời giảng và cách dẫn chứng xác đáng của người giảng nữa.

Tóm lại, vạn vật trong vũ trụ đều có tương quan với nhau trong cuộc sống. Ta cần tạo tương quan tốt để cuộc sống đáng sống.

Khánh Hội - Quận 4 ngày 14-5-2019

PHẠM HIẾU NGHĨA

Những Câu Nói Hay, Ý Nghĩa Nhất

Ðể Khích Lệ Tinh Thần

1. Quá khứ là nơi bạn đã học được những bài học. Tương lai là nơi bạn áp dụng bài học đó… Vì thế đừng từ bỏ giữa chừng.

2. Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn. (Bill Gates)

3. Không quan trọng quá khứ bạn khắc nghiệt thế nào, bạn luôn luôn có thể bắt đầu lại. (Ðức Phật)

4. Ðôi lúc bạn đối mặt với khó khăn không phải vì bạn làm điều gì đó sai mà bởi vì bạn đang đi đúng hướng.

5. Những điều tốt đẹp đến với ai tin tưởng, những điều tốt hơn đến với ai kiên nhẫn và… những điều tốt nhất chỉ đến với người không bỏ cuộc.

6. Cuộc hành trình ngàn dặm… phải bắt đầu từ những bước đầu tiên.

7. Ðừng mơ trong cuộc sống… mà hãy sống cho giấc mơ.

8. Cuộc sống không có nghĩa là dễ dàng. Nó luôn luôn biến động. Ðôi lúc hạnh phúc, có lúc lại khổ đau… nhưng với tất cả những bước “THĂNG TRẦM” trong cuộc sống, bạn lại học được những bài học làm cho bạn MẠNH MẼ LÊN.

9. Khi cuộc sống đặt bạn vào tình thế khó khăn… Ðừng bao giờ nói “Tại sao lại là tôi?” mà hãy nói “Tôi sẽ cố gắng!”

10. Rất nhiều người sợ nói ra những gì họ muốn, đó là lý do tại sao họ không có được những gì mình muốn.

11. Bạn không thể chặn những con sóng… nhưng bạn có thể học cách làm thế nào để lướt sóng (Jon Kabat-Zinn)

12. Trong cuộc săn đuổi giữa báo và nai… rất nhiều lần con nai giành phần thắng. Bởi vì con báo chạy vì nhu cầu thức ăn còn con nai chạy để tồn tại. Hãy nhớ rằng: “MỤC TIÊU QUAN TRỌNG HƠN NHU CẦU”.

13. Thời gian là để tạo ra điều gì đó. Khi bạn nói TÔI KHÔNG CÓ THỜI GIAN đồng nghĩa với việc bạn nói TÔI KHÔNG MUỐN LÀM ÐIỀU ÐÓ.

14. Một trong những điều tốt nhất trong cuộc sống là nhận ra một điều bạn hoàn toàn hạnh phúc mà không cần đến những thứ mà bạn nghĩ rằng bạn cần nó nhất.

15. Mỗi khi mỏi bước trên con đường mình đã chọn, hãy tự nhủ mình: “Tiếp tục đi… đừng dừng lại. Mỗi bước có thể khó khăn hơn nhưng đừng dừng lại. Viễn cảnh đẹp nhất là lúc ở trên đỉnh”.

Hãy luôn thúc đẩy mình bằng cách nghĩ về viễn cảnh hạnh phúc ở tương lai bạn nhé.

16. Ðừng nghĩ mãi về quá khứ. Nó chỉ mang tới những giọt nước mắt. Ðừng nghĩ nhiều về tương lai. Nó chỉ mang lại lo sợ. SỐNG Ở HIỆN TẠI VỚI NỤ CƯỜI TRÊN MÔI. Nó sẽ mang lại niềm vui cho bạn.

17. Khi bạn cảm thấy muốn buông xuôi, hãy nhớ lại rằng tại sao bạn đã đứng ở đó.

18. Nếu bạn hỏi một người giỏi trượt băng làm sao để thành công, anh ta sẽ nói với bạn: ngã, đứng dậy là thành công. (Isaac Newton)

19. Tiến về phía trước không có nghĩa là bạn quên đi những điều đã xảy ra. Nó chỉ nói lên rằng bạn phải chấp nhận và tiếp tục sống.

20. Ðừng lãng phí thời gian của bạn để nhìn lại những gì đã mất. Hãy bước đi tiếp, với cuộc sống không có nghĩa là đi du lịch về miền quá khứ.

21. Nếu tôi chọn suy nghĩ hạnh phúc, tâm trạng của tôi sẽ hạnh phúc sướng vui. Nếu tôi chọn suy nghĩ tiêu cực, tâm trạng của tôi sẽ trở nên tồi tệ. Suy nghĩ của tôi tạo ra tâm trạng. Ðiều đó thật đơn giản, hãy thử bạn nhé.

22. Càng mất nhiều thời gian chờ đợi một điều gì đó bạn càng hiểu rõ giá trị của nó khi nhận được. Bởi vì bất cứ thứ gì có giá trị, chắc chắn phải bõ công chờ đợi.

23. Mỗi ngày có thể không phải là ngày tốt nhưng chắc chắn sẽ có điều gì đó tốt đẹp mỗi ngày → hãy mỉm cười và đón nhận ngày mới với thái độ hào hứng tích cực.

24. Không quan trọng bạn nghĩ cuộc sống này tuyệt vời hay tồi tệ ra sao, Thức dậy mỗi sáng, cảm ơn cuộc đời bởi vì vẫn có những người ở một nơi nào đó đang phải chiến đấu để tồn tại.

25. LÀM THẾ NÀO ÐỂ THÀNH CÔNG TRONG CUỘC SỐNG:

Nói ít đi

Thở sâu hơn

Quần áo lịch sự

Làm việc chăm chỉ

Cư xử đứng đắn

Tiết kiệm đều đặn

Ăn uống hợp lý

Ngủ đầy đủ

Hành động dũng cảm

Suy nghĩ sáng tạo

Kiếm tiền lương thiện

Ðể dành thông minh.

26. Hãy luôn tự nhủ mình: “Tôi sẽ không dừng lại khi tôi mệt mỏi, tôi chỉ dừng lại khi tôi đã hoàn thành”. Cố lên nào mọi người.

27. Thời điểm mà bạn đã sẵn sàng buông xuôi mọi thứ thường là thời điểm ngay trước khi một phép lạ xảy ra, vì thế đừng từ bỏ.

28. Nếu một quả trứng bị vỡ do ngoại lực bên ngoài thì sự sống kết thúc.

Nếu một quả trứng bị vỡ bởi một lực từ bên trong thì cuộc sống bắt đầu.

Những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống cũng được hình thành từ bên trong mỗi con người.

LỆ NGỌC st.

VÁC NGÀ VOI

Đang rà rà cái xe để xác định xem ngôi nhà này có khớp với địa chỉ cần tìm hay không, đã thấy một người đàn ông nở nụ cười bước ra tận lề đường. Có lẽ anh tưởng kẻ tìm đến là một khách hàng chăng?

- Có phải đây là nhà của chị…

- Vâng, đúng rồi!

- Anh làm ơn chuyển dùm cho chị… thư mời này nhé, vì ngày… là ngày họp mặt trường xưa…

- Ồ! Quý quá nhỉ!

Rồi anh gần như ngay lập tức đưa cái phong thư ấy cho một phụ nữ đang dựng xe trước cửa hàng, miệng anh rì rầm cái gì đấy với chị, có lẽ là người có tên trên bì thư. Bà ấy đón phong thư, xem xem, rồi lặng yên, mắt vẫn quay vào nhà mà không hề nhìn về phía người đưa thư, kẻ đang mong lắm chỉ một ánh nhìn thân thiện…

Ở một nơi khác, một nhóm khác, có hai gã tí tởn phóng xe lên lề, nơi họ được “tình báo” là nhà của Nguyễn Tình Lờ. Mồ hôi chảy đầy trên mặt hai thằng cha vác tù và hàng tổng ấy. Trước nhà có cái tủ bán thuốc lá. Cô gái bán thuốc tò mò:

- Hai bác tìm ai ạ!

- Ừ, bác tìm ông Lờ…

- Dạ, ba cháu đi đám cưới rồi…

- Uổng quá…

- Nếu có gì cần, để cháu kêu ba cháu về nhé, vì đám cưới gần xịt à!

Rồi lẹ như hỏa tiễn, cô khóa tủ hàng lại, vừa phân bua:

- Đàng nào, cháu cũng phải đi đón thằng bé đi học về! Hai bác chờ chút nhé!

Vậy là cô vù đi. Chỉ vài phút, đã thấy một anh trai bước về. Anh ta hất hàm, mặt bí xị:

- Cái gì mà réo vậy? Đang đám cưới…

- Trời! Lờ đó hả? Lâu ngày không gặp, thấy khác quá trời trời… Khỏe không?

- Khỏe! Có gì vậy?

- Ừ! Hai đứa tôi là bạn cùng lớp với anh, nhớ không? Tuần sau họp bạn, nên tới mời anh chị dự… cho vui!

- Họp, họp cái gì… Chờ chút…

Rồi anh trai ấy biến vào nhà (chắc mắc tè cũng nên!) Hai gã rỗi hơi đành ngồi đỡ lên yên xe chờ chủ nhà ra nói chuyện tiếp…

Nhưng lạ thay, và khốn thay! Ông bạn xưa ấy chẳng thấy ló đầu ra dù hai gã lông bông đã ngồi ngoài vỉa hè gần nửa tiếng!

Bực vì gặp kẻ thờ ơ, hai gã ấy “quạt” luôn anh bạn đã “giới thiệu” anh Lờ nọ. Tội nghiệp ảnh khi phân trần:

- Có lẽ nó mặc cảm, vì nó là thằng… xì ke tụi mày ơi!

Chuyện khác:

Cũng rề rà truy tìm tung tích của đám bạn xưa nơi xa xa một chút. Thật là điên đầu khi phải xới tung từng con hẻm loằng ngoằng để tìm cho ra một khuôn mặt đã lãng quên mà may còn cái tên chẳng dễ phai: Trần Từ Tốn! Có lẽ anh em nhà này còn có những tên Từ Giã, Từ Tạ, Từ Chối, Từ Khước… không biết chừng! Số nhà loạn xì ngầu: hai nhà sát vách nhau mà số của chúng chẳng có chút trực hệ hay bàng hệ gì sất! Rồi sau gần 2 giờ quần đảo, mới thấy anh bạn Từ Tốn đang ngó qua cổng:

- Nhà gì mà khó kiếm vậy cha?

- Ai đó?

- Bạn cùng lớp nè!

Hai gã hâm lột nón ra cho người ta chiêm ngưỡng dung nhan mùa hạ. Người ta nhận ra những khuôn mặt quen thuộc ngày nào, vì thật ra, ngày ấy họ thường tới nhà nhau chơi đến độ biết tên cả cha lẫn mẹ nữa kìa. Vậy mà người ta cứ… chõ mồm ra cổng:

- Có gì không?

- Này, có cho vào nhà không đó!

Lúc này, người ta mới lật đật kiếm chìa khóa, rồi từ… tốn mở khóa, từ… từ lê cánh cổng đủ rộng cho hai quan mang xe vào, rồi có lẽ từ… nan cả chuyện cho khách uống miếng nước, mà ngồi đực ra đấy, trông không có vẻ gì là từ… tâm lắm, nghe hai ông đường xa kể lể, phân tích, lý giải, rồi kết luận:

- Vậy, có tham gia không, để tụi tui còn đưa giấy mời?

Con người lừ đừ chẳng có chút từ… tính ấy mới từ… từ:

- Để… nghĩ đã!

Thế là đành từ… biệt, nếu không muốn nói là từ… tuyệt luôn cho rảnh nợ!

Rồi cái tự nhiên, mãi… mãi sau, thằng chả mò lại nhà:

- Cho tớ đóng tiền niên liễm đi!

- Vậy à! Nhưng mà ngày truyền thống qua rồi!

- Qua thì… kệ mẹ nó chứ! Đóng tiền để quỹ có cái mà chi chớ ! Qua thì sang năm tớ đi. Cứ… từ từ!

Thật là khó hiểu cho lòng người muôn vẻ! Cái gã “xì ke” kia cũng vậy, gã “đánh tiếng” với ông bạn gã, rồi ông này báo tin:

- Ê! Cái thằng Lờ hôm nọ ấy, bây giờ nó… xin tham gia thì làm sao?

Hai gã đầu tàu bốn mắt nhìn nhau chẳng nói gì mà hai cái đầu cùng lắc như quả lắc đồng hồ odo, tuy có nhanh hơn gấp mười lần. Ai mà chứa ông tiên nâu trong nhà, đã vậy lại còn bất lịch sự hết chỗ nói?

Nhưng chính hai gã ấy một ngày thấy ân hận, vì cũng chính ông bạn vàng kia mặt mày ủ rũ:

- Này! Thằng Lờ chết hôm kia rồi…

- Sao vậy? Chích quá liều à?

- Nó bỏ được nửa năm nay rồi! Vợ nó mới trở về đây thôi…

- Vậy sao nó chết?

- Đụng xe, các ông ạ…

Có một phút mặc niệm. Và cả tiếc nuối cho cái tình bạn dở dang: Có rình rang đến viếng thì lòng cũng bần thần, nghĩ ngợi…

Thêm một chuyện để nhớ trong đời:

Chị ấy bị ung thư vú. Vậy mà bất cứ lúc nào cũng thấy chị tươi như hoa! Chị tham gia vào mọi sinh hoạt cộng đoàn. Cái đầu trọc vì hóa trị có khi được phủ bởi mái tóc giả khi dự lễ, rồi phải lột ra ngay vì chị than, nóng quá, để sau đó, chiếc đầu không còn cọng tóc nào ấy vẫn nhởn nhơ như một minh chứng rằng, ung thư thì… nhằm nhò gì! Chạy xe máy đi lấy thuốc Nam về để uống kèm với Tây dược, chị bị mất thêm hai ngón chân sau cái va chạm nhẹ như tơ trên đường về. Có lẽ miếng inox trang trí ráp trên pô xe người khác đã cắt ngọt hai ngón chân kẻ ung thư, khi xe chị trờ tới nơi ngã tư mà cả hai người đều không hay, vì chính họ còn vui tươi chào nhau trong ánh đèn xanh nơi giao lộ. Máu chảy lạnh cả chân, làm chị vội vào nhà thuốc Tây, bụm một cục bông vào nơi loang máu, rồi tống ga chạy về tới bệnh viện. Hối hả vất chiếc xe ngoài sân, vì e không đủ thời gian gửi vào bãi trước khi chết vì mất máu, chị bay vào phòng cấp cứu. Bác sĩ buồn rầu báo:

- Chị bị… rơi 2 ngón chân rồi!

- Vậy à!

Rồi tỉnh bơ! Chị “vậy à” ấy vui vẻ kể mẩu chuyện mà mình là vai chính cho mọi người với cái đầu trọc lóc nở nụ cười sảng khoái! Con người “tỉnh bơ’ ấy còn lon ton trong phòng bệnh ủi an những bệnh nhân chưa có ai đến viếng thăm! Chị khôi hài:

- Vậy bây giờ tớ có biệt danh tám ngón!

“Tám Ngón” lại còn phải cắt một bên vú nữa cơ. Trong phòng bệnh, “Tám Ngón” tự thăng cấp:

- Giờ lên tới chức “Tám Ngón Một Núi” nữa rồi!

TNMN ấy cứ làm như phòng hồi sức là nhà mình, chị tha hồ nói về Chúa, thả giàn đọc sách thánh hiền cho cả làng nghe. Gấp sách lại, chị lu loa:

- Ở cái phòng hậu phẫu này, chẳng còn ai có thể đứng núi này trông núi nọ nữa, vì bà nào cũng chỉ còn… một núi!

Lẽ dĩ nhiên chị phải chết, cái chết đau đớn lắm! Trước đó, con người tiều tụy ấy được nhiều người ghé thăm. Tất cả đều yên lặng, đều thầm thĩ với chị những lời cầu xin. Mọi người đều cố cầm nước mắt trước sự can đảm của chị. Mọi người đều nhớ như in rằng, cho dù chị đau đớn đến thế, chị vẫn cùng đám bạn bè ra Vũng Tàu hóng gió lần cuối trong đời, chẳng bù cho có những bạn bè khác, phải nằn nì năn nỉ mãi mới chịu hạ chút giận ai đó mà cùng anh chị em đi du ngoạn!

Thêm một nữ nhân nữa!

Hai vợ chồng chị khá… ngầu: Chồng bán quán nhậu, vợ ghi số đề! Tiền không thiếu, nhưng thời giờ là thứ hiếm hoi, nên chỉ chờ bạn bè mở lời mời mọc là:

- Tiền nè! Cầm đi! Dư hả? Kệ cha nó! Ăn thua gì! Nhưng tôi không đi dự được đâu. Mà cứ ghé nhá! Tới mà lấy tiền, đừng có ngại cái… con mẹ gì hết!

Cụt ngủn! Bỗ bã! Tuệch toạc! Nhưng chỉ có thế: Chẳng giận hờn! Không hoa hòe hoa sói!

Vậy rồi cũng ung thư vú, mãi không thấy xuất hiện, cũng do dời nhà đi xa quá, đến thăm cũng nhiêu khê!

Chị kia cũng vậy! Gặp chị là gặp cả mùa xuân với mái tóc nhuộm nổi bật, với nụ cười… tềnh toàng, với khuôn mặt đỏ đỏ xanh xanh:

- Này! Cầm lấy! ủng hộ thêm chứ quỹ gì mà ít vậy! Mà xin lỗi vì tớ không bỏ vào phong bì nhá! Bỏ làm gì cho… mệt!

Dễ dãi đến thế thì ai mà buồn nổi?

Chuyện này lại kỳ lạ một chút:

Mỗi lần có việc đến nhà chàng là y như phải đứng ngoài đường, dù nhà chàng to đùng cùng cái sân rộng rãi! Dường như chàng “ngại” vợ sao đó nên không tiếp khách trong nhà! Chẳng sao! Vì bả là cái đinh gì cơ chứ? Chàng mới là bạn học!

Vậy mà chàng gở chết! Chàng bất thần ghé chơi, nói về thánh kinh chàng mới học ở DCCT Sài Gòn. Cuộc thăm viếng nhẹ nhàng mà thấm đẫm niềm tin. Vậy mà mấy hôm sau chàng đột quỵ! Cả bọn hùn nhau bỏ bì thư phúng điếu. Có cả điếu văn cho đậm đà cái tình bạn bè mấy chục năm mới tái ngộ!

Rồi hàng năm, thiệp mời lại đem đến tận nhà chàng như lúc trước. Lạ thay, nàng lại rộng cửa đón chào và chẳng vắng mặt lần nào. Có lần hỏi… cho có:

- Ảnh mất được 10 năm chưa chị?

- Ơ! Anh hỏi đúng lúc quá! Em mới làm giỗ 10 năm cho ảnh hôm qua…

Nỗi buồn mất chồng không còn trong lòng chị nữa, thay vào đó là cái tươi tắn, sự trân trọng và mến yêu!

Thử nghe một cuộc điện đàm:

- A lô…

- Ừ, nghe rồi!

- L. đây!

- Biết rồi, nói đi!

- Ông nhận được thư mời chưa?

- Chưa! Mà cần gì thư! Họp mặt phải không? Hôm nào?

- Thì ngày… nhé!

- Rồi, tao sẽ đi!

- Chắc không?

- Có năm nào tao vắng đâu?

- Nhưng vì bây giờ mới có vợ?

- Để tao dẫn bả đi luôn!

- Chắc không?

- Sao không chắc? Chính “bả” đòi đi mà!

Nghe mà mừng, vì hắn mới hết là trai tân chưa được một năm. 61 tuổi mới cưới vợ! Rồi biến khỏi mọi sự í ới. Nhà lại xa nên đành gửi thư mời qua bưu điện. Địa chỉ là nhà cháu ruột, nơi ở là nhà nhạc gia cho gần chợ mà đưa đón “tân giai nhân” bán buôn hàng ngày. Nên phải nhắn tin báo rằng thư đã gửi đi! Rồi lại gọi điện để xem thư đến chưa, đã nhận chưa, đã đọc chưa, đã được “nhà tôi”… duyệt chưa. Hú hồn! Cả… hai đứa cùng đi để ra mắt bọn bạn xưa mắt đã kèm nhèm, nên chẳng thằng nào, con nào đi dự lễ, thậm chí dự đám cưới vì xa ơi là xa, và vì tối ơi là tối!

Dòng đời vẫn trôi mãi trôi hoài, dù trên lưng nó luôn có đủ đầy kẻ tích cực, người thản nhiên. Kẻ vác ngà voi nếu không có chút ngẫm nghĩ về con đường thật ra rất ngắn, hẳn sẽ ném ngà voi cho bá tánh! Nhưng lạ kỳ là, trong muôn muôn con người, cũng có không ít kẻ tâm đắc, thậm chí người tâm đắc ấy có thể chưa lần nào gặp gỡ, hoặc đã từng một thời là bạn mà nay mới vô tình nhận ra trên internet, chứng tỏ anh, chị ta vẫn mãi là bạn với mình…

Một khi tuổi đời cứ mất dần vào khoảng không bất định, thì để níu kéo nó, chẳng cách nào hay hơn là tìm lại những khoảnh khắc xa rồi, nối lại những mối dây tưởng rằng đã mất, và quan trọng hơn hết, là tô thêm màu vào bức tranh đôi khi tàn úa, hay nhạt nhẽo vô tình…

LAM TRẦN

Bất ngờ với 20 sự thật

về sô-cô-la ít người được biết

Sô-cô-la được xem là “vitamin cuộc sống”,

nó quyến rũ hàng tỷ người trên khắp thế giới

bởi sự ngọt ngào khó cưỡng...

Tuy nhiên, nhiều người vẫn cảm thấy e dè vì những “lời đồn” rằng sô-cô-la ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe như gây béo phì, gây mụn, sâu răng… Vậy thực hư như thế nào? Cùng tìm hiểu 20 sự thật thú vị về sô-cô-la nhé!

1. Nhiều người cho rằng, sở dĩ con người mê mệt sô cô la vì trong loại đồ ngọt này chứa một lượng lớn cafein gây nghiện. Tuy nhiên, sự thật là lượng cafein trong sô- cô-la là rất thấp, không đáng kể, thấp hơn khá nhiều so với lượng cafein trong trà và cà phê.

2. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, sô-cô-la là một phương thuốc giảm đau tự nhiên.

3. Cảm giác thưởng thức vị sô-cô-la tan chảy trong miệng có thể tạo nên niềm vui và độ khoái cảm mãnh liệt và kéo dài hơn so với việc… hôn.

4. Ăn một viên sô-cô-la nhỏ sẽ cung cấp đủ năng lượng cho bạn đi được đoạn đường dài 150 feet, tức khoảng 46m.

5. Bạn đã từng thưởng thức một viên sô-cô-la có nhân bên trong là hạt hạnh nhân chưa? Quá tuyệt vời đúng không? Vậy nên hơn 40% hạt hạnh nhân trên toàn thế giới trong các sản phẩm của sô-cô-la.

6. Sô-cô-la đen được xem như một “người bạn tốt” với vi khuẩn có lợi trong cơ thể con người, vậy nên nếu muốn sản sinh nhiều vi khuẩn có lợi bạn hãy ăn sô-cô-la đen thường xuyên.

7. Nhiều “lời đồn” cho rằng ăn sô-cô-la rất dễ bị sâu răng, nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Vì trong sô-cô-la có nhiều canxi, photpho và magiê cùng những chất khoáng giúp xương và răng chắc khoẻ. Những chất kể trên có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ răng nướu, và rất tốt cho răng.

8. Chưa nói đến vị ngon, chỉ riêng mùi hương của sô-cô-la đã làm tăng đáng kể lượng sóng não giúp thư giãn tinh thần.

9. Thường xuyên ăn sô-cô-la đen giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim.

10. Theo một nghiên cứu của Ðại học Harvard, nếu bạn ăn sô-cô-la ít nhất ba lần trong một tháng sẽ giúp kéo dài tuổi thọ hơn một năm so với những người không ăn sô-cô-la.

11. Sô-cô-la rất tốt cho da và không hề gây ra mụn trứng cá, không hề làm tổn thương da của bạn, ngược lại còn giúp bảo vệ làn da vốn mỏng manh của bạn gái. Ðặc biệt, sô-cô-la đen có chứa chất chống oxy hóa cao, giàu dinh dưỡng và chứa rất nhiều các loại axit béo bão hòa. Chúng có thể thúc đẩy quá trình trao đổi chất của tế bào da. Nhờ vậy, làn da của bạn sẽ trở nên mịn màng và sáng bóng.

12. Trong sô-cô-la đen có chất chống nắng tự nhiên, vậy nên ăn sô-cô-la đen giúp bảo vệ làn da khỏi các tác hại của ánh nắng mặt trời.

13. Ăn sô-cô-la đen giúp bổ mắt, cải thiện thị lực của con người.

14. Ăn sô-cô-la sẽ giúp bạn trông vui vẻ và trẻ trung hơn, nhờ các chất chống oxy hóa dồi dào.

15. Sô-cô-la đen được xem như một liều thuốc “giảm cân”, vì giúp kiềm chế cảm giác thèm ăn hiệu quả.

16. Sữa sô-cô-la là thức uống phục hồi nhanh sau tập luyện, vận động nặng vì độ protein có trong đó.

17. Trong thời cổ đại, điển hình nhất là người Maya, thì quả ca-cao (nguyên liệu tạo ra sô-cô-la) được sử dụng như một loại tiền tệ để buôn bán và trao đổi hàng hóa. Ðơn vị tiền tệ này được chia ra thành 2 “mệnh giá” là hạt ca-cao và quả ca-cao. Ví dụ: Một con thỏ có giá 10 quả ca-cao. Một người nô lệ có giá 100 quả ca-cao.

18. Mỗi ngày trên thế giới, lượng sô-cô-la được tiêu thụ là rất khổng lồ. Thụy Sỹ là quốc gia tiêu thụ sô-cô-la nhiều nhất thế giới. Hàng năm, ước tính mỗi người Thụy Sỹ ăn trung bình 13kg sô-cô-la.

19. Vì lượng tiêu thụ khổng lồ cho nên phải sản xuất sô-cô-la rất nhiều. Mỗi ngày, có đến 15 triệu tấn sô-cô-la snickers được sản xuất (Snickers là loại sô cô la bán chạy nhất thế giới hiện nay), và mỗi năm có đến 2 tỷ thanh snickers được bán ra. Nhãn hiệu Hershey nổi tiếng của Mỹ sản xuất ra 80 triệu viên kisses mỗi ngày.

20. Và cuối cùng, đây là thông tin “bất lợi” duy nhất của sô cô la trong danh sách này, đối với con người, nếu ăn liên tục 10kg sô-cô-la cùng một lúc có thể gây tử vong. Tuy sô-cô-la có nhiều lợi ích với sức khỏe, nhưng ăn một cách điều độ vẫn tốt nhất, mỗi ngày thưởng thức từ 2 đến 3 thỏi nhỏ là thích hợp hơn cả.

ĐÀO MINH DIỆU XUÂN st.

SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI

Bs. CK1 Đào Thị Yến Thủy

Trung tâm Dinh dưỡng Tp. HCM

Người cao tuổi là nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên. Dần theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trình độ chăm sóc y tế và xã hội nâng cao, tuổi thọ của người dân ngày càng tăng và nhóm người cao tuổi trở thành một lực lượng lớn trong xã hội. Để có thể tiếp tục là những người hữu ích cho xã hội, vấn đề chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là dinh dưỡng cho người cao tuổi cần được sự quan tâm của gia đình và xã hội.

Theo thời gian, một số hoạt động của bộ máy cơ thể người cao tuổi xuất hiện một vài sự thay đổi. Các giác quan suy giảm hơn như mắt nhìn mờ, lãng tai, mũi ngửi kém, cảm giác ở lưỡi cũng không còn tinh nhạy làm cho việc ăn uống kém ngon, cảm giác khát không rõ ràng… Hơn nữa, các chân răng bắt đầu yếu, cơ xương hàm teo nhão làm cho sức nhai bị giảm đi khá rõ, vấn đề nuốt thức ăn cũng khó khăn hơn. Các tuyến tiêu hóa, dạ dày, ruột, gan đều giảm chức năng, dẫn đến việc tiêu hóa và hấp thu thức ăn bị ảnh hưởng, quá trình đào thải chất độc kém, táo bón xảy ra thường xuyên hơn. Các rối loạn về dinh dưỡng như suy dinh dưỡng hoặc thừa cân béo phì bắt đầu xuất hiện trầm trọng hơn. Cùng với quá trình lão hóa, các mạch máu người cao tuổi dễ bị xơ cứng và xơ vữa dẫn đến các bệnh lý khác như cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, thiếu máu não, suy thận… Các khớp xương, dây chằng lỏng lẻo, loãng xương và gãy xương dễ xảy ra. Các bệnh lý nhiễm trùng cũng thường gặp hơn do sức đề kháng giảm sút…

Hiểu biết những khó khăn thường gặp trong ăn uống ở người cao tuổi, chúng ta cần có nhiều biện pháp để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp với đối tượng này, giúp người cao tuổi sống vui khỏe. Cũng cần lưu ý một đặc điểm ở người già là do hoạt động ít, khối cơ bắp giảm nên nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng cũng giảm đi, do vậy càng lớn tuổi càng ăn ít hơn lúc trẻ.

Mục đích của dinh dưỡng lúc này là nhằm giúp cho người cao tuổi có được một cân nặng hợp lý nhất để duy trì sức khỏe và không bị các nguy cơ của suy dinh dưỡng hay thừa cân, béo phì, cũng như hạn chế tối đa các nguy cơ mắc các bệnh lý mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng như tiểu đường, cao huyết áp, loãng xương…

Cân nặng hợp lý là cân nặng lý tưởng so với chiều cao của mình. Thường dùng công thức tính Chỉ số khối cơ thể (BMI - Body Mass Index) để đánh gia tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành (trên 15 tuổi).

BMI = Cân nặng (kg)/Chiều cao (m)xChiều cao (m)

· Nếu BMI từ 18,5 - 23 kg/m2:

Cân nặng hợp lý (Bình thường)

· Nếu BMI < 18,5 kg/m2: Suy dinh dưỡng

· Nếu BMI từ 23 - 25 kg/m2: Thừa cân

· Nếu BMI trên 25 kg/m2: Béo phì

Do khả năng tiêu hóa kém đi, đôi khi người cao tuổi cần nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày để đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng. Với 3 bữa ăn chính luôn phải có đầy đủ là bữa sáng, trưa, tối, người cao tuổi có thể ăn thêm 1 đến 3 bữa phụ xen kẽ những bữa chính nếu các bữa chính là chưa đủ. Những bữa ăn chính thì cần đầy đủ các nhóm thực phẩm quan trọng như bột đường, đạm, béo, rau thì bữa ăn phụ chỉ cần là ly sữa, cái bánh, củ khoai, các loại trái cây… Bữa ăn càng đa dạng thực phẩm, thay đổi món thường xuyên sẽ cung cấp đủ các vi chất dinh dưỡng cho cơ thể.

Khi lựa chọn thực phẩm, người cao tuổi cần quan tâm những điều sau đây:

- Chất bột đường: Cơm, mì, nui... là những thức ăn hàng ngày thông dụng. Tuy nhiên, người lớn tuổi nên bớt cơm để ăn thêm khoai củ, ngũ cốc nguyên cám để tăng chất xơ chống táo bón, thải cholesterol thừa, hạn chế nguy cơ tăng đường huyết và ung thư đại tràng. Với các loại trái cây, bột ngũ cốc, củ khoai, trái bắp... trong bữa phụ có thể giúp tăng cường năng lượng và dưỡng chất còn thiếu trong 3 bữa chính.

- Chất béo: Cần hạn chế tối đa mỡ lợn, da, óc, đồ lòng, gan tim cật... Bình thường, mỗi tuần chỉ nên ăn 2-4 lòng đỏ trứng, nếu mỡ máu cao thì chỉ ăn 1-2 lòng đỏ trứng mỗi tuần. Trong chế biến thức ăn hàng ngày, nên dùng dầu thực vật như dầu nành, dầu mè,… (trừ dầu dừa và dầu cọ không nên dùng thường xuyên, vì các loại dầu này chứa nhiều chất béo no và kích thích gan tự sản xuất cholesterol nội sinh). Nên ăn cá, mỡ cá vài lần trong tuần để nhận thêm các acid béo thiết yếu (omega 3) có lợi cho tim mạch.

- Chất đạm: Người cao tuổi vẫn cần cung cấp đủ chất đạm với cá, thịt, tôm, trứng, đậu hũ, các loại đậu đỗ,... Hạn chế thịt heo mỡ. Ăn tối thiểu 6 bữa thịt (heo, bò, gà), 3 bữa cá mỗi tuần. Trung bình một người trưởng thành cần khoảng 1kg thịt, 2kg cá và 3kg đậu hũ mỗi tháng.

- Tăng cường ăn rau xanh, bí bầu luộc, quả chín ít ngọt rất tốt cho sức khỏe, chống táo bón, hạn chế đường huyết tăng nhanh, kiểm soát cân nặng và chống lão hóa. Mỗi ngày nên ăn khoảng 300g rau và thêm trái cây tươi.

- Nên sử dụng sữa, mỗi ngày nên uống ít nhất 1 ly sữa ít béo, ít đường.

- Cần uống nhiều nước và thường xuyên trong ngày, không đợi khát mới uống.

- Tránh ăn quá no hay nhịn đói lâu, giảm lượng đường, muối trong bữa ăn, không ăn thức ăn hun khói, nướng cháy khét,…

- Theo dõi cân nặng hàng tháng để điều chỉnh chế độ ăn và vận động, giữ mức cân nặng hợp lý cho sức khỏe.

Đặc biệt, những người có tinh thần lạc quan, hệ thần kinh hoạt động tốt, cơ thể sẽ có thể tự điều chỉnh và thích nghi tốt với những thay đổi ở tuổi già. Vì vậy, người cao tuổi nên tập thể dục vừa sức và đều đặn buổi sáng và buổi tối, nghỉ trưa ngắn 30 phút mỗi ngày và giữ tâm hồn thanh thản, bỏ qua ưu phiền mà vui sống.

Phùng Chí Tâm st.


ĐỔI VAI

Trong cuộc sống hàng ngày, luôn luôn có những hành xử theo từng vai vị. Phải nói rất chính xác rằng vai trò và vị thế là điều kiện then chốt trong tất cả mọi hành xử, từ cao đến thấp, từ hay đến dở, từ đúng đến sai…

Khi đứng vào một cấp bậc một môi trường một hoàn cảnh một tình huống nhất định, thì sự hành xử thông thường luôn vin vào sự chủ thể ấy, có thể phát ngôn, quyết định, hành vi theo một chiều thuận mà bản thân đang nắm giữ, gần như không khi nào không bao giờ nghĩ xem phía đối phương tiếp nhận những hành xử của mình trong một tâm trạng theo chiều hướng nào. Nhất là khi người ta tự cho phép mình định đoạt kết cuộc của một sự việc theo hướng có lợi nhất cho mình, hoặc tối thiểu cũng thỏa mãn được vai vị mà không hề cân nhắc đến kết quả hay hậu quả trái chiều. Chỉ thử vài giây “Đổi Vai” thì sẽ có thể cảm nhận được tâm trạng đối phương, và cũng có thể nhìn nhận được sự hợp lý hay bất hợp lý trong hành xử của mình thì chắc chắn sẽ giảm thiểu được rất nhiều những thiệt hại không đáng có. Rất tiếc người đời không bao giờ có vài giây “Đổi Vai” này.

Có những sự việc trong quá trình diễn ra tốn kém rất nhiều tâm huyết sức lực và kinh tế, nhưng có khi không đạt được hiệu quả như mong muốn, thì rất nhiều phán xét tỏ ra rất rất khôn ngoan rất rất tài giỏi, cứ như là cái việc ấy mà trong tay họ thì ăn chắc trăm phần trăm vậy. Và như vậy mặc tình bao điều tiếng ong ve chê bai dè bỉu cứ hồn nhiên trút vào khổ chủ. Nếu thử vài giây “Đổi Vai” họ sẽ cảm nhận được sự đau đớn mệt mỏi, tâm trạng nặng nề bức bí, không ai muốn làm một việc gì mà không hướng đến sự thành công, nhưng đâu phải cứ muốn là được, kể cả khi có thành công chưa chắc đã nhận được sự trân trọng và tán thưởng xứng đáng, nữa là không có hiệu quả hoặc chưa đi đến được hiểu quả tốt nhất. Rất tiếc người đời không bao giờ nghĩ đến vài giây “Đổi Vai” này.

Trong cuộc sống có rất nhiều cảnh ngộ mà chỉ người trong cuộc mới biết rõ mình đang phải thế nào. Bất kỳ một ai đều phải chạm vào tính hai mặt của một vấn đề cả. Nhiều lúc dù muốn hay không, người ta vẫn phải có những phương cách tùy ứng để có thể chọn được một cái gì đó phù hợp với bản thân, cho dù trên mặt bằng xã hội chưa chắc đã là thuận chiều, thực tế cũng đã có nhiều mình chứng, có thể ban đầu không hẳn đúng, nhưng diễn tiến theo hướng tích cực, hẳn sẽ dẫn đến một kết quả tương thích. Nhưng hầu hết những người ngồi xem đều thoải mái trút xả những công kích thóa mạ dẫm đạp không hề thương tiếc, cứ như phải đánh gục cho bằng được cái mà họ đang không vừa ý kia. Nếu thử vài giây “Đổi Vai” để hiểu được vì sao người ta phải chọn cái cách khó khăn hơn rất nhiều mọi người tưởng để đi qua những gì bất bằng mà người ta đang phải chịu. Ai không muốn suôn sẻ thuận lợi, những con đường gập ghềnh luôn luôn nhiều hơn con đường bằng phẳng. Và nếu như “Đổi Vai” liệu họ có làm khác được không? Rất tiếc người đời không bao giờ nghĩ đến sự “Đổi Vai” này.

Chuyện buồn đau xui rủi mất mát biến cố là chuyện không ai muốn, nhưng bất kỳ ai cũng đến lúc phải nhận lãnh. Đó là quy luật cuộc đời. Nhưng khi chưa đến lượt mình mà thấy ai đó rơi vào thảm cảnh, thì những người rảnh rang tha hồ vảnh môi lên soi mói đơm đặt, nhất là trước đó đã từng va chạm mâu thuẫn hay ganh ghen chuyện gì nữa thì “đó thấy chưa… đáng đời…” khi người kia đang đứt từng khúc ruột thảm não ê chề, họ vẫn sẵn sàng ác miệng ác tâm như đổ thêm núi đá vậy. Nếu thử “Đổi Vai” chỉ một giây thôi, họ sẽ tự hiểu các ác của họ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế nào cho nạn nhân. Và họ cũng đâu biết rằng, không lâu đâu, không muộn đâu, đang có những thảm cảnh có khi còn khốc liệt hơn đang chờ họ kia. Đừng thấy người đang xanh xao mà ta đang hồng hào mà tưởng. Chỉ là chưa đến lượt thôi. E rằng khi đến mà cộng cả sự độc ác của bản thân nữa thì… Rất tiếc người đời chưa một ai từng nghĩ đến.

Cũng như thế với những người chuyên ăn cắp ăn trộm lừa gạt cướp bóc, họ luôn vui sướng hả hê với những gì họ lấy được, mặc ai đau khổ xo xúi bức ách ra sao. Họ chỉ nghĩ một điều duy nhất, cái họ có được mà không mất công sức vất vả cực khổ thì họ cứ tận hưởng cho đã đi mọi chuyện tính sau. Với những người này chuyện “Đổi Vai” là một trò hề. Đương nhiên không phải tất cả đều suôn sẻ với họ mãi, và cái giá họ phải trả là rất lớn, lớn gấp ngàn lần thứ họ có được. Nhưng bảo họ thử một lần nghĩ cho những người mất mát xem sao thì đừng hòng một câu trả lời tốt đẹp. Họ chỉ có thể cảnh tỉnh vài phần khi đã thấm đến tận cùng cái mà họ bị mất đi.

Trong bối cảnh xã hội ngày càng xảy ra nhiều những nghịch cảnh, hỗn độn và bát nháo, sự băng hoại là không giới hạn, con người ngày càng ít suy nghĩ, chỉ bộc phát hành động một cách vội vàng, gây ra không biết bao nhiêu là hậu quả với những mức độ ảnh hưởng thiệt hại lớn nhỏ. Lương tri của một người viết, cho dù biết đôi ba dòng chữ nhỏ nhoi rồi cũng sẽ nhanh chóng nhạt nhòa lọt thỏm đâu đó trong một mớ xô bồ hỗn tạp, thì vẫn muốn cất lên một tiếng nói với một niềm hy vọng, bởi cái phần “Con” nay quá nhiều điều kiện và cơ hội bành trướng, lấn dần phần “Người” mà đã không biết tốn hằng bao trăm triệu năm tiến hóa. Viễn ảnh của một tương lai tốt đẹp sao mà thăm thảm, chỉ thấy rõ sự suy đồi, thoái hóa, trơ trẽn vô sỉ là hiển nhiên. Thôi thì cứ kêu lên một tiếng, dù có tan tác thì may ra cũng có chút gì đó cho gió thổi. Bởi dù sao, sự xấu hổ lây vẫn đè nặng lương tri của những ai vẫn cố sức để làm “Người”.

ĐÀM LAN

NGƯỜI LÀNG CHÀI

An cúi đầu, mái tóc vàng hoe nắng cháy buông lơi, rũ xuống như những sợi tơ mềm mại. Hai bàn tay xinh xinh, lùa cát đắp lên đôi chân trắng hồng mũm mĩm. An nhè nhẹ rút bàn chân. Hai cái hang chùm hụp, tối om hiện ra. An khúc khích cười khi Thi chắc lưỡi:

- Xây lâu đài trên cát hả An?

Lắc lắc đầu, những sợi tơ vàng long lánh đong đưa:

- Không đâu, đó là hai túp lều tranh. Nhà của An và nhà của Thi đó. Thích không?

Thi lặng thinh, bần thần nhìn đôi chân An duỗi thẳng trên cát. Bàn chân xinh xắn làm sao! Trắng như ngọc. Thi nhìn sang bàn chân mình, to bè, đen nhẻm. Mỗi lần mua giày dép, Thi xấu hổ vì phải chọn những đôi có số lớn. Chúng to như những chiếc xuồng. Mẹ bảo Thi giống cha lắm. Từ chân mày đến gót chân. Thi chỉ còn nhớ mang máng dáng cha vạm vỡ. Khuôn mặt chữ điền và nụ cười lấp lánh ánh bạc của trăng vỡ trên bãi biển. Cha thường cúi xuống nhấc bổng Thi, xoay mấy vòng, cười ha hả khi nó sợ hãi co rúm người, hai chân quặp vào nhau. Mẹ Thi đứng lặng nhìn ba, mỉm cười hồn hậu. Nụ cười bây giờ Thi tìm hoài không thấy nữa, từ ngày thuyền đắm. Biển cướp mất ba ngoài khơi xa. Từ đó, mẹ thay ba chạy gạo. Mẹ mua cá rồi đem bán lại ở chợ. Thi lóc thóc đuổi theo sau quang gánh. Đi sớm về trưa, đôi chân Thi to dần ra, cứng cỏi từ lúc nào không biết.

Còn An, mồ côi mẹ. Bà chưa chết nhưng ai cũng xem như đã qua đời kể từ khi bà bỏ chồng con vượt biển với một người đàn ông lạ. Hai kẻ phản trắc ra đi để lại cho làng chài thêm một gia đình vắng bóng hạnh phúc. Bà ngoại của Thi thường rên rỉ: “Biển nuôi ta. Vì vậy, biển có quyền đòi hỏi ta nhiều thứ. Mồ hôi, nước mắt và cái chết”. Cả làng chài chỉ có vài gia đình là còn đầy đủ người thân. Số còn lại thiếu vắng một hoặc hai người. Chết hoặc bỏ biển ra đi. Có lẽ vì vậy, dân làng chài yêu quý nhau, cưu mang nhau, như ruột thịt.

Nhà của Thi và An sát nhau. Ba An cùng những người đàn ông khác ra khơi đánh bắt cá. Mẹ Thi mua lại một ít rồi đem ra chợ, đổi lấy áo cơm. Những ngày biển động, những người đàn ông còn kẹt lại ngoài biển. Không riêng mình An khóc. Cả nhà Thi cũng vào ra, ra vào nhấp nhỏm, lo sợ cháy lòng. Thi và An bỏ học, ra bãi biển ngóng thuyền. Hai đứa chờ cánh buồm nâu quen thuộc, căng phồng gió lộng. Mong nhớ cồn cào mùi tanh tưởi hòa quyện mùi mặn đắng lan rộng từ chiếc thuyền úc núc cá tươi.

Hôm nay, đài khí tượng báo có mưa dông đi qua làng chài. Trái tim Thi muốn vỡ ra vì những giọt nước mắt của An. Cô bé chạy ra đây, đứng lên, ngồi xuống rồi lại đứng lên. An không đuổi theo những chú dã tràng khệnh khạng xe cát lấp biển đông mà ngồi bó gối nhìn con vật bé tí lao xao, tuyệt vọng với ước mơ quá lớn. Khóc chán, An lại cười. Nụ cười vô cảm. An xây hai túp lều trên cát rồi lại dùng chân xóa tan dấu vết ngôi nhà. An thì thầm:

- Lớn lên, An sẽ bỏ nơi này mà đi.

Thi bàng hoàng ngước nhìn cô bạn gái:

- Như mẹ An ấy à? Còn… ba An làm sao?

- Không, An sẽ van xin ba cùng đi với An. An sợ biển độc ác lại cướp mất ba, người thân cuối cùng của An.

Thi chua xót nhìn ra xa. Còn Thi, Thi nhất quyết bám biển. Khi Thi đủ sức kéo lưới, Thi sẽ cùng các chú, bác ra khơi. Thi yêu biển, yêu nhưng con tàu kiêu hãnh lướt sóng và mang về đầy ắp cá tôm. Thi yêu lạ lùng bầu trời trong veo in bóng trên mặt biển mỗi bình minh…

An lại khóc.

Thi ngước nhìn vòm trời âm u, xám xịt, nặng nề. Những ngọn sóng tím rịm to dần, nhào tới, ngã lui, bọt tung trắng xóa. Vài cánh Hải Âu chấp chới, chung chiên trong cơn giận dữ của đất trời. Thi hoảng hốt:

- Sắp mưa rồi, về thôi An ơi, kẻo ướt! Thi ướt chẳng nhằm gì nhưng An lần nào cũng sốt.

An mím môi, nước mắt ràn rụa:

- Không, An đợi ba!

Thi kêu lên:

- Vô ích thôi! Biết lúc nào thuyền đỗ bến mà đợi?

An nghẹn ngào:

- An vẫn đợi. Đợi hoài! Cho tới khi nào ba về.

Những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rắc xuống, đậu lên tóc An và Thi. Thi đứng bật dậy gào lên:

- Bão tới rồi! An ơi, về đi!

An ngồi chết lặng, nói trong tiếng nấc:

- An không về!

- Nhưng nếu… thuyền không trở lại nữa thì sao?

- An sẽ chờ cho đến khi hóa đá.

An nấc lên, đứng bật dậy, lảo đảo, chợt khuỵu xuống. Những giọt mưa to dần, hung tợn quét qua chỗ hai đứa, chụp lấy mái tóc vàng hoe. Những sợi tơ đẫm nước, rũ rượi. Khuôn mặt An tái nhợt. Hai cánh môi run run vì lạnh. Thi cũng run rẩy trong giá buốt. Nhưng nó cảm thấy trái tim mình đang run lên, căng ra, rạn nứt và vỡ vụn. Thi thương An quá! Thi quì gối, đưa hai tay lên trời, cầu khẩn, van xin:

- Biển đừng động nữa, biển ơi!... Đừng…

Tiếng ầm ầm, gầm rú của sóng dội tới, tàn nhẫn từ chối lời van vỉ của Thi. Bọt tràn lên, sủi trắng. Biển hắt hơi. Nước tung cao, tràn vào bờ, tạt mạnh vào người An và Thi. Thi hốt hoảng gào to:

- Về đi An!

Im lặng! An bất động. Ánh mắt lạnh lẽo vô hồn. An đã hóa đá? Thi bật khóc. Nhưng nó chợt vùng dậy, ôm chầm cô bạn nhỏ, nhấc bổng, chạy về phía làng chài.

An và Thi không kịp nhìn thấy cánh buồm nâu căng rộng, phấp phới đẩy con thuyền như bay về bến. Ơn trời, xuôi gió! An và Thi không kịp nhìn thấy ba An, người đàn ông cường tráng thả neo vội vàng. Ông nhảy lên bờ cùng với nhiều người khác. Biển vẫn gào thét, giận dữ, bất lực trước con người.

Nguyễn Thị Mây

MỤC LỤC

Vài chi tiết về kỳ họp ngày 08.6.2019 .... Vũ Thư Hữu . 01

Vài dòng về cuốn “Đông Dương thuộc Pháp” (hồi ức)

Indochine Française (souvenirs)… ... Vũ Anh Tuấn . 05

Những suy nghĩ vẩn vơ (tập 2 - tt) .... Lm. Giuse Ng.H.Triết . 08

Quy trình tu hành theo Chánh Pháp

của Đạo Phật (tt & hết) ...... Tâm Nguyện . 12

Kinh thánh của Jefferson… ........ Phạm Vũ . 27

Trời sắp mưa ......... Nguyễn Văn Sâm .. 36

Làm gì để được An lạc Thân & Tâm ..... Đỗ Thiên Thư st. .. 40

Người xưa không cho như thế là “đạo văn” ..... Thiếu Khanh. .. 56

Huyễn dụ (thơ) ............ Đàm Lan . 72

Trách thầm (thơ) .......... Phạm Thị Minh-Hưng .. 73

Sóng bạc đầu (thơ) ....... Huỳnh Thiên Kim Bội .. 74

Còn mãi yêu (thơ) .............. Hoài Ly .. 75

Thiên duyên (thơ) ........... Ngàn Phương .. 76

Hạt cát lặng câm (thơ) ........ Lê Nguyên .. 77

Hè về (thơ) ........... Thanh Châu .. 79

Đời thay đổi - Đêm buồn (thơ) ...... Lang Nguyên .. 80

Hoa sen - Xa bạn (thơ) .......... Quang Bỉnh .. 81

Hè về - Nhớ thuở học trò (thơ) ....... Thanh Vĩnh .. 82

Anh ơi ! Vĩnh biệt (thơ) ........... Vũ Thùy Hương .. 83

Mặt trái của… (thơ) .................. Lê Minh Chử .. 84

Phải lau chùi - Phúc Lộc Ninh (thơ) ..... Phước Hải .. 85

Sầu lẻ bóng (thơ) ................. Thanh Phong .. 86

Về trường cũ (thơ) .............. Lam Trần .. 87

Viếng Mẹ Tà Pao (thơ) ........ Hà Mạnh Đoàn .. 88

Tình mẫu tử (thơ) ........... Thúy Toàn dịch .. 90

Mưa (thơ) .............. Nguyên Lê . 91

Đếm lá (thơ) ............ Vũ Đình Huy .. 92

Counting leaves (thơ) ........ Vũ Anh Tuấn dịch .. 92

Mời rượu (thơ) ................ Vũ Đình Huy .. 93

An invite to wine (thơ) ......... Vũ Anh Tuấn dịch .. 93

Nghĩ về con đường kỳ thú:

Đà Lạt-Tháp Chàm-Ninh Chữ ...... Bùi Đẹp st. .. 95

Người đàn bà cuối cùng (tt & hết) ........ Hoài Ly .. 99

Nghiệp thiện ác khi lâm chung .... Hoàng Kim Thư st 110

Luật cây tre ........ Dương Tiến Cần 115

Khi tôi già ................ Kim Sơn st. 117

Nhà ta có giàu không Bố? ...... Lm. Mi Trầm chia sẻ 118

Tương quan trong sanh sống ........ Phạm Hi ếu Nghĩa 122

Những câu nói hay, ý nghĩa nhất

để khích lệ tinh thần ...... Lệ Ngọc st. 127

Vác ngà voi ............... Lam Trần 130

Bất ngờ với 20 sự thật về sô-cô-la

ít người được biết ......... Đào Minh Diệu Xuân st . 138

Sức khỏe người cao tuổi .......... Phùng Chí Tâm st. 141

Đổi vai .............. Đàm Lan 145

Người làng chài ........... Nguyễn Thị Mây 148

|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
 54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
 59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
 69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
 74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
 84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
 89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
|  54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
|  59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
|  69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
|  74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
|  84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
|  89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
Netadong.com thiết kế