Hiện có 2 người xem / 1289956 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 14/9/2013

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA & NAY

Như thường lệ, để mở đầu phiên họp, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã giới thiệu với các thành viên 2 cuốn sách, một cũ một mới. Cuốn sách mới bằng tiếng Việt, nói mới thì chưa đúng, phải nói là mới ra lò mới đúng, mang tựa đề là: “BÀI THƠ VỊNH KIỀU ĐỘC ĐÁO và cách làm thơ Thuận Nghịch Độc” của tác giả Phạm Đan Quế, nhà Kiều học hàng đầu, đã viết trên 20 tác phẩm về Kiều. Cuốn sách khổ 15x21 cm, dày 400 trang, bìa cứng được trình bày rất đẹp, do nhà XB Thanh Niên in vào tháng 7 năm nay (2013). Cuốn sách nói về một bài thơ vịnh Kiều mang tên là “Kiều Nương Cửa Phật”, mà qua cách đọc Thuận Nghịch Độc, tác giả đã trình bày thành 1728 (bài) và cách đọc khác nhau. Dịch giả Vũ Anh Tuấn được tác giả tặng sách vì ông cũng có một đóng góp nhỏ là đã dịch bài thơ Vịnh Kiều đó ra tiếng Anh (nơi trang 80 của cuốn sách), và bài thơ cũng có bản dịch ra tiếng Pháp nơi trang 81 của cố Dịch giả Hoàng Hữu Đản. Đây là một cuốn sách lạ và hấp dẫn người đọc, tuy nhiên người đọc phải rất chú tâm vào nguyên bản thì mới có thể nắm bắt và hiểu thấu đáo được tác phẩm. Cuốn thứ nhì được giới thiệu là một cuốn sách Pháp cổ, được in năm 1881 (132 năm trước) mang tựa đề là: “Các Lá Thư được chọn lọc của Bà de Sévigné”, một nữ đại văn hào Pháp hồi thế kỷ thứ XVII. Dịch giả Vũ Anh Tuấn muốn để các thành viên thấy một cuốn sách đã được ra đời 132 năm trước (khi ông và toàn thể các thành viên lúc đó… không biết đang ở đâu?) nhưng vẫn còn như mới, với ba cạnh mạ vàng vẫn còn óng ánh, vàng chói. Ngoài ra cuốn sách còn có những phụ bản nguyên trang (Pháp gọi là Planches và Anh gọi là Plates) thực đẹp được vẽ bằng bút sắt. Sau phần giới thiệu, các thành viên đã chuyền tay nhau xem một cách thích thú.

Sau phần giới thiệu sách, anh Dương đã có một bài nói chuyện ngắn về “Sự tham gia của tiếng Khmer trong Ca dao Miền Tây Nam bộ” được mọi người quan tâm và có thảo luận qua lại về đề tài.

Tiếp lời anh Dương, bà Thùy Dương lên nói chuyện về “Giải thưởng Tài Năng Lương Văn Can 2013” và về việc cụ Lương Văn Can, một trong những sáng lập viên của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), được coi như một doanh nhân tiên khởi, và bây giờ được lấy tên để trao giải…

Sau khi bà Thùy Dương nói xong, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã nói thêm về việc in tập thơ của riêng các thành viên CLB Sách Xưa và Nay và đã cùng toàn thể các thành viên hiện diện đặt tên cho cuốn thơ là “DUYÊN THƠ” – Thơ của các thành viên CLB Sách Xưa và Nay”. Cuốn thơ sẽ được thu xếp để được in trước Mùa Xuân năm nay.

Ngay lúc đó trời đổ mưa rất lớn, và anh Thanh Châu đã lên hát tặng các thành viên một bài hát mang tựa đề là Mưa, bằng giọng ca hùng dũng chẳng kém tiếng mưa rơi của anh.

Cuối cùng anh Vũ Đình Huy đã chia sẻ với các thành viên một số kinh nghiệm của anh trong việc in và tiêu thụ thơ, vốn là một dạng văn hóa phẩm “tình cho không biếu không!”

Cuộc họp kết thúc lúc 11 giờ 15 cùng ngày.

Vũ Thư Hữu


VÀI ĐIỀU ĐÁNG GHI NHỚ VÀ ĐÁNG CHIA SẺ

VỚI CÁC BẠN BÈ

YÊU TIẾNG PHÁP CỦA TÔI

Sau khi nhận thấy là mình đã ở tuổi 26 lần thứ 3, và đã đóng góp cho quê Mẹ mà tôi yêu quý 20 bản dịch Việt-Anh, Việt-Pháp và Pháp-Anh, đủ để ngày về kể công với Mẹ Âu Cơ, tôi đã quyết định không làm thêm nữa, mà dành thời gian để đọc những cuốn cổ thư tôi yêu thích mà chưa có thời giờ đọc (gần 1000 cuốn).

Sáng nay, tôi thực hiện ý muốn nói trên và ra kệ sách tôi dành riêng cho những cuốn tôi thích mà chưa có giờ đọc và chọn cuốn “Tiếng Pháp Cổ Điển” (Le Francais Classique) của tác giả G. Cayrou do nhà XB thời danh Henri DIDIER xuất bản ở Paris 89 năm trước (1924). Cuốn sách khổ 12x18cm, dày 884 trang cộng với 48 trang phụ bản nguyên trang, được sắp theo tự mẫu (theo thứ tự A, B, C…) như một cuốn tự điển. Đây là một cuốn sách cho người đọc những định nghĩa của một số từ tiếng Pháp hồi thế kỷ thứ XVII, những định nghĩa mà ngày nay ta không còn tìm thấy trong những tự điển lớn nhỏ hiện hành.

Vừa mở cuốn sách ra, điều khiến tôi thích thú đầu tiên là ngay ở trang đầu sách tôi thấy có một con dấu đóng lộn ngược của một trường Trung Học cực kỳ nổi tiếng ở Saigon cũ là trường Chasseloup Laubat, nơi đã đào tạo ra rất nhiều người Việt giỏi tiếng Pháp thứ thiệt, chứ không như nhiều vị hiện nay dám cả gan khoe là mình xuất thân là Sorbonnard(*) nhưng tiếng Pháp của các vị đó lại quá “kinh hoàng” khiến bà TNg. một bà bạn thân của tôi phải nói: “Tiếng Pháp thế này thì vị này là Charbonneux chứ không phải là Sorbonnard (Nơ chứ không phải Na) hì! hì! hì!” (xin xem hình minh họa trên có con triện).

Giở đọc lướt qua một số trang đầu, tôi đã bắt gặp ngay mấy từ rất ư là đặc biệt mà tôi thấy cần chia sẻ với các bạn “thích tiếng Pháp và thích Đầm” của tôi.

Nơi trang 5 của cuốn sách có từ “Académie” mà trong tự điển Pháp nào ngay lúc này cũng định nghĩa là Hàn Lâm, thí dụ “Académie Française” ai cũng biết là Hàn Lâm Viện Pháp. Nhưng điều kỳ thú rất ít người biết là hồi thế kỷ thứ XVII, từ “Académie” này lại có nghĩa là “Nơi mà giới quý tộc Pháp tập cưỡi ngựa và tập nhiều động tác khác”. Ngoài ra nó còn có nghĩa là nơi mà mọi người được phép cờ bạc thả dàn với thí dụ bằng Pháp văn sau đây: “Perdre son argent à l’académie” (Thua tiền ở nơi đánh bạc)...

Nơi trang 27 của cuốn sách có từ “Almanach” một từ mà ngày nay chỉ có nghĩa là Niên lịch, nhưng ở thế kỷ XVII thì nó lại có nghĩa là phỏng đoán và với thí dụ “Faire des almanachs” người ta định nghĩa một cách hơi riễu cợt là “Lo làm những chuyện hoang tưởng, mơ màng, viển vông”…

Nơi trang 115 của cuốn sách có từ “Calepin”, một từ mà ngày nay chỉ có nghĩa là “cuốn Sổ tay” thì hồi thế kỷ thứ XVII nó lại có nghĩa là “cuốn Tự Điển lớn” và định nghĩa này bắt nguồn từ tên của tu sĩ người Ý A. Calepino, người đã cho ra đời vào năm 1502 một cuốn tự điển đa ngôn ngữ lớn (tiếng Ý, tiếng La Tinh vv…)

Nơi trang 146 của cuốn sách có từ “Chef” một từ ngày nay chỉ chỉ một ông xếp, một thủ trưởng, nhưng hồi thế kỷ thứ XVII thì từ này lại có nghĩa là “cái đầu” và chỉ áp dụng cho người, ví dụ “Le chef couronné de lauriers” (Cái đầu đội vòng nguyệt quế), đồng thời từ này cũng được dùng để chỉ “đầu các thánh” thí dụ “On garde le chef de saint Jean en cette église” (Người ta thờ cái đầu của thánh Jean tại thánh đường này)

Nơi trang 220 của cuốn sách có từ “Crotte” ngày nay chỉ có nghĩa là “cục phân”, nhưng hồi thế kỷ thứ XVII thì nó lại có nghĩa là “bùn” thí dụ “Les rues sont pleines de crottes” (Đường phố đầy bùn)…

Chỉ mới ngồi mất hơn một giờ đồng hồ và mới lướt qua mấy vấn A, B, và C tôi đã bắt gặp một số từ mà mình không biết là lúc trước (thế kỷ XVII) lại có những nghĩa khác hẳn như thế, và tôi tự nhủ lúc nào rảnh rỗi ta sẽ đi thăm cuốn quý thư này một cách cặn kẽ hơn… Hôm nay tạm chia sẻ với quý bạn yêu thích tiếng Pháp vài từ ở trên thôi…

(Trích Hồi ký 60 năm chơi sách, Chương VI)

Vũ Anh Tuấn

(*) Xuất thân từ trường Đại Học nổi tiếng nhất của Pháp là trường Sorbonne (Paris IV)


MỪNG ĐẠI THỌ VÀ VĨNH BIỆT (!)

GIÁO SƯ HOÀNG NHƯ MAI

(1919 – 2013)

Thùy Dương


Đầu tháng 8 vừa qua, tình cờ tôi được xem trên TV bộ phim tài liệu dài 3 tập về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo Sư Nhà giáo Nhân Dân Hoàng Như Mai. Tuy đã ngưỡng mộ Giáo Sư từ lâu nhưng những cuốn phim tài liệu này đã ghi cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc hơn với niềm từ hào về một vị Thầy lớn của nhiều thế hệ.

Việc đầu tiên của tôi là gọi ngay điện thoại để chúc mừng Thầy Cô và hỏi thăm sức khỏe. Tuy đã nhiều năm không gặp mà Thầy còn nhớ ra tôi nhưng lại không hay biết gì về mấy cuốn phim tài liệu nói đến mình, cứ hỏi mãi phim nào. Nghe giọng nói sang sảng của Thầy tuy hơi mệt mỏi, tôi vui mừng vì biết Thầy còn rất minh mẫn, tuy Thầy cho biết Thầy đang bị bệnh đau khớp, đi lại rất khó khăn đau đớn. Tôi muốn xin được nói chuyện với Cô thì Thầy bảo: “Bà ấy bây giờ quên lẫn hết cả rồi, có nhớ gì nữa đâu”. Tôi rất buồn và ngạc nhiên vì mới cách đây vài ba năm, Bà còn được lên TV lãnh một giải thơ lớn 20 triệu đồng. Hôm ấy trông Bà còn rất khỏe mạnh. Sao cái bệnh quên lẫn này lại nhanh chóng đến thế!

Việc thứ hai của tôi là làm một bài thơ để mừng Đại Thọ Thầy và đi tìm mua một tấm thiệp chúc Thọ thật đẹp để chép bài thơ vào. Nhưng mấy hôm tôi bị cảm mà trời thì mưa liên miên suốt ngày nên cứ nấn ná mãi chưa đi gửi được. Ngày nào cũng lên mạng xem đã nơi nào tổ chức Lễ mừng Đại Thọ 95 tuổi của Thầy chưa, ta phải gửi trước mới được, nhưng chưa thấy; lại đem bài thơ ra chỉnh sửa vì thấy chưa được hoàn chỉnh, rồi nắn nót chép đi chép lại:

Kính Mừng Đại Thọ Giáo Sư

HOÀNG NHƯ MAI

(1919-2013)

Chín lăm tuổi hạc vẫn chưa già

Thế sự thăng trầm đã trải qua

Nam Bắc bôn ba phò nghĩa cả

Tài Tâm ước nguyện hiến quê nhà

Văn chương giáo dục rèn đàn trẻ

Đào tạo hiền tài giúp quốc gia

Thế hệ mai sau còn tưởng mãi

Vị Thầy đức độ tiếng vang xa…

Thùy Dương

(Nhóm thơ Đường Hương Xưa)

Rồi tôi tự nghĩ: thôi chưa chỉnh cũng không sửa nữa, sáng mai đi gửi sớm thôi, trễ lắm rồi. Tối hôm ấy đang chuẩn bị để bao thơ chuyển phát nhanh thì trên TV bỗng phát ra một TIN BUỒN nghe trang nghiêm nhưng lành lạnh khác thường:

Viện Phật Học Cao Cấp

Hội nghiên cứu và Giảng Dạy Văn Học TPHCM…

Vô cùng thương tiếc Báo tin…

Kèm theo là bức ảnh của GS Hoàng Như Mai với đôi mắt sáng quắc và chiếc cằm cương nghị nhưng hiền hậu như mọi ngày.

Nghe xong tôi lạnh người choáng váng! Sao lại có chuyện lạ này?

Và hôm sau là bài thơ thứ hai với nét bút run rẩy đau xót, không phải đau xót cho mình tôi mà có lẽ cho hàng vạn trái tim khác trong cả nước.

VĨNH BIỆT THẦY!

Thơ mừng Đại Thọ vẫn còn đây

Chưa kịp gửi đi để chúc Thầy

Vĩnh biệt nào ngờ tin sét đánh!

Tử ly ai thấu nỗi đau này?!

Người đi để lại ngàn thương tiếc

Kẻ ở ra về dạ khó khuây

Công hiến trọn đời cho đất nước

VỊ THẦY BẤT TỬ MÃI CÒN ĐÂY!

Thùy Dương

Hôm sau tôi sắp xếp mấy bài thơ Mừng Đại Thọ và Vĩnh Biệt, cùng với lá thư dài viết thăm hỏi Thầy Cô và những kỷ niệm đẹp năm xưa bỏ hết vào bao thơ chuyển phát nhanh để sẵn để mang vào nghĩa trang để lên bàn thờ Thầy. Nhưng tiếc thay hôm ấy đi đường xa và xe xóc nên tôi bị say xe phải nằm lại ngoài xe. Không vào được mộ để lạy Thầy. Lúc về đành giao lại cho người thân và gia đình Thầy chút lòng thành kính của tôi đối với Thầy Cô.

(còn tiếp)

Kỳ sau: - Những gì tôi đã học hỏi được ở Thầy Hoàng Như Mai

TRẨY HỘI

“THIÊN NGA TRẮNG”

Thúy Toàn

Trên tạp chí Thơ, số 1/2009, cách đây 5 năm, tôi đã có bài giới thiệu Ngày hội thơ “Những con thiên nga trắng”. Vừa qua, tôi may mắn có cơ hội được đến tận nơi quê hương nhà thơ Raxul Gamzatov tham dự những ngày hội ấy.

Từ Matxcơva phải bay mất hai tiếng hơn, tương tự chặng đường bay Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh, mới tới Makhachkala - thủ đô của nước Cộng hòa Daghestăng, quê hương nhà thơ.

Sân bay nằm ngay gần bờ biển, nhỏ, vắng vẻ, đang xây dựng mở rộng thêm, ngay vòm cổng chính vào sân bay cũng còn đang dở dang. Nhưng trước cổng trông ra phía biển đã sừng sững hai biểu tượng cao: một tháp giếng dầu và một chòm nhà thờ Hồi giáo với đỉnh chòi cao có gắn hình nửa vầng trăng.

Đường về khách sạn men theo bờ biển, vùng ngoại ô, từng dãy nhà dân cư đang được xây dựng: phần lớn là những căn nhà hai tầng gọn gàng bằng gạch tổ ong xam xám như được đúc từ xi măng… Chuyến tôi vừa bay hầu như chủ yếu là chở khách từ Matxcơva về dự Hội Raxul. Đại biểu các văn nghệ sĩ Matxcơva, nhiều địa phương khác và quốc tế gồm Angiêri, Irắc, Ai Cập và Việt Nam, đi trong chuyến này có tới gần trăm người.

Bắt đầu từ ngày 8 tháng 9, ngày sinh của Raxul Gamzatov, cũng là ngày Tổng thống nước Cộng hòa, ngài Ramazan Abdubaghimov vừa chính thức đắc cử lên nhận nhiệm vụ, các hoạt động những ngày lễ hội được khởi động.

Ngay khi xuống sân bay, trên đường về khách sạn để ý đã thấy không khí an ninh ở đây đã được thắt chặt: gần như ở những vị trí quan trọng chỗ nào cũng thấy hiện diện các tay súng dã chiến, tiểu liên trước ngực sẵn sàng. Tuy nhiên ngay từ sân bay cũng đã thấy hình ảnh nhà thơ Raxul xuất hiện. Càng gần thành phố càng bắt gặp nhiều tờ áp phích có hình nhà thơ trên nền trời với những con thiên nga trắng đang bay, hay chân dung mầu khổ lớn nhà thơ khoác áo dài đứng trước chân núi quê hương… Và trong thành phố người đi lại bình thản, trong mấy ngày hội ở các tụ điểm công cộng, chỗ nào cũng đông vui: trai gái, nhất là các cô gái thật xinh xắn, ăn mặc áo dân tộc thật thướt tha. Nhiều tốp kéo vào thành phố có vẻ như đủ cả gia đình bố mẹ và con cái…

Ba ngày Hội chương trình các hoạt động dầy đặc: bắt đầu từ lễ đặt hoa trên mộ nhà thơ và vợ ông ở nghĩa trang lưng chừng ngọn núi Tarki – Tau. Ở đây người ta không xây dựng nhà mồ, mà trên mỗi mộ chỉ cắm một cột bia đá, hoặc một tấm bia đơn giản. Mộ Raxul nằm trước mộ bà vợ ông, giữa những hàng mộ nằm trong một hàng rào tường xây cao. Rất ít mộ trên bia có di ảnh. Mộ Raxul Gamzatov, trên tấm bia đá đen cũng chỉ có tên nhà thơ, hướng trông xuống thành phố nằm ở chân núi và biển Catpien đằng xa. Lễ đặt hoa được tiến hành gọn nhẹ, không có diễn văn, phát biểu, chỉ lần lượt từng người bắt đầu từ các nhà lãnh đạo nhà nước, đứng đầu từ Tổng thống, sau đó là các đại biểu và công chúng lần lượt cầm trên tay mỗi người một bông hoa hồng đến đặt trước mộ.

Sau lễ đặt hoa trên mộ là lễ khai trương triển lãm chuyên đề Raxul Gamzatov tại bảo tàng thủ đô Makhachkala, rồi tiến hành cuộc thi giữa các nhà thơ ở nhà hát thơ, sau đó tọa đàm bàn tròn tại thư viện quốc gia mang tên Raxul Gamzatov; khai mạc triển lãm các tác phẩm nghệ thuật về đề tài Raxul tại bảo tàng nghệ thuật hội họa Daghestăng mang tên P.X.Gamzatova (vợ nhà thơ); trình diễn vở “Cô sơn nữ” do nhà hát nhạc kịch quốc gia Kamức mang tên A.P.Xalavatov “Asijat” dàn dựng theo tác phẩm cùng tên của Raxul Gamzatov. Một ngày trọn vẹn từ sáng đến tối khuya. Sang ngày hôm sau Lễ đặt hoa chân tượng đài Raxul ở trung tâm thủ đô Makhachkala, lễ chính thức khai mạc ngày hội “Những con thiên nga trắng”.

Trong bài viết đăng trên Thơ lần trước, tôi đã kể sự tích lễ hội thơ “Những con thiên nga trắng”. Ngoài những điều đã kể lại khi đó, lần này tôi lại biết thêm một số chi tiết xung quanh có liên quan đến bài thơ của Raxul Gamzatov về những con thiên nga trắng sáng tác sau chuyến đi thăm Nhật Bản của tác giả năm 1965 trở về.

Khi đó bài thơ của Raxul đã được nhà thơ dịch giả Naun Grebniov dịch sang tiếng Nga và nhạc sĩ Ian Frankel phổ nhạc đem cho bài thơ một giai điệu tuyệt vời. Và chỉ cần ca sĩ nổi tiếng Mark Bernex hát lên một lần, bài ca Những con thiên nga trắng đã lan tỏa khắp thế gian. Những con thiên nga trắng biểu tượng cho hòa bình, tưởng nhớ những người hy sinh trong chiến tranh, được dựng tượng đài kỷ niệm. Chỉ sau một thời gian ngắn khắp nơi người ta dựng lên tới 70 tượng đài Những con thiên nga trắng. Tượng đài đầu tiên trong số đó đã được dựng lên tại Oxetia, chính ở nơi cách thời điểm lúc ấy ít lâu, đầu năm 2008, đã xẩy ra xung đột giữa Grudia và Nga.

Vào ngày thứ ba của lễ hội, chúng tôi được đến thăm aul (bản làng) Txa – đa, quê của nhà thơ ở huyện miền núi cao Khunzakhski, dự lễ khai trương tượng đài Những con thiên nga trắng thứ bao nhiêu tôi chưa rõ. Riêng ở Daghestăng thì tượng đài Những con thiên nga trắng đầu tiên được dựng ở làng Ginib năm 1986 và từ đó Những ngày thiên nga trắng trở thành những ngày truyền thống tưởng nhớ về những người bảo vệ tổ quốc đã hy sinh. Mở đầu lễ hội lần này cũng vậy, các nhà lãnh đạo Daghestăng và mọi người có mặt trước hết là dâng hoa tượng đài Người lính của tổ quốc trong giai điệu bài hát nổi tiếng “Những con thiên nga”.

Trở lại cái thời bài hát Những con thiên nga trắng mới ra đời. Bài hát lập tức được lan truyền, trở thành một trong những giai điệu thịnh hành nhất trong một thời gian ngắn. Nó được cất lên hát ở khắp nơi, thậm chí cả trong nhà thờ Hồi giáo. Thế là có ý kiến đưa ra đòi cấm không cho phổ biến nữa. Sự việc không ai dám giải quyết, thậm chí đưa lên tới tận Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó là L.Bregiơnev. Tổng Bí thư sau khi cân nhắc chỉ ra một quyết định nước đôi: “Bài hát vẫn được lưu hành, nhưng không nên hát thường xuyên”.

Sau lễ khai mạc ngày hội, các đại biểu, hơn trăm nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ Daghestăng, cùng các khách các nơi đến, được mời đến thăm ngôi nhà của Raxul Gamzatov, sinh thời vẫn đi về nghỉ ngơi, làm việc và cũng ra đi vĩnh viễn từ đây. Người thân của nhà thơ vẫn sinh sống tại đây và chăm sóc, giữ gìn thành ngôi nhà lưu niệm nhà thơ. Ngôi nhà gỗ hai tầng khiêm tốn nằm sâu trên cao một khuôn viên rộng, trên con phố yên tĩnh kề bên một công viên lớn, khá cổ kính, như vườn bách thảo ở Hà Nội. Từ công viên vào tới nhà, từng bước đều hiện hữu dấu vết của nhà thơ. Chúng tôi đã được mời dự một bữa ăn thịnh soạn, người quây quần bên những dẫy bàn trong buồng khách, trên gác, người ngồi bên hai dẫy bàn ngoài vườn phía trước kê hai bên đường hành lang nằm ở giữa dẫn lên bậc thang vào nhà.

Tiếp theo là một hội thảo lớn nữa giữa những người bạn cùng thời của nhà thơ và lại một buổi biểu diễn văn nghệ hoành tráng, sau đó mọi người được Tổng thống Daghestăng chiêu đãi, tiếp tục được thưởng thức những làn điệu dân gian, những điệu nhảy rực lửa của người miền núi Capcaz.

Ngày cuối cùng dành trọn cho chuyến về thăm quê hương Raxul. Đường núi quanh co vượt bao nhiêu đèo dốc, qua ba, bốn đường hầm xuyên núi, có cái dài tới bốn cây số. Gần trưa bắt đầu vào địa phận huyện Khunzakhski, các xe đại biểu quãng quãng lại được nhân dân từ các bản trong huyện cờ hoa đứng hai bên đường chào đón cho tới tận tượng đài Những con thiên nga trắng mới xây dựng xong giữa cao nguyên chân núi, trước mặt aul Txa-đa, quê nhà thơ. Các đại biểu theo con đường lớn trải nhựa lên aul, đặt hoa trước tượng hai nhà thơ nhân dân Daghestăng – hai cha con Gamzat Txadaxa (1877-1951) và Raxul Gamzatov (1923-2003), sau đó vào thăm ngôi nhà của thân phụ nhà thơ Raxul trong aul.

Trong buổi mít tinh khánh thành tượng đài Những con thiên nga trắng ở quê hương Raxul, một lần nữa đại biểu Việt Nam lại được mời phát biểu. Sau khi phát biểu một vài lời ngắn gọn, tôi được Đài truyền hình Daghestăng phỏng vấn tại chỗ và thật sung sướng được đọc một bài thơ Raxul bằng tiếng Việt do mình dịch…

Những ngày Hội “Thiên nga trắng” đồng thời được tổ chức ở một số địa phương khác nhau của Daghestăng, tại Matxcơva và nhiều thành phố lớn khắp nước Nga.

Thúy Toàn

ĐẠO PHẬT QUA LỜI GIẢNG DẠY

CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG

TRONG PHÁP BẢO ĐÀN KINH

Tiếp theo Số 87 (trang 37-45)

TRÍCH KINH

TÓM TẮT PHẦN THỨ I

(Từ khi Lục Tổ Huệ Năng đến Chùa Bửu Lâm để giảng pháp cho quan Vi Thứ Sử và Tăng, Ni, đạo, tục cho đến lúc được Truyền Y Bát rồi bị rượt đuổi và giảng pháp cho Huệ Minh)

Xin rút gọn như sau: (Phần chữ nghiêng là trích nguyên văn lời Kinh)

- Trước khi giảng pháp cho đại chúng, Lục Tổ dạy: “Tánh Bồ Đề của mình xưa nay vốn trong sạch. Nếu dung cái Tâm ấy thì chắc chắn thành Phật”.

Nguyên do đi tu hành của Ngài Huệ Năng là do nghe một người trì tụng Kinh Kim Cang. Ngài kể lại, cha ngài là một vị quan bị giáng chức, sau đó mất sớm, Ngài phải mang củi ra chợ bán để nuôi mẹ già. Nhân một lần đi giao củi, nghe một người tụng Kinh Ngài hỏi ở đâu đến mà trì tụng Kinh đó thì người khách bảo là do đi lễ bái ở Chùa Đông Thiền, Huyện Huỳnh Mai, xứ Kỳ Châu, nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn khuyên mọi người Tăng, tục, nếu ai trì tụng kinh Kim Cang thì liền Thấy Tánh và chắc Thành Phật.

Nhờ có nhân duyên kiếp trước, nên Ngài Huệ Năng được người giúp cho 10 lượng bạc để lo cho mẹ già rồi Ngài đi tới chùa Huỳnh Mai để làm lễ Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: “Người là người ở phương nào? Muốn cầu việc chi?” Ngài Huệ Năng đáp là: “Ở Huyện Tân Châu, xứ Lãnh Nam, đến lạy Tổ chỉ cầu Thành Phật chớ không cầu chi khác”.

Ngũ Tổ bảo: “Người là dân xứ Lãnh Nam, lại là giống dã man, làm thế nào Thành Phật được?”. Ngài Huệ Năng trả lời: “Con người tuy phân có Nam, Bắc, chớ Phật Tánh vốn không có Nam, Bắc. Cái thân dã man nầy đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, chớ cái Tánh Phật nào có khác”.

Ngũ Tổ còn muốn nói chuyện thêm, nhưng thấy các môn đồ vây quanh nên bảo Ngài Huệ Năng theo chúng mà làm việc. Ngài Huệ Năng hỏi thêm là: Tự Tánh của đệ tử thường sanh trí huệ, không biết Hòa Thượng còn dạy làm việc gì nữa”. Ngũ Tổ trả lời là: “Cái căn tánh của ngươi thật là sáng suốt. Thôi chớ nói nữa, hãy đi ra ngoài”. Ngài Huệ Năng được giao cho giã gạo ở nhà sau.

Hơn tám tháng sau, Ngũ Tổ bảo với Ngài Huệ Năng: “Ta nghĩ chỗ tri kiến của ngươi dùng được, nhưng sợ có kẻ ác hại ngươi nên chẳng nói chuyện với ngươi”. Ngài Huệ Năng cũng trả lời là Ngài hiểu ý Tổ nên không dám đến nhà trước để mọi người đừng lưu ý”.

Một ngày kia, Ngũ Tổ bảo mọi người tề tựu lại và bảo: “Ta nói cho chúng đệ tử rõ: Sự sống thác của người đời là việc lớn. Các ngươi trọn ngày chỉ cầu phước điền, chớ chẳng cầu ra khỏi biển khổ sống thác. Nếu Tánh mình mê muội, thì phước báo nào cứu được. Các ngươi hãy lui về, mỗi người xem trí huệ của mình, lấy Tánh Bát Nhã của Bổn Tâm mình mà làm một bài Kệ, đem trình cho ta xem. Nếu ai hiểu rõ đại ý, ta sẽ truyền Y Pháp cho mà làm Tổ Thứ Sáu. Nếu để tâm suy nghĩ độ lượng ắt chẳng hạp dùng. Phàm người Thấy Tánh, khi nghe pháp rồi thì phải thấy liền. Nếu được như thế thì dầu hươi đao ra trận cũng đặng Thấy Tánh”.

Các môn đồ đều nghĩ rằng họ không đủ trình độ để làm Kệ, Sư Thần Tú là giáo thọ, chắc sẽ làm được, thôi hãy để cho Ngài làm.

Phần Sư Thần Tú thì cũng biết rằng những người còn lại vì nể Sư là Giáo thọ nên không làm. Phần Sư nếu trình Kệ vì mong ngôi Tổ là xấu. Nhưng nếu không trình Kệ thì làm sao biết được ý Tổ. Do đó, Sư làm Kệ xong, muốn trình Tổ mà sợ, nên mang viết trên vách nhà cầu, nghĩ rằng nếu Tổ thấy mà khen hay thì sẽ ra làm lễ nhận là của mình, bằng nếu không thì thật là uổng công tu hành.

Bài kệ của sư Thần Tú như sau:

Thân thị Bồ Đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhá trần ai.

Ngũ Tổ thấy bài Kệ đó biết là Sư Thần Tú chưa Thấy Tánh, nhưng cũng bảo đồ chúng là: “Cứ y theo bài kệ đó mà tu hành thì có ích lợi lớn”. Đến canh ba, Ngũ Tổ kêu Sư Thần Tú và hỏi có phải Sư đã làm bài Kệ đó và nói cho Sư biết: “Người làm bài Kệ đó tỏ ra chưa Thấy Bổn Tánh. Ngươi mới tới ngoài thềm cửa, chưa buớc vào trong nhà. Cứ như chỗ thấy hiểu ấy mà tìm đạo Vô thượng Bồ Đề thì rõ ràng không thể được. Và Ngũ Tổ giải thích tiếp: Theo Đạo Vô Thượng Bồ Đề, hễ khi nghe nói pháp rồi liền phải biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh của mình. Tâm mình chẳng sanh, chẳng diệt, trong cả thảy thời gian, niệm niệm mình Thấy Tánh. Đối với muôn pháp, Tâm mình suốt thông, không ngưng trệ. Một pháp mình thấy hiểu thấu chơn tướng, cả thảy các pháp mình đều hiểu thấu chơn tướng. Đối với muôn cảnh tâm mình như như. Tâm Như Như tức là Tâm chơn thật. Thấy như thế ấy là Thấy Tánh Vô Thượng Bồ Đề của mình”.

Tổ bảo Sư lui ra, suy nghĩ thêm một hai ngày rồi làm bài kệ khác trình cho Tổ xem. Nếu bài kệ của Sư vào được cửa Đạo thì sẽ truyền Y Pháp cho.

Sư Thần Tú làm lễ xong, lui ra, trải mấy ngày mà không làm được.

Hai ngày sau có một người đi ngang qua phòng của Ngài Huệ Năng đọc bài kệ của Sư Thần Tú. Ngài Huệ Năng nghe qua biết bài Kệ đó chưa thấy Bổn Tánh. Ngài hỏi người đó tụng bài kệ gì vậy, thì được cho biết là Ngũ Tổ dạy mỗi người làm một Bài Kệ trình lên, nếu ai hiểu đại ý thì Ngài sẽ truyền y pháp cho làm Tổ Thứ Sáu. Sư Thần Tú đã làm bài Kệ này. Tổ bảo cứ y theo đó mà tu hành thì sẽ có lợi lớn.

Ngài Huệ Năng nhờ người đó dắt đến trước bài Kệ để lễ bái và nhờ đọc giùm vì Ngài không biết chữ. Có một quan Biệt Giá ở Giang Châu tên là Trương Nhựt Dụng đọc giùm. Nghe xong. Ngài Huệ Năng nói là Ngài cũng có một bài Kệ, nhờ vị đó biên giùm. Quan Biệt Giá có vẻ khinh thường, hỏi: “Ngươi cũng biết làm Kệ nữa sao?”. Ngài Huệ Năng nói với quan Biệt Giá rằng: “Muốn học đạo Vô Thượng Bồ Đề thì chẳng nên khinh dể hàng sơ học. Có kẻ dưới bậc thấp mà phát sinh trí huệ rất cao. Có người trên bậc cao mà thường chôn lấp ý trí của mình. Nếu khinh người thì ắt có tội”. Quan Biệt Giá kêu Ngài Huệ Năng đọc bài kệ để biên giùm cho, và dặn nếu đắc pháp thì nhớ độ cho ông ta trước.

Ngài Huệ Năng ngâm kệ như sau:

Bồ Đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhứt vật

Hà xứ nhá trần ai.

Đồ chúng thấy bài Kệ liền kinh hãi, khen hay và cho rằng chẳng nên xét người qua diện mạo. Đó là Bồ Tát xác phàm. Ngũ Tổ thấy đồ chúng xôn xao mới lấy giày chà hết bài Kệ và cho là bài Kệ đó cũng chưa Thấy Tánh.

Hôm sau, Ngũ Tổ lén đến phòng giã gạo, thấy Ngài Huệ Năng mang đá trên lưng cho đủ nặng mà giã gạo bèn hỏi: “Người cầu Đạo vì pháp quên thân phải như thế sao?” và hỏi “Gạo đã trắng chưa?”. Ngài Huệ Năng trả lời: “Gạo trắng đã lâu, chỉ còn thiếu sàng”. Ngũ Tổ lấy gậy gõ vào cối 3 lần rồi bỏ đi.

Ngài Huệ Năng hiểu ý Tổ Sư, đến canh ba vào thất. Tổ Sư lấy áo Cà Sa đắp cho ngài rồi giảng Kinh Kim Cang cho nghe. Đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngài Huệ Năng rất tỏ sáng, hiểu rằng muôn pháp không lìa tánh mình mới bạch với Tổ Sư rằng:

Nào dè Tánh mình vốn tự nhiên trong sạch

Nào dè Tánh mình vốn đầy đủ muôn pháp

Nào dè Tánh mình vốn không lay động.

Nào dè Tánh mình có thể sanh ra muôn pháp

Tổ Sư biết Ngài Huệ Năng đã tỏ sáng Bổn Tâm nên bảo với Ngài rằng:

“Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là trượng phu, là Phật, thầy cõi trời và cõi người vậy ”. Tổ Sư truyền pháp Đốn Giáo và Y Bát cho Ngài Huệ Năng và dặn dò: “Ngươi làm Tổ Thứ Sáu. Hãy gìn giữ và nhớ lấy Đạo Tâm của mình. Phải quảng độ chúng sinh hữu tình và truyền cái Chánh Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt. Ngũ Tổ đọc Kệ:

Hữu tình gieo giống xuống

Nhờ đất trái bèn sanh

Vô tình không có giống

Vô tánh ắt không sanh.

Tổ lại nói: “Ngày xưa, Đạt Ma Đại Sư mới tới xứ này, người ta chưa tin, nên phải truyền cái Áo ấy để làm tín thể, nối truyền cho nhau từ đời này tới đời khác. Còn Pháp thì lấy Tâm truyền Tâm, khiến cho người tự mình tỏ sáng, tự mình hiểu biết. Từ xưa Chư Phật chỉ truyền cái Bổn Thể là cội rễ của các pháp, và chỉ trao kín cái Bổn Tâm mà thôi. Áo là cái mối tranh, tới đời ngươi đừng truyền nữa. Nếu truyền cái áo ấy thì tánh mạng rất nguy. Hãy đi cho chóng, kẻo e có kẻ hại ngươi”.

Ngũ Tổ tự chèo đò để đưa Ngài Huệ Năng tới trạm Cữu Giang vì Ngài Huệ Năng là người xứ khác không biết lối đi. Ngũ Tổ dặn dò: “Từ đây Phật Pháp sẽ do ngươi truyền bá. Ba năm sau ta sẽ qua đời. Hãy gắng sức đi về hướng Nam, nhưng chớ vội thuyết pháp”. Ngài Huệ Năng từ giã Tổ Sư đi về núi Đại Lãnh.

Khi những người còn lại trong chùa biết Ngài Huệ Năng đã được truyền thọ Y Bát và đã đi rồi liền kéo nhau đi lùng sục để chiếm đoạt lại. Trong số có một Thầy Tăng tên là Huệ Minh cầm đầu Tăng chúng, đuổi theo kịp. Ngài Huệ Năng ném Y Bát lên tảng đá và bảo với Huệ Minh rằng: “Cái áo này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao?”, và ẩn mình trong đám cỏ tranh. Huệ Minh đến, dùng hết sức nắm áo giở lên mà không được, liền kêu lên rằng: “Tôi vì Pháp mà đến chớ chẳng phải vì áo đâu”. Ngài Huệ Năng mới bước ra, ngồi xếp bằng trên tảng đá, Huệ Minh làm lễ và xin nghe pháp. Ngài Huệ Năng nói: “Ông vì pháp mà đến đây, thì khá dứt trần duyên, chớ sanh một niệm tưởng, tôi sẽ nói Phật Pháp cho nghe”. Lẳng lặng một lúc. Ngài Huệ Năng nói: “Chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều dữ, chính trong thời gian đó, CÁI ẤY, tức là tỏ cái BỔN LAI DIỆN MỤC của bậc Thượng Tọa vậy”. Huệ Minh nghe nói rồi rất tỏ sáng, hỏi thêm là ngoài điều đó còn có mật nhiệm nào nữa không? Ngài Huệ Năng nói: “Chỗ tôi nói với ông chẳng phải là mật nhiệm. Nếu ông soi vào trong (nội quang phản chiếu) thì thấy chỗ mật nhiệm ấy ở bên ông. Huệ Minh tỏ sáng, muốn nhận Ngài Huệ Năng làm thầy. Nhưng Ngài Huệ Năng bảo cả hai đồng thờ Đức Huỳnh Mai làm thầy và hãy giữ gìn và nhớ lấy Đạo Tâm của mình.

Huệ Minh xuống núi, bảo với những người còn lại là không thấy dấu vết của Ngài Huệ Năng, bảo bọn chúng đi tìm hướng khác.

Ngài Huệ Năng sau đó đến Tào Khê lại bị bọn ác nhơn tìm đến nên phải lánh nạn, ở chung với đám thợ săn đến 15 năm. Thời gian đó Ngài giữ lưới cho chúng, thấy có thú lọt vào thì mở ra thả, và tùy nghi thuyết pháp cho chúng. Đến bữa ăn thì Ngài ăn rau gởi trong nồi nấu thịt của bọn họ.

LƯỢC GIẢI

Ngay trong phần mở đầu quyển Kinh, qua lời tự thuật của Lục Tổ được ghi lại, ta thấy Ngài là một vị “trở lại”, không phải là người đầu tiên mới nghe nói đến Đạo Phật bởi những điểm sau:

1/ Vừa mới nghe tụng một câu Kinh đã thu xếp cho thân mẫu để đi tìm Ngũ Tổ.

2/ Khi Ngũ Tổ hỏi muốn cầu việc chi thì Ngài trà lời không do dự: Chỉ cầu Thành Phật chớ không cầu chi khác.

3/ Khi bị Ngũ Tổ chê là dân xứ Lãnh Nam làm sao Thành Phật được thì Ngài trả lời là: “Con người tuy phân có Nam Bắc, nhưng Phật Tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân của Ngài đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, nhưng cái Tánh Phật nào có khác”. Tức là dù chưa được nghe pháp bao giờ, nhưng tự Ngài đã nhận ra rằng mỗi người ngoài cái Thân hữu tướng này còn có cái Phật Tánh. Cái Phật Tánh này bình đẳng như nhau.

4/ Tự tánh của Ngài dù chưa học pháp ngày nào mà vẫn thường sinh trí huệ.

5/ Khi vào Chùa của Ngũ Tổ rồi thì Ngài chỉ ở nhà sau để giã gạo không hề được lên nhà trước để nghe giảng pháp. Thế mà khi nghe bài Kệ của Sư Thần Tú thi Ngài biết ngay bài Kệ đó chưa Thấy Tánh, cũng giống như nhận xét của Ngũ Tổ.

Phần này có những điểm cần lưu ý như sau:

- Thành Phật là gì mà Ngài Huệ Năng đến gặp Ngũ Tổ để cầu?

- Phải làm gì để Thành Phật?

- Mọi người đều có thể Thành Phật được hay không? hay chỉ người “Trở Lại như Chư Tổ” mới có quyền?

- Sự khác biệt giữa Bài kệ của Sư Thần Tú và của Ngài Huệ Năng.

- Tại sao Ngũ Tổ bảo: “Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích”.

- Tại sao chỉ cần Biết Bổn Tâm và Thấy Bổn Tánh mà là Phật, là Thầy cõi Trời, cõi Người?

Hiểu cho đúng thì THÀNH PHẬT chỉ có nghĩa là THÀNH TỰU CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, hay còn gọi là THOÁT KHỔ. Ngày trước Đức Thích Ca đi tu cũng chỉ vì muốn THOÁT KHỔ, và Ngài đã thành công, nên gọi là THÀNH PHẬT. Có lẽ cũng nên nói qua một chút về chữ THOÁT KHỔ. Trong Đạo Phật, Thoát Khổ không phải là để được Sướng, mà có nghĩa là Thoát 4 Khổ nạn lớn nhất của con người là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ. Tất cả mọi người, nếu chấp nhận đường lối của Đạo Phật mà hành theo thì cũng sẽ được Thoát Khổ. Chính vì vậy mà Đức Thích Ca đã Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành”.

Để Tu hành, Thành Phật thì chỉ có một phương pháp tu tập duy nhất: Là GÚT Ở ĐÂU THÌ MỞ Ở ĐÓ. Theo Đức Thích Ca dạy cho Ngài A Nan trong Kinh LĂNG NGHIÊM: Ông từ hồi nào đến giờ, nhiều kiếp sinh tử luân hồi cũng vì Tâm và Mắt. Nếu ông không biết nó ở chỗ nào thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao”. Và: “Ông nay muốn đặng Đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì điều cần nhất là phải hiểu rõ:

1/- Căn bản của sinh tử là VỌNG TÂM

2/- Căn bản của Bồ Đề Niết Bàn là CHÂN TÂM.

Như vậy muốn được đạo VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ thì chỉ cần tìm CÁI TÂM. Phân biệt thế nào là CHÂN TÂM thế nào là VỌNG TÂM rồi hành trì bằng cách “PHẢN VỌNG QUY CHÂN”.

Đó là con đường ĐỐN GIÁO. Người muốn đi theo con đường này thì phải tâp trung để tìm TÂM, TÁNH là hai thứ quan trọng nhất đối với người tu. Khi THẤY được cái CHÂN TÂM thì điều chỉnh cách nghĩ, cách hành của mình theo đúng tính chất của nó. Công việc điều chỉnh đó gọi là Tu tập.

Vào đường tu, không phải muốn bắt đầu từ đâu, hay muốn làm gì cũng được, mà phải theo trình tự. Bắt đầu là GIỮ GIỚI để có SỨC ĐỊNH. Dùng SỨC ĐỊNH để TƯ DUY sẽ sinh ra sự hiểu biết để tự hướng dẫn đi tiếp gọi là TRÍ HUỆ. Đó là những căn bản mà người tu hành nào cũng đều phải thực hành.

Muốn Thoát Sinh Tử thì phải Thấy được Bổn Thể Tâm của mình . Chính vì vậy, khi hướng dẫn cho Lục Tổ Huệ Năng, Ngũ Tổ nhấn mạnh: “Nếu chẳng biết BỔN TÂM thì học pháp vô ích. Bằng Biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là trượng phu, là Phật, Thầy cõi Trời và cõi Người vậy”

Tại sao chỉ cần THẤY BỔN TÂM, và Thấy BỔN TÁNH của mình thì được “Làm Phật, làm Thầy cõi trời, cõi người”?

Đó là câu khiến cho nhiều người tu hành hiểu lầm, nên tu được một thời gian đâm ra kiêu mạn! Nhưng nếu hiểu đúng thì nghĩa đó ra sao?

Chúng ta đã nghe nói “TU PHẬT LÀ TU TÂM”. “TÌM PHẬT LÀ TÌM TÂM”. “TỨC TÂM TỨC PHẬT” Có nghĩa là mọi công phu tu hành đề thực hiện nơi TÂM chớ không phải nơi hình thức bên ngoài.

CÁI TÂM, theo giải thích của Đạo Phật như sau: Mỗi người khi tiếp nhận một Pháp nào đó, dù là tốt hay xấu, thuận hay nghịch, đều có suy nghĩ trước khi đưa ra cách thức để ứng phó Cái bộ phận đầu não chỉ huy những cái suy nghĩ, tính toán vv... Ngài gọi đó là CÁI TÂM. Trong CÁI TÂM này chứa hai loại tư tưởng: Tốt đẹp, trong sạch, thánh thiện, hướng thiện.. Ngài gọi là TRỜI, THẦN, THÁNH CHÚNG. Những tư tưởng xấu xa, thấp hèn, đen tối, xấu xa thì gọi Chúng Sinh. Nếu không chịu dẹp bỏ hay dập tắt những tư tưởng xấu này thì đôi khi nó đưa ra hành động xấu, rồi bản thân vì đó mà phải lãnh Nghiệp. Vì vậy, TU PHẬT chính là để sửa chữa, cải tạo những tư tưởng xấu xa, độc ác này, gọi là Giáo Hóa hay Điều Phục CHÚNG SINH.

Từng giây, từng sát na, Chúng Sinh cứ theo duyên, theo Mắt, theo Tai mà khởi lên. Có 3 xu hướng nặng nhất đó. Đó là THAM, SÂN và SI. Mỗi loại đông đảo như con người của cả thế giới. Vì thế, nên Phật gọi đó là TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Mỗi người tu hành phải Giáo Hóa chúng. Việc Giáo Hóa đó Ngũ Tổ gọi là LÀM THẦY CÕI TRỜI, CÕI NGƯỜI. Do Cõi này không phải ở bên ngoài, mà là những thứ ở BÊN TRONG CÁI TÂM của mình, vì thế mà Tu theo Đạo Phật được gọi là TU TÂM. Chúng Sinh ở trong tâm của mình, người bên ngoài không thể Độ giùm cho mình. Mình cũng không thể Độ được cho ai khác, nên gọi là TỰ ĐỘ.

Lẽ ra trước khi Xuất Gia thì người tu đã phải hiểu rõ mục đích của Đạo Phật rồi vô Chùa là để có Thầy hướng dẫn, kèm cặp. Thế nhưng do nhiều người đã Xuất Gia mà không nắm vững mục đích tu hành, nên không hiểu được Phương Tiện của Đạo Phật. Vì vậy, công phu tu hành của họ chỉ là Giữ GIỚI cho thật nghiêm chỉnh. Ngồi Thiền cho nhiều suất, nhiều giờ. Tụng cho nhiều biến Kinh... để Cầu Xin Phật Độ khi sống. Lúc chết sẽ được về Tây Phương Cực Lạc... Không Soi, Quán, không biết thế nào là TÂM, thế nào là PHÁP, thế nào là TÁNH… nên khi Ngũ Tổ bảo dùng Trí Huệ để làm Kệ thì không biết gì để làm! Chính Sư Thần Tú là Giáo Thọ cũng như họ, nên không làm Kệ được. Gắng gượng làm, nhưng cũng không biết là đúng ý Tổ, có chút Trí Huệ nào không!

Theo Bài Kệ, thì ta thấy Sư Thần Tú cho Cái THÂN CHÍNH LÀ CỘI GỐC CỦA GIẢI THOÁT. TÂM như đài gương sáng, nên cố gắng TU sửa. Lúc nào cũng cần lau phủi. Đừng để cho nó vướng bụi trần. Lời bài Kệ chứng tỏ Sư chỉ mới phân biệt được THIỆN, ÁC, và ngày ngày đang cố gắng để Cải Ác, hành thiện, giữ cái TÂM cho trong sạch.

Trong khi đó, Bài KỆ của Ngài Huệ Năng chứng tỏ Ngài đã THẤY được cái BỔN THỂ TÂM của mình. CÁI BỔN TÂM này vượt cả trên THÂN VÀ TÂM qua câu: BỒ ĐỀ BỔN VÔ THỌ. MINH CẢNH DIỆT PHI ĐÀI. BỔN LAI VÔ NHẤT VẬT. HÀ XỨ NHÁ TRÂN AI. Có nghĩa là CÁI TÂM GIẢI THOÁT vốn không gốc gác. CÁI CHÂN TÂM không phải là đài gương để chiếu soi vạn pháp. Nó không hình tướng. Trước, sau không có vật gì thì chỗ nào mà vướng bụi trần.

Là bậc Thầy, nên đương nhiên Ngũ Tổ biết Bài kệ của sư Thần Tú chưa Thấy Tánh. Dù vậy cũng không tiện nói giữa đám đông. Canh Ba đêm đó, Ngài gọi sư vô nhà, và cho biết: “Ngươi làm Bài kệ ấy chứng tỏ chưa Thấy Tánh”, và Ngài giảng về Cái TÁNH cho Sư nghe “TÁNH MÌNH CHẲNG SANH, CHẲNG DIỆT, TRONG CẢ THẢY THỜI GIAN, NIỆM NIỆM MÌNH THẤY TÁNH. ĐỐI VỚI MUÔN PHÁP TÂM MÌNH SUỐT THÔNG, KHÔNG NGƯNG TRỆ. MỘT PHÁP MÌNH THẤY, HIỂU THẤU CHƠN TƯỚNG. CẢ THẢY CÁC PHÁP MÌNH ĐỀU HIỂU CHƠN TƯỚNG. ĐỐI VỚI MUÔN CẢNH TÂM MÌNH NHƯ NHƯ. TÂM NHƯ NHƯ TỨC LÀ TÂM CHƠN THẬT. THẤY NHƯ THẾ, ẤY LÀ THẤY TÁNH VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ CỦA MÌNH”.

Dù được giảng giải rõ ràng như thế, nhưng Sư Thần Tú, kể cả chúng ta, không thể nghe lời giảng đó mà Thấy Tánh được, mà chỉ mường tượng, chỉ nắm được một số yếu tố cần thiết để biết về nó. Phải qua quá trình Giữ Giới, Tư Duy, gạn lọc, tìm hiểu mới có thể Thấy được. Kinh thì không có nói rõ cách tìm cái TÁNH. Dù vậy, dựa theo những gì đã học hỏi qua lời Phật, Tổ, cộng với kinh nghiệm bản thân, tôi xin tạm giải thích như sau:

Theo Đức Thích Ca, con người không chỉ là vật chất, là đống xương thịt đã hình thành, đang từng giờ đi vào già suy rồi sẽ chết, mà trong mỗi hình thể HỮU TƯỚNG bằng vật chất trông thấy, sờ được, là CÁI THÂN, con người còn có phần VÔ TƯỚNG. Phần này mới là CÁI THẬT của mỗi người mà Chư Tổ hoặc gọi là TÁNH, hoặc gọi là BỔN THỂ TÂM, hoặc có nơi gọi là LINH GIÁC, TIỂU LINH QUANG vv... Cái này BẤT SINH, BẤT DIỆT, KHÔNG TỐT, XẤU, LÀNH, DỮ, NHƠ, SẠCH. NÓ THẤY HẾT, BIẾT HẾT, NHƯNG KHÔNG VƯỚNG VÀO BẤT CỨ ĐIỀU GÌ. Dù cái Thân có tan rã khác theo Quy Luật: Thành, Trụ, Hoại, Không thì PHẦN VÔ TƯỚNG đó vẫn tồn tại, rồi sẽ nhận lấy một cái THÂN HỮU TƯỚNG khác để TRẢ hay NHẬN những gì nó đã làm khi còn ở Thân trước. Do vậy mà có Luân Hồi và có hiện tượng Giàu, nghèo, sướng, khổ, được hưởng hoặc chịu đọa ở cõi đời mà nếu chỉ nhìn vào hiện kiếp chúng ta không thể nào giải thích được.

Thật vậy. Bình thường, khi tay đưa, chân bước, vừa nghĩ đã nói hoặc làm, chúng ta không để ý. Nhưng khi Ngồi Thiền, tức là trói cái Thân ngồi một chỗ. Tay Chân không còn hoạt động. Lúc đó ta mới thấy có một cái rất linh hoạt vẫn tiếp tục trong cái Thân này. Nó không bắt cái Thân chạy, nhảy, tới, lui được thì nghĩ ra đủ thứ chuyện, tưởng tượng đủ thứ cảnh. Lúc đó ta thấy rõ ràng cái THÂN chỉ là tai sai, như một con RỐI, mà cái linh hoạt này mới là chủ nhân điều khiển. Cái này Đức Thích Ca gọi đó là Cái VỌNG TÂM hay là CÁI TÂM MÊ LẦM. Hoặc nếu gọi đó là CÁI BIẾT, thì nó là CÁI BIẾT MÊ LẦM.

Tại sao gọi đó là CÁI TÂM MÊ hay CÁI BIẾT MÊ LẦM? Tại vì nó nhận lầm cái THÂN giả tạm, kết hợp bằng Đất, Nước, Gió, Lửa, thời gian nào sẽ phải hư hoại mà TƯỞNG ĐÓ LÀ MÌNH. Trong khi đó, CÁI MÌNH THẬT hay là BỔN THỂ TÂM vốn VÔ TƯỚNG, BẤT SINH, BẤT DIỆT, KHÔNG Ô NHIỄM, KHÔNG THIỆN, ÁC, TỐT XẤU, SƯỚNG, KHỔ nào chi phối được.

Chia chẻ CÁI TÂM thêm một tầng nữa thì Đức Thích Ca thấy rằng: Lẽ ra CÁI CHÂN TÂM đó THẤY HẾT, BIẾT HẾT như Hư Không, chứa đầy đủ muôn vật mà không thương hay ghét riêng một vật nào. Nhưng vì bị nhốt vào trong cái THÂN, nên nó nhìn mọi thứ xuyên qua cái THÂN, và những gì đến với cái Thân thì nghĩ là đến với nó nên sinh những phản ứng THƯƠNG, GHÉT, GIẬN, HỜN, SÂN SI. Như ánh sáng bị nhốt vào trong cái Bóng đèn, chỉ chiếu qua cái bóng đèn. Tùy theo cái bóng đèn màu gì, sạch hay dơ, mà ánh sáng chiếu ra sẽ mang màu sắc đó, và sáng nhiều hay ít là do cái bóng dơ hay sạch.

Cái THẤY HẾT, BIẾT HẾT mà không bị nhiễm vương, dính mắc, đó là cái CHÂN TÁNH hay BỔN THỂ TÂM mà người tu TÌM ĐƯỢC, THẤY ĐƯỢC, thì thấy không phải là điều gì mới lạ. Chính vì vậy, Ngài Huệ Năng đã diễn tả cái ngạc nhiên của mình khi nhận ra:

Nào dè TÁNH mình vốn tự nhiên trong sạch

Nào dè TÁNH mình chứa đầy đủ muôn pháp

Nào dè TÁNH mình vốn không lay động

Nào dè TÁNH mình có thể sinh ra muôn Pháp.

Chỉ có con người là giống HỮU TÌNH thì mới có thể nhận được hạt giống Trí Huệ để làm cho nó phát triển thêm. Vì vậy, Ngũ Tổ truyền bài Kệ cho Lục Tổ:

Hữu tình gieo giống xuống

Nhờ đất trái bèn sanh

Vô tình không có giống

Vô Tánh ắt không sanh.

Và Ngài truyền Y Bát cho Lục Tổ với lời dặn dò: “Ngươi là Tổ Thứ Sáu. Hãy giữ gìn và nhớ lấy Đạo Tâm của mình. Phải quảng độ chúng hữu tình và truyền cái Chánh Pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt”. Sau đó, Ngũ Tổ phải đưa Ngài trốn đi, vì nếu những người trong Chùa biết được Y Bát được trao cho Lục Tổ ắt tính mạng Ngài sẽ lâm nguy. Ngũ Tổ dặn Lục Tổ: “Dấu Y Bát đi, chỉ lấy Tâm truyền Tâm, để người nghe tự mình hiểu biết. Từ xưa, Chư Phật cũng chỉ truyền cái Bổn Tánh, là cội rễ của Các Pháp, và chỉ trao kín cái Bổn Tâm mà thôi. Áo là mối tranh chấp, không nên truyền nữa”.

Khi trong Chùa biết được tin Ngài Huệ Năng được truyền Y Bát và trốn đi rồi, thì cả đám ùn ùn kéo nhau truy đuổi để dành lại. Trong đám có một cựu quan Tứ Phẩm tên là Huệ Minh đuổi theo kịp. Ngài Huệ Năng sợ quá liền lấy Y bát để trên tảng đá rồi nói: “Cái áo này là vật làm tin, há dùng sức mà tranh được sao”, rồi núp trong đám cỏ tranh. Huệ Minh đến cầm lấy chiếc áo, giở lên, nhưng chiếc áo không nhúc nhích mới hoảng sợ kêu lên rằng ông ta đến vì Pháp chớ chẳng phải vì áo. Ngài Huệ Năng nghe thế mới bước ra, ngồi xếp bằng trên tảng đá. Huệ Minh bèn làm lễ, xin được nghe Pháp. Ngài Huệ Năng bảo: Ông vì Pháp mà đến đây, khá dứt hết trần duyên, chớ sanh một niệm tưởng, tôi sẽ nói Phật Pháp cho nghe”. Tổ dạy: “Chẳng nghĩ việc lành, không nghĩ điều dữ, chính trong thời gian đó, Cái ẤY, tức là tỏ cái Bổn Lai Diện Mục của bậc Thượng Tọa vậy”.

Huệ Minh nghe qua cũng không thể hiểu, nên hỏi Lục Tổ: “Ngoài ý chỉ mật nhiệm do trên truyền xuống xưa nay, còn có ý chỉ mật nhiệm nào nữa không” Ngài Huệ Năng nói: “Nếu ông hồi quang phản chiếu thì sẽ thấy chỗ mật nhiệm đó ở trong ông”. Huệ Minh lúc đó mới hiểu ra, xin thờ Lục Tổ làm Thầy. Nhưng Ngài không nhận, bảo cả hai cùng thờ Ngũ Tổ.

Qua lời của Lục Tổ dặn dò Huệ Minh trước khi giảng pháp ta cũng rút ra được một kinh nghiệm cho mình, là: muốn nghe Pháp thì phải DỨT HẾT TRẦN DUYÊN, CHỚ SANH MỘT NIỆM TƯỞNG. Do vậy, nếu ta cứ đi nghe Pháp mà lòng đầy lao xao, tính toán mà Đạo Phật gọi là TẠP NIỆM ắt sẽ không hiểu được gì!

Thứ nữa là MẬT NHIỆM mà trước đây mọi người vẫn tưởng nó là huyền bí, linh thiêng ở đâu đâu thì Lục Tổ bảo với Huệ Minh: “NẾU SOI TRỞ VÀO TRONG (Nội quang phản chiếu) thì sẽ thấy chỗ mật nhiệm đó ở trong ông. “NỘI QUANG PHẢN CHIẾU” là hướng đúng khi quán sát, Tư Duy mà chúng ta có thể đối chiếu để biết mình đang đi đúng hay sai hướng trên Phật Đạo.

Mục đích của Đạo Phật là để Thoát Khổ, Thoát Sinh Tử Luân Hồi. Đức Phật cho là vòng Sinh Tử Luân Hồi chính là THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN, bắt đầu bằng VÔ MINH, kéo theo 11 cái Duyên khác. Như thế, muốn Thoát SINH TỬ LUÂN HỒI người tu phải tìm cách thức để hóa giải, biến VÔ MINH thành TRÍ HUỆ sáng suốt để chặt đứt cái vòng này. Khi hết VÔ MINH, tức là không còn thấy cái THÂN là TA, mà Biết nó là cái Thân Nghiệp mà ta đã gây tạo, chỉ ở bên ta hết một kiếp rồi trở về với Tứ Đại, thì thay vì từ trước đên giờ ta toàn sống theo nó, chiều theo mọi cảm xúc của nó. Suốt cuộc đời chỉ chạy theo sự sai khiến của nó để tranh giành địa vị, tiền bạc, của cải để cung phụng cho nó. Giờ khi biết ra thì nó trở thành nô lệ cho ta. Ta lấy lại vị trí chủ nhân để điều khiển nó. Lúc đó, từ Sáu Tên Giặc (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) trước kia bao giờ cũng tìm cầu, đòi hỏi, quấy phá, làm cho ta không bao giờ yên trở thành 6 trợ thủ đắc lực để đưa ta đến bến bờ yên vui.

Việc điều phục Lục Căn. Chuyển Sáu tên cướp hung hăng thành vô hại như sáu đứa trẻ thơ mà ta thấy người xưa đã dùng hình ảnh một ông bụng to, ngồi cười thoải mái, quanh mình là 6 đứa trẻ leo trèo, đùa giỡn, được cho là ĐỨC DI LẶC. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “CHỨNG THÁNH HAY ĐỌA PHÀM CŨNG DO LỤC CĂN”. Hình ảnh đó nói về sự thành tựu của người tu hành. Cho nên, muốn tu hành, không cần phải lên non cao, động vắng. Cũng chẳng cần khổ hạnh, chay lạt, cạo tóc, đắp y, giữ hàng mấy trăm Giới. Cũng chẳng phải bỏ nhà cửa, cha mẹ, không được có vợ, chồng, con, cái. Không được làm ăn. Cũng chẳng cần Ngồi Thiền ngày mấy suất, cả ngày phải tập trung tư tưởng, không dám nghĩ gì, vì sợ “Thất Niệm”! Bởi nếu tối ngày diệt hết tư tưởng thì hóa ra tu hành để trở thành một kẻ vô hồn, chẳng còn phân biệt tốt, xấu, đúng, sai, trở thành xác chết biết đi hay sao? Chỉ cần điều phục Lục Căn, mà chủ tướng của Lục Căn lại là cái VỌNG TÂM. Chuyển hóa Cái Vọng Tâm xong rồi thì sẽ không còn bị nó lôi ta đi tạo Nghiệp. Trái lại, còn tạo Thiện Nghiệp. Cái Thân ta trước khi tu hành thì Phật dạy phải xem nó là “oán tặc”, vì toàn dắt ta tạo Ác Nghiệp, để rồi vô lượng kiếp trôi lăn, chìm nổi trong vòng Luân Hồi. Sau khi điều phục Cái Tâm xong rồi thì chính Cái Thân lại là ân nhân dắt người tu qua Bờ Giải Thoát. Nhờ có THÂN ta mới học được Đạo Lý. Có Mắt mới đọc được những lời giáo hóa của Chư Vị Giác Ngộ. Có Tai để nghe thuyết Pháp. Có đầu óc để tư duy, phân tích, nhận thức, giúp ta nhận rõ những điều nên làm, nên tránh. Có chân tay để làm mọi việc tốt đẹp cho mình, cho người.

Người tu hành xét mình như thế thì sẽ không còn SI. Khi không còn lệ thuộc cái Thân, đương nhiên sẽ bớt đi những thói xấu Tham, Sân, vì những điều này cũng do Tưởng Cái Thân chính là Mình mà ra. Khi biết rằng ta, người đều chỉ có mặt ở trần gian nhiều lắm là trăm năm, rồi khi hết Nghiệp, hết Duyên, sẽ trả tất cả lại, không mang theo được gì, thì mọi người sẽ yêu thương nhau, nương nhau mà sống. Bớt đi Tham Lam, ích kỷ, tranh dành cao, thấp, phải, trái, hơn thua… thì gia đình, hàng xóm cũng sẽ giảm những bất ổn. Nhiều người như thế thì xã hội sẽ bớt đi hỗn loạn. Cuộc sống sẽ được an bình. Mọi người sẽ cũng chung tay vun đắp, xây dựng cho xã hội, đất nước ngày càng giàu, đẹp hơn. Nước này không còn dành dân, lấn đất của nước khác thì trái đất sẽ không còn chiến tranh gieo tang tóc đau thương, con mất cha, vợ mất chồng nữa. Mọi người sẽ được sống trong hòa bình an cư, lạc nghiệp cho đến hết kiếp. Đó là Niết Bàn tại thế mà Đức Phật mong muốn đem lại cho tất cả mọi người, và đó cũng mục đích của Đạo Phật. Các Cõi Phật ở Đông Phương, Tây Phương chỉ là Phương Tiện Đức Thích Ca dùng để con người vì mơ ước cho tương lai, mà sống tốt đẹp ngay hiện kiếp, để tất cả đều được an lạc. Không phải ở kiếp nào khác mà phải chờ khi chết đi mới được về đó vậy.

(Còn tiếp)

Phụ Bản I

PHƯƠNG THỨC LÀM VIỆC

RẤT KHOA HỌC CỦA PIERRE BENOIT (1886-1962)

NHÀ VĂN KIÊM VIỆN SĨ

HÀN LÂM VIỆN PHÁP

Pierre Benoit là nhà văn Pháp viết nhiều nhất trong thời kỳ giữa hai cuộc Thế chiến, đồng thời ông cũng là nhà văn có sách bán chạy nhất vào thời đó. Khi được một đồng nghiệp hỏi là ông có bí quyết gì để viết được những thứ mà ngày nay chúng ta gọi là “best seller” (bán chạy nhất), nhà văn trả lời:

“Đơn giản lắm ông bạn ạ! Chỉ cần lấy một bi kịch của Racine (Đại văn hào Pháp thế kỷ thứ XVII) đem pha trộn với bài vở trong Sách Xanh (Guide Bleu - sách hướng dẫn du khách) là bạn thành công cái một ngay!

Pierre Benoit quả đã chịu khai thác Racine qua các nhân vật nữ đẹp, đầy quyền uy và cực kỳ tàn ác, với những định mệnh éo le, mà ông đã đem cộng thêm và trộn lẫn với các tính cách ưa thích các sự mới lạ, các yếu tố ngoại lai của sách Xanh chỉ dẫn du lịch (Guide Bleu) để đạt được những thành công vĩ đại với đại đa số các độc giả phái nữ.

Ông sinh ở Albi năm 1886, và ông không giống các tác giả khác lúc đầu chỉ có ít độc giả rồi dần dần mới có nhiều độc giả, vì ngay với tác phẩm đầu tay (Koenigsmark), ông đã thành công rực rỡ, với một số độc giả đông đảo, người nọ truyền tai người kia khiến sách bàn chạy như tôm tươi, số sách được bán ra trên một triệu cuốn, một con số khó tưởng tượng vào thời điểm đó cũng ngay như bây giờ! Cuốn tiểu thuyết Koenigsmark ra đời năm 1918. Một năm sau (1919) ông cho ra đời tác phẩm L’Atlantide còn thành công rực rỡ hơn và cho tới ngày nay vẫn còn được cho là một trong những tiểu thuyết hay nhất của Pháp.

Nếu đem tính gộp tất cả những lần tái bản và những bản dịch (ra cả tiếng Nhật và chữ Braille cho người khiếm thị) thì hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông đã đạt tới con số trên 3 triệu bản.

Pierre Benoit có những phương thức làm việc được tính toán rất khoa học, rất độc đáo và tinh vi không giống một nhà văn nào khác như sau đây:

· Tên nhân vật nữ chính của Pierre Benoit trong tiểu thuyết Koenigsmark là AURORE, còn tên cũng của nhân vật nữ chính trong tác phẩm L’Atlantide thì là ANTINÉA, hai cái tên bắt đầu bằng chữ A. Kể từ đó trong toàn thể 42 tác phẩm của ông, tên tất cả các nữ nhân vật chính đều cũng bắt đầu bằng chữ A như: Allegria, Annabel, Antiope, Athelstane, Agar vv…

Từ 1918 tới 1963, hầu như mỗi năm Pierre Benoit lại cho ra đời một đầu sách, và sau khi tính toán kỹ lưỡng, hoạch định kế hoạch thật khoa học, ông đã quyết định là:

· Tất cả các cuốn tiểu thuyết của ông, bất kể cuốn nào, đều phải dài đúng 318 trang, không hơn không kém.

· Cảnh yêu đương (trong tất cả mọi tiểu thuyết của ông) và nụ hôn đầu tiên trong truyện bao giờ cũng xảy đến ở nơi trang thứ 100.

· Trong mỗi tác phẩm của ông đều có một câu nhắc tới cựu Thủ Tướng Gambetta (điều này, trừ ông ra, chẳng ai biết được là tại sao?)

· Tác phẩm nào của ông cũng chứa đựng một câu rút ra từ một tác phẩm của đại văn hào Chateaubriand, mà ông không để trong ngoặc kép hoặc ghi xuất xứ, nên chẳng có nhà nghiên cứu văn học nào khám phá ra điều này.

Từ tác phẩm này qua tác phẩm khác, Pierre Benoit đã đưa các độc giả của ông du hành trong mộng tưởng qua xứ Liban, quần đảo Antilles, xứ Zanzibar, sa mạc Gobi, xứ Hoggar, quần đảo Nouvelles-Hébrides vv…

Ngày 24 tháng 11 năm 1931, ở tuổi 45, ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Pháp (Académie Francaise), thay thế ghế của cố Viện sĩ Porto-Riche, tại đây ông được coi là Viện sĩ trẻ nhất và tếu nhất, nhưng vào năm 1959, ông từ bỏ ghế Viện sĩ, vì ông đứng về phe và bảo vệ người bạn đồng viện là Paul Morand, người bị Tổng Thống De Gaulle dùng quyền lực gạt ra khỏi Hàn Lâm Viện Pháp vì lý do bất đồng chính kiến.

Năm 60 tuổi, Pierre Benoit kết hôn với một tuyệt thế giai nhân tên là Marcelle, kém ông 20 tuổi, và họ chung sống bên nhau 14 năm tràn đầy hạnh phúc. Nhưng, hỡi ơi! Marcelle qua đời năm 1960!

Vốn nòi đa tình, không kham chịu nổi mất mát quá lớn, ông chết theo bà luôn sau hai năm sống trong niềm thương nỗi nhớ, và sống đau khổ đến mức trong suốt 2 năm ông không buồn bước ra khỏi nhà…

Vũ Anh Tuấn

(viết theo tài liệu rút trong cuốn Tout sur Tout)

CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ

QUYỀN HẠ

(Nhị tập tt)

L.M. Giuse Nguyễn Hữu Triết

3.2 Vũ điệu

1. Vũ điệu thánh được ghi nhận trong Thánh Kinh:

Thiên Chúa chí tôn luôn được Dân thánh tán dương, chúc tụng, ngợi khen… Họ ca tụng Chúa bằng những cuộc tập họp để cử hành lễ hội, bằng lời ca, tiếng hát, nhạc cụ và vũ điệu nữa:

- "Ca tụng Chúa đi trong đền thánh Chúa,

Ca tụng Người chốn cao thẳm uy linh;

Ca tụng Chúa vì công trình hùng vĩ

Ca tụng Người lẫm liệt oai phong.

Ca tụng Chúa đi, rập theo tiếng tù và

Ca tụng Người, họa tiếng cầm tiếng sắt

Ca tụng Chúa bằng vũ điệu trống đưa

Ca tụng Người theo cung đàn nhịp sáo

Ca tụng Chúa đi với chũm chọe vang rền

Ca tụng Người cùng thanh la inh ỏi.

Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào – Hallêluia !" (Tv 150)

- "Mừng Thánh danh nào dâng điệu vũ

Nhịp trống họa đàn theo khúc hoan ca" (Tv 149,3)

- "Mừng Ngài con hân hoan nhảy múa. Đàn hát kính danh Ngài, Lạy Đấng Tối Cao" (Tv 9,3)

- "Hỡi những người công chính

Hãy vui lên trong Chúa,

Hãy nhảy mừng" (Tv 31,11)

- "Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa

Trẻ già cùng mở hội tưng bừng" (Gr 31,13)

- Cuộc rước Hòm Bia Thánh về Giêrusalem: "Vua Đavít và toàn thể nhà Israel nhảy múa trước nhan Đức Chúa với mọi thứ nhạc cụ bằng gỗ trắc bá, với đàn cầm, đàn sắt, trống con, chũm chọe, thanh la…" (2S 6,5).

- "Vua Đavít quấn êphốt vải gai nhảy múa hết sức mình trước nhan Đức Chúa. Vua Đavít cùng toàn thể nhà Israel rước Hòm Bia Chúa lên giữa tiếng hò reo với tiếng tù và…" (2S 6,14-15).

"Khi Hòm Bia Chúa vào thành vua Đavít, bà Mikhan, con gái vua Saun (vợ vua Đavít) từ cửa sổ nhìn xuống, thấy vua Đavít nhảy múa quay cuồng trước nhan Đức Chúa thì sinh lòng khinh dể… (khi lễ nghi hoàn tất, vua Đavít về nhà chúc lành cho người nhà mình thì bà Mikhan trách vua), Đavít trả lời: "Trước nhan Đức Chúa, Đấng đã chọn tôi thay thân phụ bà… Trước Thánh nhan Chúa, tôi sẽ vui đùa, tôi sẽ còn hạ mình hơn nữa…" (Chúa đã ưng nhận thái độ của vua Đavít, và đã phạt bà Mikhan bằng cách không cho bà một mụn con nào cho đến chết) (2S 6,14-23).

2. Vũ điệu trong các lễ nghi của đạo (các lễ nghi đều có cơ sở trong Thánh Kinh):

Trên thế giới có nhiều dân tộc mà cuộc sống của họ gắn liền với vũ điệu, khi thể hiện niềm tin Kitô giáo, họ cũng dùng vũ điệu để cử hành và tuyên xưng Đức tin – Trước tiên phải kể các dân Công giáo Phi châu thường chen các điệu vũ vào việc cử hành các nghi lễ mà họ gọi là vũ thánh, thí dụ: cử hành một vũ khúc khi dâng lễ vật lên bàn thờ.

Các dân tộc thiểu số ở vùng cao miền Bắc và Tây nguyên dùng cồng, chiêng với nhịp đi nhún nhảy trong các cuộc rước hoặc khi dâng lễ vật… Với dân tộc Kinh (Công giáo Việt Nam), nhiều hình thức vũ điệu được cử hành trong các nghi lễ - Thí dụ:

- Múa khi dâng lễ vật.

- Múa trong các cuộc rước khi sử dụng phường trống, đội trắc…

- Múa khi dâng hoa (nghi thức dâng hoa cho Đức Mẹ vào tháng Năm).

- Múa dâng hạt trong các buổi ngắm đứng (thường diễn ra sau khi suy niệm 5 hoặc 15 sự Thương khó Đức Chúa Giêsu).

3.3 Tuồng kịch

"Tính" tuồng kịch hay hình thức tuồng kịch đã hàm chứa trong các buổi cử hành tôn giáo của đạo Kitô ngay từ thời sơ khai (thế kỷ 1-2), được triển khai, hoàn thiện từng bước tới nay trên toàn thế giới Thiên Chúa giáo và sẽ kéo dài đến tận thế.

a. Thánh lễ: Ở một khía cạnh nào đó, Thánh lễ cũng giống như một nhạc kịch, có mở màn, có diễn tiến, có các nhân vật với những cử điệu, lời thoại đối đáp, hoạt động khác nhau: chủ tế, giúp lễ, các thừa tác viên, ca đoàn, cộng đoàn… có cao trào và có bế mạc…

Hiện nay trên toàn thế giới, trung bình cứ mỗi phút qua đi là có 2 Thánh lễ bắt đầu. Như vậy Thánh lễ diễn ra liên tục từ ngàn năm này tới ngàn năm khác.

b. Các bản tường thuật trong Thánh Kinh về những biến cố quan trọng như sáng thế, dân Do Thái qua Biển Đỏ, về cuộc đời của những nhân vật trọng yếu như Abraham, Môsê, Đavít, các tiên tri… nhất là Chúa Giêsu, đều như là những kịch bản đã viết sẵn, chỉ chờ được diễn. Trong thực tế những bản văn đó đã được "kịch" hóa và trình diễn khắp nơi trên thế giới.

Tại Việt Nam không một lễ Giáng Sinh nào mà không có những hoạt cảnh về việc Thánh Giuse và Đức Mẹ tới Bethlehem và Đức Mẹ sinh Chúa tại đó trong một hang đá ngoài cánh đồng… Không có Tuần Thánh (tuần giáp lễ Phục Sinh) nào mà thiếu những cuộc cử hành "đi chặng Đàng Thánh giá", hoặc những cuộc kiệu bắt, những tái hiện cảnh đóng đinh và an táng Chúa Giêsu… Ngoài ra biết bao đoạn Tin Mừng đã được "kịch" hóa trên sân khấu như: chuyện người phú hộ và Lazarô, chuyện người Samaritanô nhân hậu, chuyện đứa con hoang đàng…

Tuồng kịch Công giáo tại Việt Nam:

Giải trí là một nhu cầu khẩn thiết của mọi người, mọi thời ở mọi tầng lớp từ cung đình cho đến nhân dân lao động. Tuồng hay kịch thuộc văn hóa giải trí và là bộ môn văn nghệ cấp cao nên đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc giải trí cho mọi người.

Tuồng kịch ở nước ta đã có từ lâu, những vở tuồng nổi tiếng như Sơn Hậu, Ngự Văn Quân, Nhạc Hoa Linh, Sơn Hồ Ngọc, Lý Thiên Long… Các vở tuồng soạn theo truyện như Phong Thần, Tam Quốc, Thuyết Đường, Bắc Tống, Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều…

Trong những vở tuồng trên, có nhiều vở hay nhưng cũng có những vở bị phê phán, không phải chỉ các nhà lãnh đạo Công giáo mà cả những nhà Nho đạo đức nữa. Ca dao đã có câu:

"Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều"

(Truyện Kiều có một thời bị coi là dâm thư)

Vì thấy tuồng kịch của xã hội có nhiều yếu tố không thích hợp với đời sống giáo dân nên từ thế kỷ 19, các vị lãnh đạo Công giáo đã nhận thấy phải có tuồng kịch Công giáo để đáp ứng nhu cầu giải trí của giáo dân và các vở tuồng Công giáo đã lần lượt ra đời. Sau đây là 20 vở tuồng trích trong cuốn "Sơ Thảo Thư Mục Công giáo" do Linh mục Trần Anh Dũng xuất bản tại Paris năm 1992, từ trang 342-349 (số liệu ghi ở đầu mỗi tuồng là số thứ tự ghi trong dẫn chiếu):

- 2109 – Cêcilia Tuồng, Sàigòn, Impr. De la Mission, 1899, 16 trang: 18cm.

- 2113 – Chúa Hài Đồng (kịch thơ ba màn),Vị Thủy, Sàigòn, Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 80, tháng 1/1956.

- 2114 – Chúa Hài Đồng Gọi (kịch), Jacques Lê Văn Đức, Eugène Đinh Văn Sắt, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1924, 31 trang: 18cm.

- 2118 – Đavid Thánh Vương Nhứt Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission 1899, 76 trang: 18cm.

- 2122 – Gioang Lều Nhứt Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1889, 62 trang: 18cm.

- 2132 – Ông Gióp Nhất Tấn, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1899, 31 trang: 18cm.

- 2137 – Tiếng Chúa Gọi Bà Jeanne D'Arc (tuồng), Lê Văn Đức, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1929, 22 trang: 17cm.

- 2145 – Trước Cửa Thiên Đàng (tuồng cho đồng nhi nữ), Jacques Lê Văn Đức, Quy Nhơn, Impr. de la Mission,1923, 38 trang: 17cm.

- 2148 – Tuồng Bà Thánh Xêxilia, Đỗ Trí Cơ, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1922, 40 trang: 18cm.

- 2149 – Tuồng Cha Chúc Dữ Cho Con, G. Thơ dịch, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1922, 85 trang: 18cm.

- 2151 – Tuồng Đức Mẹ Lộ Đức, kỷ niệm đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-1958), Vũ Hòa Đức, nhà sách Thánh Gia, 1959, 78 trang: 21cm.

- 2152 – Tuồng Joseph, Trương Minh Ký, Sàigòn, bản in nhà hàng Rey et Curtol, 1888, 16 trang: 18cm.

- 2153 – Tuồng 10 Điều Răn Đức Chúa Trời, Sàigòn, Impr. Joseph Viết, 1927, 42 trang: 15cm.

- 2154 – Tuồng Sinh Nhật : Mục Đồng Đi Tìm Chúa Giêsu, Kontum, trường Á Thánh Xitêphanô Thể, 1912, 76 trang: 19cm.

- 2155 – Tuồng Thánh Eutakiô, Vợ Con Cùng Các Bạn Tử Đạo, cha Thomas Thi dọn, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1925, 88 trang: 17cm.

- 2156 – Tuồng Thánh Gioan và Chúa Cứu Thế, cha Sébastien Chánh dọn, cha François Xavier Truyền sửa lại, Quy Nhơn, 1926, 83 trang: 17cm.

- 2157 – Tuồng Thánh Trẻ Vitô Tử Đạo, cha Thomas Thi dọn, Sàigòn, Impr. de la Mission 1912, 82 trang: 18cm.

- 2158 – Tuồng Thương Khó, cha J.B Nguyễn Bá Tòng dọn theo sách Gẫm Sự Thương Khó và tuồng Thương Khó đã làm tại Oberammergau và thành Nancy, Sàigòn, Impr. de la Mission, 1912, 82 trang: 18cm.

- 2159 – Tuồng Thương Khó, Jacques Lê Văn Đức dọn theo tuồng Thương Khó của cha J.B Tòng, cha Anrê Miều ra công khó giúp, cha Sébatien Chánh lãnh sự dọn mấy bài hát, Quy Nhơn, Impr. de la Mission, 1926, 142 trang: 18cm.

(Thư tịch Hán Nôm Công giáo –Tuồng Đavít Thánh Vương, Nguyễn Huy Hùng, Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải,

NXB Dũng Lạc Houston USA 1998)

***

3.4 Kiến trúc

Nói tới tôn giáo thì cũng phải nói tới nơi thờ tự, không một tôn giáo nào mà không có nơi thờ tự. Đối với Thiên Chúa giáo, từ thời thủ lãnh Môsê (thế kỷ 13 trước Công nguyên), đã bắt đầu có nơi thờ tự nhất định. Thánh Kinh viết: "Ông Môsê lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên ngoài trại, cách một quãng xa, ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý Đức Chúa thì ra Lều Hội Ngộ"

(Xh 33,7).

Đến thời vua Đavít (thế kỷ 10 trước Công nguyên), ngài có ý định xây Đền thờ cho Chúa: "Vua nói với ngôn sứ Nathan: Ông xem tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải" (2S 7,2). Ý vua rất chân thành nhưng Đức Chúa không cho phép (vì tay vua dính quá nhiều máu trong các cuộc chiến) mà dành vinh dự ấy cho người kế vị là vua Salômon. Sau khi mọi việc trong ngoài đã yên ổn, vua nghĩ ngay tới việc xây Đền thờ cho Đức Chúa: "Trẫm nghĩ phải xây một Đền thờ kính Danh Đức Chúa, Thiên Chúa của trẫm…" (1V 5,19).

Đền thờ đầu tiên do vua Salômon xây: "dài 30 thước, rộng 10 thước, cao 10 thước, tiền đình trước cung thánh của Đền thờ dài 10 thước, rộng 5 thước…" (1V 6,2-4). Đền thờ không lớn nhưng được xây dựng và trang hoàng bằng những vật liệu quý giá của cả nước: "Bên trong cung thánh được ghép toàn bằng gỗ bá hương cực quý hiếm và chạm trổ rất tinh xảo… Nơi cực thánh dài 10 thước, rộng 10 thước, cao 10 thước vua dát vàng ròng… vua dát vàng ròng phía trong cung thánh, trước nơi cực thánh cũng dát vàng ròng… tất cả Đền thờ vua đều dát vàng không trừ một chỗ nào, bàn thờ nơi cực thánh vua cũng dát toàn vàng" (1V 6,18-22). Công trình xây dựng 7 năm mới xong (1V 6,37).

Vật dụng trong Đền thờ được liệt kê như sau: "Vua Salômon đã làm tất cả các vật dụng cho Đền thờ Đức Chúa: bàn thờ bằng vàng, bàn đặt bánh tiến cũng bằng vàng, các chân đèn: 5 chiếc bên phải và 5 chiếc bên trái trước nơi cực thánh tất cả bằng vàng ròng, hoa đèn, kéo cắt bấc đều bằng vàng, chén, dao, bình rảy, bình hương, khay đựng tro bằng vàng ròng. Các chốt cánh cửa Đền thờ bên trong, tức là nơi cực thánh và các chốt cánh cửa Đền thờ tức là cung thánh cũng bằng vàng ròng" (1V 7,48-51).

Đền thờ Giêrusalem trải qua nhiều thế kỷ cùng với sự hưng vong của dân tộc Do Thái, nhiều lần bị xâm lăng và Đền thờ là đối tượng đầu tiên để cướp phá. Cho tới thời vua Hêrôđê Cả, Đền thờ được xây dựng lại lộng lẫy không kém xưa; bằng chứng hiện nay còn bức tường "than khóc" với những khối đá hàng chục tấn chồng lên nhau.

Có lần Đức Giêsu đã xua đuổi những người buôn bán ra khỏi sân Đền thờ, họ cự lại và hỏi: "Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy ông có quyền làm như thế? Đức Giêsu đáp: Các ông cứ phá Đền thờ này đi, nội 3 ngày tôi sẽ xây dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này phải mất 46 năm mới xây xong, thế mà nội trong 3 ngày ông xây lại được sao?..." (Ga 2,18-20). Đền thờ Thiên Chúa thời Cựu Ước thì chỉ có một ngôi duy nhất mặt tiền quay về hướng Đông, nhưng mỗi làng, mỗi thành… đều có Hội đường, nơi người Do Thái tập họp vào ngày thứ Bảy để cầu nguyện, ca hát ngợi khen Chúa và lắng nghe đọc và giải thích Lời Chúa. Các Hội đường đều có mặt tiền quay về hướng Đông. Một trong những Hội đường mà Chúa Giêsu hay đến để cầu nguyện và giảng dạy là Hội đường Caphanaum, hiện nay còn phế tích, đó là một công trình kiến trúc bằng đá rất đẹp (xem hình).

Đối với Giáo Hội Công giáo, thuở sơ khai cũng lấy Hội đường Do Thái làm nơi quy tụ, nhưng chỉ ít lâu sau Giáo Hội Công giáo tách ra khỏi Hội đường Do Thái, lấy những ngôi nhà tư rộng rãi của giáo dân làm nơi quy tụ. Sách Tông Đồ Công vụ kể: "Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với nhau đơn sơ vui vẻ" (Cv 2,46).

Sau thời kỳ bị cấm cách, bắt bớ… tới thời vua Constantin (đầu thế kỷ 14), đạo Công giáo được tự do phát triển, tín hữu càng ngày càng đông, nhu cầu xây cất Thánh đường là thiết yếu. Vua Constantin trở lại đạo Công giáo và bắt tay ngay vào việc xây cất Đền thờ Phêrô ngay trên mộ của ngài. Mẹ của vua là Thánh nữ Hêlêna, một tín hữu rất sùng đạo, bà đã sang Đất Thánh tìm được Thánh giá của Chúa Giêsu và nhiều thánh tích khác đem về Roma, như là các mảnh gỗ của máng cỏ Bethlehem. Các bậc thang gỗ Chúa Giêsu đã bước lên để gặp ngài Tổng trấn Philatô trong cuộc xử án, cũng chính bà đã ra lệnh xây Nhà thờ Giáng Sinh và 7 ngôi Nhà thờ khác ở Đất Thánh và ở Roma. Các Nhà thờ bà xây ở Đất Thánh, những thế kỷ sau, vua Hồi giáo đem quân sang chiếm Đất Thánh và cả một phần châu Âu, đã phá hủy hết chỉ trừ ngôi Nhà thờ Giáng Sinh, lý do là ở đây có một bức họa Ba Vua tới thờ lạy Chúa Hài Nhi, mà cách trang phục giống như các vua Ả Rập nên họ để nguyên, nhưng trang trí nội thất lại bằng những chữ Ả Rập theo phong cách của Đền thờ Hồi giáo, và dùng làm Đền thờ của họ trong nhiều thế kỷ.

Kể từ thời vua Constantin, Giáo Hội Công giáo lan rộng tới đâu là xây cất Thánh đường tới đó. Cho tới nay thì đã có không biết là bao nhiêu Nhà thờ, Nhà nguyện, Đền thánh lớn, nhỏ trong gần 200 nước trên thế giới suốt quãng thời gian 2.000 năm, từ khi đạo Công giáo ra đời.

Trên đất nước Việt Nam hiện nay có 26 Giáo phận và có khoảng 10.000 Nhà thờ, Nhà nguyện, Đền thánh lớn nhỏ, chưa kể con số Nhà thờ được xây dựng rồi tàn rụi sau lại được tái thiết… từ gần 5 thế kỷ tới nay.

Hiện nay có nhiều Nhà thờ nổi tiếng khắp ba miền đất nước: Trong Nam có Nhà thờ Đức Bà thành phố Hồ Chí Minh; Huế có Nhà thờ Phủ Cam, Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế; Kontum có Nhà thờ Gỗ; miền Bắc có Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, Nhà thờ Phú Nhai (lớn nhất Đông Dương), Nhà thờ và xứ đạo Đường Lâm, được xếp di tích văn hóa quốc gia và nhất là Nhà thờ Đá Phát Diệm, một công trình kiến trúc hội nhập văn hóa nổi tiếng cả thế giới, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa (quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18/1/1988), do Linh mục Phêrô Trần Lục xây dựng từ 1891-1899.

Khuôn viên Nhà thờ Phát Diệm dài 200m, rộng 110m, có tường bao bọc, trên vuông đất này có nhiều công trình như hồ ao, Phương Đình, Nhà thờ lớn, 4 Nhà thờ nhỏ bên cạnh, Nhà thờ Đá và 3 hang núi đá nhân tạo.

Phương Đình:

Qua cổng đá, khách vào sân lát toàn gạch ngang dọc và đường kiệu lát đá thước xanh (thước đây là thước ta bằng 40cm; những viên đá này rộng 40cm, dài từ 40cm đến 120cm), đây đó trồng nhãn rợp bóng mát. Bước vào sân, người tín hữu bắt đầu cảm thấy tâm hồn trầm lắng xuống, sẵn sàng đi vào cầu nguyện. Khách có thể đi thăm Phương Đình trước hết. Phương Đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau cùng của Cụ Sáu, theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác trong toàn bộ khu này. Đứng ở sân rộng phía Nam mà ngắm, khách có cảm tưởng một cái gì đồ sộ vững chắc, đồng thời hoàn hảo về mặt nghệ thuật kiến trúc. Trong sân này, từ năm 1991 có đặt tượng 2 vị Thánh Quan thầy Giáo phận Phát Diệm: Thánh Phêrô (phía Tây) và Thánh Phaolô (phía Đông).

Phương Đình có nghĩa là "nhà vuông", hình dáng như cái đình làng rộng lớn mà trống trải, kích thước gần như vuông: chiều ngang 24m, sâu 17m, cao 25m, có 3 tầng. Tầng dưới lớn nhất, xây toàn bằng đá xanh vuông vắn, chia thành 3 lòng, trong mỗi lòng có 1 sập đá. Sập đá ở lòng giữa to nhất, là 1 khối dài 4,20m, rộng 3,20m, dày 0,30m, tương truyền là sập rồng của vua thời Nhà Hồ ở thành Tây Giai (Thanh Hóa) ngày xưa. Trên các vách có phù điêu bằng đá, tạc một số vị Thánh. Cũng đáng để ý những chấn song đá hình cây trúc. Trên các vách ngoài của tầng dưới có những phù điêu tạc sự tích Chúa Giêsu, từ khi Chúa vào thành Giêrusalem đến khi Chúa lên trời. Ở mặt chính, phía Nam, có khắc 4 đại tự "Thánh Cung Bảo Tòa", (nghĩa là Tòa quý của nơi Thánh), còn mặt phía Bắc mang những chữ Latinh "Capella in coena Domini", (nghĩa là Nhà nguyện Tiệc ly của Chúa). Những chữ khắc đó nhắc cho ta nhớ rằng ngày xưa Phương Đình dùng làm tòa đặt Mình Thánh để chầu trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh, kỷ niệm bữa Tiệc ly. Hai bên 4 chữ "Thánh Cung Bảo Tòa" có những hàng chữ Hán nhỏ hơn, dịch "Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, năm Kỷ Hợi, niên hiệu Thành Thái" (tức năm 1899).

Qua một cầu thang đá hẹp, khách lên tầng giữa, cũng bằng đá, ở đây đặt một trống cái, chỉ dùng các ngày Chúa nhật và lễ lớn cùng với chuông. Ở 4 góc tầng này là 4 tháp nhỏ có mái cong, trên đỉnh là tượng 4 vị Thánh chép sách Tin Mừng: Tháp phía Đông-Nam là Thánh Marcô, Tây-Nam là Thánh Luca, Đông-Bắc là Thánh Gioan và Tây-Bắc là Thánh Matthêô. Một cầu thang gỗ đưa lên lầu trên cùng, bằng gỗ, có mái, nơi đặt quả chuông Nam cao 1,90m, đường kính 1,10m, nặng gần 2 tấn. Trên 4 mặt ngoài có khắc chữ Hán và Latinh. Một mặt chữ Latinh ghi: "Thánh Maria, Thánh Giuse, Thánh Gioan Tẩy Giả. Năm Chúa Giáng Sinh 1890"; mặt khác ghi lời chuông nói: "Tôi ca tụng Chúa thật, tôi kêu gọi dân chúng, tôi tập hợp giáo sĩ, tôi khóc người qua đời, tôi đẩy lui dịch tễ, tôi điểm tô ngày lễ". Trên mặt chuông còn ghi 2 dòng chữ Hán: "Thành Thái Canh Dần tạo" (Làm năm Canh Dần, thời vua Thành Thái). Hơn 100 năm nay, sáng chiều chuông vẫn ngân vang, âm thanh vọng đi xa, có khi đến 10km, để nhắc nhở người tín hữu nâng tâm hồn lên cầu nguyện với Chúa. Từ tầng cao nhất này, khách có thể nhìn bao quát chung quanh: gần hơn là Ao Hồ, Nhà thờ Lớn và các Nhà thờ cạnh; xa hơn có thể đếm được khoảng 20 nóc Nhà thờ vùng Kim Sơn; xa hơn nữa, vào những ngày đẹp trời có thể thấy biển ở phía Nam và núi ở phía Tây.

Sân giữa và lăng Cụ Sáu

Xem xong Phương Đình, khách bước xuống sân nhỏ ở phía Bắc, giữa Phương Đình và Nhà thờ Lớn. Sân này có kích thước dài 25m, rộng 15m, tường hai bên là những chấn song tiện bằng đá. Tại đây có lăng Cụ Sáu. Cụ qua đời năm 1899, có tới 40.000 giáo dân dự Thánh lễ An táng; sau đó Cụ được mai táng ở đây, trong ngôi mộ đá bé nhỏ khiêm tốn nhưng ở vị trí tuyệt đẹp, ngay trung tâm công trình kiến trúc của Cụ.

Nhà thờ Lớn (dài 74m, rộng 21m)

Từ sân giữa nhìn lên phía Bắc, khách có thể ngắm mặt tiền Nhà thờ Lớn. Đứng trước Phương Đình, khách có cảm giác một cái gì đồ sộ oai nghiêm, còn trước mặt tiền này, khách được chiêm ngưỡng một cái gì vừa mỹ lệ tinh xảo, vừa thanh thoát lôi cuốn. Trước khi xem kỹ hơn, khách có thể đọc một tài liệu lịch sử: đó là tấm bia đặt ngang tầm mắt, ở phía cực Đông của mặt tiền (đối với người nhìn là bên phải, gần những chấn song đá của sân giữa). Bia khắc chữ Latinh, dịch như sau:

"Kính chào Mẹ của Thiên Chúa Con. Kính chào Bạn trăm năm của Chúa Thánh Thần. Kính chào Đền thờ rất Thánh của Ba Ngôi rất Thánh. Xin giải thoát chúng con khỏi tội và hỏa ngục. Lạy Đức Maria là Mẹ của Ân sủng, là Đấng dịu hiền sinh ra Đức Khoan Dung. Xin che chở chúng con khỏi kẻ thù, và đón nhận chúng con trong giờ chết. Amen – Năm Chúa Giáng Sinh 1891, năm tôi xây dựng Nhà thờ Phát Diệm này để kính Đức Mẹ Mân Côi. Phêrô Sáu ký".

Như vậy, 1891-1991 Nhà thờ Lớn này đã được chẵn 100 tuổi. Nhà thờ đã được cất lên năm 1891 chỉ trong vòng 3 tháng, nhưng công việc chuẩn bị là sắm sửa vật liệu và trị chân móng đã kéo dài cả 10 năm trước đó. Về vật liệu, gỗ thì lấy từ Nghệ An, Thanh Hóa và Sơn Tây, đá lấy ở núi Thiện Dưỡng cách Phát Diệm 30km, đá quý hơn lấy ở núi Nhồi gần tỉnh lỵ Thanh Hóa, cách 60km. Có những cây gỗ nặng tới 7 tấn, những phiến đá nặng đến 20 tấn đã được vận chuyển bằng những phương tiện thô sơ hồi đó. Còn về chân móng, nên nhớ rằng Phát Diệm xưa là biển đã được đất phù sa bồi, nên Cụ Sáu đã phải cho đóng hàng triệu cọc tre và đổ xuống biết bao là đất đá mới đặt được nền móng Nhà thờ vững chắc cho đến nay.

Trở lại xem mặt tiền Nhà thờ Lớn, ta thấy phía dưới có 5 lối vào bằng đá. Phía trên là 3 tháp vuông bằng gạch có mái cong. Trên đỉnh tháp giữa, có tượng 2 thiên thần cầm Thánh giá, 2 bên là 2 thiên thần khác thổi loa, ở dưới là 4 chữ Hán "Thẩm Phán Tiền Triệu" (Điềm báo trước ngày Phán xét).

Đá của 5 lối vào phía dưới được chạm khắc rất tinh vi, đặc biệt trên lối chính giữa là 1 phiến đá dài 4,20m, cao 1,50m, dày 0,7m, chạm một bụi hoa Mân Côi (tức hoa hồng) từ giữa tỏa ra, trên các ngành có 17 vị thiên thần. Trên mỗi lối vào có ba bức phù điêu, tạc các Mầu nhiệm Tràng hạt Mân Côi. Từ trái sang phải là: Thiên sứ Truyền Tin, Đức Bà đi viếng, Đức Bà sinh Chúa Giêsu, Đức Bà dâng Con, Đức Bà tìm thấy Con (5 Sự Vui); Chúa Giêsu hấp hối trong vườn, Chúa chịu đánh đòn, Chúa đội mão gai, Chúa vác Thánh giá, Chúa chịu đóng đinh (5 Sự Thương); Chúa sống lại, Chúa lên trời, Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Bà lên trời, Đức Bà đội triều thiên (5 Sự Mừng).

Năm lối vào xây toàn bằng đá, sâu 9m, trên 5 vách có phù điêu tạc 6 thiên thần cầm bình Nước phép. Phía trên mỗi vị là một câu Latinh, nói lên thái độ phải có khi cầu nguyện, đó là: (từ Đông sang Tây) "Khi cầu nguyện, bất cứ anh em xin điều gì, hãy tin rằng sẽ được"; "Hãy cầu nguyện và xin như người thu thuế và người bệnh phong"; "Hãy chuẩn bị linh hồn bạn, đừng thử thách Chúa của bạn"; "Nơi đây đáng sợ chừng nào: đây là Nhà Thiên Chúa"; "Anh em hãy xin để cửa mở ra cho anh em, hãy tha thứ nếu anh em có hận gì với ai"; "Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ". Trong cùng là 5 cửa gỗ chạm trổ dẫn vào Nhà thờ.

Từ ngoài Nhà thờ bước vào trong, phải một lúc nhìn mới rõ, vì bên trong tối hơn bên ngoài nhiều, theo kiểu các đình chùa cổ truyền, tạo bầu không khí trầm mặc thuận tiện cho việc hồi tâm cầu nguyện. Điều đầu tiên thu hút cái nhìn là 2 hàng cột lớn ở giữa dẫn đến các bức gỗ chạm ở sau bàn thờ, chói lọi vàng son. Nhà thờ chia làm 9 gian với 6 hàng cột gỗ lim, tổng cộng là 52 cột đỡ lấy 4 mái. 16 cây cột ở giữa chu vi 2,35m, cao 11m, nặng 7 tấn, phía trong các cột này đều có chữ Latinh khắc chìm: "Pax Domini" ("Bình an của Chúa"), còn các cột ở 2 hàng ngoài cùng có chữ : "Ave Maria, Joseph" ("Kính chào Maria, Giuse"). Trước khi lên các gian trên, khách có thể thấy 2 con sư tử đá chạm bong ở 2 bên gian cuối, mà từ bên ngoài sẽ thấy rõ hơn. Điêu khắc gỗ ở xà kèo các gian dưới có những đường nét khỏe hơn, ở các gian trên thì tinh vi hơn. Ở gian cuối cùng trước Cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi dòng chữ Hán: "Thành Thái tam niên, ngũ nguyệt, thập thất nhật" với con số "1891". Như vậy ngày dựng nóc Nhà thờ Lớn là ngày 17/5 niên hiệu Thành Thái thứ ba, tức ngày 23/6/1891.

Cung thánh cao hơn lòng Nhà thờ hai bậc và gồm 2 gian, nhưng không có cột ở giữa nên xà vượt (xa dọc đỡ) rất to. Hai bên Cung thánh là những chấn song đá lớn chạm trổ khá đẹp. Những chấn song này đỡ 14 tấm phù điêu Đàng Thánh giá phía Tây 7 tấm, phía Đông 7 tấm. Nền Cung thánh lát gạch hoa, có mộ 5 vị Giám mục đã phục vụ trong Giáo phận Phát Diệm: Đức cha Alexandre Marcou Thành (mộ thứ 2 bên trái) người Pháp, Giám mục thứ nhất của Giáo phận (thành lập năm 1902), qua đời 1939; Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng (mộ thứ 3), quê Sàigòn, Giám mục Việt Nam tiên khởi, qua đời 1949; Đức cha Gioan M. Phan Đình Phùng (mộ thứ 1), quê Kiến Thái (Phát Diệm), qua đời 1944; Đức cha Giuse Lê Quý Thanh (mộ thứ 5) quê Hà Nam, qua đời 1974; Đức cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (mộ thứ 4), quê Thanh Hóa, qua đời 1981.

Giữa Cung thánh là một bàn thờ bằng một phiến đá dài 3m, rộng 0,90m, dày 0,20m đặt trên 2 cột đá chạm theo kiểu hình cây trúc như ở Phương Đình. Bàn thờ này mới được đặt vào tháng 10/1990 nhân dịp khai mạc Năm Kỷ niệm 100 năm xây dựng Nhà thờ Lớn. Bàn thờ cũ ở phía sau là 1 khối đá dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,97m ba mặt có chạm trổ hoa lá. Hai bàn thờ cạnh nhỏ hơn, cũng bằng đá chạm trổ, dâng kính Trái Tim Chúa (bên trái) và Trái Tim Mẹ (bên phải).

Sau khi thăm Phương Đình và Nhà thờ Lớn, khách có thể đi xem các công trình phụ khác: các Nhà thờ cạnh và các Hang đá, đặc biệt ngôi nhà Trái Tim Đức Mẹ…

Nhà thờ Trái Tim Đức Mẹ

Đây là Nhà thờ đầu tiên Cụ Sáu xây trong khu vực này, vào năm 1883. Nhà thờ dài 18m, rộng 9m, cao 5m; nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp, bàn thờ đều bằng đá, do đó người Phát Diệm quen gọi là Nhà thờ Đá (người địa phương khác đôi khi gọi Nhà thờ Lớn Phát Diệm là Nhà thờ Đá, nhưng như thế không đúng).

Mặt tiền gồm 1 tòa Đức Mẹ ở giữa với hai tháp 2 bên. Hai tháp này hình vuông, 5 tầng, có những nét giống Tháp Bút bên Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tòa Đức Mẹ bằng đá, có khắc 4 thứ tiếng. Trên cùng là chữ Việt: "Trái Tim Rất Thánh Đức Bà chẳng hề mắc tội tổ tông truyền, cầu cho chúng tôi" (đây là hàng chữ khắc tiếng Việt duy nhất trong toàn khu Nhà thờ Phát Diệm). Chung quanh tòa là chữ Hán: "Thánh Mẫu Tâm" (ở trên). "Vô Nhiễm nguyên tội" – "Vị thần đẳng cầu" (2 bên) nghĩa là: "Trái Tim Mẹ Thánh không hề mắc tội tổ tông, cầu cho chúng tôi". Phía dưới có chữ Pháp và chữ Latinh: "Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria, cầu cho chúng tôi".

Phía trong Nhà thờ bằng đá cẩm thạch nhẵn bóng, với những đường nét thanh thoát nhẹ nhàng. Vách 2 bên là những chấn song đá, gần vách có những bức đá chạm thông phong (chạm lộng) hình cây tùng và cúc (phía Đông), mai và trúc (phía Tây). Ba bàn thờ bằng đá chạm trổ; mặt trước bàn thờ chính, ở giữa có hình trái tim với lưỡi gươm đâm thâu, bên trái tạc một cái giếng đậy nắp với 2 hàng chữ Latinh nhỏ: "Puteus Signatus" (Giếng niêm phong), bên phải tạc một khu vườn rào kín: giếng niêm phong và vườn rào kín chỉ Đức Mẹ trinh khiết. Trên bàn thờ chính là Nhà Tạm bằng gỗ chạm, sơn son thiếp vàng và tòa Đức Mẹ bằng đá. Bên ngoài có những bức chạm thông phong (chạm lộng) bằng đá rất đẹp, hình chim phượng xòe cánh, mang bút nghiên, và con sư tử có bờm dài và răng nanh nhưng mặt trông như mặt người đang cười. Sau hết cũng nên xem 2 cửa đá nhỏ xinh xắn phía Bắc. Nhà thờ Đá, tác phẩm đầu tay của Cụ Sáu quả là một kiệt tác, xứng đáng với danh hiệu "Viên Ngọc" mà có người đã tặng cho.

Đến đây khách đã thăm qua một lượt toàn bộ công trình kiến trúc của Cụ Sáu trong khu Nhà thờ Phát Diệm. Khách không khỏi thán phục tài tổ chức và cái nhìn xa rộng của Cụ.

Khách ngoại quốc đến Việt Nam muốn xem một ngôi Nhà thờ tiêu biểu nhất của đạo Công giáo Việt Nam, thì đó phải là Nhà thờ Phát Diệm.

Ngày nay người ta nói nhiều đến "hội nhập văn hóa" nhằm diễn tả đạo Kitô theo sắc thái của mỗi dân tộc. Điều này Cụ Sáu đã làm từ lâu, không những trong kiến trúc, mà còn cả trong một số điểm khác, như bài vè, câu kinh, hoặc các đồ vật và y phục dùng trong các đám rước, đám tang… mặc dù không ít người thời đó có thể cho là giống các tôn giáo khác.

100 năm đã qua, tuy phải chịu đựng những tàn phá của thời gian và của chiến tranh, các công trình kiến trúc của Cụ vẫn còn ở trong tình trạng khá tốt, cho khách thập phương chiêm ngưỡng và nhất là cho các tín hữu ngày nay đến cầu nguyện. Nhà thờ phần lớn bằng gỗ, một vật liệu rất dễ bị hư hại. Vì thế trách nhiệm lớn của con cháu những giáo dân xưa đã cùng với Cụ Sáu xây dựng Nhà thờ Lớn Phát Diệm, thì nay phải thường xuyên gìn giữ, trùng tu theo đúng nguyên trạng (điều này cũng đúng với khá nhiều Nhà thờ khác ở vùng Kim Sơn, cũng với tuổi thọ xấp xỉ Nhà thờ Phát Diệm). Như thế là bảo toàn một di sản văn hóa dân tộc và một chứng tích Đức Tin của tiền nhân.

(Trích trong tập Nhà Thờ Lớn Phát Diệm, do Tòa Giám mục Phát Diệm biên soạn, NXB Hà Nội 1999)

Các đại Giáo đường ở châu Âu, châu Mỹ, châu Đại dương, châu Phi và cả châu Á nữa thật là nhiều. Những Nhà thờ nổi tiếng như Nhà thờ Đức Bà Paris 800 năm tuổi, hàng ngày có khoảng gần 10.000 lượt người tham quan (hầu như lúc nào tới cũng phải xếp hàng như thế này).

Xét về sự vĩ đại và hoành tráng thì cho đến nay chưa có Nhà thờ nào trên thế giới vượt được Đền Thánh Phêrô trên đồi Vatican trong nội thành Roma, thủ đô nước Ý (hàng năm có hơn 10 triệu du khách tới tham quan (tư liệu Wikipedia).

Nhà thờ Đức Bà Paris không thể sánh được với Đền thờ Thánh Phêrô, hoặc Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, hay Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Paris ít công trình đá, còn Roma là lò đá đặc biệt cẩm thạch vào bậc nhất thế giới, nên các tượng và công trình kiến trúc lớn toàn bằng đá. Đứng giữa lòng Đền thờ Thánh Phêrô, ngước mắt lên trần cao hơn 20m, người viết ngẩn ngơ không thể hiểu được làm thế nào mà các kiến trúc sư thế kỷ 15-16 lại có thể làm được những chiếc quá giang (xà ngang) khoảng 25m mà không có cột béton đỡ ở giữa, chịu được sức nặng của cả trần nhà bằng chất "vữa" giống như béton, chia thành những ô, tô vẽ hình ảnh, sơn mầu, thếp vàng. Đền thờ Thánh Phêrô được Đức Giáo Hoàng Nicôla V (1447-1455) tái thiết do kiến trúc sư Bernardo Rossellino phụ trách. Công việc tiến hành tới khi Đức Nicôla qua đời vào tháng 3/1455 thì công việc tạm ngưng, mãi tới thời Đức Giáo Hoàng Giulio II (1503-1513) mới tiếp tục lại, và kiến trúc sư cũng là họa sĩ, điêu khắc gia đại tài Michelangelo được giao nhiệm vụ với dự toán chi phí 200.000 đồng tiền vàng. Việc xây dựng kéo dài tới ngày 18/11/1626, Đức Giáo Hoàng Urbano VIII mới khánh thành.

Đền thờ có chiều dài 187m, ngang 150m, diện tích chưa kể phòng thánh là 22.067m2, chứa 54.000 người, mặt tiền cao 46m, chiều ngang 115m, các cột đá cao 29m, đường kính 2,67m, vòm có đường kính gần 20m, cao 50,35m, nặng 56.208.837 tấn, chiều cao tính từ mộ Thánh Phêrô lên là 136m. Quảng trường liền trước Đền thờ hình bầu dục, dài 196m, rộng 148m. Hai dãy hành lang vòng cung như vòng tay người mẹ mở rộng ôm tất cả đoàn con, do kiến trúc sư Bermini thực hiện, gồm 284 cột đá xếp thành 4 hàng đối xứng nhau, mỗi bên 142 cột. Cột cái có đường kính 1,45m, cao 18,60m, tất cả đều bằng đá trắng ngà, trên hành lang vòng cung đặt 140 tượng, mỗi tượng cao 3,24m. Các tượng ở mặt tiền Đền thờ cao 5,65m toàn bằng đá trắng hơi xám.

Cột đá (Obélisque) tượng trưng cho uy quyền của các triều vua chúa, có lẽ ban đầu xuất phát từ Ai Cập cổ đại. Cột đá bốn mặt nhỏ dần đến chóp đỉnh. Cột đá ở quảng trường Thánh Phêrô bằng đá vân cương đỏ, từ Đông phương được đưa về Roma thời hoàng đế Nerô, sau bị đổ và bỏ phế. Cột đá cao 41,3m, nặng 312 tấn, di chuyển quãng đường mấy chục km phải mất 5 tháng (từ 30/4/1585 – 10/9/1585). Làm thế nào để di chuyển và dựng lên được là một câu hỏi mà khách tham quan đặt ra. Xin nói thêm dường như những nước văn minh xưa rất ưa dựng cột đá, ở Roma có khá nhiều, ở Paris, Thổ Nhĩ Kỳ cũng có khá nhiều, những nơi khác người viết chưa tới nên không biết.

Ngoài Đền thờ Thánh Phêrô, Roma còn nhiều Đền thờ đồ sộ khác, người ta quen gọi "Tứ Đại Giáo Đường", đó là Đền thờ Đức Bà Cả, Đền thờ Gioan Latran, Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Đền thờ nào cũng làm khách tham quan sững sờ, riêng Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành được kể là lớn nhất trong các Đền thờ Công giáo, cho tới khi hoàn thành Đền thờ Thánh Phêrô.

Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành có chiều dài 125,64m với 4 hàng cột đá cẩm thạch đỏ có vân bóng lưỡng, liền lạc từ trên xuống dưới, hai hàng cột cái đường kính gần 1m, cao khoảng 18m, không biết người xưa lấy đâu ra những cột đá liền lạc, to lớn như vậy rồi lại còn công đẽo gọt, chuyên chở và dựng lên nữa! Thật không thể tưởng tượng được. Chúng ta cần nhớ thời đó không có máy móc, cần cẩu, không có ximăng cốt thép, mọi việc xây dựng đều dùng thủ công.

Paris cũng nhiều công trình kiến trúc hoành tráng nhưng rất ít công trình đá, các tượng ở Pháp hầu hết là ximăng, còn các công trình và các tượng ở Ý hầu hết bằng đá và cẩm thạch.

Nói về giá trị của những công trình kiến trúc Công giáo tại Trung Quốc, Bắc Kinh thừa nhận tầm quan trọng lịch sử của các tòa nhà Công giáo. 17 tòa nhà Công giáo được đưa vào danh sách 1943 di tích quốc gia mới nhất. Danh sách đầu tiên được công bố năm 1961. Các Nhà thờ này hầu hết do các Thừa sai xây theo kiểu Gothique hoặc Roman từ 1890-1930, hiện nay không thể bị phá bỏ.

Tang Guohua, Giáo sư kiến trúc và quy hoạch đô thị nói : "Việc nâng cao địa vị này cho thấy các công trình kiến trúc của Giáo Hội có giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay xã hội quan trọng" (Ucanews 18/6/2013 – Báo CG&DT số 1913, từ 28/6 – 4/7/2013, trang 25).

(còn tiếp)

Phụ Bản II

ĐÊM TRUNG THU

NHỚ TRĂNG HỒ GƯƠM

Bài hát “Thằng Cuội” của Lê Thương:

Mỗi năm, gần đến rằm tháng tám, khi nghe đâu đó câu hát:

- Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ

Là những tháng ngày xưa cũ cứ hiện về. Lúc nhỏ, rằm tháng tám, tôi hay nhìn vầng trăng tròn lung linh, thấy trên đó có một vệt đen như hình cây đa và dưới gốc đa chắc là chú Cuội đang ngồi nhớ về trần gian, nên mới có câu hát:

- Cuội ơi ta nói Cuội nghe, ở cung trăng mãi làm chi .

Mùa thu thường kèm những ngọt gió se se mát, thổi dịu dàng làm cho tâm hồn tuổi thơ như được chắp cánh lên không gian bao la.

- Gió không có nhà, gió bay muôn phương, biền biệt chẳng ngừng trên trời nước ta.

Câu hát nói về ngọn gió mùa thu mênh mông bay đi khắp nơi mà không biết cội nguồn của mình ở đâu. Vì thế:

- Lặng yên trăng gió bảo nhau, chị kia quê quán ở đâu?

Câu hát thật đơn giản, chân phương như lời nói của dân gian mà ta nghe đâu đó. Những đêm rằm tháng tám, trời quang đãng với ánh trăng sáng vằng vặc, được sống ở nông thôn yên ả, chắc ai cũng nghe được tiếng côn trùng đang tấu khúc nhạc đêm quen tai:

- Có con dế mèn suốt trong đêm thâu, hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ.

Lời hát ấy thật hay, tác giả đã dùng hình tượng con ve và cái kiến để đưa vào bài hát. Những con ve được thay bằng con dế hát xẩm (hát ăn xin) không lấy tiền nên ngàn đời vẫn nghèo. Nhưng công của dế nỉ non hàng đêm được đền bù bằng:

- Trời cho ánh sáng ngàn muôn.

Tuổi thơ của tôi cũng có những chiếc lồng đèn đủ màu sắc, có những đêm đi rước đèn quanh xóm. Trông xa, ánh sáng của bao chiếc đèn lồng như nhiều ánh sao trời lung linh xuống trần, thật đẹp. Ánh sáng ấy được ví von:

- Sáng rơi xuống đồi, sáng leo lên cây, sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống đây.

Tôi nghĩ nhạc sĩ Lê Thương sao quá tài tình khi nhân cách hóa ánh sáng của đèn lồng thành một hình tượng dễ thương, gần gũi với trẻ thơ đến thế:

- Lặng yên cho sáng nghỉ ngơi, cùng nhau ta hãy cười vui.

Ánh sáng dịu dàng hòa lẫn nhau làm thành một không gian như huyền ảo đầy thi vị của đêm Trung thu. Khi nào đi rước đèn đã mệt, hãy nhìn xuống đây nhìn lên bầu trời và ao ước:

- Muốn lên cung trăng, cứ hỏi ông trời cho mượn cái thang .

Mà cái thang luôn là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, vì thế người ta thường nói bắc thang lên hỏi ông trời... Thật thú vị khi nhạc sĩ đưa hình ảnh ấy vào bài hát. Cuối cùng, tác giả cũng gợi lại niềm vui cho trẻ thơ:

- Mười lăm tháng tám trời cho, một ông trăng sáng thật to.

Ở Trung Quốc, Trung Thu có xuất xứ từ thời nhà Đường. Hình ảnh Hằng Nga, thỏ ngọc là tiêu biểu cho đêm Trung Thu. Nhưng ở Việt Nam, hình ảnh chú Cuội là một nhân vật tiêu biểu cho ngày Tết Thiếu nhi. Nó mang ý nghĩa giáo dục thật độc đáo, nhắc nhở trẻ em không được nói dối, không được lười biếng như Cuội.

Bài hát Thằng Cuội của nhạc sĩ Lê Thương đã đi theo nhiều thế hệ, gợi nhớ bao kỷ niệm tuổi thơ. Bài hát ấy như một bài đồng dao với lời lẽ giản dị mà súc tích, mang tính khái quát cao, gần gũi với tâm hồn trẻ thơ, khơi gợi sự liên tưởng phong phú qua hình ảnh thằng Cuội. Cấu trúc âm nhạc cũng đơn giản ở thể loại hai đoạn đơn, nên rất dễ nhớ và dễ hát. Mỗi năm, vào dịp Trung Thu, khi nghe bài hát này, lòng tôi luôn dâng tràn một niềm cảm xúc dù tuổi thơ qua rất lâu rồi.

Bây giờ trẻ em đã khác rất nhiều. Có em suốt ngày bù đầu vào việc học, ánh điện muôn màu xóa mất ánh trăng thanh. Có em, có khi chưa bao giờ ngắm một đêm trăng sáng, nhất là các em ở đô thị. Tuổi thơ bây giờ nhìn trăng rằm cũng không có sự liên tưởng đầy thi vị như ngày xưa. Những chiếc lồng đèn giấy được thay bằng những chiếc lồng đèn bằng mủ chạy pin, phát ra điệu nhạc vô cảm, không ý nghĩa. Những chiếc lồng đèn giấy hình như chỉ dành cho con nhà nghèo? Tuổi thơ các em dần dần sẽ trống rỗng trong ngày Trung Thu. Và rồi các em sẽ ít được nghe những bài hát hay: Tết Trung thu rước đèn đi chơi... hoặc Bóng trăng trắng ngà...

Ca khúc “Chú Cuội và Hằng Nga” của Phạm Duy

Trăng soi sáng ngời

Treo trên biển trời

Tình ơi.

Một đàn con trai

Rủ đàn con gái

Ra ngồi nhìn trăng

Ra nghe chú cuội

Ngồi gốc cây đa

Cuội ơi.

Để trâu ăn lúa

Nhìn mây theo gió

Miệng ca bồi hồi.

Ta yêu cô Hằng

Đêm xưa xuống trần

Nàng ơi.

Nàng về dương gian

Tìm người nuôi nấng

Cung đàn Hằng Nga

Xin đôi cánh vàng

Mượn chiếu mây non

Cuội ơi.

Cuội theo ánh sáng

Cuội lên cung vắng

Cuội không về làng.

Ánh trăng vàng bên người đẹp yêu chồng

Khúc nghê thường quên đường về dương gian

Ánh trăng vàng kìa là ánh trăng vàng

Đời dương thế có người trong đêm tối

Chờ sao chiếu mối tình của Hằng Nga

Đời đời mọc trăng tơ sáng loáng.

Trăng soi tóc thề

Đưa trai gái về

Tình ơi.

Nửa đường thôn quê

Gặp đàn em bé

Hát vè một câu

Câu thơ chú Cuội

Mà lấy tiên nga

Cuội ơi.

Để Trâu ăn lúa

Ngồi trên lưng gió

Tình yêu mặn mà.

Chú Cuội là một hình ảnh trên Mặt Trăng do người xưa và các em nhỏ nghĩ ra, dựa trên một truyền thuyết " C hú Cuội ngồi gốc cây đa " được mọi người nhắc đến trong ngày Rằm tháng Tám . Lúc trăng tròn, những chỗ lõm của Mặt Trăng được nhìn thấy có hình dạng nối liền giống như một cây đa nên câu chuyện này ngày càng dược mọi người biết đến với những hình ảnh đó. Trong ngày Trung Thu , chú Cuội và chị Hằng là hai nhân vật chính mà các em nhỏ quan tâm tới.

Lê Ngọc Trụ , ( Giáo sư ngôn ngữ học Việt Nam) cho rằng chữ "Cuội" có gốc Hán-Việt là chữ "Quải". Chữ "Quải" ( từ điển Thiều Chửu ) hoặc "Quảy" (từ điển của Đào Duy Anh ) có nghĩa là "lừa dối, dụ dỗ người khác mua hàng", "bắt con nít đem bán ( mẹ mìn )".

T ục ngữ :

Nói dối như Cuội

Ca dao :

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa ,

Để trâu ăn lúa , gọi cha ời ời.

Cha còn cắt cỏ trên trời ,

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên .

Ông thời cầm bút cầm nghiên ,

Ông thời cầm tiền đi chuộc lá đa

Thơ c a

"Muốn làm thằng Cuội"

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi

Trần thế em nay chán nửa rồi

Cung quế đã ai ngồi đó chửa

Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Có bầu có bạn can chi tủi

Cùng gió cùng mây thế mới vui

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Tản Đà

Ca khúc “Thương quá Việt Nam” của Phạm Thế Mỹ

Trăng sáng ngời trên môi hoa.

Trăng lên tiếng hát vui đêm già

Trăng sáng ngời trên non xa.

Trăng xua bóng tối trong hồn ta.

Sáng lên Trăng, sáng lên Trăng.

Sáng cho người tìm về bên nhau

Sáng lên Trăng, sáng lên Trăng…

Sáng cho tình người nở đêm sâu.

Không chói lòa như mặt trời, không xa xăm như những vì sao, là hành tinh phản chiếu ánh sáng của vầng thái dương, Mặt Trăng mang bản thể âm, đã phát tỏa một diện mạo của sự hiền hòa, hấp dẫn, chuyển hóa huyền ảo.

Mặt Trăng đã cho nhân loại từ thơ ấu nguyên thủy đến văn minh tha hồ ngắm nghía, gửi gấm, phóng chiếu tưởng tượng và thêu dệt huyền thoại. Chỉ với vài vết loang mờ đen trên mặt Trăng, mà con người ở những chỗ đứng khác nhau trên địa cầu, đã nghĩ ra những hình ảnh đầy phong phú. Người Tầu xưa đã vẽ lên mặt Trăng một huyền thoại Hằng Nga bay về trời cùng hình ảnh con thỏ ngọc nghiền thuốc trường sinh

Còn chúng ta, những cư dân văn minh Thần Nông Việt Nam chân chất, chung tình nhìn lên mặt Trăng và kể với nhau về chú Cuội và cây đa có lá chữa bệnh, giúp con người trường sinh… Mỗi nền văn minh, mỗi dân tộc ngay từ thời thơ ấu lịch sử của mình đã đăng ký với mặt Trăng một tác quyền riêng, dù là truyền khẩu.

Đêm Trung thu nhớ Trăng hồ Gươm, Hà Nội:

Thời thơ ấu, người viết thuộc nhất là bài hát:

Đêm Trung thu là Trăng Việt Nam tươi mới

Đêm Trung thu đèn sao, cờ bay phấp phới

Tiếng trống khắp nơi, câu ca vang trời

Ấy Tết Thiếu nhi, là muôn người múa vui tươi!

Đã hơn 60 năm, hồi ấy Bà ngoại thường tụ tập con cháu trước sân nhà, nằm cạnh một cái ao lớn ở quê Pháp Vân, Thanh Trì (trước đây là Hà Đông, nay là Hà Nội) gió vi vu thổi cùng với hơi nước bay lên rất mát mẻ, Bà phân phát bánh Trung thu, rồi kể chuyện cổ tích chú Cuội ngồi gốc cây đa, chuyện Hằng Nga, khiến lũ nhỏ chúng tôi mê tít thò lò.

Giờ đây, mỗi năm tới mùa Trung thu - Tết trông Trăng của trẻ em, người viết nhớ lại hình ảnh như hiển hiện trước mắt: học sinh của trường Nguyễn Du xếp hàng đi rước đèn xung quanh hồ Gươm, nhớ lại, cảnh tượng ánh đèn giấy bóng kính màu sặc sỡ, lung linh đi quanh hồ như một con Rồng dài, đẹp ơi là đẹp. Lòng bỗng nhớ Trăng hồ Gươm thật là da diết!

Hiện nay, trẻ em thích hát bài ca sau đây:

Tết Trung thu rước đèn đi chơi

Em rước đèn đi khắp phố phường

Lòng vui sướng với đèn trong tay

Em múa ca trong Ánh Trăng rằm

Đèn ông sao với đèn cá chép

Đèn thiên nga với đèn bươm bướm…

Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu.

NHỮNG CUỘC THÁM HIỂM LÊN MẶT TRĂNG

02/01/1959: Liên Xô phóng thành công tàu thăm dò Mặt Trăng Luna-1:

Luna-1 là tàu vũ trụ không người lái thứ 4 thuộc chương trình Luna khám phá Mặt Trăng của Liên Xô. Trước Luna-1, Liên Xô đã phóng 3 tàu vũ trụ khác trong năm 1958 (Luna-1958A, Luna-1958B và Luna-1958C) nhưng đều gặp sự cố, các tên lửa đẩy đã phát nổ chỉ trong vòng vài phút sau khi rời mặt đất, chưa kịp thoát ra khỏi bầu khí quyển.

Luna-1 có dạng hình cầu, khối lượng vào khoảng 361 kg, được phóng lên bằng tên lửa Vostok. Vào ngày 4/1/1959, Luna 1 bay qua (fly by) Mặt Trăng với khoảng cách 5995 km. Tuy nhiên, do lỗi điều khiển từ Mặt Đất, Luna-1 đã không «đâm xuống» (impact) Mặt Trăng theo như kế hoạch mà tiếp tục chuyển động trên một quỹ đạo hành tinh giữa Trái Đất và Sao Hỏa.

Luna 1 đã thu thập thêm số liệu về vành đai Van Allen, phát hiện Mặt Trăng không hề có từ trường, là thiết bị đầu tiên đo được gió Mặt Trời.

Luna-1 là vật thể nhân tạo đầu tiên đạt được vận tốc vũ trụ cấp 2, là tàu thăm dò không người lái đầu tiên tiếp cận Mặt Trăng và là hành tinh nhân tạo đầu tiên của hệ Mặt Trời.

21/07/1969: người Mỹ đầu tiên bước lên Mặt Trăng với Appolo 11:

Trong khi các tàu thám hiểm không người lái của Liên Xô đã lên tới Mặt Trăng trước bất k ỳ tàu nào của Hoa Kỳ, người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên bước trên bề mặt của Mặt Trăng vào 21 tháng 7 năm 1969 , sau khi hạ cánh ngày hôm trước đó. Chỉ huy trưởng của phi vụ Apollo 11 , Armstrong nhận sự trợ giúp của phi công module chỉ huy Michael Collins và phi công module Mặt Trăng Buzz Aldrin trong một sự kiện được theo dõi bởi 500 triệu người khắp thế giới. Những bình luận viên xã hội đều công nhận hạ cánh lên Mặt Trăng là một trong những khoảnh khắc định hình của thế k ỷ 20, và lời của Armstrong khi đầu tiên bước lên Mặt Trăng đã được ghi vào lịch sử: "Đây là bước chân nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại" .

Con người đã bước lên mặt Trăng. Chính thông qua những cuộc chinh phục ngoại giới vô tận, vũ trụ con người mở mang cõi nội giới sâu thẳm của mình, để mình được là mình, mình hiểu mình hơn.

TÓM TẮT

Trẻ em ở thành phố Việt Nam thiếu hẳn thứ quan trọng nhất: ông Trăng. Trăng thành phố chịu lép vế dưới ánh điện nên vô vị lắm. Cứ mờ mờ nhàn nhạt, dường có dường không. Nhưng Tuổi thơ người viết được may mắn sống ở thành phố Hà Nội, tuy Trăng nhàn nhạt, nhưng an ủi là nhờ có hồ Hoàn Kiếm cây xanh tươi mát bao quanh hồ, lại học trường Nguyễn Du (nay là Hàng Vôi) tọa lạc ở gần hồ, nên có biết bao kỷ niệm về Trăng Trung Thu: học sinh trường Nguyễn Du rước đèn vòng quanh hồ Gươm –một lẵng hoa của Trái tim đất nước Rồng Tiên…

“Một con người vĩ đại là người không đánh mất Trái tim của Trẻ con”( James Legge).

“Trái tim tôi hiến dâng cho Trẻ em” (Sukhomlinsky, nhà giáo dục Nga)

Vì thế, Trăng Thu không chỉ là duyên cớ cho những cảm xúc tâm hồn, mà trở thành biểu tượng cho sự hồn nhiên trong sáng, cho thế giới Thần tiên thơ trẻ, cho Nụ cười hạnh phúc rạng ấm Nụ hôn gương mặt Mẹ - Mặt Trăng…

PHẠM VŨ

(Tham khảo: Tài liệu trên Sách báo và Internet)

Dòng Thu

Heo may thoảng nhẹ: thu sang

Lá bay lả tả, lang thang mây lồng

Cúc vàng lác đác đơm bông

Lối xưa phố vắng, bến sông… hững hờ

Dòng thu tím ngắt, đợi chờ

Tình ta là những vần thơ lỡ làng

Tình ơi, tình đã sang ngang

Ánh trăng bàng bạc võ vàng cùng thu

XUÂN VÂN

HOA ĐÁ TÌNH YÊU


Em biết tình em rất dại khờ

Mảnh tình yêu dấu cứ ngu ngơ

Nhủ lòng, thôi nhé đừng mong nhớ

Thu đến, thu đi sao mãi chờ

Vẫn biết tình là một giấc mơ

Cùng Anh trong mộng dệt vần thơ

Hát khúc nhạc tình ca âu yếm

Trải tình bên gấm vóc nhung tơ...

Tình em hoá đá, khối tình mơ

Đá nở ngàn hoa, biếc nhụy chờ

Đợi anh em đợi, hoài trong mộng

Kết duyên tơ tóc, mối tình thơ

Anh hỡi dòng đời có nổi trôi

Lụa là tình mộng dẫu phai phôi

Tình em - Mộng vẫn còn nguyên mới

Đón chờ Anh - tặng đóa Xuân ngời...


Phạm Thị Minh-Hưng 

TRĂNG MƠ

Ánh trăng vằng vặc lung linh
Ánh vàng ảo mộng, cõi tình chơi vơi
Gió bay nhẹ lá vàng rơi
Mơ màng ngỡ bước chân ai qua mành

Tình ơi, biết có còn xanh
Xanh màu ước hẹn mong manh thuở nào
Tình trang vở mới ngọt ngào
Mơ màng áo trắng, chiêm bao một thời

Trăng vàng, vẫn ánh trăng ngời
Tìm đâu bóng dáng xa khơi, ngậm ngùi
Vấn vương chi nữa, ơi người!
Bên trăng một bóng, lẻ loi, bẽ bàng...

Xa rồi tháng mộng ngày vàng
Còn chăng kỷ niệm, muộn màng, hư vô
Hồn trăng lạc bước vào thơ
Gởi bao nỗi nhớ bên bờ dở dang

Tiếng đàn ai, khúc thở than

Xanh xao giấc mộng, canh tàn, hồ mơ.

Phạm Thị Minh-Hưng

29/3/2013 



VỊNH THÚY KIỀU


Sắc tài bạc mệnh nỗi đầy vơi

Như cánh chim côi cánh rã rời

Mỏi tiếng kêu sương, sương chắn lối

Buồn tình gọi gió, gió đưa khơi

Tri âm mấy lượt, tri âm hận

Khắc nghiệt dai dằng, khắc nghiệt chơi

Nhẹ dạ tin người, người phản trắc

Tiền Đường dun rủi gặp cơ ngơi


Bèo trôi, bọt nổi cuốn theo dòng

Bạc mệnh nhờ Trời vẫn đoái trông

Trách gã Sở Khanh bôi mặt trắng

Khen chàng Họ Thúc cứu môi hồng

Hoạn Thư ghen gió, tuông nắng hạ

Từ Hải mở lòng, sưởi tuyết đông

Chấm dứt Tiền Đường cơn hoạn nạn

Cao xanh kết nối đẹp đôi lòng

THANH CHÂU

Tiến Tới Tương Lai

Việt Nam đất mẹ của ta

Non sông cẩm tú bài ca hữu tình

Việt Nam – tạo hóa công trình

Biển ôm ấp núi có mình có ta

Núi cao biển rông bao la

Anh đưa em về đây

Xóa đi từ nay

Những căn nhà ổ chuột

Cơ hội đổi đời và tình yêu tha thiết

Anh đưa em về đây

Chung sức dựng xây

Ước mơ bao ngày, đất nước mạnh giàu

Sự nghiệp vinh quang

Trí tuệ Việt Nam

Ta biết làm giàu cho mình cho tổ quốc

Cống hiến sự hồi sinh chuyển mình đất nước

Chúng ta về đây

Dựng xây công trình mới

Tàu Việt Nam

tiến tới tương lai

LÊ MINH CHỬ


Tình khúc giao mùa 1


Người nào có nói gì đâu

Sao ta bỗng thấy bể dâu rã rời

Bến tình xa ngút ngàn khơi

Thuyền thơ lẻ bóng bên trời chiêm bao

Bâng khuâng cay đắng ngọt ngào

Đời hai lối rẽ dạt dào cách ngăn

Diệu kỳ diễm tuyệt như trăng

Vẫn loi lẻ - vẫn giá băng một mình

Người mơ hoa quý cung đình

Nên hờ hững với nụ Quỳnh đơn sơ

Người theo đài các phỉnh phờ

Riêng ta – một túp lều thơ chân thành

Mộng xưa – dòng suối mái tranh

Đôi tim bình dị trong lành ấm êm

Ngậm ngùi nhặt cánh sao đêm

Ghép tên người ấy bên thềm rêu xanh

Nhựa non nuôi lá trên cành

Gió thu lay động bức mành tương tư

Thủy chung Phạm Thái Quỳnh Như

Mặn nồng son sắt thiên thư cạn lời

Đầu ghềnh cuối bãi chơi vơi

Cánh buồm nâu khẽ buông lơi nét sầu

Cõi trần vạn dặm về đâu

Thênh thang chùng bước qua cầu ngẩn ngơ

“Trăm năm dù lỗi hẹn hò”

Mảnh tim câm lặng – bơ vơ chuông chùa

Long lanh tình khúc giao mùa

Quạnh hiu ngọn cỏ - gió đùa hương thu

NGÀN PHƯƠNG


Tình khúc giao mùa 2


Trái tim bừng ánh lửa hồng

Xua tan bóng tối mênh mông vĩnh hằng

Xua tan phiền muộn giá băng

Bất ngờ gặp lại vầng trăng hẹn hò


Hàng cây ngơ ngác đợi chờ

Nụ hoa e ấp – duyên thơ ngỡ ngàng

Hình như gió chớm đông sang

Hình như suối đổ mơ màng xa xôi


Tìm về ngày tháng êm trôi

Bến lòng gơn sóng bồi hồi xôn xao

Đi qua cay đắng ngọt ngào

Mới hay đời vẫn dạt dào nghĩa nhân


Lắng trầm – thao thức – bâng khuâng

Ôm choàng kỷ niệm – mùa Xuân tuyệt vời

Bỗng nhiên âm hưởng đất trời

Đong đầy ánh mắt – nụ cười tri âm

NGÀN PHƯƠNG


MỘT NGÀY QUA


Lên chùa một sáng cuối mùa đông

Tìm chốn thanh – u sưởi ấm lòng

Ghé quán bên đường xơi chén nước

Rồi về bên suối bước thong dong


Đối cảnh sinh tình nẩy ý thơ

Ngàn hoa đua nở, liễu buông tơ

Sơn ca bay bổng tưng bừng hót

Uốn khúc dòng trong chảy lững lờ


Lưng đèo, ngồi dưới bóng cây xanh

Khép nhẹ bờ mi, đón mộng lành

Mộng thấy hoa tươi rồi chợt héo

Biến thành con bướm trắng mong manh


Bướm bay, bay tận tít mù xa

Trong bóng chiều rơi, nắng nhạt nhòa

Chân bước đi nghe lòng bịn rịn

Thương hoài hình bóng một ngày qua

THANH PHONG



BỐI RỐI MÙA ĐÔNG

“Bờ sông bên lở, bên bồi,

Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm”

Ca dao

Rời bên bồi, chở vợ con xuôi biển

Trời âm u, lạnh buốt gió chiều đông.

Em bên lở gọi thuyền… nghèn nghẹn

Anh nhìn em… lửa đốt trong lòng!


Thuyền cứ đi chăng, có ghé bờ không?

Anh day dứt như một người mắc tội!

Con nước xoáy, mái chèo khua bối rối,

Bên lở, bên bồi chung một dòng sông…

Vũng Tàu, 26.1.1999

VŨ ĐÌNH HUY

PUZZLED WINTER

“One riverside is crumbling, the other one is embanking with deposits

The crumbling side is constantly crumbling, the embanking side continues to embank”

Folksong

Leaving the embanking side and ferrying wife and children downward to the sea

The sky was gloomy and so cold was the winter evening wind

On the crumbling side, You called the boat… with a choky voice

I looked at You… while a fire was burning in my heart!

Were the boat to continue to sail, will it berth?

I was smitten with remorse, like someone who was guilty!

The tide whirled, the oar beat puzzledly

The crumbling side and the embanking side shared a same river…

Vũng Tàu, 26.1.1999

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN

TÀU ĐI TRONG HOÀNG HÔN

Phía Tây sáng áng mây hồng,

Trước tàu, trăng nõn bềnh bồng đằng Đông.

Trời xanh trong, biển mênh mông,

Tàu đi mê mải dù không thấy bờ…

Trên biển Đông, 31.01.1999

VŨ ĐÌNH HUY

THE BOAT SAILING IN THE SUNSET

The Western side was illuminated by rosy clouds

In front of the boat, the new moon was bobbing in the Eastern direction.

Clear was the blue sky, and immense was the sea,

Though not seeing the shore, the boat sailed engrossedly…

On the Eastern sea, 31.01.1999

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN

PHẬN GIÀ!


Như chiến mã thải hồi, đầy thương tích

Nằm phì phò nhớ quá khứ liệt oanh!

Như ghe hỏng, nằm phơi trên bờ cát

Nhớ năm xưa nơi biển cả tung hoành!


Ta bây giờ, thân già vô khối bệnh

Sáng, trưa, chiều, ba cữ thuốc thay cơm!

Con tim nhỏ mấy mươi năm loạn nhịp

Giờ phập phù, thiếu thuốc trợ, không xong!


Yêu ư? Đã bao nhiêu lần chưa tởn?

Nhớ thương ư? Ai đâu nữa mà chờ!

Chân chồn bước, đường tình đi đã mỏi

Đành ngồi ôn dĩ vãng để hoài mơ!


Tâm Nguyện


Bồi Hồi


Ngày tháng cứ vợi đi trong ngăn tủ cuộc đời.

Ta ngẫm nghĩ về ngày xưa bé lắm:

Bút lá tre để mẹ ngày thêm bận.

Giặt cho ta chiếc áo đầy vết mực học trò.


Ngày tháng cứ qua đi với chán vạn chuyện xưa.

Ông nội dắt cháu trai ra xem tàu hỏa.

Ba đi lính về mua quà cho con ăn ứ hự.

Giờ nội còn đâu, và ba đã mỏi gối rồi.


Ngày tháng chẳng xua đi hình ảnh mẹ miệt mài.

Khom lưng gánh hàng rong nuôi bầy con khôn lớn.

Con lớn khôn, mẹ đời thêm chộn rộn.

Nay mẹ già, mà ta chưa chăm chút mẹ dẫu một hôm!


Ngày tháng thoi đưa, ta đã biết giận hờn;

Biết nói dối, thỉnh thoảng còn phì phà ngọn khói.

Biết nhớ nhung, biết buồn đau vời vợi,

Mỗi mùa hè là phượng khóc tràn tim.


Ngày tháng theo tờ lịch trôi, ta nhớ đã dõi mắt nhìn

Kia hình bóng ai về ngang sân nắng.

Người chộn rộn mà lòng ta trống vắng.

Nhớ nhung, và nhung nhớ tiếp nối những đoạn đời.


Ngày tháng mưa rơi, ngày tháng có lúc buông trôi.

Đã có lúc ta mặc cho gió đời đưa phận số.

Rồi trong đêm thâu, nhiều lần ta tỉnh ngộ

Để đứng lên, quả quyết đi trong zíc zắc cuộc đời.


Ngày tháng đong đưa nhưng chiếc bánh vẫn mãi xuôi

Vầng nhăn trán chỉ là vì mặt trời luôn đổ lửa.

Tóc bạc màu mà nhiều đêm còn bỡ ngỡ

Nhớ đến kỷ niệm ngày nào đã chắp cánh bay xa.


Ngày tháng phong rêu theo ánh nắng chiều tà

Ta muốn tìm lại ngày nao miệt mài sách sử

Ta nhớ đã từng rong chơi, mồ hôi tràn hơi thở.

Ngắm mãi trời xanh và ước vọng không cùng.


Ngày tháng ơi, ta biết mi là gã ân cần

Nhưng hãy tạm dừng cho ta xuống xe đời, ngoái lại

Tìm lũ bạn xưa, đây tâm hồn thư thái

Huýt gió những bài ca dạo ấy, mãi còn vương…

LAM TRẦN 24.06.2013

ĐÁM CƯỚI MIỆT VƯỜN

Vượt gần 200km, nếu không có cái đám cưới của người bà con thì có lẽ chuyến đi chả có gì bổ ích. Chiếc xe lắm khi phải chạy với tốc độ của rùa để khỏi bị phạt vì chạy quá tốc độ quy định, dẫu trước và sau nó, chẳng có chiếc xe khách nào đồng hành. Có chăng là thỉnh thoảng vài chiếc xe gắn máy phóng như bay, trên lưng cõng theo những chàng trai có khi trần trùng trục, đầu chắc cứng như kim cương nên cần gì phải nón mũ cho bớt phần yêng hùng xa lộ.

Thỉnh thoảng, trải dài men vệ đường là thảm cúc dại xanh xanh vàng vàng ngút mắt. Những cánh lá và những nụ hoa dễ thương dán sát xuống mặt đất tựa hồ tấm nệm êm ái và dễ thương. Chà! Êm mà nóng bà cố thì có. Nhìn kìa, trời trong vắt, ánh mặt trời ngoài ô cửa rõ ràng đang vắt kiệt cái toan tính ngừng lại đôi phút để ghi vào ống kính những khung cảnh bao la của đất trời, những trụ điện cao ngất ngưởng máng trên vai chằng chịt những dây với nhợ; hay hình ảnh chú bò đang trề cái môi ra chê bai đoàn người ngồi trên xe:

- Các ngài ơi!

Xem ta đây, ta cần gì điện với đóm,

Ta mong chi máy lạnh máy nóng linh tinh,

Ta cứ tự do lưng tưng trên bãi cỏ,

Thậm chí ta có thể tự do… thả bom tùy thích.

Bò..ò..ò..ò..ò…

Xe bắt đầu vào nơi cần đến. Những nụ cười hiện ra từ xa. Dân thành phố về chơi cũng hân hạnh lắm chứ bộ. Mọi người xuống xe, vài người vươn vai, kẻ khác than chân tê rần, có người té cái oạch vì dẫm phải bờ ổ gà trơn trượt những đất đỏ và nước mưa đọng lại từ hôm qua. Người té xuýt xoa, người chẳng té bụm miệng cười, người nhà quê chắc nghĩ thầm trong bụng: Hân hạnh đón chào các bác thành đô, coi chừng té nữa mấy cha, hết quần áo về đí nhá.

Tắm rửa sơ sơ, vừa kịp nhìn thấy vườn cao su ngay hàng thẳng lối, những cây mít cao nghệu đính đầy trái xù xì mà hấp dẫn. Trên kia, thằng tắc kè từ cành cao nheo nheo con mắt nhìn đoàn áo xanh áo đỏ cứ loay hoay qua lại trong vườn, cho tới khi cô nàng nào đó thất thanh, ú ớ úi ui ùi, con… sâu và ù té chạy, trên tóc còn vương một đoạn tơ mà thằng con nhà sâu tinh nghịch vừa đu xuống. Thằng tắc kè chóp chép cái miệng: “Nhát… khè! Mắc… tè!”. Và lẩn mất.

Đoàn người đi hỏi vợ cho thằng cháu lại lên xe, cũng có xe hoa dẫn đường, chạy loanh quanh qua những mộc mạc miền quê, rồi thả mọi người xuống đầu cái hẻm be bé. Hàng ngũ chả lấy làm tề chỉnh gì lắm cũng lọ mọ theo con dốc xuống nhà gái. Nhà đã đông người, mùi nắng đã chín trên từng tấm tole, mùi nước hoa của các bà các cô hòa cùng mùi thức ăn, trộn lẫn với những chộn rộn chuẩn bị cho một bữa tiệc vui, làm người ta quên đi căn nhà đơn sơ, chẳng bày biện gì, vì đã có lũ nhện mạn phép giăng tơ khắp khắp. Rồi kinh kệ, rồi chúc tụng, rồi mời mọc nối nhau diễn ra, mặc cho cái gay gắt của mùa hạ, mặc cho ánh lửa bếp gas đang loay hoay dưới đít nồi… Mọi người rất vui vẻ cụng ly và nói lên bao ngôn từ ưng ý nhất. Lẽ dĩ nhiên, cô dâu là người vui nhất. Cô đã một đời chồng, cô có một đứa con, rồi chồng cô bị tử thần quyến rũ mà về miền đất lạnh. Em chồng cô cũng lên bàn thờ với anh mình cho có cặp. Cô ở với cha mẹ chồng. Rồi cô gặp cháu vợ tôi, đã 40 mươi mùa xuân trôi qua mà không để ý đến ai ngoại trừ nàng tiên nâu. Ông anh tôi đưa chàng về quê để tìm cách cho cu cậu bái bai nàng tiên quái quỷ. Và bẫy tình ụp lên đôi trai gái này. Bố mẹ chồng cô dâu gả con dâu cho anh chàng đã nửa đời phóng đãng, với cả trời yêu thương và lo liệu. Thế là cô dâu có tới 2 bố mẹ chồng, mà ông bà nào cũng đều hỉ hả. Bọn tôi cũng vui không kém. Riêng tôi thì chúc cho “đôi trẻ” hạnh phúc hoài hoài, tôi tránh chữ răng long đầu bạc vì thằng cháu tôi răng đã long kha khá và mái tóc cũng đã có sợi trắng sợi mềm rồi. Nó mà cười thì chán lắm các bác ạ!

Rồi lại về với cái vườn có gã tắc kè hồi nãy. Mấy trự thanh niên lại khề khà với mấy lon bia, không quên đưa bằng cả 2 tay mời bọn thành phố chúng tôi:

- Dạ, con mời mấy chú mấy bác…

Bọn tôi uống chiếu lệ rồi bỏ áo ra, đi lòng vòng quanh vườn xem cây cỏ, thăm mấy con gà. Mấy chú chó vườn có vẻ hiền, chả sủa gì ráo trọi. Đàng sau vuông tường gạch là cục nóng của cái máy lạnh. Chà! Nhà quê tiến bộ ghê ta. Lò mò đi ngang căn phòng chắc là phòng tân hôn, thấy có cái giường gỗ trải nệm, trên cao mắc sẵn cái mùng vén lên còn mới tinh. À! chắc cái máy lạnh là để cho căn phòng đặc biệt này. Hèn nào, lúc nãy, cô bé con con hồn nhiên nói với tôi:

- Ông ngủ ở đâu vậy? Ông đừng ngủ dưới đất kẻo có con rít cắn đó. Bữa trước em con bị con rít cắn đau lắm.

Hên quá, ông anh tôi lôi cả bọn ra ngoài nhà xây gần đường lớn, khỏi sợ rít với chẳng rết, bỏ lại mấy chú thanh niên hì hục hái mít đặng mai có cái làm quà cho dân thành phố.

Đêm đó cúp điện. Nhà này chịu chơi, mấy thằng cháu xách xe chạy như bay ra chợ đâu đó mua xăng về để tối còn ăn nhậu và văn nghệ văn gừng cho có khí thế, mai còn đón dâu nữa. Chủ nhà sai con rể đầu hạ nguyên con heo tại chỗ, rồi khi trời đã sẩm tối, khi nhà đèn cúp không còn chút điện nào cho dân thành phố biết thế nào là tối tăm mù mịt, thì máy phát điện đã xình xịch phun ra những tia sáng, dàn máy ca nhạc cũng ráng khởi động để dựng lên chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn đã hoạch định từ lâu cho dân thành phố biết tay. Nhưng máy quá tải, và chương trình chỉ còn nhậu cho đã đời. Rượu vào lời ra, thế là có bịch nhau í ới một lúc, có kẻ ôm mặt máu thất thểu lấy xe ra về, miệng lầu bầu:

- Mẹ! tao có làm gì mà mày đánh tao.

Chẳng có ai trả lời trả vốn, chỉ có tiếng can:

- Thôi về đi, tại mày ăn nói bậy bạ mà ra.

Anh chàng lại lầu bầu cái gì đó, ẽo ọt một lát rồi cũng nổ máy xe… Vườn kế bên có quán cà phê, cũng đèn xanh đèn đỏ, có cả mấy túp lều… lý tưởng nữa chứ. Ông chủ nhà, là bạn của bố chú rể rung rung cái đùi:

- Trời đất, nói thiệt mấy anh, tại máy điện không đủ chớ không đêm nay, thanh niên ở đây sẽ tụ họp hát hò tới sáng luôn.

Hôm sau rước dâu, cũng cái ngõ ấy. Bữa nay thêm cái đám cưới nữa sát nhà cô dâu làm mắc cười cho ai đó đi lộn đám. Mọi người nhìn nhau cười vui. Rồi dưới cái nóng bỏng da, cô dâu chú rể cùng đoàn tùy tùng lại vòng vèo trên xe đi cả 20km, rồi lễ gia tiên, rồi lại lên xe, đến nơi đãi tiệc. Điện cúp tới tối mới có. Cái máy phát hôm qua đã được chỉnh sửa sao đó mà 5, 6 cái loa đã phát ra những âm thanh ồn ào của đám tiệc, tiếng MC miệng trơn như bôi mỡ, cây organ đã ráp vào giàn máy, cây guitar cũng đã tháp tùng một cách mạnh mẽ, và các ca sỉ ca lẻ lại tiếp nhau trong cái nóng của mùa hè, dưới những cái rạp chật ních người. Chả thua gì thành phố!

Rồi chúng tôi trở về nơi đã ra đi từ tinh mơ hôm qua. Mọi người bình phẩm về cuộc vui. Sau chừng 20 phút ồn ào, cả xe chỉ còn tôi và tài xế căng mắt nhìn con đường đang lất phất những bụi mưa. Chủ nhà còn thân ái cho chúng tôi mỗi người ít quà mang về: Mít, hạt điều… và cả gà sống nữa. Mít thì nằm im phả hương thơm lừng. Lũ gà quang quác như hét lên: “Thả tao ra, thả tao ra”. Thôi được rồi! Lát nữa người ta sẽ thả tụi bay vô nồi liền! Đừng sốt ruột như thế nhé!

LAM TRẦN 21.05.2013

MỘT BÀI VIẾT RẤT ÍT NGƯỜI BIẾT

CỦA THIÊN HƯ (Vũ Trọng Phụng)

ĐÃ ĐƯỢC VIẾT 79 NĂM TRƯỚC

ÔNG ĐỪNG LẦM

Tôi quen họ là vì một chuyến xe ca đi Đồ-sơn. Trong ba tiếng đồng-hồ ngồi cạnh nách nhau chuyện trò, khi xuống xe, chúng tôi thấy như đã trở nên thân thiết. Bọn họ có ba người, một vợ, một chồng và một người bạn. Người vợ, đẹp nõn, gái mới, răng trắng như ngà, gọi chồng là anh, gọi bạn chồng cũng là anh, một cách nũng-nịu sưng “em” trước mặt cả hai. Họ cười nói với nhau rất tự-do, thân nhau ghê, xử với nhau như tây vậy. Trông cái cặp ba ấy, tôi sinh ra có lòng ngưỡng-mộ, tự nghĩ: “Nên thơ làm sao!”.

Nhưng mà người vợ dần dần thấy… tự do quá. Lả-lơi với chồng đã vậy, chứ có khi lại lả-lơi cả với bạn chồng. Tôi ngưỡng-mộ rồi tôi thất vọng!

Người chồng, theo ý tôi, phải là người mặc bộ âu-phục tím. Còn người bạn thì, âu-phục xanh. Không phải họ đã tự giới-thiệu rành-rọt thế đâu. Tôi thấy người thiếu-niên có bộ âu-phục tím đã tỏ ra nhiều bận tỏ ra cái vẻ… chồng. Vỗ vai nhau, phát yêu nhau, soa má nhau, những khi bộ âu-phục xanh chập-chờn nửa tỉnh nửa mê vì tiếng động-cơ chạy vo-vo của chiếc xe ca hay là bần-thần nhìn phong cảnh bên đường, mảng quên mất cái… phong cảnh ngay bên cạnh nách. Thoạt đầu, tôi nghĩ: Một cặp vợ chồng trai trẻ mà hôn nhau trước mặt một vài người bạn thiết thì càng tây, càng nên thơ chứ sao.

Sự bất ngờ là khi ra bãi bể rồi, sau một tảng đá, tôi bắt được quả tang nàng (sao lại chẳng gọi là nàng!). Nàng hôn trộm bạn chàng, nghĩa là người có bộ âu-phục xanh. Bộ âu-phục tím lúc ấy đương lúi-húi tìm… ta cứ tạm cho là tìm một cái vỏ sò, sau một tảng đá khác. Tôi, cái người đã tỏ lòng kính-phục một cuộc đời tân-tiến nhưng ngây thơ vô tội của họ, tôi, người muốn trên đời này chỉ toàn những cảnh nên thơ, tôi rất bất bình. Chẳng là người chồng, mình cũng muốn phát điên. Tôi đau đớn như kẻ bị lừa, bứt-rứt như người bị mất cắp.

Quá nữa, sự phẫn-uất của tôi, tôi không cho là vô lý tý nào cả. Là người ngoại cuộc, tôi có thể thản-nhiên trước mọi tai-biến của người khác được, nếu tôi đã chỉ nhìn những cử-chỉ tân-tiến của họ bằng cặp mắt thản-nhiên. Khốn nỗi trước tôi đã ngưỡng-mộ họ một cách chân thật làm sao! Tôi có phép coi tôi cũng như chính kẻ bị vợ lừa là vì thế.

Hai nữa, các ngài chưa biết rằng bộ âu-phục tím đã tỏ ra ý tin cậy tôi biết bao. Mặc lòng chỉ mới quen nhau, chàng đã tiếp tôi bằng cái sự đầm-ấm của một gian phòng riêng cho sự yêu-đương của những cặp vợ-chồng. Các ngài thử tưởng-tượng ra xem… Buổi chiều ấy, khi sang phòng bên cạnh, định rủ họ ra bãi biển, tôi đứng ngoài cánh cửa gõ mấy tiếng và xưng danh lên, tức thì từ bên trong có tiếng vẳng ra: “Bác cứ vào! Chỗ anh em mình, ta cứ tự nhiên!”.

Tôi đẩy cửa bước vào… Ôi! Một cảnh nên thơ và đẹp mắt! Cả hai vợ chồng đang ôm ấp nhau trên cái giường tây. Chàng để nàng gối đầu vào cánh tay nhưng tay khác, có lẽ muốn cho khỏi thiệt, cũng để lên một bên ngực nàng. Lúc đó nàng vẫn thiêm-thiếp giấc nồng mà một bên ống quần sô lệch quá cao khiến tôi phải mơ-màng đến cái vẻ trắng trong của Tuyết.

Xin cam đoan rằng lúc đó tuy tôi ngượng nhưng tôi lấy thế làm danh giá biết bao! Một cảnh vợ chồng yêu đương nhau, ai có phúc mà được mục kích! Một nhà danh họa tây phương hay một nhà sếp cảnh quay phim muốn trông thấy thế tất phải mượn người ta làm trò. Đằng này tôi được mục-kích một cách thật, mà lại không phải nhòm qua lỗ khóa! Hân hạnh biết bao! Rồi thì, trước một cảnh khiêu động dục tình đến bực ấy, muốn giữ nổi vẻ trang nghiêm, phải làm bộ nhìn nơi khác. Sau chàng hỏi nàng khe-khẽ bên tai:

- Mình! Dậy đi chơi chứ?

Nàng vươn vai, không trông thấy tôi, mắt vẫn nhắm, ngáp rồi hỏi:

- Thế Toại đâu?

- Anh ấy ra câu cá đã lâu. Mình dậy đi.

- Thôi. Mình đi thì đi. Tôi nhọc mệt lắm. Rồi chàng còn để nàng đủ thời giờ vòng hai cánh tay vào cổ mà hôn đánh choét một cái, trước khi dạy mặc áo ra đi với tôi.

Sau những cảnh chứa chan thi vị ấy, con dâm phụ lại đi hôn trộm thằng có bộ âu-phục xanh, nỡ phản chồng. Máu tôi sôi nổi trong tim, quả tim tôi hầu như lộn ngược mấy cái. Tức quá đi mất, tôi đi tìm ngay chàng áo tím chứ lẽ nào giữa đường thấy sự bất bình mà tha. Bộ âu-phục tím quả nhiên đang lúi-húi tìm một cái vỏ sò. Tôi vỗ vai, nghiêm nét mặt:

- Thưa ngài, ngài nên đề phòng vợ ngài có tình với ông mặc quần áo xanh.

Chỉ thấy chàng thản nhiên hỏi:

- Ông thấy thế nào?

- Họ hôn trộm nhau sau một tảng đá. Những việc khốn nạn thế… Nhưng tôi không không nói được nữa vì chàng quần áo tím cả cười:

- Ông đừng nhầm. Chính ông mặc quần áo xanh ấy mới là chồng. Còn tôi, tôi chỉ là người bạn thân mà thôi. Tôi đã soay-soay cái vành mũ, không biết nói sao, rồi bẽn-lẽn lảng đi với cái bộ mặt một thằng ngốc, một thằng ngu dại, bỗng không rước lấy một chuyện bẽ bàng.

THIÊN HƯ

HOÀNG KIM THƯ st

Phụ Bản III

KỶ NIỆM 100 NĂM

TRƯỜNG TRUNG HỌC

CHUYÊN KHOA BƯỞI

(1908-2008)

Có lúc nào, những người thành đạt, đang đối diện với trăm mối đa đoan của sự nghiệp, dành được vài phút rảnh rang, để tưởng nhớ lại ngôi trường của tuổi thơ, của thuở hàn vi, cái “nôi” đầu đời, khi mà tương lai cuộc đời hãy còn là một ẩn số?

Có những người không được may mắn như tổng thống Sadi Carnot (1837-1894) năm 1887 còn được ôm hôn thầy giáo già của thời thơ ấu, hay như tổng thống Georges Pompidou (1911-1974) năm 1969 còn được hội kiến với cô giáo làng của năm chục năm về trước, mà lại bất hạnh như thầy Tử Lộ, khi thành đạt, các người thân đã khuất núi cả rồi…

Cũng như các “Campus” của các viện đại học Hoa Kỳ, trường Trung học chuyên khoa Bưởi – Chu Văn An tọa lạc xa trung tâm thành phố (Hà Nội), gần ra đến ngoại ô, ở phía Bắc, bên bờ một hồ lớn (Hồ Tây):

“Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây Hồ”.

An Thái là tên chính thức của làng mà dân chúng gọi nôm na là làng Bưởi (có lẽ vì trong làng trồng nhiều cây bưởi), chuyên sản xuất giấy bản (giấy nội hóa). Dân chúng đổ bột giấy vào cối rồi lấy chày giã.

Năm 1942, cơ sở trường phát triển hơn nhiều, so với bức hình trên tem, có lẽ là cơ sở “thuở ban đầu”… Ở bên phải cổng chính, mới xây một tòa nhà một lầu, gồm bốn phòng, làm văn phòng hành chánh: Phòng Nhân viên, phòng Giáo vụ, phòng Kế toán và phòng Vật tư kỹ thuật. Còn lại là sân vận động, thể dục,thể thao: bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ. Ở phía trong, bên phải có hai tòa nhà hai lầu, bên trái có hai dãy phòng trệt. Các phòng trệt của hai dãy này cũng như các phòng trệt của hai tòa nhà hai lầu dành cho văn phòng Hiệu trưởng, văn phòng Giám học (Censeur), phòng Giáo viên và 22 lớp học. Các lầu một và hai làm ký túc xá cho học sinh nội trú ở các tỉnh về. Biệt thự dành cho Hiệu trưởng ở khuất ngay bên bờ Hồ Tây thơ mộng, phía sau hai tòa nhà hai lầu. Đã có lần Ban Giám hiệu trường Trung học chuyên khoa Albert Sarraut, cũng ở Hà Nội nhưng chủ yếu dành cho con em người Pháp, đề nghị đổi cơ sở nhưng Ban Giám hiệu trường Trung học chuyên khoa Bưởi từ chối.

Đội ngũ giáo viên gồm những thầy tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, những thầy đậu Cử nhân Văn chương hay Khoa học ở Pháp về, những thầy đậu thạc sĩ Văn chương hay Khoa học, cựu sinh viên Đại học Sư phạm Paris hay Đại học Sorbonne (Paris). Thậm chí có những thầy đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ quốc gia Văn chương hay Khoa học, nhưng vì nước nhà hồi đó chưa có Đại học Văn khoa hay Khoa học nên phải dạy ở Trung học chuyên khoa. Tất cả có một điểm chung là những tấm gương sáng ngời về đạo đức.

Nổi tiếng nhất hồi đó có thầy Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), cựu sinh viên Đại học Bách khoa Paris, kỹ sư Cầu đường, thạc sĩ Toán, giáo sư Toán ở trường Trung học chuyên khoa Bưởi rồi kể từ năm 1941, ở cả Đại học Khoa học Hà Nội mới thành lập. Thầy cũng tinh thông cả văn học cổ truyền Việt Nam, tác giả các cuốn “La sơn phu tử”, “Chinh phụ ngâm bị khảo” v.v… Thầy cũng là tác giả tập “Danh từ Khoa học”, nhờ đó mà các môn Toán, Lý, Hóa, Cơ, Thiên văn kể từ năm 1945 được giảng dạy bằng tiếng Việt ở các trường Trung học chuyên khoa Chu Văn An, Nguyễn Trãi…

Ngoài ra, còn có thầy Ngụy Như Kontum, thạc sĩ Lý Hóa. Về Văn chương, có các thầy Nguyễn Mạnh Tường, tiến sĩ quốc gia Văn chương, thầy Nguyễn Văn Huyên Tiến sĩ Sử Địa. Thầy Phạm Duy Khiêm (1908-1974) cũng nổi tiếng không kém. Thầy là con nhà văn Phạm Duy Tốn, anh nhạc sĩ Phạm Duy, cựu sinh viên Đại học Sư phạm Paris, tốt nghiệp Thạc sĩ Văn chương (Ngữ pháp) năm 1935, làm giáo sư ở trường trung học chuyên khoa Albert Sarraut và Bưởi. Thầy là tác giả các tập truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp: “Légendes des Terres sereines” (Huyền thoại ở các đất nước thanh bình) được giải thưởng của tạp chí Indo Chine (Hanoi, 1942), “La jeune femme de Nam Xương” (Người thiếu phụ Nam Xương) kể truyện vợ chàng Trương, và tiểu thuyết “Nam et Sylvie” (Nam và Sylvie) được giải Médicis.

Trường trung học chuyên khoa Bưởi là cái lò đào tạo nhân tài cho đất nước về đủ mọi ngành: Khoa học, Y khoa, Quân sự, Văn chương, Ngoại ngữ, Văn nghệ v.v…

Nổi tiếng nhất là cụ Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) tốt nghiệp trường Bưởi năm 1896 khi trường hãy còn là một trường Trung học cơ sở, cộng thêm lớp 10 đào tạo giáo viên Tiểu học.

Cụ lần lượt làm chủ nhiệm kiêm chủ bút các báo tiếng Việt hay tiếng Pháp:

- Đại Nam đăng cổ tùng báo (1907)

- Notre journal (Nhật báo của tôi, 1908)

- Notre revue (Tạp chí của tôi, 1910)

- Lục tỉnh tân văn, 1910, ở Sài Gòn

- Đông dương tạp chí, Hà Nội, 1913

- Trung Bắc tân văn, 1915

- Học báo, 1919

- Annam nouveau, 1931 (Annam mới)

Cụ cũng là nhà văn dịch các tác phẩm tiếng Việt sang tiếng Pháp (Truyện Kiều vv…), các tiểu thuyết Pháp sang tiếng Việt (Ba người lính ngự lâm của Alexandre Dumas vv…), thơ Ngụ ngôn La Fontaine

Học sinh trường trung học chuyên khoa Bưởi đã hai lần tỏ ra có tinh thần yêu nước:

- Năm 1925, chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, mang về Hà Nội kết án tử hình.

Học sinh trường Bưởi bãi khóa, yêu cầu Toàn quyền Varenne, thuộc đảng Xã hội Pháp, ân xá. Quả nhiên, Pháp cải tội “tử hình” thành “từ chung thân”, quản thúc ở Huế cho đến khi cụ qua đời năm 1940.

- Năm 1926, nhà ái quốc Phan Chu Trinh (1872-1926) qua đời. Học sinh trường Bưởi để tang ông (đeo băng đen ở cánh tay trái).

Dù thời gian có lùi xa, dù lớp lớp thế hệ nối tiếp, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn của những ai đã từng thọ học tại trường Bưởi, luôn ghi nhớ sắt son hình ảnh của một ngôi trường đã đào tạo ra bao thế hệ nhân tài cho đất nước.

GS. TS NGUYỄN CHUNG TÚ

Cách đây đúng trăm năm, vào ngày 09.02.1908, Toàn quyền Đông Dương Klobakwki ra quyết định thành lập Trường Bảo hộ (Collège du Protectorat) ở Hà Nội, với mục đích đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị thuộc địa. Khi đặt bút ký, hẳn ông ta không nghĩ rằng chính ông ta lại “khai sinh” cho một ngôi trường thành cái nôi đào tạo rất nhiều thế hệ trí thức trẻ người Việt yêu nước, dấn thân cho dân tộc.

23 năm sau, 1931, trường được nâng cấp thành Trương Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), tọa lạc vùng Kẻ Bưởi, trên đất làng Thụy Chương, đến đời Tự Đức, đổi tên thành làng Thụy Khuê, ven hồ Tây huyền thoại. Cái tên trường Bưởi, vốn được người dân nôm na gọi, ra đời từ đấy. Cũng phải trải qua bao chuyển dịch đến các địa bàn khác nhau vì thế sự, đến giữa năm 1945 trường mới hội tụ về Hà Nội.

Tháng 6.1945 Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại đổi tên thành: Chu Văn An quốc lập trung học học hiệu, trường mang tên của danh sư Chu Văn An thời Trần. Có lẽ, ngôi trường cũng mang theo số phận lận đận của người thầy tiết tháo nổi tiếng giữa thời buổi đầy nhiễu nhương… Nhưng lòng yêu nước, sự hy sinh cho vận mệnh dân tộc của nhiều thế hệ thầy trò nhà trường là nhất quán và như một sợi dây tâm linh, luôn đồng cảm và xuyên suốt.

(Theo Vietnamnet, 13.5.2008)

ĐỖ THIÊN THƯ st

Tác giả: Dương Lêh

Thật ra ông chỉ bước vào hạn thất thập và mới hơn 6, 7 tháng nếu tính đúng, tính đủ. Còn nếu tính theo lịch âm thì ông đã gần tới ngưỡng bẩy mươi hai. Ông không có lương hưu lương nai gì cả. Từ trước đến giờ ông đi làm tháng nào lãnh đầy đủ tháng nấy. Mỗi khi nghỉ việc một chỗ nào đó người ta trả lại cho ông tiền bảo hiểm xã hội để ông dành dụm cho tương lai cuối đời của ông.

Bây giờ ông cũng còn kiếm cơm lai rai. Như vậy thời gian ông còn dư nhiều quá trong khi vợ ông còn làm việc nhiều và chính bà là người lao động chính cho cái nồi cơm của hai ông bà. Vợ chồng người con trai lớn của ông cũng ở chung trong một căn hộ đã bị chia làm đôi cho một hộ khác. Diện tích còn lại chỉ hơn sáu chục mét vuông. Đây chính là tài sản khiêm tốn do ông tạo dựng được trong suốt cuộc đời làm việc của ông. Thật tình mà nói nếu không có bà vợ ông lúc nào cũng chắt chiu tiện tặn, trong khi ông rất biết tiêu tiền phung phí, thì giờ này không biết ông sẽ ra sao. Hiểu được vợ mình như vậy, từ khi hai người lấy nhau, ông đi làm việc, lương tháng ông đem về đầy đủ và đưa bà cất giữ. Ông chỉ lấy tiền dằn túi, hoặc để đổ xăng từ khi ông có chiếc xe gắn máy khoảng hơn hai chục năm nay. Năm khi mười họa nếu cần phải thù tạc với bạn bè, ông đưa dự trù chi phí cho bà duyệt và cấp cho ông sử dụng. Ông không có cái duyên được làm việc ở những công ty lớn, mức lương cao mặc dù ông có khả năng chuyên môn được bạn bè công nhận. Nhưng ông rất an phận, hài lòng với những gì ông tìm được trong suốt cuộc đời. Ông Trời cho bao nhiêu ông đều cảm thấy hạnh phúc. Cho tới giờ này nhìn lại gia đình ông, ông thấy như vậy là tốt quá rồi.

Cuộc sống của ông hiện giờ hết sức thanh thản. Nhiều bạn già nhìn ông thường nói: “Tao thấy hình như trong đời mày không hề phải lo lắng gì cả, đúng không?” Ông thường trả lời: “Lo chi cho mệt, cái gì nó tới thì cho nó tới”. Ngay trong thời buổi khó khăn cách đây khoảng ba chục năm, một anh chàng họa sĩ kiêm diễn viên điện ảnh đã nói: “Thằng này lúc nào nó cũng phởn phơ. Giống như là không cần ai giúp đỡ”. Ông còn nhớ lúc bấy giờ ông đã nạt anh chàng đó: “Đừng xạo, mầy cứ đưa tiền đây, tao có lấy không thì biết ngay”.

Nhưng rồi sau đó anh chàng này có giúp ông được xu nào đâu. Chỉ có một lần anh ta dẫn ông và anh bạn nhà ở hẻm 210 đi lên ngã tư Bẩy Hiền ăn thịt chó. Lúc đó ăn uống thiếu thốn ai mà rủ đi ăn được một bữa cơm thật là quý giá. Lần này anh chàng diễn viên đó mới vô mánh muốn đãi ông một chầu thịt chó. Ông muốn đi ăn để nạp một ít đạm dự trữ cho cơ thể chứ, mặc dù trước đó ông có ăn thịt chó bao giờ đâu. Bây giờ nghĩ lại ông còn sợ. Mấy người bán thịt chó thường bắt những con chó hoang, bệnh tật, ghẻ lồi ghẻ lõm đầy mình làm thịt để bán, không cần quan tâm đến vệ sinh thực phẩm vì không bao giờ có cơ quan y tế đến kiểm soát.

Suy đi tính lại ông vẫn thấy cuộc sống của ông từ lúc trẻ cho tới bây giờ thật không có gì phàn nàn nuối tiếc. Ông không hề cần phải giàu có hơn tình trạng của ông hiện tại. Nếu có cuộc sống tiếp theo sau này, ông cũng chỉ muốn như thế này là được rồi. Sẵn trớn ông cũng nói luôn tới bà xã: “Kiếp sau anh cũng sẽ tìm đến em”.

Bà xã ông cũng không kém:

- Ủa, chứ không phải ông đã hẹn trước với cô gì đó rồi a?

Ông chống chế:

- Lần đó anh nói đùa trong lúc đang đánh bài tứ sắc và uống bia.

- Không biết đâu. Cô ấy nói sẽ chờ anh đấy.

- Vậy để anh “xù” cái hẹn kiếp sau với cô ấy nhé.

- Hay là cho cô ấy chờ đến hai kiếp sau nữa đi.

- Chắc là chỉ còn cách đó thôi.

Hai ông bà coi vậy chứ cũng tâm đầu ý hợp về cách nói chuyện theo kiểu “thiên địa hội” như vậy lắm. Theo ông, bà xã này là một nhân vật không thể thay thế được trong cuộc đời của ông. Thật ra trong thời gian chung sống trên bốn chục năm trời hai người cũng có đôi ba lần sóng gió, nhưng thường là ở vào thời kỳ khó khăn, những năm mà người dân Saigon phải ăn độn với khoai hoặc bo bo, ngoài ra cuộc sống chung của hai ông bà rất bình lặng.

Cố gắng vượt qua giai đoạn khó khăn cũng vừa lúc bà giật được bằng cử nhân đại học ngoại ngữ và được đi dạy ở một trung tâm tại Saigon. Hai người vừa làm vừa dành dụm mua được căn hộ làm nơi thường trú cho tới bây giờ.

Con trai ông đã lớn, có vợ và có một con gái vừa lên 6 tuổi, chuẩn bị vào học lớp một. Hai vợ chồng trẻ này ở chung với cha mẹ nhưng ăn uống riêng, mỗi tháng góp chút đỉnh tiền điện, nước, tiền gas… ngoài ra hai gia đình sống hoàn toàn riêng biệt.

Hai ông bà già đem mọi sinh hoạt vào trong phòng riêng và sống âm thầm lặng lẽ trong phòng, cửa thường xuyên đóng, bên cạnh hai giàn máy vi tính được coi như hai người bạn thân thiết nhất của hai ông bà già. Chỗ dạy học là nơi phòng khách với cái bàn ăn dùng cho tám người cộng thêm mấy cái ghế xếp, thoả mãn cho một lớp học có thể lên đến mười học viên. Nhưng sau này số học viên giảm đi nhiều, mỗi lớp học nhiều lắm là năm hay sáu người. Học viên của bà đa số là những sinh viên năm cuối của đại học, họ học để lấy bằng B nộp vào hồ sơ thi tốt nghiệp. Hiện nay nhà nước muốn các sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp phải biết hai ngoại ngữ. Đây là một cách nâng cấp các sinh viên sau khi tốt nghiệp phải biết ít nhất hai ngoại ngữ. Tuy nhiên sau bao năm đào tạo, ông thấy trình độ ngoại ngữ của sinh viên còn kém quá. Nhớ lại hồi thời ông, học sinh tốt nghiệp trung học có thể nói tiếng nước ngoài dễ dàng. Hồi đó chỉ có hai thứ tiếng Anh và Pháp chứ không nhiều như bây giờ. Học sinh hồi đó khi bước chân vào đại học, họ cảm thấy tự tin và thoải mái khi tiếp xúc với giáo sư người nước ngoài cùng với những tài liệu do những vị thầy này soạn và giảng dạy.

Trong khi bà già phải bỏ nhiều thời gian vào việc giảng dạy để kiếm cơm, ông cảm thấy có bổn phận phải làm giúp bà một số công việc nội trợ. Ông sắp xếp thời gian để làm thành một thời dụng biểu, trong đó ông dành thêm ưu tiên cho bà khoảng thời gian trống trải của ông để đưa bà đi chỗ này chỗ nọ.

Hồi đầu năm tự nhiên bà thích cái môn nhiếp ảnh, và thế là bà trút bùng binh đếm số tiền dành dụm được đưa cho ông ra đường Lê Lợi vác về một máy ảnh loại nhà nghề, giá cỡ mười mấy chai. Ông đã phải thêm vào thời dụng biểu mục “đi săn ảnh” của bà. Địa điểm săn ảnh của bà thường ở các vùng xa trung tâm thành phố hoặc gần nhất là khu Thanh Đa. Tại đây có những khu giải trí có phong cảnh như những công viên và các nhà hàng ăn uống, lại có gió mát vào buổi chiều nên người ta đến chơi cũng đông. Bà thường chụp hình các loại hoa trồng rải rác dọc theo các lối đi và các loại côn trùng đeo bám trên các đóa hoa hoặc các nhánh các lá cây mà bà phát hiện được. Bất luận cào cào, châu chấu, bướm, ong, bà lắp tròng kính phụ macro rồi rình chụp cho bằng được. Khi về nhà bà tuyển lựa lại, tấm nào có vẻ nghệ thuật một chút, bà đưa lên facebook, trang nhiếp ảnh riêng biệt của bà. Ông rất tôn trọng sở thích của bà. Ông cũng thấy may mắn là giờ này bà cũng có một niềm đam mê chạy tới chạy lui săn từng con ong, con bướm với mong muốn có một tấm ảnh đẹp, sinh động, thay vì ngồi một cục ở nhà bắt ông đấm bóp hoặc thoa dầu nóng rồi chà xát lên các khớp chân tay. Chuyện này ông không muốn nó sẽ xảy ra, có lẽ sau này cũng xảy ra thôi nhưng không biết khi nào, năm năm nữa hay mười năm nữa hoặc vài năm nữa thôi cũng không biết chừng. Đến lúc đó ông phải chăm sóc cho bà hay bà phải chăm sóc cho ông đây? Cái điều ông lo nhất là khi đến giờ phút ông và bà phải về chầu ông Diêm Vương, ông Địa Tạng Vương nào đó thì nên lên đường cho nhanh chóng không nên để kéo dài câu giờ, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Ông tập thể dục là muốn đạt cái ước nguyện lúc lâm chung làm sao “lâm” một cách siêu tốc.

Mới đây ông gặp lại một người bạn học cũ có bà vợ đang trong tình trạng sống đời sống thực vật, chưa biết lên đường ngày nào. Bà đã nằm như vậy hơn một năm rồi. Ông thấy tội nghiệp cho ông bạn đó quá, vì người nằm trên giường bệnh không còn biết gì phải lo mà những người còn sống, ông chồng và đám con cái phải túc trực một trăm phần trăm để chăm sóc, để cho ăn, uống qua ống nhựa… Không khí trong gia đình thật là bi thương.

Mỗi buổi sáng ông thức dậy sớm vội vã làm vệ sinh cá nhân sau đó phóng xe đến hồ bơi để kịp thời nhào xuống nước đúng 5g30. Đây là giờ phút ông thấy vô cùng hạnh phúc. Ông thong thả bơi hết vòng này đến vòng khác, không một tí gì vướng bận trong đầu. Đúng một tiếng đồng hồ sau ông kết thúc buổi tập. Ông ra về với trạng thái lâng lâng, khỏe khoắn vô cùng. Tự nhiên ông nhớ tới hai câu thơ trên mạng, thường thấy trên các email bạn bè ông gửi tới:

“Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dây,

Ta có thêm ngày nữa để yêu thương.” (1)

Ông thấy hai câu thơ này hay quá, chúng nhắc nhở người ta phải yêu thương sự sống của mình. Ở tuổi già này ông mới thấy được Tạo hóa sinh ra con người quả là kỳ diệu. Bộ máy trong cơ thể mỗi con người siêu việt hơn nhiều so với những bộ máy trong những vật thể khác. Không chỉ con người, ở tất cả các loại động vật, những loại côn trùng đều có những bộ máy tinh vi mầu nhiệm mà không thể có một thứ robot nào thay thế được. Ông thấy rất yêu đời. Ông luôn luôn thấy phấn khởi vào buổi sáng sau khi từ hồ bơi trở về nhà.

Chắc chắn những người trẻ hơn, nhất là những người còn trong tuổi lao động có mức lương sống thoải mái, sẽ hỏi ông làm gì để đốt hết thời gian trong ngày. Câu trả lời không có gì là khó đối với ông. Cho dù hiện nay ông không kiếm được nhiều tiền với sức lao động già nua của mình, nhưng thời gian còn lại nhiều khi không đủ để dành cho những sở thích của mình.

Mỗi buổi sáng sau khi ở hồ bơi về, ông chạy một vòng mua báo và đồ ăn sáng cho hai ông bà. Thường thì bà đặt hàng trước cho ông đi mua. Bà vừa ăn sáng vừa theo dõi trên máy vi tính để canh chừng đợi con gái ở Mỹ lên máy rồi hai mẹ con cùng “chat”. Có khi bà mở webcam coi đứa cháu ngoại mới vừa thôi nôi đang quậy phá tưng bừng. Ăn sáng xong ông làm một ly cà phê mua ở lề đường về nhà pha sữa rồi nhâm nhi với một điếu thuốc lá. Thuận tay ông với tờ báo xem qua một tiêu đề một số tin tức trong ngày. Tin nào “hot”, ông mở trang trong nhanh chóng đọc ngay. Mới đây suýt tí nữa ông bị sặc cà phê vì tức cười quá khi đọc tin tám quan chức bị ngưng công tác vì lãnh lương “khủng”. Ông tức cười vì trong mỗi tổ chức kinh doanh có bộ phận kế toán chuyên tính lương chính cho các sếp để đối phó với cơ quan thuế, thế mà để sếp lãnh lương khủng như vậy. Cách đọc báo của ông cũng hơi đặc biệt, nếu trong nhà không có máy móc gì hỏng hóc để phải gọi thợ tới sửa chữa, ông móc hết phần ruột của tờ báo chuyên quảng cáo quăng vô góc để chờ bán kí lô, chỉ giữ lại phần “vỏ” gồm những trang tin tức và bài viết thường xuyên của tờ báo. Xong rồi ông nhâm nhi ly cà phê, phì phà điếu thuốc lần đọc từng trang báo. Ông không quan tâm đến những trang quảng cáo nhất là những trang chuyên về những loại thuốc đông dược mà bây giờ người ta chế bằng các loại cây cỏ, hoặc các loại côn trùng và được đặt tên là “đông trùng tây thảo” gì đó, nghe khó hiểu quá. Còn có thứ gì đó mà có cái tên là “Trinh nữ trong hoàng cung”. Ông đang uống cà phê mà nghe ai nói đến cái tên thảo dược này thế nào ông cũng phát cười lên và bị sặc liền. Mấy bài viết quảng cáo thuốc trên báo hay trên truyền hình không hề có ghi tên bác sĩ, hay một ông lương y, hay thần y nào cả. Vậy thì ai mà tin vào mấy bài viết đó. Các bài quảng cáo trên truyền hình cũng vậy. Lại còn nói rằng “Sản phẩm này không phải là thuốc chỉ có tính cách hỗ trợ, không có chức năng điều trị”, và cho đọc thật nhanh cốt để không ai nghe được. Quả thật ai không tin là điều may mắn cho họ. Theo ông, ông tin tuyệt đối vào bác sĩ, đúng như các cơ quan y tế đều khuyên, khi có bệnh, không nên nghe lời người ta quảng cáo vô trách nhiệm mà mang họa, cứ đi đến bệnh viện hay bác sĩ xin điều trị.

Trước đây trên các báo thường có mục tư vấn sức khỏe do một bác sĩ danh tiếng đứng tên chuyên mục đó. Thường thường khi độc giả viết thư hỏi về bệnh tình đang có đồng thời hỏi thêm rằng có người bày uống thuốc này, thuốc nọ có được không? Bác sĩ luôn luôn khuyên phải đi khám bác sĩ hoặc đến bệnh viện để có chỉ định chính xác. Bây giờ không thấy những mục đó nữa rồi.

Ông cũng dành thời gian trong ngày để xem TV, nhưng ông chỉ xem được tin tức và phim ảnh ở các đài nước ngoài vì hai mục này không bị gián đoạn bằng những chương trình quảng cáo. Thỉnh thoảng các nhà đài trong nước cũng có chiếu vài phim nước ngoài coi cũng được nhưng phải cái chen quảng cáo vô nhiều quá. Mỗi khi đang coi phim hay mà gặp quảng cáo ông thoải mái bấm nút “câm” trên “rì-mốt” rồi lơ đãng ngồi chơi khi nào phim có trở lại ông tiếp tục xem.

Gần đây mấy người bạn có chuyển đến ông một cái email nói về trường hợp người đàn ông đi chợ. Bài viết có nội dung giống như một bài khảo sát những vấn đề xã hội, nhưng tác giả có lẽ chỉ ngồi nhà đoán già đoán non rồi soạn thành bài viết có kèm hình phong cảnh để người đọc không chán. Nhưng ông đọc qua thì thấy chán thật!

Đầu tiên người viết đó không nói người đàn ông đi chợ thuộc lớp tuổi nào. Già, trẻ, bé, lớn ra làm sao. Chỉ nói chung chung là đàn ông di chợ và sở dĩ đàn ông đi chợ vì ngoài chợ có nhiều phụ nữ đẹp, đàn ông đi thích chợ để có thể ngắm vô tội vạ. Không biết người viết, đoán là nữ, có đẹp không để khi đi chợ được người ta ngắm. Ai từng là đàn ông đi chợ, khách quan mà nói, có ai thấy được nhiều người đẹp đi chợ không? Phụ nữ đi chợ là những người có gia đình, khi đi chợ họ ăn mặc kín đáo, không phấn son lòe loẹt, không thể nào làm mục tiêu để cho đàn ông đi chợ ngắm. Rồi nhìn vào những phụ nữ đang bán hàng. Họ là những người lao động chuyên bán các loại thực phẩm tươi sống, rau, cải, củ, thịt, cá… thường ăn mặc giản dị. Đặc biệt những bà, cô bán thịt cá lúc nào cũng cầm sẵn con dao bén, nhọn. Đàn ông đi chợ nếu muốn mua thịt cá nên tranh thủ mua thật nhanh rồi rút đi cho lẹ. Ông già này có lần đến mua thịt. Ông đưa ngón tay ấn ấn vào các miếng thịt đã được xẻ ra sẵn để chọn mua, trong khi đó cô hàng thịt, tay đang cầm con dao dùng mũi dao vừa chỉ cho ông vừa nói liên tục miếng này ngon thế này, miếng kia ngon thế kia. Hai bên coi như đang “động thủ”, ông già thì không có vũ khí, và chỉ trong một cái “tích”, chứ chưa đến cái “tắc”, cô hàng đã lia mũi dao vào ngón tay trỏ của ông. Ông vội giựt tay lại. May quá chưa chảy máu, cô ta đã lia phần sóng dao vào ngón tay của ông. Nếu cô ta lia dao vào ngón tay ông bằng phần lưỡi, chắc là ông phải hy sinh một phần thân thể rồi. Ông chỉ kịp kêu lên mấy tiếng: “Hảo đao pháp!” rồi lui xe đến một hàng thịt khác.

Bài khảo sát về đàn ông đi chợ còn nói rằng đàn ông thích đi chợ vì có khi gặp được những người mẫu, diễn viên cũng đang đi chợ thì sẽ được ngắm không mất tiền. Quả thật người khảo sát nằm nhà tưởng tượng theo kiểu người mù sờ voi. Thời buổi này chỉ có những người cao tuổi mới đi chợ vào buổi sáng sớm. Những người đàn ông trẻ hơn còn đi làm việc muốn đi chợ mua cái ăn về giúp bà xã họ thường vào các siêu thị để mua hàng là tiện lợi nhất rồi. Những người mẫu, diễn viên mà phải đi chợ vào buổi sáng chắc là không phải “xê ri A”. Họ thường đi chợ rất trễ chủ yếu là để ăn sáng rồi tranh thủ mua thêm vài món gì đó về nấu ăn trong ngày. Khi đi chợ đa số không trang điểm, ăn mặc giản dị, đàn ông đi chợ chắc chắn không nhìn ra đó là người mẫu hoặc diễn viên nào cả. Gần đây, có người quăng lên mạng khuôn mặt của một số người mẫu, diễn viên, cứ mỗi người có hai vẻ mặt, một là chưa trang điểm và hai là sau khi trang điểm đàng hoàng. Quả là một trời một vực. Có thể nói khi chưa trang điểm chẳng khác nào Chung Vô Diệm và khi trang điểm rồi thì y như là Tây Thi. Phải công nhận những người làm nghề trang điểm thật là kỳ tài, họ là những nghệ nhân, giống như những bác sĩ thẩm mỹ, có thể giúp để sửa đổi những sai lầm của Tạo hóa như điều chỉnh lại giới tính, sửa đổi những khuyết tật của con người nhất là ở nữ giới.

Ý kiến trong bài khảo sát đó còn cho rằng người đàn ông thích đi chợ để dễ dàng hò hẹn với một phụ nữ khác vì đông người không ai biết. Thực ra, hẹn hò ở chợ mới là nguy hiểm, “quan trên trông xuống, người ta trông vào”. Như đã nói đàn ông đi chợ hầu hết là những người đã bước vào tuổi hưu. Ở tuổi này còn rất ít ông thích chạy theo một mối tình lẻ loi như thời trai trẻ. Trái tim của các ông có lẽ cũng nguội rồi. Thời trai trẻ đã chóng vánh trôi qua rồi, giờ chỉ còn lại quá khứ mà thôi.

Việc sử dụng thời gian còn lại của ông già này là ngồi trước máy vi tính. Có thể nói ông làm nhiều việc trên máy, ông trao đổi mail với bạn bè, trình bày trang blog cá nhân, đọc báo, tìm hiểu những vấn đề chợt xuất hiện qua trang web Từ diển bách khoa toàn thư… Ông cũng bắt chước người ta viết lách, làm thơ cho chính mình đọc.

Từng ấy việc trên đây đã giúp ông tiêu khiển hết một ngày thú vị. Đôi khi ông thấy không đủ thời gian để ông làm thêm một số việc cho bản thân. Thật ra sở thích ông cũng nhiều nhưng không cái nào ra cái nào. Có chuyện ông theo đuổi một thời gian rồi ngưng, sau đó năm ba tháng ông quay trở lại tiếp tục phần đã bị bỏ dở dang.

Tuổi già của ông là vậy đó…

Tác giả: Dương Lêh


MỘT BÀI BÁO 76 NĂM TRƯỚC

KỂ LẠI CUỘC ĐỜI LY-KỲ

BÍ-MẬT CỦA MỘT NGƯỜI

CHUYÊN NGHỀ GÂY HỌA CHIẾN TRANH TRONG THIÊN-HẠ THẾ-GIAN

Người xuất thân nhằm cửa hàn-vi, sau nhờ tài cao chí cả, mượn máu sông xương núi của loài người mà dựng nên đại-nghiệp, báo chí năm châu, vua chúa các nước không ai là không nghe danh biết tiếng.

Bazir Zaharoff! Cái tên đọc lên nghe có thanh-âm lạ lùng, và không có ai mà không nghe đến cái tên đó. Chính là cái tên ly-kỳ bí-mật của một người sống trong một cuộc đời cũng ly-kỳ bí-mật. Một người phi-phàm xuất-chúng đã được báo-chí trong hoàn-vũ xưng-tụng như thế. Một người giàu có trong thiên-hạ thế-gian, lại cũng chính là người trong bao nhiêu năm oai-quyền lừng lẫy, địa-vị không kém các vị vua chúa, các vị giám-quốc ở các nước văn-minh hiện-tại.

Zaharoff làm gì mà được như thế? Ông chuyên nghề giết người bằng khí giới, xúi giục nước nầy đánh với nước kia để bán khí giới, xét lại nghề ông thạnh hành và lớn lao không có ai sánh nỗi ở thời buỗi đó.

Ông gốc người Hy-lạp, xuất thân nhằm nhà hàn vi thuở nhỏ, nhờ một người đồng-hương giúp cho ăn học tại học đường người Anh ở Constantinople. Được 18 tuỗi, ông mới xuất thân tìm sanh kế ở hải khẫu Galata, nghề tuy đạm bạc nhưng cũng đũ nuôi thân. Sau, ông gặp Sévastopoulo, cậu ông, một nhà buôn bán nỉ kêu ông về giúp đở người lo việc buôn bán. Cái tài-trí của ông trong việc buôn bán, mà trời đã phú sẳn cho ông đễ giúp ông sau nầy dựng nên đại-nghiệp, thì lúc bây giờ ông đem hết ra phụng-sự cho nghề-nghiệp mới và đầu tiên của ông.

Kịp đến khi không vừa ý cậu, Zaharoff mới lấy một số tiền vừa phải với công khó của ông giúp cậu bấy lâu, rồi đáp tàu sang Anh.

Nhà buôn khí giới

Ngày 14 Octobre 1877 chính là ngày Zaharoff đắc-kỳ sở nguyện.

Một nhà kỷ-sư Thoại-điển tên Torsten Wilhelm Nordenfeldt, chuyên nghề chế tạo khí-giới, có đến kiếm Skouloudis (tức là người đã cứu danh giá Zaharoff) mà mượn kiếm giùm người khôn lanh làm đại biểu cho hảng chế-tạo khí-giới của mình ở Ba-nhĩ-cán (Balkan). Skouloudis liền giới-thiệu Zaharoff.

Kỷ-sư Nordenfeldt nhận lời.

Thế là sự-nghiệp vẻ vang của Zaharoff phát-hiện từ đây.

Lúc ban sơ, Zaharoff chỉ lãnh lương có 5 đồng Livres mỗi tuần, mà làm nhiều việc kết-quả rất đắc lợi cho hảng chánh.

Zaharoff vận-động cách nào mà bán được một chiếc tàu lặn cho nước Hy-lạp, rồi vài tuần sau lại bán được 2 chiếc tàu lặn, cũng một kiểu đó, cho nước Thổ-nhỉ-kỳ, một địch quốc của nước Hy-lạp. Ngoài ra, Zaharoff bán được nhiều súng ống thuốc đạn ở miền Ba-nhỉ-cán nữa.

Bao nhiêu kết-quả ấy cũng chưa ra gì, Zaharoff chỉ mới bắt đầu làm việc mà thôi.

Cô Maxim, hay là kiểu súng liên thanh

Một người Mỷ tên Hiram Maxim, tổ phụ vốn là người Pháp qua cư-ngụ bên Huê-kỳ, có phát-minh được một kiểu súng liên-thanh. Ông ta bèn qua Anh lập hảng bán kiểu súng đó, và làm quảng-cáo hết sức rình rang, khiến cho Nordenfeldt phải đem lòng lo ngại, vì ông biết trước sau Maxim cũng chế-tạo kiểu súng mới đó để cạnh-tranh với hảng ông.

Được tin nay mai bên Áo-quốc sẻ có cuộc thữ các thứ kiểu súng mới chế-tạo, Nordenfeldt mới phái Zaharoff qua đó vận-động đánh đổ Maxim. Quả thiệt, trước mặt các quan văn vỏ trong bộ Tham mưu Áo-quốc, Zaharoff trổ tài hùng-biện làm cho các vị thượng-tướng đều khen, và tin tưởng rằng kiểu súng liên-thanh mới phát-minh là của nhà kỷ sư Thoại-điển tên Nordenfeldt.

Thế là hy-vọng của Maxim phải chìm đắm vì cái tài môi miếng cũa Zaharoff; và cũng nhờ cái tài môi miếng cũa Zaharoff mà năm 1888, Nordenfeldt lập xong hảng chế-tạo kiễu súng liên-thanh, lấy hiệu là Maxim Nordenfeldt Guns and Ammunition Co.

Duyên nợ giữa đường

Thường khi, trên chiếc xe lửa chạy đường xa xuôi, những sự gặp gở tình cờ kết chặt bỡi những giờ phút quá lâu lắc, - nó kết cuộc cho ta thấy nhiều sự bất ngờ, ngoài sự tưởng tượng của ta thiệt.

Trên chuyến xe lửa chạy về Paris có một nàng đẹp đẻ vô cùng. Ấy là công-chúa Maria de Pilar thuộc hoàng-tộc Bourbon, phu-nhơn của quận-công de Villafranca. Gần bên phòng của phu-nhơn, có một chàng trai đẹp đẻ. Cả hai để mắt nhau, mà không biết làm sao trao lời đổi ý. Kịp đến lúc xa nhau, cả hai mới hỏi thăm, chừng đó phu-nhơn mới biết chàng thiếu-niên đẹp trai đó tên là Bazil Zaharoff.

Rồi cả hai thầm yêu nhau.

Bây giờ mới thiệt chuyên nghề giết người

Bây giờ Zaharoff mới thiệt chuyên nghề gây họa chiến tranh cho loài người. bên Nga, ông ta lợi dụng mỹ-nhơn khuyến dụ các viên thượng-tướng trong bộ Tham-mưu Nga mua súng ống thuốc đạn của mình. Ông ta lợi dụng luôn tới công-chúa Maria de Pilar, là người ông thầm yêu trộm dấu, mà cũng là người thầm yêu trộm dấu ông.

Ở miền Bá-nhỉ-cán, ông cũng có lén bán khí giới cho bọn cách mạng, mặc dầu ông đã biết bọn ấy có thể gây họa giặc giả tới quê-hương của ông là nước Hy-lạp.

Hãng Vickers là một hãng buôn bán khí giới có cơ sở vững vàng lắm, Zaharoff thương-lương cách nào không biết mà cách ít lâu, hãng Vikers mất bảng, có tấm bảng khác treo lên thế là Vikers Sons Maxim and Co.

Kịp đến khi ở Nam-Phi có biến loạn, thì cũng có Zaharoff mó tay vào, một mặt bán khí giới cho loạn-dân, một mặt lại bán khí giới cho binh tướng của Chánh-phủ Anh dùng dẹp loạn.

Hai bên chém giết nhau bằng khí giới của Zaharoff.

Không bao lâu hãng Vickers Maxim mở mang phát đạt thêm nhiều, bao nhiêu hãng bán khí-giới và thuốc đạn nhỏ khác đều được Zaharoff mua lại mà qui tựu về một mối.

Năm 1904, nước Nga trải qua cơn binh đao khói lữa, phải vay tiền của Pháp đặng mua khí giới của Zaharoff.

Zaharoff làm việc khắp nơi: ở bờ sông Volga, ông ta có lập một xưởng chế tạo vật liệu cho cơ-binh pháo thủ.

Tong hồi Âu-chiến, Zaharoff có giúp đỡ cho đồng-minh 50 triệu quan. Với con số nầy không nên lấy làm lạ, vì ngoài nó ra, Zaharoff còn được lời một số tiền không biết bao nhiêu trong khoảng 1914-1918.

Chính sớm mai ngày Jean Jaurès bị ám-sát, thì Quan-báo Pháp, nơi mục ngoại-giao, có đăng một đạo mạng lịnh ân-tứ Tam-đẳng-bội-tinh cho Zaharoff về những công-trận đặc-biệt của ông đối với Chánh-phủ Pháp trong hồi Âu-chiến. Sau hồi Âu-chiến lại được ân-tứ Nhị-đẳng và Nhứt-đẳng bội tinh nữa.

Còn chánh-phủ Anh, nhờ có bạn thân của ông là thủ-tướng Lloyd George giới thiệu, nên có ban thưởng cho Zaharoff nhiều tấm huy-chương danh dự.

Chiến tranh! Chiến tranh!

Hễ ở đâu có chiến tranh thì có Zaharoff nhúng tay vào. Bởi có Zaharoff mà nước Hy-lạp, quê hương của ông, mới cử binh xâm lấn miền Asie-Mineure hồi năm 1921. Lúc đó, Zaharoff có dịp làm quen với đại-tướng Vénizelos (tức nhà cách-mạng Hy-lạp vừa mới tạ thế năm ngoái). Sau cả hai tuyệt-giao, vì Zaharoff thì muốn tôn Georges lên ngôi vua Hy-lạp, Vénizelos lại cự hẳn.

Tình già

Giàu có muôn hộ rồi, Zaharoff tuổi đã quá ngủ tuần, bây giờ cũng vẫn còn thương yêu – thương yêu trong mộng – cái người đàn bà xinh đẹp gặp gở năm xưa tên một chuyến xe lửa nọ chạy về Paris. Còn người đó, tức là phu-nhơn của quận-công de Villafranca, công chúa Maria de Pilar, cũng không quên chàng thiếu niên đẹp trai tên Zaharoff gặp gở trên một chuyến xe nọ.

Một hôm, thành phố Arronville làm lễ đưa xác rất long trọng. Hỏi ra mới biết quận công Villafranca thất lộc. Zaharoff và công chúa Maria de Pilar mới được trở về cảnh yêu đầm ấm năm xưa.

Ăn ở với nhau tới năm 1926 thì bà Zaharoff qua đời, đễ lại chút gái. Ông lấy làm đau đớn vô cùng.

Rồi cách 10 năm sau, Novembre 1936, một cái tin từ Monte-Carlo bắn ra, làm vang dậy cả thế gian thiên hạ: Bazil Zaharoff qua đời, hưởng thọ 80 tuổi. Mấy năm sau nầy, ông sống một cách khốn nạn ở Paris.

Ông ương-yếu trong mình, ông muốn đi đỗi gió, không được. Ông thèm ăn thịt trừu, không được: nhứt thiết quan thầy đều cấm, sợ có hại cho cơ thễ của ông.

Trước ông hoạt động hăng-hái bao nhiêu thì nay ông trầm tỉnh yên-lặng bấy nhiêu. Trầm tỉnh yên-lặng cho đến lúc ông thở hơi cuối cùng.

Đám táng ông rất bơ-thờ, lạnh-lẽo.

HOÀNG MỘC thuật

ĐỖ THIÊN THƯ st.

Những cái nhất

của Sài Gòn xưa

*Ngôi trường cổ nhất.

http://diendanlequydon.com/ downloads/image_prv/1/600.jpg

Trường Lê Quý Ðôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseloup Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Ðôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Ðôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.

*Nhà máy điện xưa nhất.

Nhà máy điện Chợ Quán xây dựng năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW.

Máy phát điện chính công suất 1000A/h. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy toạ lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.

*Bệnh viện cổ nhất.

Bệnh viện Chợ Quán xây dựng năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 giao cho Quân đội gọi là Viện Bài Lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn Việt có 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Ðến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

*Nhà hát cổ nhất.

Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp xây dựng hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện chế độ cũ; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn–TP. HCM toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát được phục chế lại như nguyên mẫu ban đầu.

*Khách sạn cổ nhất.

http://images.yume.vn/blog/ 201003/07/1267973666_Khach% 20san%20Continental%2002.jpg >

Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Ðồng Khởi, xây dựng năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu.

Sau ngày giải phóng miền Nam đổi thành Hải Âu. Ðến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental có diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế góp phần cho ngành du lịch TP. HCM ngày càng phát triển.

*Nhà thờ cổ nhất.

http://nguyentumy.files. wordpress.com/2009/11/ nhathochoquan-quan-5.jpg

Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2, Q.5 xây dựng từ năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại TP. HCM và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ Quận 5.

*Ngôi đình cổ nhất.

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Ðịnh xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, xây dựng vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Ðình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp–sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Ðình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Ðức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Ðông Chinh Vương và Dục Thánh Vương.

Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Ðình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

*Nhà văn hóa cổ nhất.

Cung Văn hóa Lao Ðộng. Năm 1866, với tên gọi Cercle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao của quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Ðịnh trao toàn bộ cơ ngơi này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để cải tạo xây dựng thành nơi tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Ðộng, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Ðộng, và rồi là Cung Văn hóa Lao Ðộng. Diện tích 2,8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Ðộng là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Tp. HCM.

*Công viên lâu đời nhất

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây dựng năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi trồng những động thực vật vùng nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Ðộng vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, đóm đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Ðến năm 1989, Thảo Cầm Viên được cải tạo, mở rộng và nhập thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Ðông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Ðông Dương.

*Ngôi nhà xưa nhất.

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại TP. HCM nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục TP. HCM - 180 Nguyễn Ðình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá Ða Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây dựng bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá Ða Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Ðức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Ðình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục.

Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Ðá Ba Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”. Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Ðây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống- bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

*Ngôi chùa cổ nhất.

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Ðặng Văn Bi, Thủ Ðức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Ðây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP. HCM nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m.

Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Ðạo hiến đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí. Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.

*Ðường sắt đầu tiên ở thành phố.

Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, xây dựng năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi 3 đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hòa Hưng. Trên nền Ga Sài Gòn cũ ngày 8/8/1998, khởi công xây dựng Trung Tâm Văn Hoá Thương Mại Sài Gòn.

*Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp.

Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Ðà Nẵng và thành cũ Gia Ðịnh, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Ðây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

*Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên.

Tờ “Gia Ðịnh Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.

*Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam.

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công nông thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tính dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nôi trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”. Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Ðình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

*Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên.

“Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ Latinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

*Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên.

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.

Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao lô (số 4 Tôn Ðức Thắng). Ðây là công trình xây dựng theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được xây dựng từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gôtic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây dựng này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

*Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây.

Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, Latinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường xá và phân khu phố phường”. Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỉ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn - Gia Ðịnh theo phương pháp phương Tây.

Đào Minh Diệu Xuân st

Phụ Bản IV

AI LÀ NGƯỜI LẬP RA

36 PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI?

Trong nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc, truyền hình hiện nay, chúng ta thường nghe đến cụm từ “Hà Nội 36 phố phường” nhưng xuất xứ và những thông tin liên quan đến nó không phải ai cũng biết.

Về băn khoăn này, giáo sư sử học Lê Văn Lan đã từng đưa ra ý kiến như sau:

Chúng ta đang có 2 văn bản đều có tên: Hà Nội 36 phố phường, thực ra là 2 bài thơ - đúng hơn là hai bài vè - đều có tên là Hà Nội 36 phố phường. Một bản kể:

Phồn hoa thứ nhất Long thành

36 phố rành rành chẳng sai…

Bản kia cũng là Hà Nội 36 phố phường nhưng lại kể:

Phồn hoa thứ nhất Long Thành

Phố giăng mắc cửi chạy quanh bàn cờ…

Nếu cộng các tên phố có trong các bài Hà Nội 36 phố phường thì thấy có tất cả có hơn 50 phố. Văn bản có tên 36 phố phường ấy ra đời vào cuối thế kỷ 19, gây ấn tượng lớn nhưng không nên hiểu đó là sự đánh dấu của việc ra đời Hà Nội 36 phố phường, bởi Hà Nội 36 phố phường là điều không có trong lịch sử. Hà Nội chỉ có 36 phường vào thời Lê và có hơn 50 phố bắt đầu bằng chữ “Hàng” ở cuối thế kỷ 19.

Vì sao mọi người hay nhắc tới câu Hà Nội 36 phố phường? Có lẽ “công tích” thuộc về nhà văn Thạch Lam. Tác phẩm Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam quá nổi tiếng, nên dù không là sự thật lịch sử thì vẫn được mọi người đón nhận.

Và người ta vẫn dùng Hà Nội 36 phố phường như 5 cửa ô của Văn Cao hay Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Tác dụng của Văn học nghệ thuật là cực kỳ lớn. Rất tiếc là khoa học chưa can dự để trả lại tính chính xác của các thông tin này bên cạnh tính hấp dẫn của nó.

Một trong các số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có nôi dung như sau:

Rủ nhau chơi khắp Long thành

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:

Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,

Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy

Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,

Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,

Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,

Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông,

Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,

Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,

Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,

Quanh đi đến phố hàng Da,

Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh.

Phồn hoa thứ nhất Long thành,

Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ

Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ

Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền”.

Xét theo ghi chép của sách sử thì 36 phố phường được đặt ra từ thời vua Lê Hiển Tông với mục đích duy nhất là thuận tiện hơn trong việc giữ gìn an ninh, trật tự. Theo sách Đại Việt sử ký tục biên, vào tháng 12 năm Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) triều đình “hạ lệnh chia bên trong kinh thành làm 36 khu, mỗi khu đặt một quan coi giữ việc tuần phòng, khám xét. Lại định phép ty tộc đoàn (liên kết các gia tộc ở gần nhau cùng giữ an ninh). Tiếp đó lại chia làm 9 điện, mỗi điện có 4 khu, mỗi khu đặt một viên chánh khu.

Trong tác phẩm Vũ Trung tùy bút của danh sĩ sống vào giai đoạn cuối thời Lê đầu thời Nguyễn là Phạm Đình Hổ cho biết cụ thể hơn về điều này: “Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc suất hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi.

Song đất kinh thành đông đúc, nhà ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa là nơi bể cạn, vật sản rất nhiều, mà lại không thiếu một hạng người nào cả.

Đời Trịnh An Đô Vương (tức Trịnh Cương - TG), Nguyễn Công Hãng làm Thượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi lư cũng có một lư trưởng; bốn lư là một đoàn, mỗi đoàn đặt một quản giám, hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau.

Phàm những việc phòng hỏa, phòng trộm và nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều ủy trách cho khu trưởng, đoàn trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà khá giả coi thường, không thèm ra làm, chỉ để cho những côn đồ trong các xóm chợ ra làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc quan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố. Ôi! “Sinh nhất sự bất như trừ nhất hại” (thêm ra một việc không bằng bớt đi một tai hại) lời nói ấy rất đúng.

Theo lệ cũ, chốn kinh thành không phải chịu thuế dung, thuế điệu, chỉ tính từng dãy nhà, không cứ nhà quan hay nhà dân, hàng năm mỗi nhà phải chịu một suất đi sửa sang đắp lại nền cắm cờ tướng, dọn cỏ chung quanh cung đình, cung ứng các việc kiến trúc. Họ phải thay phiên nhau sắm đủ dây đòn, câu liêm, thang tre, bó đuốc, thùng gánh nước để theo quân quan Đề lĩnh đi túc trực các nơi điếm canh, phòng khi sai khiến; công việc rất là phiền nhiễu. Song tóm lại không tiền là không xong, chỉ làm nặng túi kẻ gian hoạt.

Tuy bảo rằng “phù bản ức mạt” (bồi đắp gốc rễ, ngăn chặn ngọn cành), nhưng cũng không phải là biện pháp tốt của đời thái bình. Đến thời vua Gia Long nhà Nguyễn, trong một số sách dư địa chí như cuốn “Các tổng, trấn, xã danh bị lãm”, “Hoàng Việt dư địa chí”… cho biết tên của 36 phường.

Cụ thể, ở huyện Thọ Xương có 18 phường gồm: Yên Thọ, Hà Khẩu, Báo Thiên, Đông Hà, Đồng Xuân, Đông Tác, Đông Các, Cổ Vũ, Xã Đàn, Đồng Lạc, Thái Cực, Diên Hưng, Khúc Phố, Phục Cổ, Phúc Lâm, Kim Hoa, Hồng Mai, An Xá. Mười tám phường còn lại thuộc huyện Vĩnh Thuận là: Bích Câu, Quảng Bá, Thuỵ Chương, Yên Thái, Hoè Nhai, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ấn, Yên Lãng, Công Bộ, Thạch Khối, Hồ Khẩu, Thịnh Quang, Yên Hoa và Quan Trạm.

Vào năm Tân Mão (1831) vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách lớn, trong đó có việc phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh; lúc này Thăng Long xưa được sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội với diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện so với Thăng Long xưa.

Trong số 15 huyện của Hà Nội vẫn có 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, 36 phố phường đều nằm trong địa phận hai huyện này. Sách “Hoàng Việt dư địa chí” in vào năm Qúy Tỵ (1833) cho biết như sau: “Phủ Hoài Đức, xưa là phủ Phụng Thiên có hai huyện, 13 tổng, 249 thôn phường. Huyện Thọ Xương: 18 phường. Huyện Vĩnh Thuận (xưa là huyện Quảng Đức): 18 phường”.

Trải qua thời gian và biến thiên của lịch sử, phố phường Hà Nội xưa đã thay đổi nhiều về tên gọi, số lượng cũng như diện tích nhưng một số vẫn giữ nguyên tên cũ như gợi nhắc cho những tâm hồn hoài niệm về một Hà Nội trong quá khứ.

Những ai đã một thời lưu dấu, 36 phố phường Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung, sẽ cảm nhận, tất cả nay chỉ thấy những đông người, xô bồ tất bật hơn, chẳng còn đâu dáng xưa xe ngưạ hồn thu thảo!!!

Bs. Nguyễn Lân-Đính st

CHỜ THỜI

(SĂN RÌNH)

À L’ESPÈRE

(À L’AFFÛT)

của ALPHONSE DAUDET

“Chờ thời” là một danh từ ngộ nghĩnh để chỉ cuộc đi săn rình, sự ngồi mong đợi của tay thợ săn đang mai phục; vào những giờ giấc mập mờ mà mong đợi mọi cơ may. “Chờ thời” giao động giữa ngày và đêm:

- Cuộc săn rình ban sáng, thì trước khi mặt trời mọc một chút.

- Cuộc săn rình ban chiều, thì vào lúc chạng vạng tối.

Cách đi săn sau cùng nầy làm tôi thích thú hơn, đặc biệt là trong các vùng đầm lầy, nơi mà nước lắng trong thường giữ được ánh sáng lâu dài…

Đôi khi người ta rình mồi trong chiếc xuồng độc mộc, đó là một con thuyền nhỏ không sườn, chật chội, dễ chòng chành bởi một động tác nhỏ.

Được các bụi lau sậy che chở, người thợ săn quan sát đàn vịt trời từ trong khoang xuồng, chỉ có ló lên cái vành nón, họng súng, và đầu con chó đang đánh hơi gió, vừa táp muỗi mòng, hoặc là cái chân bự của nó duỗi dài ra làm nghiêng cái xuồng một bên, và nước tràn vào…

Đi săn bằng xuồng kiểu nầy thật là rắc rối cho sự thiếu kinh nghiệm của tôi. Vì vậy, tôi thường đi săn “chờ thời” bằng chân, vừa đi vừa lội bì bõm vào tận vùng đầm lầy với đôi giầy bốt cao cổ vĩ đại làm toàn bằng da.

Tôi đi chậm chạp và thận trọng vì sợ mắc lầy. Tôi vạch lau sậy đầy hôi hám, và sự nhảy nhót của ếch nhái.

Sau cùng rồi, đây là một gò đất cỏ cây hoang dại, một mảnh đất khô ráo nơi mà tôi đóng chốt.

Người bảo vệ muốn làm vui lòng tôi, nên cho tôi mượn con chó của y; một con chó to của miền Pyrénées với bộ lông trắng, săn thú và bắt cá số một, và sự có mặt của nó làm cho tôi mất đi tự tin đôi chút…

Khi mà có một con gà nước bay vào tầm súng, nó có vài bộ điệu thật là buồn cười để nhìn tôi, nó ngẩng đầu về sau một cách điệu nghệ, hai vành tai dài mềm mại phủ xuống mắt, rồi nó vào thế rình, đuôi vung vẩy. Cả một trò hề kịch câm đầy vẻ sốt ruột, như để nói với tôi rằng:

- Bắn!… Bắn đi nào!...

Tôi bắn…, tôi bắn trật!...

Thế rồi, nằm duỗi cái thân ra, nó ngáp dài, ngáp vắn với cái vẻ mệt mỏi thất vọng và chán chường!...

- À!, vâng…, tôi công nhận…, tôi là một tay thợ săn dở mà!...

Đối với tôi, đi săn rình là vào giờ chiều xuống, ánh sáng yếu ớt còn ẩn hiện trong nước, các vũng nước sáng lên, phản chiếu cái màu bạc của vòm trời sẩm tối.

Tôi thích cái mùi nước nầy, cái bay vụt thoáng qua bí mật của côn trùng trong lau sậy, cái tiếng rì rào của những chiếc lá dài run rẩy. Thỉnh thoảng có một âm thanh buồn bã vang lên và kéo dài trong không gian, cũng giống như tiếng kêu của cái tù và. Đó là con vạc nó thọc cái mỏ bắt cá dài thườn thượt xuống đáy nước và thổi “rrrou.ou.ou.ou…”. Những cái chớp cánh của con hạc bay qua đầu tôi. Tôi nghe tiếng lào xào của cánh chim đang giũ lông trong không khí, và đến cả tiếng kêu xương răn rắc của cái khung sường nhỏ bé bị lao lực…

Kế đến thì không còn thấy gì nữa!...

Đó là đêm tối!... Một màn đêm tối mịt, với chút ít dạ quang còn sót lại trên mặt nước…

Bỗng nhiên, tôi cảm thấy giật mình, một cái gì bỡ ngỡ trong tâm hồn, như có một ai đó đang đứng sau lưng. Tôi xoay người lại, và tôi trông thấy người bạn đồng hành của đêm tối.

Đó là mặt trăng.

Một mặt trăng to lớn,ròn quay đang nhô lên từ từ, với tầm chuyển động hướng thượng; mới đầu thì còn dễ cảm nhận, nhưng về sau thì chậm dần khi lìa khỏi chân trời.

Thoạt tiên, một tia sáng rõ ràng chiếu đến cạnh bên tôi, rồi một tia sáng khác xa hơn… Bây giờ thì cả vùng đầm lầy được chiếu sáng. Một bụi cỏ nhỏ cũng phơi bày rõ bóng.

Cuộc đi săn rình đã chấm dứt!...

Đàn chim trông thấy chúng ta!...

Phải về thôi!...

Người ta đi giữa sự tràn ngập ánh sáng xanh dịu dàng, và mỗi bước chân trong nước, trong sình non, làm lay động hằng tá ngôi sao chập chờn, mà những tia sáng của mặt trăng đang chiếu xuyên qua tận đáy nước!...

Dịch thuật THANH CHÂU

KHI

MÌNH

LẠC

NHAU

ĐÀM LAN

Sau một cuộc trống phách tưng bừng, tôi ra về trong một trạng thái lâng lâng, hơi một chút chếnh choáng vì mấy ly bia.

Mặc dù chị Hoa đã mấy lần bảo tôi ngủ lại, khi e ngại một quãng đường dài khuya khoắt chỉ có tôi và con chiến mã thong dong. Nhưng tôi lại muốn về, về với căn phòng nhỏ thân quen, về với tấm chăn mảnh gối vẫn từng ấp ủ tôi trong những giấc nồng. Con người ta vốn cứ phải lệ thuộc vào những thân quen mà. Nhất là giấc ngủ, nó chỉ có thể ngon sâu khi nó không phải chịu bất kỳ một tác động ngoại cảnh. Lạ nhà khó ngủ. Đó là một cảm trạng không của riêng ai. Khi được ngả mình trên chăn ga gối đệm của chính mình, sao mà thoải mái thế, dễ chịu thế. Xoay ngang trở dọc mặc tình, không phải ngại ngùng làm mất giấc ai, không phải chập chờn vì những mông lung ngẫm ngợi. Lạ cho cái trò, cứ mất ngủ là hay nghĩ nghĩ suy suy, lan man, bứt rứt. Nhiều khi những suy những nghĩ ấy chẳng ăn nhập gì với nhau, mà cứ hết mảng kia chuyện nọ kéo nhau lấp đầy bộ não, kéo căng những sợi thần kinh mỏng mảnh, thẳng tay xua những con vi rút buồn ngủ ra sân chơi. Mặc dù hai con mắt lắm lần giục giã “thôi nào, ngủ đi ngủ đi” nó cũng chẳng chịu cho. Hì hì. Thế nên, nếu không buộc phải chọn lựa, cũng nên chiều cái bản thân mình một chút nhỉ? Miễn đừng chiều đến nỗi rơi xuống hố là được.

Con đường đêm vắng tanh. Dãy nhà hai bên đã dịu dàng bóng nhỏ. Những con mắt đỏ xanh ấy chỉ có mỗi chức năng là biểu hiện một sự sống văn minh của loài người với thứ nhiệt năng hữu dụng. Nếu thêm nữa, cũng chỉ là lời nhắc “Hãy tôn trọng giấc ngủ của hàng xóm”. Quả là văn minh thật. Và những thành tố của nó góp phần đáng kể khi giảm bớt phần “con” để tăng thêm phần “người”. Vấn đề là “con người” có biết vận dụng nó? Chiếc xe bon nhanh giữa những làn gió mát. Mát quá. Thú vị vô cùng khi được một mình chiếm hữu cả một không gian rộng lớn, êm ả và thoáng đãng. Như tăng thêm phần giá trị của món quà mà thiên nhiên đã trìu mến ban tặng. Mảnh trăng nghiêng chênh chếch giữa vòm trời như mỉm cười, như đón đợi, và cứ đi lùi như để dẫn đường. Chưa đến rằm nhưng mảnh trăng vẫn thân ái tỏa một vầng sáng rộng mơ màng, đủ để gieo thi tứ cho một tâm hồn vẫn thường rong mây ruổi gió: “Này trăng! Ai cất ông cao? Để ông tỏa ánh nao nao chốn trần” Có gì đó không ổn, không thơ lắm. À, chữ “ông”. Ông trăng. Ông trời. Ai áp đặt giới tính cho những hiện tượng thiên nhiên thế nhỉ? Có lẽ là từ sự suy tôn thần thánh của người xưa vốn nặng lòng “trọng nam khinh nữ”. Ông trời! Ừ thì cũng cho là được đi, vì cái sự quyền uy ánh sáng, có phần “bạo ngược” ấy. Nhưng còn trăng? Vẫn thường ví trăng hiền từ, nhân hậu như tấm lòng người mẹ, vậy sao không gọi là “Bà trăng”. Ông trời thì phải có Bà trăng mới xứng đôi chứ. Là hai ông cả thì cãi nhau suốt ngày. À mà không. Đàn ông họ ít hoài hơi để cãi với nhau lắm, cần thiết họ uỵch nhau luôn cho nhanh. Chỉ có đàn bà mới giỏi cái thứ võ mồm ấy thôi. Cho dù cũng lắm khi các sư tử huy động bộ móng tay một cách triệt để, một thứ vũ khí đắc địa, với mục tiêu cao nhất là làm tàn phai nhan sắc của đối phương. (Đó cũng là thứ để họ cành nanh số 1 đấy). Ối giời! Lan man tâm tưởng thế nào mà đem cái trần trụi hạ tầng mà vận vào thanh cao trong sáng của thượng tầng thế chứ? Bậy, bậy hết sức. Đang dạt dào thi tứ mà lại… À phải rồi “Nàng trăng”. Quá đúng. Quá hay. Vỗ tay thưởng mình cái. Ê, đang lái xe đấy nhá. Đừng có cao hứng vỗ tay mà bay xuống vệ bây chừ. Hì hì. Hổng dám đâu. Nhưng mà “Nàng trăng” thì có lý đấy nhỉ? Vừa mơ màng kiều diễm, vừa trẻ trung thân ái. Thế thì phải sửa lại hai câu thơ thôi! Xem nào, đổi giới tính cho trăng thì cũng phải đổi giới tính cho mình mới hợp:

Trăng ơi! Nàng giãi cùng ta.

Bên nhau… dẫu mấy đường xa… cũng gần…

Ki..ít…ri..í…t…

Cái đầu thì ở trên trăng, nhưng cái chân thì vẫn ở trên đất. Chính xác thì nó ở trên cái cần thắng, và nó vẫn không quên nhiệm vụ quan trọng của nó. Cùng phối tác với nó là một thứ thần lực đặc biệt của nhãn quan. Thứ thần lực này bắt ngay một nét thoáng vút qua khi mà hai con mắt chưa nắm được một hình hài cụ thể. Trung khu thần kinh tiếp phát tín hiệu còn nhanh hơn cả đường truyền Internet nữa. Hiệu ứng cấp kỳ của nó là lôi tuột cái cảm xúc đang mơ màng phang phác từng cao kia rơi đánh ịch về hiện thực.

Cái xe đã dừng lại khi hết trớn. Tôi ngoái nhìn nguyên do của sự vụ. Một bóng người vật vờ. Ánh trăng mờ mờ đủ cho thấy một mớ tóc sõa sượi và một dáng đi thất thểu. Tệ hơn thất thểu là từ gì nhỉ? Chẳng tìm ra ngay được, chỉ biết dáng đi kia như chực ngã đến nơi rồi. Tôi vòng xe lại. Cô gái vẫn như một cây chuối non liêu xiêu, không nhận thấy có người đến bên cạnh. Có vẻ là một cô ta vừa trải qua một biến cố gây sốc nặng thì phải. Tôi lên tiếng:

- Em ơi!

Cái cần cổ vẫn gục xuống, hai cái tay vẫn buông thõng theo từng bước chập choạng. Tôi gọi tiếp:

- Này em ơi! Em làm sao thế?

Vẫn chỉ một sự im lặng khó hiểu. Tôi đập tay lên vai cô gái:

- Này em…

Cô gái giật mình ngẩng lên, ánh mắt thất thần sợ hãi, hai tay vụt ôm chầm lấy ngực, cô dợm chạy.

- Không, em đừng sợ, chị không làm gì em đâu. Bình tĩnh đi nào.

Vừa nói tôi vừa kéo tay cô, cô gái dục dặc vài cái rồi như nhận ra tôi là người cùng phái, cô bớt sợ hơn, đồng thời đôi chân cô muốn khụy hẳn xuống. Tôi quyết định nhanh. Không còn cách nào khác. Đêm hôm khuya khoắt này, trong một tình cảnh đáng ngại này, làm sao tôi bỏ đi cho đành. Khó khăn lắm tôi mới đỡ được cô gái ngồi lên cái yên sau. Bắc hai cánh tay cô vòng qua bụng mình, tôi một tay lái xe một tay giữ cô. Với một tốc độ xe đạp, cũng may là không còn xa mấy, tôi đưa cô gái về đến nhà mình.

Vẫn chưa hề hé môi một câu. Nhưng thần sắc cô đã báo hiệu cho tôi biết có một sự tiếp nhận và trông cậy. Tôi cũng không hỏi han gì nữa. Pha một thau nước ấm, tôi lau sơ cho cô, thay tạm bộ quần áo lấm lem và ép cho cô uống xong một ly sữa nóng, tôi đỡ cô gái vào giường. Vỗ về mấy cái, cô gái lơ láo đôi mắt như đang ở một chốn vô định nào, một chút sau thì cô thiếp đi. Nhìn làn da bợt bạt, hơi thở yếu ớt, đôi môi tái ngắt, trong tôi nảy ra một số giả thiết. Trong đó, giả thiết về một tình huống xấu nhất cho phái yếu là có khả năng hơn cả. “Đàn ông năm bảy loại đàn ông. Có loại đem bỏ vào lồng mà thả trôi sông”. Đó là cái loại chỉ biết tồn tại bằng những vấn đề của bản năng. Với họ, thế giới không có gì quan trọng bằng tìm mọi cách đáp ứng cho những nhu cầu xác thịt. Ăn thô nói tục, lười chẩy thây lại hay tinh tướng. Không những họ nghiễm nhiên trở thành một gánh nặng cho những người thân, mà còn là một hiểm họa cho cộng đồng. “Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” ấy, đáng tiếc chỉ để phục vụ cho những ý đồ xấu xa, bẩn thỉu. Nói là nhiều thì không đúng lắm, nói là ít cũng chẳng phải cho. Chỉ biết luôn luôn có những đâu đó rập rình những hiểm họa cho cuộc đời. Để rồi có những người phụ nữ chân yếu tay mềm như cô gái này đây, vì bất kỳ một tình huống khôn lường mà có khi mang một hậu quả nghiêm trọng đến suốt cả cuộc đời.

Tưởng về nhà để được một giấc ngủ ngon, hóa ra lại cả một đêm dài mất ngủ. Mất ngủ khi bên cạnh có một người, một người mà ngoài một tình cảnh đặc biệt thì chẳng có một chút thông tin gì về nhân thân. Vốn cái tính ưa lo chuyện bao đồng, lại hay lan man ngẫm ngợi linh tinh. Nên dỗ mãi mà hai con mắt bướng bỉnh cứ chòng chọc lên cái đình màn. Nghĩ gần nghĩ xa, nghĩ qua nghĩ lại, nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ xuôi nghĩ ngược. Nghĩ sao mà kiếp con người ta lắm nỗi. Đã phải biết bao vật vã bon chen, mang vác chuyện cơm áo, nếu có được hai chữ bình yên còn là phúc đức. Chẳng may tai họa bất kỳ, thì ôi thôi cái mảnh đời mỏng manh gió thổi lại bao vật vờ chìm nổi long đong.

Gần sáng, tôi hơi mơ màng thiếp đi một chút, bỗng có tiếng động nhẹ làm tôi giật mình thức dậy. Nhìn sang bên, cô gái đã mở mắt tự bao giờ. Nhưng ánh mắt thì vẫn ngơ ngơ cái nhìn lạ lẫm.

- Chào em! Em thức dậy lâu chưa?

Ánh mắt hơi chuyển động, đôi môi mấp máy phát một thứ tiếng nhẹ:

- Chị là ai thế? Em đang ở đâu đây?

Tôi vui mừng khi thấy cô gái đã phục hồi được phần nào sau một giấc ngủ dài. Tôi ngồi hẳn dậy:

- Em đang ở nhà chị. Em thấy trong người thế nào? Có đau ở đâu không?

Cô gái khẽ cựa mình, và như chợt nhớ ra chuyện gì đó, ánh mắt cô vụt tối lại, cô nhăn mặt nửa như ghê tởm, nửa như sợ hãi. Giờ thì tôi đoán chắc cô đã gặp phải một chuyện tồi tệ. Tôi nhẹ giọng:

- Em đừng sợ. Em đang ở một nơi an toàn, không ai làm hại em được đâu. Nào dậy đi rửa mặt cho tỉnh táo, ăn sáng rồi chị em mình nói chuyện nhiều hơn.

Vừa nói, tôi luồn tay đỡ cô dậy, nương theo tay tôi, cô ngồi dậy và đưa tay ôm mặt. Tưởng cô khóc, nhưng không, mấy giây sau cô bỏ tay ra:

- Em hơi chóng mặt.

- Vậy em cứ ngồi yên đây đi. Chị đem nước lại cho.

Cô vội xua tay:

- Dạ thôi, em đỡ rồi, em đi được mà.

Tôi dìu cô gái ra nhà sau. Xong xuôi, trở lại phòng, tôi kê gối cho cô ngồi dựa, và nói:

- Em ngồi yên đây đợi chị đi mua đồ ăn sáng nhé. Ăn xong, có lẽ em đang cần đến một bác sĩ.

Cô hốt hoảng:

- Em không đi bác sĩ đâu.

- Sao vậy? Chị thấy em không được khỏe, đừng chủ quan em ạ.

Cô gái vẫn lắc đầu. Biết cô có uẩn khúc chưa tiện nói, tôi bảo:

- Ừ thôi tính sau. Giờ ngồi đây đợi chị nhé.

Tôi lấy xe ra ngoài, không quên khóa cửa. Với một tình trạng sức khỏe như thế, thì cô gái ấy chẳng bê nổi cái gì trong nhà tôi đi cả, có chăng là cái thân của cô ấy thôi. Nếu để cô ra đường trong lúc này, thì tôi chắc ông trời chưa kịp phết một dấu cộng vào trang phước đức của tôi thì đã nguệch ngay một dầu trừ không thương tiếc. Khi tôi trở về, cô gái vẫn ngồi yên tại chỗ. Tôi đổ gói cháo ra tô, mang đến bảo:

- Em ăn đi, ăn nóng vào là khỏe người lại ngay đấy.

Cô vẫn ngồi im, tôi nhìn vào mặt cô, thần sắc cô lộ rõ vẻ tiều tụy, suy sụp. Có vẻ tình trạng cô trầm trọng hơn tôi tưởng. Tôi ngồi xuống cạnh cô, múc muỗng cháo kề vào môi cô:

- Em nghe chị, hãy cứ ăn vào đã, chuyện gì thì cũng phải khỏe lên rồi mới giải quyết được.

Cái muỗng lách vào khe môi, môi cô hé ra, và nuốt từng muỗng từng muỗng như đứa trẻ. Bất chợt cô ôm mặt gục xuống nấc lên đau đớn. Tôi đặt tô cháo sang một bên, ôm lấy cô, vỗ nhè nhẹ vào lưng, trong tay tôi, cô bật ra tiếng thổn thức đầy ẩn ức. Khả năng cô gặp chuyện xấu của phụ nữ rõ ràng là có cơ sở rồi, chỉ có chuyện đó mới làm cô suy sụp như thế. Nhưng vấn đề là, lý do vì sao cô rơi vào một tình huống đáng sợ ấy? Và gia cảnh cô như thế nào? Có tham gia giải quyết tốt vấn đề hay sẽ là một trở ngại tâm lý nhất cho cô? Cô đã có chồng hay chưa? Có hay chưa thì xác suất hệ lụy của sự vụ tương đương nhau, vì diễn biến của vấn đề theo chiều hướng nào lại tùy thuộc rất nhiều vào thái độ người thân của cô. Có một điều rất bất nhẫn, là khi người phụ nữ bị hại vì những kẻ tồi bại, thì đã không được cảm thông, thương xót thì chớ, lại cứ mặc nhiên như chính mình gây nên tội, và những con mắt chung quanh thì thật là khó chịu, nhiều trường hợp bức bí, khổ sở đến nghĩ quẩn. Người ta không bỏ chút thời gian và lòng quảng đại để nhìn nhận nguồn cơn của vấn đề, mà chầm chập ngay vào sự mất mát của người phụ nữ bị hại. Thông thường trong những trường hợp ấy, nếu cô gái chưa có chồng, thì người nhà lấy làm xấu hổ vì con em mình bị mang một tì vết nhục nhã, còn nếu cô gái đã có chồng, thì cách đối xử của người chồng hết sức cực đoan. Họ chỉ nghĩ được rằng, họ bị xúc phạm vì “vật sở hữu” của họ bị xâm phạm, tự ái và sĩ diện của họ bị tổn thương. Và họ dồn những oái oăm ấy lên đầu người phụ nữ, không cần biết cảm trạng và hệ quả đối với người phụ nữ sẽ thế nào. Trong khi bản thân họ, sẽ tự cho phép mình hơn một lần được bước một chân ra ngoài cánh cửa hôn nhân. Rồi tự ngụy biện “Đàn ông mà”. Vô lý hết sức. Nếu nói về mặt tạo hóa, thì hai phái đều có những quyền năng công bằng, đối trọng và tương ứng. Hai phái khác nhau về mặt hình thể và một số công năng, là để kết hợp và tưong hỗ nhau trong các phạm vi đời sống. Vậy tại sao lại có những lý lẽ thiên lệch có phần định kiến một cách khắc nghiệt cho nữ giới? Đó là bắt nguồn từ những người đàn ông có chút thế lực thời xa xưa, muốn bảo vệ cho tính tham lam và ích kỷ của mình, nên đặt ra những thứ luật lệ có lợi cho họ, buộc người phụ nữ phải rơi vào thế bị chiếm hữu, phụ thuộc, phục tùng, rồi truyền mãi cho những đời sau. Ăn sâu vào nếp nghĩ nếp sống của con người. Ngày nay, tuy đã có thay đổi được phần nào thân phận chung của phái yếu, nhưng không phải người phụ nữ nào cũng biết tự cởi trói cho mình tự bảo vệ quyền lợi và tư cách chính đáng của mình. Sao ông Trời lại bắt phái nữ phải chịu ấm ức vì hình thể nhỏ bé, mảnh mai, yếu đuốu của mình thế nhỉ? Nếu có chút sức vóc, thì dễ gì bọn đàn ông bắt nạt được chứ.

Tiếng khóc của cô gái nhẹ dần. Tôi vẫn để cô tựa êm vào mình, khóc được rồi chắc cô sẽ nói cho tôi biết chút gì đó. Giây lát, cô ngồi thẳng dậy, lấy khăn ướt lau mặt, rồi nhìn tôi như cầu cứu:

- Chị ơi ! Chắc em chết mất, em phải làm sao bây giờ hả chị?

Khóe mắt cô lại rấn nước, tôi cầm tay cô bóp nhẹ:

- Em bình tĩnh. Hãy nói cho chị biết, em đang gặp chuyện gì? Đừng ngại gì cả, cứ nói ra hết đi, giúp được em cái gì chị sẽ giúp.

Cô lại sụt sịt:

- Cũng tại em… tại em mà…

- Thôi, đừng khóc nữa. Nào nói cho chị nghe xem đầu đuôi thế nào. Không có chuyện gì là bế tắc cả, khi mình bình tĩnh, tỉnh táo thì sẽ tìm ra cách thôi.

Tôi tóm lược câu chuyện của cô đã xảy ra như sau:

Cô lập gia đình mới gần hai năm, chưa có con vì còn kế hoạch để lo kinh tế. Cô đang làm việc ở một công ty xuất khẩu, lương khá cao. Chồng cô, một kỹ sư trẻ bảnh trai, nhiều triển vọng, hoạt bát, hóm hỉnh, và thích làm thơ. Cũng đã có thơ rải rác đăng trên các báo. Vừa qua, có một lá thư gửi đến làm quen với chồng cô qua một bài thơ. Lời lẽ trong thư cho cô biết đó là một cô gái trẻ. Cơn tam bành nổi lên, chẳng đợi nghe chồng giải thích, cô hầm hầm tống vài bộ quần áo vào túi xách rồi phóng xe ra khỏi nhà, tắt luôn điện thoại. Dự định của cô là làm cho chồng cô phải một phen tởn tới già. Nếu không biết cách xoa dịu lòng tự ái của cô thì cô sẽ cho “lên bờ xuống ruộng”. Nhưng chồng cô có lên bờ xuống ruộng không thì chưa biết, chỉ thấy trước mắt cô tự đưa mình vào rọ. Vốn định không để chồng tìm ra địa điểm mình trú ngụ một cách nhanh chóng, cô không về nhà cha mẹ, cũng không đến nhà những người bạn thân quen mà chồng cô biết. Cô tìm đến nhà một người bạn gái thân từ hồi còn học cấp II mà đã lâu rồi không gặp, vừa là để tránh chồng cũng là thăm lại bạn xưa. Chẳng ngờ khi đến nơi, trời thì đã sẫm tối mà bạn cô thì đã chuyển đi từ bao giờ. Trong hoang mang lo lắng nhưng chẳng còn cách nào khác là quay về, đường về qua một quãng vắng, hai bên lúp xúp um tùm cây cối, chính tại đoạn này, xe cô xảy ra sự cố, sau vài tiếng lụp bụp thì máy ì ra không chịu nổ nữa. Phát hoảng, cô lấy điện thoại ra định gọi cầu cứu thì bất thần chiếc điện thoại văng khỏi tay, và những tiếng cười khả ố vang bên tai. Trời tối, cô không thể biết có những ai, chỉ biết giọng cười đàn ông, và những cánh tay lực lưỡng chộp vào cô, cô hét lên và ngất đi. Khi tỉnh dậy, cô cảm thấy tê dại hết thân mình, vì đau và cũng vì lạnh. Cô nhận ra tình trạng vô cùng bi đát của mình, cô cố gượng dậy, lần mò trong bóng tối, quờ quạng tìm được bộ quần áo, trùm vào người rồi tìm ra đường lộ. Cô không biết mình đang ở đâu, và đang đi về đâu, những bước chân cô chỉ đi theo quán tính, và đó là hình ảnh mà tôi đã gặp cô trên đường.

Đến đây, tôi lại phải tắt ngang để nói đến một chuyện, một chuyện mà theo tôi phải gọi là một căn bệnh, mà không phải là bệnh nhẹ, bệnh thông thường, mà phải gọi là môt căn bệnh trầm kha mới đúng. Nó chẳng khác gì một khối ung thư cả. Một loại ung thư di căn từ thế hệ này đến thế hệ khác, để hầu như không một người phụ nữ nào không bị di chứng bởi căn bệnh ấy. Bệnh ghen. Có rẩt nhiều biện luận cho cái tính ghen. “Ghen là một đặc tính của Tình Yêu”, “ Có yêu thì mới có ghen”, “Ghen là cách để bảo vệ quyền lợi của tình cảm”, “Ghen là gia vị cho bát canh tình yêu thêm cay nồng”… Tôi không đủ trí nhớ mà đưa ra cho hết những biện luận thuộc tính, chỉ để nói tóm lại rằng, trong thế giới đời sống con người, mặc nhận những thứ tình cảm, có hại lẫn vô hại. Và cũng không phải chỉ phụ nữ mới biết ghen, đàn ông khi ghen cũng khủng khiếp không kém. Tôi tạm khoanh vùng đề tài trong phạm vi “ghen bóng ghen gió” của các nàng. Nếu sự việc đã rõ mười mươi, thì việc ghen không phải là đáng trách, chí ít cũng là để khẳng định “chủ quyền”. Nhưng rất tệ khi chỉ cần một thoáng nét không rõ ràng, thiếu chứng cứ, thiếu cơ sở, và rất nhiều tình huống hoàn toàn minh bạch, trong sáng, nhưng rất dễ trở thành sự nghi kỵ, ghen tuông. Điều đáng trách nhất là khi nổi cơn ghen một cách vội vàng như thế, thì hầu hết các nàng luôn cho là mình đúng, nhìn thấy đúng, nghĩ thế đúng, suy diễn càng phong phú và áp đặt. Nếu đối phương có muốn giải thích thì không thèm nghe, mà chỉ nhăm nhăm bắt người kia phải thừa nhận, “không có lửa làm sao có khói”. Thứ lập luận này ngày càng thiếu logich, có những loại lửa không hề có khói, và cũng có những loại khói mà không cần phải có lửa. Nhưng trong những trường hợp này vẫn luôn được vận dụng tối đa ngữ nghĩa. Tôi đã từng thấy rất nhiều gia đình rạn nứt, thậm chí tan vỡ, thậm chí gây nên những thảm cảnh khó lường cũng chỉ bắt đầu từ cái sự “ghen bóng ghen gió” một cách vội vàng nông nổi. Các nàng thường không nghĩ rằng, khi ấy các nàng tự làm xấu mình đi, hạ thấp mình xuống, thiếu tự tin, thiếu bản lĩnh, nếu tạo nên một tình thế căng thẳng, phần nào đó đẩy người đàn ông xa mình. Tôi có nghe một anh bạn nói: “Mình chưa từng phải nhìn thấy một bộ mặt biến dạng đến kinh hoàng ở cô ấy như vậy. Bộ mặt ấy cứ ám ảnh mình mãi, mình thật sự thấy sợ”. Khi giận dữ, gương mặt bị méo mó đi tất cả những đường nét, không thể nào che giấu được cái phần ác nghiệt nhất luôn tiềm ẩn trong phần “Con” của bản thân, chưa kể đến là giận dữ là sự tích cóp của bệnh tật, có người khi giận dữ còn tiết ra một thứ mùi khó chịu. Đáng tiếc là các nàng luôn dể mình bị rơi vào trạng thái không đẹp đẽ một chút nào chỉ vì sự nóng vội, hẹp hòi, vụn vặt, mà không nghĩ rằng tất cả những hệ quả ấy không chỉ riêng mình phải gánh chịu. Tự ái, ngoan cố, lòng kiêu ngạo, sự nhỏ mọn đã không cho các nàng có cơ hội chuộc lại nguy cơ. Dẫu biết mình sai đi nữa thì cũng ương ngạnh mà chờ sự giải quyết nhún nhường của người đàn ông. Tất nhiên rằng đa phần đàn ông luôn tiềm ẩn lòng tham sắc, nhưng không phải với bất kỳ người phụ nữ nào họ cũng có thể toan tính chuyện nọ kia. Trong khi phạm vi giao tiếp xã hội của họ khá rộng, nếu cứ một động thái tiếp xúc với người khác phái nào cũng là lý do ghen tuông của người vợ, thì một là người đàn ông ấy trở thành một loài tai cụp, thui chột cả mọi khả năng phấn đấu, hai là sẽ cắt phăng tất cả dù họ có luyến tiếc đến đâu thì cũng chẳng đủ độ bền của thần kinh mà chịu đựng những rầy rà vô lối của các bà. Bởi có thanh minh giải thích thì cũng chỉ vài ba lần, không ai đủ kiên nhẫn và sức lực mà kéo dài tình trạng bùng nhùng thế mãi. Và hậu quả tất yếu sẽ phải xảy ra.

Bây giờ thì một trong những hậu quả ấy đang hiển hiện trước mắt tôi đây. Cô gái này đang khóc nức nở, đang đau đớn tột cùng, lo lắng tột cùng, hối tiếc tột cùng, cho dù là kẻ gây ra cho cô điều tệ hại mới là kẻ đáng lên án, nhưng những kẻ ấy sẽ không có đến một phần nghìn cơ hội nếu không bắt nguồn từ chính cô. Một gia đình hạnh phúc đầy tràn có nguy cơ vỡ toác, một tương lai đẹp đẽ tươi sáng có nguy cơ tắt ngóm, kể cả là một sinh mạng cũng đang có nguy cơ yểu mệnh. Làm thế nào để cứu vãn? Lấy gì để bảo đảm người đàn ông kia có thể chấp nhận và đi qua chuyện này một cách êm ả? Lấy gì để tẩy xóa một vết thương đã hết sức nặng nề trong cuộc đời một người đàn bà? Lấy gì để chối tránh một hậu chứng oan nghiệt nếu một trong những tên khốn kiếp kia kịp để lại một phần chứng tích? Càng nghĩ tôi càng thấy rối rắm. Tôi chỉ là một người bàng quan, thấy nhỡ độ đường thì ghé vai, mà còn không nhìn thấy được chút lóe sáng mỏng manh nào, thì chính đương sự còn bế tắc tuyệt vọng đến đâu.

- Em phải làm sao bây giờ, chị ơi?

Cô gái ngọt nghẹt giọng nói. Làm sao lấy giẻ bọc kim? Làm sao lấy giấy gói lửa? Làm sao dập tắt đám cháy khi nó đã bùng lên? Làm sao… làm sao…? Trời ạ! Đến bể cái đầu mất thôi. Nhưng không lẽ cứ ngồi đây mà khóc? Ít ra thì cũng phải thử tìm lấy đường mà đi chứ. Tôi xốc cô gái dậy:

- Em nghe chị nói đây! Việc đã thế này rồi thì em phải đủ can đảm đối diện vấn đề để tìm ra cách tốt nhất. Em có khóc mấy thì cũng chẳng ích gì. Trước tiên, lau rửa mặt mũi, rồi chị đưa em đến bác sĩ…

Cô gái chớm phản kháng, tôi nghiêm mặt lắc đầu :

- Em phải đi, phải nghe lời chị, để khi có xác định về tình trạng sức khỏe của em thì mới có thể tính tiếp được. Không để xảy ra thì đã tốt, nhưng đã xảy ra rồi thì phải cố mà khắc phục hậu quả. Đi, rửa mặt nhanh lên.

Dù miễn cưỡng, nhưng cô gái đã chịu nghe lời. Rồi tôi đưa cô đến một bác sĩ sản khoa quen. Vài phút trao đổi riêng và rồi sau một loạt những kiểm tra y tế, một kết luận tạm chưa đủ để thở phào: “Trước mắt thì không có gì nghiêm trọng, chỉ điều trị một chút tổn thương và dự phòng viêm nhiễm. Về sau, nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu nào thì phải đến khám lại ngay, khả năng hậu quả đến đâu thì hiện tại chưa xác định được”. Nghĩa là vẫn còn một hòn đá treo lơ lửng, và mọi câu trả lời luôn chừa chỗ cho hai từ “thời gian”. Việc kế tiếp mới là việc cần phải suy tính cẩn trọng. Làm cách nào cho cô gái trở về nhà của mình một cách thuận tiện nhất? Cô gái này rõ ràng là còn quá non nớt trong chuyện tạo cho mình một thái độ bình tĩnh, thản nhiên mà bước vào nhà như chưa có chuyện gì xảy ra, còn nếu tính chuyện phơi bày tất cả sự thật và trông mong vào lòng khoan dung của người đàn ông thì lại là một việc quá bấp bênh. Nói dối. Tôi chúa ghét sự dối trá, và chắc rằng không một ai trên đời này lại yêu thích được sự dối trá, cho dù họ luôn luôn dối gạt mọi người, nhưng nếu bị ai đó dối gạt thì họ cũng sẵn sàng lồng lên ngay. Nhưng trong trường hợp này thì không thể không dối trá. Dối trá để mà cứu vãn một gia đình, một hạnh phúc, và cả một cuộc đời nữa. Rất nhiều, rất nhiều những sự thật chân chính được bảo vệ bằng sự dối trá. Trường hợp này có thể dễ dàn xếp hơn nếu cô gái có thể về tạm nhà mẹ đẻ. Nhưng cái khó là nhà bố mẹ cô lại ở tận ngoài Bắc. Các thân thuộc phần lớn lại bên họ hàng nhà chồng. Không thể có giải pháp tình huống nào thuận tiện cho lúc này cả. Xem ra tôi lại ngẫu nhiên mà đóng vai một “Đại sứ thiện chí” rồi đây. Nhưng phải làm thế nào nhỉ? Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt. Xuôi thế nào cho vui chèo mát lái đây? Khi không mà vấp phải đá mà quàng phải đây, nhưng mà cờ nhét vào tay thì phải ngó ngay chứ mần răng ngó ngược bây chừ.

Dỗ dành, động viên, tư vấn, tham vấn, lục vấn, vân vân vấn… Cuối cùng cô gái cũng phải xì ra một địa chỉ, cùng ánh mắt tin cậy, giao phó. Cửa mở, hiện ra trước mặt tôi là một gương mặt bơ phờ, hốc hác, nhìn là biết người đang có tâm trạng lo âu và mất ngủ, ánh mắt đầy ngạc nhiên khi tôi gọi đúng tên.

- Vâng, là tôi đây ạ. Chị có việc gì? Mời chị vào nhà.

Tôi theo bước vào, vừa đặt mình xuống ghế thì chủ nhà có điện thoại:

- Sao? Tìm được rồi hả? Vậy mà tôi tưởng… chưa… chưa có tin tức gì cả… ừ cố giúp tôi cái nhá…ừ, nếu có tin tôi sẽ báo cậu ngay… ừ bai.

Chẳng cần tò mò hỏi han, tôi nói luôn khi anh bạn trở lại chỗ ngồi:

- Tôi đem tin của vợ cậu đến đây.

Hai con mắt trợn tròn:

- Chị…vậy chị là…

- Không, tôi không quen biết gì trước khi gặp cô ấy đêm qua.

- Đêm qua! Chị gặp cô ấy ở đâu ạ? Hiện giờ cô ấy ở đâu? Sao cô ấy không về nhà?

- Cậu bình tĩnh. Hiện cô ấy đang ở nhà tôi. Cô ấy chưa dám về là do bị kẻ gian chận đường cướp mất xe cùng tư trang…

- Trời đất! Cô ấy có sao không chị?

Một người chồng yêu thương vợ nồng nàn đây. Thì mới cưới chưa lâu mà.

- Cô ấy chỉ bị thương nhẹ thôi, sức khỏe không có gì đáng ngại. Tôi đến báo tin cho cậu và cũng muốn nói với cậu một chút chuyện.

- Dạ, chị cứ nói.

- Nếu có thể thì cậu đừng truy cứu chuyện mất xe làm gì, hãy bỏ qua và chăm sóc cô ấy cho tốt thôi, vì cô ấy vừa trải qua một sự sợ hãi kinh khủng rồi, phụ nữ mà, chắc cậu cũng có thể hình dung được chứ.

- Dạ được, tôi hiểu mà, người không sao là tốt rồi, còn cái xe không quan trọng, mất rồi thì thôi. Nhưng lẽ ra là phải báo mất với công an chứ, may ra thì họ tìm được cũng tốt, không báo chẳng lẽ dung túng cho bọn kẻ cướp ấy sao?

- Nếu muốn thế thì cũng phải đợi cô ấy bình tâm trở lại đã, chứ trong lúc này còn phải lên xuống khai báo, tôi e cô ấy không chịu nổi.

- Vâng, tôi nghe theo chị, vậy chị cho phép tôi đến đón cô ấy về.

Vẻ nôn nóng, sốt ruột lộ rõ trong đôi mắt người đàn ông. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ:

- Có lẽ tốt hơn là cậu nên để cô ấy ở lại nhà tôi nghỉ ngơi vài ngày, xin lỗi cậu, là vì cô ấy cũng nói sơ cho tôi biết về chuyện riêng…

Anh chồng tội nghiệp xịu ngay mặt xuống:

- Vậy là cô ấy vẫn chưa tin tôi.

- Cậu yên tâm, tôi cũng đã phân tích vấn đề cho cô ấy hiểu rồi, cũng vì thế mà cô ấy vừa xấu hổ, vừa ngại chuyện mất xe, nên do dự một chút.

- Thiệt là khổ, chỉ vì một chút hiểu lầm mà thành ra chuyện thế này đây. Thế chị cho phép tôi đến thăm cô ấy chứ?

- Thế này nhé. Tạm thời chúng ta nên liên hệ nhau qua điện thoại đã. Lúc nào tôi cảm thấy cô ấy đã sẵn sàng gặp cậu rồi thì tôi sẽ báo, được không?

- Có cần thiết phải vậy không chị? Tôi nghĩ chắc không đến nỗi… Hay là cô ấy còn chuyện gì muốn giấu tôi? còn chị…

Ánh mắt dấy lên một nét nghi ngờ, tôi cảm thấy hơi khó chịu, bỗng dưng mà rơi vào một tình huống… nhưng thôi, đã giúp người thì kể gì, rồi sẽ đến lúc người ta hiểu ra thôi.

- Tôi biết, có thể cậu hoài nghi một cái gì đó giữa tôi và vợ cậu, hoặc một ý đồ không trong sáng nào đó. Không sao. Đây là địa chỉ và số điện thoại nhà tôi. Cậu có thể dến bất cứ lúc nào. Chỉ là tôi nhận lời vợ cậu để có thêm chút thời gian cho cô ấy bình tâm lại mà thôi.

- Xin lỗi chị. Tôi không dám nghĩ gì về chị cả, chỉ là tôi thấy vợ tôi có vẻ hơi khó hiểu thôi. Đã là vợ chồng, thì phải cùng nhau giải quyết những chuyện khó khăn chứ. Mà thôi, xin nghe theo ý chị vậy. Nhưng chắc là tôi sẽ phải đến thăm cô ấy ngay thôi. Chị không biết tôi đã phải trải qua những giờ phút thế nào đâu.

- Tôi biết chứ. Lo đến cháy ruột cháy gan chứ còn gì nữa. Thôi, vậy tôi về trước dể nói cho cô ấy hay nhé.

- Vâng, chị về trước. Cảm ơn chị nhiều lắm.

Cô gái ôm mặt khóc rưng rức khi nghe tôi kể lại. Tôi vỗ về:

- Em đừng quá đau buồn vì chuyện này nữa, hãy coi như một tai nạn chẳng may mình gặp phải, và cũng là một kinh nghiệm đắt giá. Chuyện này chỉ có hai chị em mình biết, tạm thời em cứ ở lại đây vài ngày. Nhưng khi cậu ấy đến thăm, em cũng nên tỏ thái độ dễ chịu một chút. Chị thấy cậu ấy là một người đàn ông tốt đấy, đừng nên dể cậu ấy khổ tâm hơn.

- Nhưng mà lỡ anh ấy bắt em phải báo mất xe, rồi lộ chuyện này ra thì làm sao?

- Việc báo mất xe thì chắc phải báo rồi, vì nếu không báo thì sẽ gây sự ngờ vực, nhưng em không báo chuyện kia thì ai biết được, bọn ấy nếu bị bắt không thấy tra hỏi gì đến chuyện ấy thì chúng cũng có dại gì tự khai ra đâu. Thực ra, nếu là chị thì chị bắt chúng phải trả giá cho sự khốn kiếp ấy.

- Thế thì em chết mất, nhục nhã thế còn mặt mũi nào mà sống nữa.

- Bởi vậy nên mới phải giấu chuyện này đi. Thôi, cố gắng lên, một bài học quá đắt cho lòng tin và cách ứng xử trong tình cảm vợ chồng. Mong sao sẽ không có quá nhiều người bị lâm vào cảnh trạng như em thế này.

Cô gái gục đầu rấm rứt. Khổ thế đấy, lúc chưa xảy ra chuyện thì không biết nên mềm mại một chút, để khi xảy ra chuyện rồi, thì lại chỉ biết khóc.

Tiếng xe dừng trước cổng. Tiếng bước chân gấp gáp. Người đàn ông chợt hiện ra trước cửa. Cô gái gục mặt vào hai bàn tay. Người đàn ông ba bước nhảy ôm chặt cô gái trong vòng tay. Không gian chỉ âm vang mỗi tiếng khóc của cô. Tôi im lặng, nghe lòng trào dâng một niềm xúc động. Ánh mắt ấm nồng và vòng tay da diết của người đàn ông như một dòng suối nóng cho cô ngâm mình, đã giãn nở trong cô tất cả những tế bào cảm xúc, vết thương sưng tấy trong cô như đang được chữa trị bằng một liều thần dược. Có vẻ như trong vòng tay hạnh phúc ấy, cô gái như chợt quên hết những tổn thương, cô như một chú mèo con lọt thỏm trong tấm chăn ấm áp tình yêu. Ngước đôi mắt đẫm lệ, cô nhìn chồng mấp máy:

- Em xin lỗi anh.

- Thôi, không có gì phải nghĩ nữa, em không sao là anh mừng lắm rồi. Em có biết anh như phát điên lên vì không tìm được em không? Sao em lại tự làm khổ mình thế chứ. Em có đau ở đâu không?

Câu hỏi đầy quan tâm của chồng khiến cô gái cụp mắt xuống. Tôi vội đỡ lời:

- Không, cô ấy không sao cả, tôi đã xem cẩn thận rồi, chỉ phải một phen sợ hãi quá thôi. À mà cũng đến giờ cơm rồi, cậu ở lại dùng luôn nhé.

Nói rồi, tôi đi ngay xuống bếp, tôi cố ý dềnh dang để hai cô cậu tiện câu chuyện. Cũng phải để cho cô gái tự đối mặt với vấn đề thôi, chứ làm sao tôi có thể trám lấp mãi được. Khi tôi bê mâm cơm lên, thấy cô khóc vùi trong tay chồng. Tôi cười:

- Thôi nào, nhiều nước mắt thế thì lụt cả nhà bây giờ. Ra ăn cơm đi này. Ăn đi đã, rồi chuyện gì tính sau.

Bữa cơm trôi qua nhanh, vì hầu như chỉ có tôi ăn, còn hai người động đũa gọi là. Dọn dẹp xong, tôi pha một ấm trà. Người đàn ông tỏ ra hơi lúng túng, hai tay xoa xoa vào nhau:

- Chị ạ! Em rất cảm ơn chị đã hết sức giúp đỡ vợ em. Giờ em xin phép chị…

- Sao về vội thế? Còn sớm mà.

- Dạ, vợ em cũng khá mệt rồi, em muốn cô ấy nghỉ ngơi sớm ạ.

- Ừ, thôi thế cũng được, cậu cũng về nghỉ đi, mai lại đến thăm cô ấy nhé. Giờ thì yên tâm lắm rồi phải không?

- Dạ, em xin lỗi nếu có gì không phải với chị. Dạ, em xin phép chị, em về ạ.

Cô gái vẫn ngồi yên, đầu cúi xuống như đang rất suy nghĩ. Tôi đứng dậy tiễn khách. Hai chúng tôi ra gần đến cổng thì chợt nghe:

- Anh ơi! Đợi em với.

Tôi quay lại, cô gái đang chạy ào ra, ôm lấy người đàn ông nói:

- Anh cho em về với.

Tôi nắm lấy tay cô hỏi gặng:

- Em ổn chứ? Về nhà bây giờ không sao chứ?

Cô gái quay ra nhìn tôi:

- Em cảm ơn chị nhiều lắm. Em thấy mình ổn rồi chị ạ. Em không nên làm phiền chị thêm nữa.

- Không phải là chuyện phiền hà gì ở đây. Nếu em thấy muốn về nhà thì cứ về thôi, đó là chuyện tốt mà. Nhưng…

- Dạ chị đừng lo, cô ấy muốn về là em mừng rồi, em sẽ chăm sóc cô ấy cẩn thận chị ạ.

Tôi nhìn cô gái, cô khẽ gật đầu.

- Thế thì chị chúc mừng hai em. Thôi về nghỉ ngơi đi. Lúc nào rảnh thì ghé thăm chị nha.

Cầm tay cô gái tôi dặn thêm:

- Có gì thì cứ gọi điện cho chị nhé.

Cả hai vợ chồng chào từ biệt tôi một lần nữa, rồi anh chồng dìu vợ lên xe. Cô gái vòng hai tay ôm chồng. Nhìn theo họ, tôi thầm mong câu chuyện vừa qua, với cô chỉ là một cơn ác mộng, và xin đừng có thêm một hậu chứng nào nguy hiểm cho cô nữa, để cô được bình an trở về với vòng nôi yên ấm của tình yêu. Chừng đó cũng đã quá đủ cho cô hiểu giá trị của hạnh phúc là thế nào rồi. Xin Ông trời hãy lỏng tay cho một thường tình bé mọn. Xin cuộc đời đừng thêm nữa những niềm đau và nước mắt. Không xảy ra chuyện đương nhiên là tốt, nhưng khi xảy ra chuyện cũng là một dịp cho ta hiểu mình và hiểu người thêm cũng không phải là không tốt. Nhưng nếu không phải trả bằng một cái giá quá đắt thì tốt hơn biết bao. Nhưng đáng buồn là con người ta cứ phải trả một cái giá rồi thì mới hiểu được bản chất thật của một chữ “Tình” là gì.

ĐÀM LAN

|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
 54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
 59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
 69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
 74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
 84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
 89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
|  54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
|  59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
|  69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
|  74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
|  84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
|  89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
Netadong.com thiết kế