Hiện có 3 người xem / 1308968 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 11/5/2013

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA & NAY

Trong buổi họp sáng nay có một vị khách là nhà thơ nữ Phạm Thị Minh Hưng, đồng tác giả tập thơ Đêm Hoa Lửa với nhà văn nữ Đàm Lan, một cây viết quen thuộc của Bản Tin CLB Sách Xưa & Nay. Sau vài lời tự giới thiệu của nhà thơ Minh Hưng, như thường lệ, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã mở đầu phiên họp bằng việc giới thiệu 2 cuốn sách mà ông mới có. Lần này cả hai cuốn sách đều là sách mới, và một cuốn bằng tiếng Việt, cuốn còn lại bằng tiếng Pháp. Cuốn tiếng Việt mang tựa đề là “Thương nhớ Nguyễn Khải” là một cuốn gồm những bài viết về nhà văn quá cố Nguyễn Khải được viết bởi các bạn bè của ông. Người viết đã mua vì thấy cuốn sách có rất nhiều hình ảnh minh họa và vì thấy sách được nhà xuất bản Hội Nhà Văn in rất đẹp năm 2008, đồng thời, và nhất là vì người viết thấy có chữ ký của nhà văn ngay trên trang lót, nên khi được anh bạn bán sách phán một giá hơi cứa cổ, người viết cũng vui vẻ rút tiền liền! Nhưng than ôi! Khi về tới nhà lấy sách ra đọc kỹ mới thấy là cuốn sách được in ngay sau khi nhà văn mất. Mà đã mất thì còn làm sao mà ký được? Thế là người viết ngay tức khắc vác cuốn sách tới đòi anh bạn bán sách cho trả lại, đồng thời giải thích cho anh ta biết là chữ ký là chữ ký dzổm, vì sách được in sau khi nhà văn mất, và đây chính là lúc điều kỳ diệu xảy đến! Anh bạn bán sách không chịu trả lại tiền và nói:

“Ông nhà văn này rất thần thông vì ông là người siêu trường thọ, ông ta sống chắc phải 160, 170 tuổi vì đây này, bác xem này, đây là hình ông ta chụp năm 1875, mà trông hình này thì lúc chụp ông ta ít nhất cũng đã phải là 30 tuổi là ít. Vậy rất có thể là mất xong, ông ấy hiện về và thích cuốn sách nên ký thì sao? Rồi anh bạn bán sách mở cuốn sách nơi trang 10 và cho người viết đọc hàng chữ: “Chân dung nhà văn Nguyễn Khải chụp tháng 5 năm 1875”. Sau khi nhìn thấy tận mắt con số 1875, người viết đành chịu thua vác cuốn sách về… Cuốn thứ nhì bằng Pháp văn mang tựa đề là Một Ngàn Năm Văn Học Việt Nam (Mille ans de littérature Vietnamienne) của nhóm tác giả gồm Bs Nguyễn Khắc Viện, tác giả Hữu Ngọc và một số tác giả khác trong đó có 2 nữ tác giả người Pháp. Cuốn sách khổ 11x17cm và dày 604 trang, được in năm 2000, và được viết bằng Pháp văn. Đây là một tuyển tập các bài thơ văn của các tác giả từ thế kỷ thứ XI tới cuối thế kỷ XX nên là một kho tài liệu cho những ai yêu thích văn chương, văn học. Sau khi đọc lướt qua hồi thế kỷ thứ XI, người viết bắt gặp nhiều tên tuổi mà mình chưa hề biết đến như Diệu Nhân, Nguyễn Sướng, Doãn Hành, Thái Thuận, Phú Thúc Hoành vv… Sau khi được giới thiệu, 2 cuốn sách được các thành viên chuyền tay nhau xem một cách thích thú.

Sau phần giới thiệu sách, anh Dương đã lên trình bày về việc lựa chọn thơ để in một tuyển tập thơ của chính các thành viên CLB. Các thành viên đã tham gia thảo luận để đi đến một thỏa thuận chung cho việc in tập thơ, nhưng chưa đạt được sự đồng thuận, vì cũng có thành viên muốn in cả thơ lẫn văn. Vả lại, theo như chuyên viên in ấn cho biết thì không thể nào in kịp vào thời điểm kỷ niệm 7 năm ngày thành lập. Do đó, việc thảo luận về in thơ đã được gác lại cho tới kỳ họp tới, hy vọng sẽ đạt tới thỏa thuận chung, làm mọi người ai nấy đều hài lòng.

Sau phần thảo luận, anh Chử đã “hát thơ” tặng các thành viên một bài anh mới làm. Tiếp lời anh Chử, nhà thơ nữ Minh Hưng ngâm tặng các thành viên bài thơ “Thiên đường tìm đâu”. Kế đó Dịch giả Vũ Anh Tuấn kể chuyện ông viết truyện ngắn Hảo Mộng và khoe 4 câu thơ trường phái Thiên Cữu:

Đôi ta sẽ sống

Chẳng cần sang giàu

Chỉ cầu cho được

Suốt ngày bên nhau.

Tiếp lời Dịch giả Vũ Anh Tuấn, nhà thơ Thiếu Khanh lên kể một giai thoại về tình.

Cuối cùng anh Phạm Vũ có một thuyết trình ngắn về văn hào Mark Twain, và buổi họp kết thúc lúc 11 giờ cùng ngày.

VŨ THƯ HỮU

VÀI DÒNG VỀ CUỐN SÁCH

“CÔNG TRÌNH CỦA NƯỚC PHÁP Ở BẮC KỲ”

(L’OEUVRE DE LA FRANCE AU TONKIN)

của tác giả ALBERT GAISMAN

Cuốn sách khổ 14x20cm này dày 240 trang cộng với 4 bản đồ, và được xuất bản năm 1906 (107 năm trước) ở Paris bởi nhà xuất bản Félix Alcan, một nhà xuất bản khá nổi tiếng. Lời giới thiệu sách là của J. L. De Lanessan, Cựu Toàn Quyền Đông Dương, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Pháp.

Cuốn sách kể lại một cách vô tư tất cả các sự việc đã xảy ra trước lúc, trong lúc, và sau lúc Pháp chiếm Bắc Kỳ và là một nguồn sử liệu cực quý.

Ngoài lời giới thiệu sách của cựu Toàn quyền Đông Dương De Lanessan và lời nói đầu của tác giả, cuốn sách được chia làm VIII chương.

Chương I từ trang 7 - 47 nói về: Các chi tiết địa dư – Cuộc viễn chinh của Francis Garnier - Hiệp ước ký kết năm 1784.

Chương II từ trang 48 - 55 nói về: Chính sách kinh tế mới của nước Pháp.

Chương III từ trang 56 - 78 nói về: Cuộc chinh phục - Mâu thuẫn và va chạm với Trung Hoa - Vụ Bắc Lệ - Vụ Lạng Sơn - Hiệp ước ký với Trung Hoa.

Chương IV từ trang 79 - 111 nói về: Việc bình định.

Chương V từ trang 112 - 153 nói về: Tính tình dân Annam, tổ chức gia đình và xã hội - Người Annam - Người nông dân và người thợ công nghiệp - Việc cần thiết là phải có trường dạy nghề thực hành - Thuế má.

Chương VI từ trang 154 - 200 nói về: Tạo hóa lợi cho lãnh thổ chiếm cứ là xứ Bắc Kỳ - Kỹ nghệ - Mỏ than - Nghề kéo sợi bông - Hãng xi măng - Kỹ nghệ nấu rượu - Kỹ nghệ làm bột - Dệt lụa - Cảng Hải Phòng - Việc xuất cảng - Việc nhập cảng - Tổ chức việc buôn sỉ - Kỹ nghệ làm đồ uống.

Chương VII từ trang 201 - 216 nói về: Quan hệ giữa xứ Bắc Kỳ và Vân Nam - Vân Nam - Sự cần thiết phải có cơ quan tín dụng.

Chương VIII từ trang 217 - 227 nói về: Các đồng minh cần thiết của nước Pháp ở Viễn Đông.

Phụ đính từ trang 229 - 237 nói về: Phong trào thương mại tổng quát của Đông Dương từ 1895 tới 1904 tính bằng hàng triệu quan - Phong trào thương mại đặc biệt của Đông Dương với Pháp quốc tính bằng hàng triệu quan - Nhập cảng - Xuất cảng.

Cuốn sách là một nguồn tài liệu rất quý về tất cả những gì người Pháp đã mưu toan, đã dự tính, và đã làm sau khi chiếm được Bắc Kỳ…




(Trích hồi ký 60 năm chơi sách, chương VI)

Vũ Anh Tuấn

ĐÔI NÉT VỀ CLB

NHỮNG NGƯỜI YÊU SÁCH XƯA & NAY

NHÂN KỶ NIỆM 7 NĂM NGÀY THÀNH LẬP

Thấm thoát mà đã 7 năm kể từ ngày CLB Những Người Yêu Sách Xưa và Nay được thành lập. Từ Bản Tin số 1 mỏng manh, bài vở chưa nhiều, đến nay là số 85 với bài vở ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn.

Đầu tiên do những người yêu sách cổ, cùng tham gia những cuộc triển lãm sách cổ tại Tp HCM và đạt những giải cao, muốn có một nơi để gặp gỡ, giao lưu, trao đổi thông tin với nhau về sách cổ và mong tìm cách để giữ lại những sách quý hiếm đang được săn lùng để đưa ra nước ngoài. Chưa dừng ở đó, những người Yêu Sách còn mong muốn đóng góp những kiến thức của họ về Sách, nên muốn làm một Bản Tin chuyên đề về Sách, để tiện trao đổi thông tin, và mở mục mua bán, rao vặt, đấu giá và nhận thêm một số dịch vụ: Sửa morat. Toát yếu các tác phẩm. Đấu giá để các thành viên trao đổi sách với nhau. Tư vấn thư viện cơ quan và cá nhân. Giải đáp thông tin sách. Cung cấp bản sao cho ai có nhu cầu.

Cuộc họp ra mắt đầu tiên, ngày 17-6-2006, cũng là ngày trưng bày một số sách cổ thế kỷ 16, 17, 18, 19 đã đoạt giải trong những cuộc thi “Cuốn Sách Vàng” trước đó, cùng với một số Báo Cổ như GIA ĐỊNH BÁO, ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. NAM PHONG TẠP CHÍ của học giả Phạm Quỳnh. TRI TÂN của học giả Nguyễn Văn Tố và một số Sắc Phong. Dịp này ban Tổ Chức cũng ra mắt Ban điều hành gồm có: Chủ Nhiệm Vũ Anh Tuấn. Phó Chủ nhiệm: Ông Lưu Nhật Quang. Thư Ký: Ông Hoàng Minh và Ông Phạm Thế Cường. Thủ Quỹ: Ô. Nguyễn Hoàng Triệu và Lm Nguyễn Hữu Triết, cố vấn cho CLB.

Ngày ra mắt, CLB đã được cơ quan truyền thông và báo chí ủng hộ mạnh mẽ. Đài Truyền Hình Việt Nam VTV. Đài Truyền Hình TpHCM HTV đã có phóng viên đến ghi hình lễ ra mắt. Sau đó, Đài truyền Hình Đồng Nai 1 phát cuộc phỏng vấn Lm Nguyễn Hữu Triết và Chủ Nhiệm Vũ Anh Tuấn. Đài Tiếng Nói Nhân dân TpHCM cũng phỏng vấn và phát trên trên đài. Các báo Tuổi Trẻ, Saigon Giải Phóng, Thanh Niên, Người Lao Động, Thể Thao Văn Hóa, Pháp Luật, Văn Hóa, Báo Điện ảnh Việt Nam, Báo Công Giáo và Dân Tộc cũng có bài giới thiệu. Các báo điện tử trên mạng cũng loan tin về sự ra đời của CLB. Ngoài ra cũng có 6 nhà báo là thành viên của CLB. Cũng nhờ các phương tiện truyền thông nhiệt tình đưa tin, mà có một nhà nghiên cứu Việt Kiều ở Úc và một số sinh viên cũng đăng ký làm thành viên CLB.

Sau đó không lâu, Lm Nguyễn Hữu Triết giới thiệu về Bộ Sưu tập Kiều của ông. Một Bộ Sưu tập đáng nể, gồm có:

- 162 bản Kiều bằng tiếng Việt, Hán, Nôm, Anh, Pháp, Đức, Hàn

- 707 đầu sách chú giải và có bài viết về Truyện Kiều và tác giả Nguyễn Du

- 566 tạp chí có bài thông tin về Kiều

- Một số tranh, tượng, băng đĩa và vật dụng liên quan đến Kiều

Hàng tháng, các thành viên CLB đều tổ chức một kỳ họp mặt. Đó cũng là dịp để mỗi người nhận lấy Tờ Nội San, sản phẩm mà mọi người chung tay với nhau để làm ra. Bài vở thì mỗi người tùy theo khả năng, sự quan tâm của mình để viết ra. Không kén chọn đề tài. Không đòi hỏi thể loại và cũng không có thù lao. Họ viết say sưa về những quyển sách cổ mà họ đã đọc được. Về cái vui khi tìm lại được một quyển sách cổ. Về những lần đi săn lùng sách. Về kinh nghiệm sưu tập vv... Người xem Nội San lại có dịp tận mắt nhìn thấy những bìa sách của thời xưa. Những quyển sách có khi họ chưa nghe nói đến bao giờ, được chụp lại. Họ cũng được nghe kể lại về những kỷ niệm đối với sách từ thuở ấu thơ, và những áng văn, những lời khuyên nhủ được các tác giả gởi gắm trong sách đã ảnh hưởng tới cuộc đời của họ mãi đến tận ngày nay như thế nào. Các thành viên được khuyến khích sáng tác đủ mọi đề tài. Kể cả đi tham quan, dã ngoại mà thấy gì hay hay cũng ghi lại cho mọi người du lịch ké. Thậm chí thấy đâu đó có thông tin, bài vở gì lạ, ích lợi thì sưu tầm về để mọi người cùng thưởng thức.

Cách vài tháng một lần, CLB lại đến tham quan nhà của một danh nhân hay các cố nhà văn, nhà thơ, để tỏ lòng ngưỡng mộ những người đã để lại những áng văn, những vần thơ cho đời. CLB đã tổ chức được nhiều buổi thăm viếng các nhà Lưu Niệm: Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Phan Bội Châu, Phạm Phú Thứ, Á Nam Trần Tuấn Khải, Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh. Các thành viên khi có điều kiện ra Hà Nội thì cũng không quên đến thăm Mộ Nhà Văn Vũ Trọng Phụng. Khu đất xưa của Nhà Thơ Nguyễn Bính từng ở, có “dậu mồng tơi” đã đi vào lòng những người yêu thơ.

Không chỉ yêu sách và nói về sách. Thành viên Việt Kiều ở Mỹ, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Sâm quan tâm đến những sách cổ bằng Chữ Nôm, một thứ chữ mà hiện nay không còn bao nhiêu người biết đến. Ông đã cho in một số tác phẩm có liên quan. Bà Thùy Dương. một cây viết đã đóng góp rất nhiều bài viết.là cháu của Cụ Lương văn Can, và là một Tiến Sĩ Vật Lý, đồng thời là một nhà thơ, và là người dịch Kiều ra tiếng Anh đã đăng nhiều kỳ trên Bản Tin của Nội San. Ô. Phạm Thế Cường, một thành viên CLB cũng là người nhiều năm trước tiên phong trong việc mở Phòng Đọc Sách tư nhân miễn phí tại nhà cho các thiếu niên trong Quận Gò Vấp với hàng ngàn đầu sách. Một thành viên U90, Bác Bùi Đẹp, người nhiều tuổi mà vẫn sinh hoạt đều dặn ở CLB, vừa được đề xuất kỷ lục Người Việt Nam Đầu tiên soạn bộ sách “DI SẢN THẾ GIỚI”. Câu Lạc Bộ còn được một chuyên gia Dinh Dưỡng kèm cặp để nhắc nhở. Đó là Bác Sĩ Nguyễn Lân Đính. Cháu nội của Học Giả NGUYỄN VĂN VĨNH.

Một số thành viên CLB cũng đã có những buổi thuyết trình tại Cung Văn Hóa Lao Động Tp HCM như Bs Nguyễn Lân Đính, Nhà Báo Vương Liêm, Nhà giáo Lê Hùng Dương, Nhà thơ Thùy Dương và Nhà Nghiên cứu Phật Giáo Tâm Nguyện. Cách đây mấy năm, Chủ Nhiệm Vũ Anh Tuấn, nhà Thơ Thiếu Khanh và dịch giả Thùy Dương còn được mời tham dự Hội Nghị Quốc Tế giới thiệu Văn Học Việt Nam ra nước ngoài ở Hà Nội, và Liên Hoan thơ Châu Á Thái Bình Dương ở Quảng Ninh.

Ngoài sự cộng tác thường xuyên của một số nhà thơ, nhà văn là thành viên CLB tại Tp Hồ Chí Minh. Phía Bắc cũng có Nhà Văn Thúy Toàn, Nhà Thơ Trần Nhuận Minh thỉnh thoảng gởi bài tham gia. Trong số thành viên, có hai người rất đặc biệt, yêu sách... xưa ơi là xưa. Đó là Linh Mục Nguyễn Hữu Triết, yêu Thánh Kinh, và Bà Tâm Nguyện, yêu Kinh Phật, là những quyển sách... không thể xưa hơn. Hai người cũng thường xuyên viết những đề tài về tôn giáo trong Nội San, cho thấy không có lằn ranh hay sự đố kỵ nào giữa những người thực hành đứng đắn theo tôn chỉ các Tôn giáo chân chính.

Qua 7 năm dài với 85 số liên tục là một thành tích đáng tự hào với những bài vở lành mạnh, độc đáo, xây dựng, đủ mọi đề tài và “không đụng hàng”. Hàng tháng,vào ngày thứ bảy thứ nhì, họ đều đặn gặp nhau để kể chuyện, ngâm thơ, hát cho nhau nghe, như một sân chơi lành mạnh rất cần thiết cho lứa tuổi về chiều, và ngày càng thêm nhiều người giới thiệu bạn bè đến tham gia với CLB.

Trong số thành viên, người khó thay thế nhất phải nói là Chủ Nhiệm. Ngoài việc đốc thúc các thành viên góp bài, bản thân ông cũng viết và dịch khá nhiều đề tài. Ông là người đa tài... liệu. Anh, Pháp Văn thông thạo. Nhưng quan trọng nhất, phải kể, ông còn là “người vác ngà” của Nội san, để hàng tháng Bản Tin được duy trì đều đặn đến với mọi người. Có lẽ cũng nhờ đó mà 7 năm qua không ai dám lật đổ ông, vì... ngu sao?! Lm Triết. Ngoài chức Cố Vấn, còn là người cho mượn Phòng họp, bao trà nước để các thành viên có nơi sinh hoạt đều đặn hàng tháng. Cuối năm còn cho các thành viên mượn chỗ để tổ chức Tất Niên, mừng một năm mới sắp tới.

Tiếng lành đồn xa. Việc làm vừa vui chơi, thư giãn, vừa có những bài vở phong phú, giá trị, nhằm giữ gìn văn hóa Việt mà nhiều người có thể tham khảo, nên đã được sự ủng hộ nhiệt tình của những người cùng chí hướng. Ngoài một số những trang Web quốc nội, Nội San đã được một số trang Web lớn nước ngoài cộng tác. Đó là trang Web: www.Newvietart.com ở Pháp. www.hoamai-aus.org.au ở Úc. Trang web chính thức của Nội San là www.sachvatranh.com thì mới mở chưa đầy 2 năm, mà số lượng lần truy cập đã lên đến gần 220.000 lượt, nói lên sự đồng cảm của một số cảm tình viên trong và ngoài nước.

Nhân kỷ niệm 7 năm ngày thành lập CLB, Lm Triết cũng đề nghị các thành viên có Thơ đăng trong Nội San nên gom lại để in thành một Tập Thơ Kỷ Niệm. Tiếc là không kịp ra mắt dịp này. Chắc chắn sẽ ra mắt trong thời gian sớm nhất gần đây.

Những quyển sách tồn tại với thời gian ít nhiều cũng mang tính nhân văn và giáo dục rất cao. Vì thế, những người yêu và thường xuyên đọc ít nhiều cũng bị ảnh hưởng. Do đó, Câu Lạc Bộ Sách Xưa & Nay không chỉ là sân chơi văn hóa của các ông bà cụ nhiều tuổi với nhau, mà những gì họ chia sẻ qua bài viết, từ những trải nghiệm của bản thân cũng phần nào góp sức trong phong trào cổ súy Văn Hóa Đọc đã và đang bị giới trẻ lơ là. Hàng tháng, cứ đến khoảng ngày 20 là Chủ Nhiệm bắt đầu hối thúc nộp bài. Mọi người cứ cậm cụi viết, rồi nộp. Chủ Nhiệm duyệt qua rồi giao lại cho biên tập viên Hà Mạnh Đoàn lo sắp xếp, dàn trang rồi in ra. Các thành viên chỉ còn chờ đến sáng Thứ Bảy tuần thứ hai sau mỗi đầu tháng là đi họp và nhận Bản Tin về đọc. Mọi việc cứ êm đềm diễn ra đúng theo lịch trình như thế làm cho thời gian trôi qua lúc nào không hay. Nhìn lại, mới giật mình thấy 7 năm trôi qua nhanh đến không ngờ. Nhưng họ cũng thấy ra một điều là ít ra là họ không để thời gian trôi qua một cách vô ích, vì những gì mà anh em đóng góp trong tờ Nội San bé nhỏ không chỉ mang lại niềm vui cho bản thân, mà còn có chút lợi ích cho người đọc. Mỗi kỳ, ngoài con số không dưới 100 Bản Tin được tặng cho các thành viên và bạn hữu, lượng người truy cập trên mạng cũng tăng dần, nói lên những gì anh em thành viên đang làm được nhiều người hưởng ứng, giúp người đọc có một khoảng thời gian thư giãn sau những giờ bon chen vì cuộc sống. Vì thế, Chủ Nhiệm nhất định sẽ phải tiếp tục điều hành, 35 năm năm nửa mới chịu về hưu…

Tâm Nguyện

&

Chung quanh chuyện Đàn Xã Tắc

Di sản lịch sử - văn hóa vật thể thời nhà Lý

sắp bị xâm hại ở Hà Nội

Từ ngữ Việt Nam từ xưa tới nay đều coi “Xã Tắc” tương đương hay đồng nghĩa với từ “Đất nước” hay “Quốc gia”. Trong văn học truyền thống, người ta hay sử dụng thuật ngữ “Sơn hà Xã tắc”. Theo đó, Sơn là Núi, Hà là sông nên có nghĩa là “Sông Núi”. Hai từ ghép này đều nói lên ý nghĩa “Quê hương Đất nước”, đều có nghĩa “Quốc gia dân tộc”.

Từ Xã tắc được người xưa sử dụng bắt nguồn từ tên gọi của một đàn tế cổ có tên “Đàn Xã tắc” (Nơi để tế Đất – Thổ thần và Lúa – Thần nông) mà dân gian thường gọi là tế Trời đất. (Nên nhớ Thần nông là của Việt chớ không phải của Hán bởi vì dân ta khởi thủy trồng lúa nước với nền văn minh lúa nước, nguồn gốc của sự sống trên nền tảng là đất. Ngày nay, trong thành phố Hà Nội có một nơi được các nhà khảo cổ học xác định là vị trí của Đàn Xã tắc có từ thời nhà Lý tức ở kinh đô Thăng Long xưa. Đàn được triều đại phong kiến thời nhà Lý do Lý Thái Tông (tức Lý Công Uẩn) sau khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã cho xây đàn này vào năm Mậu Tý 1048 thay cho đàn cũ ở Hoa Lư.

Theo ngành khảo cổ và lịch sử Việt Nam, nước ta dưới các triều đại phong kiến có ba ngôi Đàn Xã tắc: tại Hoa Lư, Thăng Long và Huế. Đàn Xã tắc ở Thăng Long có từ thời nhà Lý tới thời Lê Chiêu Thống năm 1788 thì mất dấu. Có thể do sự phá hoại của quân Thanh khi sang xâm chiếm kinh đô Thăng Long. Người Trung Quốc rất coi trọng Đàn Xã tắc vì bên xứ họ cũng có Đàn này. Có lẽ do chúng ta mô phỏng lập nên. Đây là nơi được coi là linh thiêng về mặt tâm linh vì nó là chỗ để vua chúa tế lễ trời đất hằng năm cầu nguyện cho quốc thái dân an. Do đó, quân nhà Mãn Thanh cho đó là nơi “đầu não” tâm linh của Đại Việt, địa điểm mang ý nghĩa “Hồn Nước” (Linh hồn của Đất nước) và thứ văn hóa vật thể cần phải phá hủy. Chúng ta thường nghe truyền thuyết, người Trung Quốc rất sợ tinh thần dũng cảm và ý chí quật cường của người Đại Việt nên luôn nghĩ tới chuyện triệt hạ hay trấn ếm nơi nào được coi là chỗ linh thiêng của dân Việt là chỗ đó có “phong thủy” tốt. Chính nhờ vào “linh khí” này đã bao đời nay, dân Việt đánh thắng tất cả các cuộc ngoại xâm từ phương Bắc hay phương Tây.

Do đó, Đàn Xã tắc bị biến mất thời Lê Chiêu Thống “Cõng rắn về cắn gà nhà” rất có lý là do quân nhà Thanh phá hủy, có nghĩa là phá bỏ nơi linh thiêng của Đại Việt, trấn ếm phong thủy nhằm làm cho Đại Việt mất đi “linh khí”. Mãi cho tới năm 2006, sau hơn hai trăm năm mất dấu, Đàn tình cờ được các nhà khảo cổ phát hiện vào cuối năm 2006, khi xây dựng vành đai 1 đoạn Kim Liên - Ô Chợ Dừa.

Ở Hà Nội hiện nay, dư luận rất quan tâm tới việc xây cầu vượt qua nơi có ghi dấu tích của Đàn Xã tắc. Đặc biệt có cuộc tranh luận chưa phân thắng bại giữa lãnh đạo thành phố, các chủ đầu tư với các nhà khoa học thuộc nhiều ngành, trong đó có ngành bảo vệ di sản văn hóa – lịch sử. Mặc dù, nơi đây chỉ có một tảng đá cao ghi dấu Đàn Xã tắc nhưng có thể nền móng cũ của nó còn nằm ẩn bên dưới lớp đất thời gian có phạm vi rộng.

Đàn Xã tắc được triều đại nhà Lý lập ra để tế thần Nông và thần Đất giống như ở Huế có Đàn Nam giao mà hiện nay được phục hồi lại khá tốt, là điểm du lịch và vui chơi của người dân Huế. Trong khi đó, Đàn Xã tắc xưa bị phá hủy và có thể nền móng, và các cổ vật có liên quan đang nằm bên dưới trên diện rộng. Nơi đây là tất đất tấc vàng của thời nay nên còn giữ lại được một phần nào hay phần nấy, miễn là có di tích của một Đàn Xã tắc cổ, chiếm dụng chừng vài chục mét vuông cũng là quý. Do đó, con cháu Rồng Tiên đang tôn vinh thời đại “Thăng Long ngàn năm” thì nên bảo tồn di tích quý hiếm này hơn là hủy hoại thêm. Cần phải phục hồi một góc Đàn hay xây dựng một mô hình Đàn cổ với kiến trúc thời nhà Lý để làm nơi bảo tồn di tích ngàn năm này. Đáng lẽ, trong thời gian kỷ niệm long trọng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thì ngành chức năng về di sản, văn hóa hay lịch sử phải cho xây dựng nó, phục hồi một ngôi Đàn nhỏ cũng được. Thế mà không ai quan tâm tới nó, tới “chốn linh thiêng” của dân tộc – “hồn thiêng sông núi”, “linh khí” của thủ đô và cả nước.

Đã chưa làm được điều đó là có tội với tổ tiên rồi, huống hồ là xây dựng cầu vượt đi trên đầu nó, chẳng khác nào đi trên đầu tổ tiên! như có người đã nói (đi trên đầu các cụ). Với kỹ thuật hiện đại, xây dựng một cầu vượt ‘tránh né” hay “lách” qua một bên không có gì là khó hay không đẹp. Nhiều thành phố văn minh trên thế giới, người ta vẫn xây cần vượt uốn cong hay lách mình qua một khoảng hay dời nó qua một ngã khác, không có gì khó. Điều quan trọng không phải là dáng dấp một cây cầu hay một đoạn đường tốt hay xấu mà điều quan trọng chính là con cháu ngày nay phải biết tôn trọng di sản của tổ tiên, đừng xâm hại hay phá hủy nó.

Hỡi các nhà đầu tư, các nhà lãnh đạo thành phố Hà Nội và các nhà khoa học của thủ đô ngàn năm văn vật, văn hiến hãy nên làm điều gì để bảo tồn một di sản ngoài giá trị văn hóa – lịch sử còn là một chốn linh thiêng, một “linh khí” của dân tộc Đại Việt – Việt Nam! Phải chừa nó lại, giành cho nó một không gian vừa đủ để kỷ niệm, để bảo tồn bằng cách phục hồi một ngôi Đàn Xã tắc cổ thời nhà Lý và dành cho nó một vị trí trân trọng, mỹ quan nhất.

Cần phải tôn tạo nơi ghi dấu Đàn Xã tắc thành một địa điểm “tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” trong lòng thành phố - thủ đô “ngàn năm Thăng Long – Hà Nội” là hành động và cử chỉ đẹp đẽ nhất cho những ai biết bảo tồn và tôn vinh nó. Các nhà kiến trúc đại tài của đất Thăng Long xưa, Hà Nội nay hãy tham gia góp ý và tạo hình một kiểu dáng Đàn Xã tắc linh thiêng của Việt Nam – một điểm tham quan du lịch của người nước ngoài, là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Nếu di tích này mất đi chính là chúng ta để mất đi một báu vật, một di sản quý giá về tâm linh mà không phải dân tộc nào, quốc gia nào cũng có được. Hơn nữa, mất nó tức là mất hồn thiêng sông núi!

Vương Liêm

(Tháng 4/2013)



Phụ Bản I

ĐÔI ĐIỀU MỚI BIẾT

VỀ MỘT “CỐ NHÂN”

Bấy giờ, vào giữa những năm 1980, sau khi dự Hội nghị về Bản quyền ở Moskva – Leningrad, theo lời mời của ông giám đốc nhà xuất bản “Châu Âu” Hung-ga-ri Domokos Janos tôi được đến thăm Budapest mấy ngày. Ngay trong buổi tiếp đón đầu tiên tại trụ sở Nhà xuất bản, ông Domokos Janos đã giới thiệu cho tôi chương trình xuất bản bộ sách văn học cổ điển thế giới và văn học hiện đại thế giới, trong đó có một số tác phẩm văn học Việt Nam. Ông đem khoe những cuốn sách thuộc văn học Việt Nam đã bắt đầu lần lượt được ấn hành và giới thiệu tên tuổi nhiều nhà văn, nhà thơ xuất sắc của văn học đương đại Hung-ga-ri tham gia việc chuyển ngữ… Bên cạnh Overdơ Sinvexte, L.Domokos Jenet, Brono Imre, Bolarsi Laxiô… ông giám đốc đặc biệt nhắc đến Tandori Dezso. Tandori đã tham gia dịch và viết lời bạt cho tập Thơ Nguyễn Trãi, nhà xuất bản “Châu Âu” ấn hành năm 1980, hưởng ứng năm kỷ niệm Nguyễn Trãi – danh nhân văn hóa thế giới, theo quyết định của UNESCO, nhân dịp 600 năm sinh của người. Tiếp theo Tandori lại chuyển ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du thành thơ Hung-ga-ri, dựa trên bản dịch nghĩa trực tiếp từ tiếng Việt của Trương Đăng Dung, lúc đó đang là lưu học sinh VIệt Nam tại Hung-ga-ri. Truyện Kiều bằng tiếng Hung-ga-ri, bản dịch thơ của Tandori, bản dịch nghĩa và chú thích của Trương Đăng Dung, nhà xuất bản “Châu Âu” ấn hành năm 1984. Và bản dịch thứ ba tác phẩm văn học Việt Nam do Tandori thực hiện chuyển ngữ sang thơ Hung-ga-ri vừa ra khỏi nhà in tức thì, trước khi tôi sang tới đây – đó là tập thơ Hoa Cọ của nhà thơ Xuân Diệu, người vừa qua đời năm trước, 1985. Tình cờ như vậy tôi là người Việt Nam đầu tiên được cầm trên tay tập thơ Hoa Cọ bằng tiếng Hung-ga-ri của cố nhà thơ Xuân Diệu, do nhà thơ Hung-ga-ri Tandori Dezso thực hiện chuyển ngữ. Ông giám đốc nhà xuất bản đã cho người đến nhà in lấy về mấy ấn phẩm đầu tiên trao cho tôi mang về nước theo thư ủy nhiệm của nhà thơ Huy Cận, người bạn thân của cố nhà thơ Xuân Diệu. Tập thơ xinh xắn, cỡ bỏ túi, bài nâu nhạt láng bóng: Xuân Diệu – Hoa Cọ – Tủ sách văn học hiện đại thế giới, NXB “Châu Âu”.

Ông Domokos Janos tiện tay lấy trên tủ sách xuống giới thiệu tiếp cho tôi cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du bằng tiếng Hung-ga-ri: Nguyen Du Kieu Torte’nete, Budapest 1984, ông cho biết, cuốn sách đã trải qua một quá trình chuẩn bị cẩn trọng, công phu, từ khâu tổ chức, tìm người dịch nghĩa, chọn người chuyển ngữ thành thơ Hung-ga-ri, cho đến khâu tìm chọn minh họa, trình bầy và in ấn. Có được bản dịch nghĩa, ông giám đốc nhà xuất bản đã đích thân đến mời nhà thơ Tandori Dezso là người đã tham gia dịch và viết lời bạt cho tập Thơ Nguyễn Trãi trước đây, chuyển ngữ Truyện Kiều thành thơ Hung-ga-ri. Bấy giờ Tandori Dezso mới ở tuổi “tứ tuần” nhưng đã là một trong những tên tuổi cự phách trên văn – thi đàn Hung-ga-ri, “một trong những tiếng nói độc đáo nhất của văn học đương đại Hung-ga-ri”. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết trinh thám giả tưởng, sách cho trẻ em, tiểu luận – bút ký về văn học và về nghệ thuật. Là người đứng mũi chịu sào của việc khởi đầu đổi mới trong thơ Hung-ga-ri những năm 1970, Tandori còn là người được thừa nhận là dịch giả đi đầu với nhiều bản dịch thành công thơ văn từ tiếng Anh và tiếng Đức hiện đại cũng như cổ điển, từ Salinger, Wallace Stevens, John Benyman, Samuel Beckett, Virginia Woolf đến Goethe, Kleist, Holderlin và Rilk…

Tandori Dezso đã nhanh chóng hoàn thành bản dịch đầu tiên Truyện Kiều sang thơ Hung. Ông giám đốc Nhà xuất bản sau khi đọc bản thảo, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, đã trao đổi, góp ý lại với nhà thơ – dịch giả. Có thể nói Tandori đã bỏ công ra hoàn thành lại hẳn một bản dịch mới. Bấy giờ Domokos Janos mới tiến hành hoàn chỉnh bản thảo để đưa in sách.

3254 câu thơ của Truyện Kiều Nguyễn Du đã được nhà thơ – dịch giả Tandori Dezso chuyển ngữ thành 3254 câu thơ Hung-ga-ri. Văn bản được ngắt ra thành tám khúc, đánh số từ I đến VIII, cuối cùng tách ra 14 câu kết, cũng như trong nguyên bản. Sách in khổ tương đối lớn; 16.5 x 23.5 trên giấy biston trắng,khá dầy. Bìa các tông cứng. Xen giữa các trang thơ có kèm theo bảy bức minh họa, lấy từ bộ tranh dân gian Đông Hồ, giữ nguyên mầu sắc hoa hiên, mầu đất, trên nền giấy gió… Cuối cùng sách còn có in 100 chú giải trên 8 trang phụ lục.

Cầm xem cuốn sách tôi thực sự xúc động khó nói nên lời. Các bạn Hung-ga-ri ở nơi xa xôi này mà yêu quý, mà trân trọng tác phẩm của nhà thơ dân tộc của chúng ta đến thế! Ấy vậy mà ông Domokos Janos có vẻ còn băn khoăn, vẫn chưa hẳn hài lòng. Ông bảo với tôi, rồi ra ông sẽ còn bỏ công cùng tập thể, cùng nhà thơ – dịch giả làm cuốn sách này một lần nữa…

Chuyến đi ngắn ngày ấy đã để lại cho tôi một ấn tượng khó quên. Những cái tên Domokos Janos, rồi Tandori Dezso bỗng trở nên gần gũi, cũng thể như những “cố nhân”. Tôi đau đớn biết tin chỉ sau một năm ông Domokos Janos đã đột ngột qua đời vì một căn bệnh ác hiểm. Còn Tandori Dezso? Tôi chưa từng được gặp ông. Cũng có ý tìm biết, nhưng tôi không phải là người am hiểu văn học Hung-ga-ri, không biết tiếng Hung-ga-ri, mà cũng chẳng có dịp trở lại Budapest lần nào nữa.

Mãi gần đây tình cờ tôi mới gặp lại được tên tuổi của Tandori Dezso. Hóa ra Tandori và tôi là hai người cùng tuổi. Cùng sinh năm 1938, năm Hổ - Mậu Dần. Có điều tôi ra đời đầu năm, còn Tandori mãi đến cuối năm mới được sinh ra. Mồng 8 tháng Mười hai. Và cuối năm vừa qua nhân dịp Tandori Dezso thượng thọ 70, trên mạng người ta rầm rộ đưa tin về ông: Khắp nơi, ở Hung-ga-ri cũng như nhiều nước Châu Âu, người ta chúc tụng ông, viết về ông như một hiện tượng đặc biệt của văn học đổi mới ở Hung-ga-ri và một tài năng đa dạng trong thế giới văn chương nói chung.

Tandori Dezso là người thủ đô Budapest. Ông sinh trưởng trong một gia đình viên chức nhà nước. Phụ thân của ông xưa là giám đốc kinh doanh, ngành đường sắt, cố vấn kinh tế từ trước Thế chiến thứ hai.

Tandori có khiếu sáng tác từ bé. Ông đã theo học Đại học Lorand Eotvos Budapest (1957 – 1962), năm 1962 nhận bằng ngữ văn Hung-ga-ri và Đức. Ra trường Tandori làm trợ lý ký túc xá sinh viên một thời, rồi dạy học tại trường Cao đẳng ngôn ngữ.

Bắt đầu từ 1960 Tandori lần lượt công bố sáng tác thơ, phần lớn trên các trang văn học, trước hết là tờ tuần báo “Cuộc sống và văn học” (Elet es Irodulon) và một số bài đã được chọn vào tuyển tập các nhà thơ trẻ, Bài ca đầu tiên (Elso e’nek) xuất bản năm 1968.

Do bối cảnh đất nước lúc đó, mãi năm 1970 Tandori Dezso mới được xuất bản cuốn sách đầu tay, tập thơ Những trích đoạn Hamlet (Toredek Hamletnek). Nhưng trước đó thơ Tandori Dezso đã được dư luận đánh giá cao và đã có ảnh hưởng lớn đối với bạn đọc. Năm 1966, Tandori đã được giải thưởng của Hội văn bút quốc tế và Sandor Weores (1913 – 1989), một trong những nhà thơ hàng đầu của Hung-ga-ri thời đó, đã viết tặng cho Tandori một tác phẩm thơ, điều càng làm tăng cao uy tín thơ của Tandori đối với công chúng bạn đọc.

Tập thơ Những trích đoạn Hamlet của Tandori ra năm 1970 đã được coi là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn đầu sự nghiệp sáng tác của Tandori. Đó là sự tiếp nối thi pháp tri thức của truyền thống Attila Jozsef và sự khép lại của khuynh hướng chu kỳ “Mặt trăng mới”, cũng là sự kháng cự ảnh hưởng của thơ khách quan.

Bắt đầu từ năm 1970, Tandori Dezso trở thành nhà văn tự do. Cuốn sách thứ hai của ông năm 1973: Sự thanh lọc cái móng đối tượng (Egy talaet targy megtisz tticaza’) là bước đầu của giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp sáng tạo của Tandori. Giới phê bình văn học đánh giá đây là tập thơ hậu hiện đại đầu tiên trong văn học Hung-ga-ri.

Tandori không chỉ là nhà thơ, nhà viết truyện ngắn và tiểu thuyết, tác giả nhiều kịch bản truyền hình – phát thanh, nhà viết sách cho trẻ em, viết tiểu luận bút ký về văn học và nghệ thuật, mà còn được mọi người hâm mộ như một nhà trình diễn thơ, đọc văn thơ. Ông còn là một họa sỹ - tranh ký họa, tranh mầu thực vật, các tác phẩm kết nối tranh họa và thơ… của ông đã được trưng bầy ở Paris, Viên. Ngay cuộc sống riêng của ông gắn bó với những con chim, sở thích đua ngựa của ông cũng là đề tài gây sự chú ý của giới báo chí và bạn đọc…

Ngoài những phần thưởng đầu tiên như đã nói ở trên, giải thưởng của Hội văn bút quốc tế năm 1966, bài thơ Sandor Weores viết tặng, về sau Tandori Dezso liên tiếp được nhận nhiều giải thưởng danh giá tầm cỡ quốc gia và quốc tế mang tên các bậc tiền bối vĩ đại, như giải thưởng Attila Jozsep (1978), Dery Tabor (1989), Weores Sandor (1990), Magyar (1996), Kossuth (1998), Pro urbe Budapest (2000), Tiszataj (2001) và vv… và vv…

Danh sách tác phẩm của Tandori Dezso tính đến nay mỗi thể loại cũng có tới con số vài chục, có thể loại như các tác phẩm dịch có tới xấp xỉ hàng trăm, trong đó ta thấy ghi rõ ba tác phẩm văn học Việt Nam do ông chuyển ngữ vào các năm:

Thơ Nguyễn Trãi, 1980

Truyện Kiều – Nguyễn Du, 1984

Hoa Cọ - Xuân Diệu, 1986

Riêng về những bản dịch các tác phẩm văn học Việt Nam trên sang tiếng Hung-ga-ri của Tandori Dezso, đánh giá thành công đến đâu, là việc làm ngoài khả năng của chúng tôi. Tuy nhiên chỉ một điều, trong những năm 1980, nhà xuất bản có uy tín như nhà xuất bản “Châu Âu” đã liên tiếp tín nhiệm đặt hàng để nhà thơ Tandori Dezso thể hiện cũng chứng tỏ bản dịch của Tandori có giá, được bạn đọc Hung-ga-ri hoan nghênh. Còn có thể qua một vài phản ứng của bạn đọc Hung-ga-ri đối với Truyện Kiều sau khi bản dịch được xuất bản thành sách ta lại có thể càng khẳng định thêm về giá trị của bản dịch này. Nhân dịp kỷ niệm 180 năm mất của thi hào Nguyễn Du (1820 – 2000) trên Chuyên san “Nhà báo và công luận” Ts. Trương Đăng Dung, đồng dịch giả tác phẩm Truyện Kiều sang tiếng Hung-ga-ri, đã cho biết: “Sau khi bản dịch Truyện Kiều của chúng tôi in thành sách, giáo sư viện sỹ Klocniczocy Tiborr, nguyên viện trưởng Viện Văn học Hung-ga-ri, đã viết thư chúc mừng tôi và hỏi rằng: “Tại sao một tác phẩm như thế mà bây giờ chúng tôi mới được đọc”. Lý thú hơn, cũng dịp này Tiến sỹ - dịch giả Trương Đăng Dung còn dịch giới thiệu cho bạn đọc chúng ta bài thơ Từ những điều Nguyễn Du dạy (Nhân đọc Truyện Kiều dịch sang tiếng Hung-ga-ri) của tác giả Hôlô Andrasô (Hung-ga-ri). Bài thơ khá độc đáo, tôi xin phép dịch giả được trích và in lại ở đây để bạn đọc chúng ta cùng thưởng thức.

Anh đừng nói: Trời cao

Xin hãy nói: Màu xanh trùm bể khổ

Anh đừng nói: Đất dầy

Xin hãy nói: Rạn nứt và sụp đổ

Anh đừng nói: Ngôi sao

Xin hãy nói: Giọt máu đào ai chảy

Anh đừng nói: Những điều từng thấy

Xin hãy nói: Tội lỗi các anh, tội lỗi chúng ta

Anh đừng nói: Oan gia

Xin hãy nói: Tình thương của họp mặt

Anh đừng nói: Mặt sắt

Xin hãy nói: Tội ác ít bạn đường

Anh đừng nói: Làm cho khốc hại

Xin hãy nói: Không thể ngắt hoa trắng từ xương

Anh đừng nói: Giọt sương

Xin hãy nói: Thông điệp của điều lành

Anh đừng nói: Cây xanh

Xin hãy nói: Cuộc đời không vô bổ

Anh đừng nói: Ngọn gió

Xin hãy nói: Người bạn mù dẫn đường

Anh đừng nói: Rầu rầu ngọn cỏ

Xin hãy nói: Người bạn hiền vô danh

Anh đừng nói: Rêu xanh

Xin hãy nói: Ký ức không lụi tàn

Anh đừng nói: Báo ân

Xin hãy nói: Tình người không thể cạn

Anh đừng nói: Bình minh

Xin hãy nói: Nhiệt tình bừng sáng

Anh đừng nói: Hoàng hôn

Xin hãy nói: Niềm nối tiếc muộn màng

Anh đừng nói: Suối vàng

Xin hãy nói: Tơ đời không thể dứt.

(Trương Đăng Dung dịch)

Chỉ từng ấy ta có thể cùng cảm nhận được tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ qua bản dịch thôi cũng đã tác động đến người đọc ở một phương trời xa xôi như thế nào. Có lẽ ở đây cũng chẳng cần phải nhờ đến chuyên gia phân tích đầy đủ giá trị của bản dịch chúng ta cũng có thể nói lên ngay lòng biết ơn của chúng ta với những người đã giới thiệu nhà thơ dân tộc của chúng ta ở xứ người. Một lần nữa tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình với tư cách chỉ là một người Việt Nam thôi với các bạn Hung-ga-ri, đặc biệt với Tandori Dezso, một người tôi đã được biết cách đây một phần tư thế kỷ, chưa một lần gặp mặt, nhưng thâm tâm vẫn hân hạnh tự gọi là “Cố nhân”, giờ lại biết thêm là người bạn “đồng tuế”. Vậy cũng xin gửi lời chúc mừng muộn màng của người “đồng tuế” đến người bạn “đồng tuế” danh tiếng nhân dịp ông vừa thượng thọ, bước qua cái ngưỡng “xưa nay hiếm”. Chúc người bạn Hung-ga-ri của Văn học VIệt Nam luôn dồi dào sức khỏe và sức sáng tạo và xin ông tin rằng bạn đọc Việt Nam vẫn nhớ và biết ơn ông.

Thúy Toàn

HOA KỲ

VỚI NHỮNG NIỀM VUI VÀ NỖI BUỒN

1.-Ngân hàng Thụy Sĩ mất quyền bất khả xâm phạm .

Những ngân hàng này còn làm ngơ trước tội ác để làm giàu bằng cách cất giấu tiền bạc cho bọn Mafia, tư bản và quan chức tham nhũng, dân trốn thuế...

Với nguyên tắc không cần biết anh là ai, không thắc mắc tiền từ đâu và giữ bí mật tuyệt đối cho thân chủ nên gửi tiền trong ngân hàng Thụy Sĩ, thân chủ không sợ có kẻ thứ 3 biết được hay bị tịch thu. Vì vậy ngân hàng Thụy Sĩ đã là nơi lý tưởng để cất giấu tiền bạc của rất nhiều thành phần kể trên, và đương nhiên ngân hàng Thụy Sĩ muốn như vậy để tha hồ hưởng lợi ích trên những thân chủ giàu có này.

Trong những năm gần đây, Mỹ và các nước Tư Bản khác đã làm áp lực nặng nề và quyết liệt lên Hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ mới thay đổi được Nguyên tắc này.

Ngày hôm nay đã không còn một nơi nào trên thế giới có thể cất giữ tiền bạc, của cải an toàn vì những ngân hàng lớn cũng có thể bị phá sản và đáng sợ hơn nữa là không ai dám khẳng định là, đến một lúc nào đó, Chính Phủ sẽ không ra Luật tịch thu một phần ngân khoản người ta ký thác ở ngân hàng để Chính Phủ sử dụng...

- Thuế là chuyện... nhỏ. Cái chính là nắm đầu mấy quan tham c ỡ lớn .

Theo luật FATCA (Foreign Account Tax Compliance Act) thì tất cả những cư dân Mỹ, kể cả các Thường trú nhân, có tài sản gửi ở các ngân hàng bên ngoài nước Mỹ, nhiều hơn 50 ngàn Mỹ kim, phải tường trình cho sở thuế Hoa Kỳ IRS (Thường trú nhân là những người chỉ mới có Thẻ xanh, đang chờ nhập Quốc tịch Mỹ).Bắt đầu từ đầu năm 2014, các ngân hàng ngoại quốc, nếu không thông báo cho sở thuế Mỹ tên tuổi của những cư dân Mỹ, có tài sản gửi trong các ngân hàng này, thì sẽ bị phạt.

- Theo báo The Epoch Times: Vào ngày 14.2.2013, Bộ Tài chánh Hoa Kỳ đã đạt được một thỏa hiệp với nước Thụy Sĩ về tiền ký thác trong những ngân hàng Thụy Sĩ của những thường trú nhân Hoa Kỳ.

Theo đạo luật kiểm soát tiền đầu tư ở ngoại quốc của cư dân Mỹ FATCA, thì tất cả những cư dân Mỹ, kể cả những thường trú nhân, phải khai báo hàng năm, số tiền mà những người này, ký thác trong các trương mục ngân hàng ở ngoại quốc. Việc này đã gây những xôn xao trong số những người giàu có đã và đang xin di dân qua Hoa Kỳ.

Bộ Tài chánh Mỹ đã ký những thỏa hiệp với trên 50 quốc gia, trong việc truy tầm và đòi thuế của những cư dân Mỹ gửi tiền ở ngoại quốc. Những cư dân cũng như thường trú nhân Mỹ, có tiền gửi ở các ngân hàng ở các nước như Anh, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Ái Nhĩ Lan, Mễ Tây Cơ, Canada, Trung Quốc, Đài Loan vv... là những nước đã ký thỏa hiệp, sẽ phải thông báo cho sở thuế Mỹ, phải đóng thuế lợi tức, nếu không muốn bị phạt nặng.

Nhiều người đã xin từ bỏ Quốc tịch Hoa Kỳ.

Hàng loạt những người giàu ở Mỹ và những thường trú nhân đã xin từ bỏ quốc tịch Mỹ, để tránh thuế . Theo báo Sing Tao Daily thì trong vòng từ năm 2009 cho đến năm 2011, có 1781 người có quốc tịch Mỹ xin từ bỏ quốc tịch.

Ông Nigel Green, chủ tịch công ty De Vere Group, công ty dịch vụ tài chánh chuyên về di trú thì trong vòng tháng giêng năm 2013, số khách hàng muốn biết thêm chi tiết về việc từ bỏ quốc tịch Mỹ gia tăng 48%, so với tháng giêng năm ngoái.

- Tài tử điện ảnh Hồng Kông Jet Lee, người có hai quốc tịch Trung Quốc và Hoa Kỳ, đã từ bỏ cả hai quốc tịch, chuyển sang quốc tịch Singapore. Điều này chứng tỏ cho thấy, quốc tịch Mỹ không còn là một hấp dẫn như trước.

Phần lớn những dân nhà giàu Trung Quốc, đã xin vào là thường trú nhân Mỹ, là những cựu nhân viên chính quyền, đã tham nhũng những số tiền hàng triệu đô la, tìm đường di chuyển ra nước ngoài. Việc xin vào quốc tịch Hoa Kỳ xem ra là một cách thức hữu hiệu trước đây. Nhưng với việc sở thuế Mỹ truy tầm tài sản của các cư dân Mỹ, những người Trung Quốc, xin vào được là thường trú nhân, sẽ phải đóng thuế lợi tức cho số tiền mà những người này đang gửi ở các nước ngoài.

Theo báo The Federal Gazette, thì trong ba tháng đầu năm 2012, có 1100 người có quốc tịch Mỹ xin từ bỏ để tránh bị đánh thuế. Trường hợp điển hình là ông Eduardo Saverin, một trong những người sáng lập công ty Facebook, là một người Braxin, di dân qua Hoa Kỳ từ năm 1998. Ông Saverin đã từ bỏ quốc tịch Mỹ và xin vào làm thường trú xứ Singapore. Việc thay đổi quốc tịch này đã tiết kiệm được cho ông Saverin khoảng 100 triệu mỹ kim tiền thuế lợi tức.

Nhưng muốn từ bỏ thẻ xanh Mỹ cũng không dễ dàng gì.

Theo đạo luật HEART (Heroes Earnings Assistance and Relief Tax Act) được công bố năm 2008, sau khi có hàng ngàn người Mỹ muốn bỏ quốc tịch.

Theo luật HEART thì những người có thẻ thường trú trong 8 năm, trong vòng 15 năm qua, có số tài sản trên 2 triệu mỹ kim, hay tiền thuế lợi tức đóng trong năm năm qua, tổng cộng 125 ngàn mỹ kim, khi muốn từ bỏ tư cách thường trú, sẽ phải đóng một thứ thuế gọi là “thuế Ra” (Exit tax). Muốn từ bỏ quốc tịch Mỹ hay thường trú nhân, xem ra cũng không phải dễ.

2.- MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT XẢY RA VÀO NĂM 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD, CALIFORNIA, MỸ

Có một cậu học sinh 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Cậu ta là một đứa trẻ mồ côi, và cậu ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Thế là anh chàng này bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu ta cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J. Paderewski. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2000 để cho ông ấy được biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.

Ngày trọng đại ấy đã đến. Paderewski cuối cùng cũng đã biểu diễn tại Stanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $1600. Quá thất vọng, họ đến chỗ của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng với 1 check nợ $400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.

“KHÔNG”, Paderewski nói. “Cái này không thể nào chấp nhận được”. Ông ta xé tờ check, trả lại $1,600 cho hai chàng thanh niên và nói: “Đây là 1600 đô, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi”. Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski.

Đây chỉ là một làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski.

Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề quen biết. Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ: "Nếu chúng ta giúp họ, chúng ta sẽ được gì?”. Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ khác: "Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp khó khăn ấy?". Họ không mong đợi sự đền đáp. Họ làm chỉ vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.

Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào sau này trở thành Thủ Tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng. Thế nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bây giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa. Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông ta bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.

Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm. Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông Hoover vì cử chỉ cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai sinh viên trẻ ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai người sinh viên đó”.

THẾ GIỚI NÀY ĐÚNG THẬT LÀ TUYỆT VỜI, KHI BẠN CHO ĐI THỨ GÌ, BẠN SẼ NHẬN LẠI ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG TỰ.

3.- Trong thảm kịch Boston, tình người dâng tràn.

Trong cuộc đua chạy Marathon lần thứ 117 hàng năm tại thành phố Boston, tiểu bang Massachutsetts – thủ đô kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, vào ngày 15.4.2013, đã xảy ra một thảm kịch chấn động thế giới…

Nhiều vận động viên vừa hoàn thành đường chạy dài mệt mỏi tiếp tục chạy đến bệnh viện để hiến máu cứu người bị thương, những phóng viên đầu tiên lao thẳng tới hiện trường vụ nổ bom, người Boston không ngại ngần cung cấp thực phẩm và nơi trú tạm thời cho các nạn nhân...

Buổi chiều định mệnh ngày hôm đó, những người đầu tiên vừa vượt qua vạch cuối cùng trong cuộc đua Marathon Boston lần thứ 117 hàng năm, hai vụ nổ bom xảy ra làm cả nước Mỹ và thế giới bàng hoàng. Ít nhất 3 người chết và hơn một trăm người bị thương. Những vỉa hè vương máu, các bộ phận cơ thể rải rác khắp nơi...

Và, nơi đâu có thảm kịch, nơi ấy có anh hùng xuất hiện. Trong khói bụi đổ nát của vụ nổ, những vận động viên, người cổ vũ ở mọi tầng lớp xã hội được huy động. Dù được đào tạo hay không đào tạo sơ cứu, hàng trăm người vẫn vội vã lao tới hiện trường để tìm kiếm những người bị thương. Các vận động viên xé áo của mình băng bó vết thương cho nạn nhân. Người phóng viên đầu tiên cố đẩy chiếc xe lăn của người phụ nữ tới nơi an toàn rồi trở lại nơi xảy ra thảm kịch.

Quân đội Mỹ đưa ra hình ảnh lấy từ truyền hình về hai người lính chỉ vừa kết thúc cuộc đua dài mệt mỏi đã chạy thẳng tới hiện trường. Joe Andruzzi - cựu vận động viên bóng bầu dục Mỹ bế một phụ nữ bị thương đến lều dã chiến. Nhà hoạt động hòa bình Carlos Arredondo xé áo cầm máu cho một người thanh niên. Hình ảnh ông với bàn tay đầy máu, chạy bên cạnh chiếc xe lăn khi lực lượng y tế đến đưa nạn nhân lên xe cứu thương đã được đăng tải rộng rãi. Tại 5 bệnh viện ở Boston, nhân viên y tế làm việc không biết mệt mỏi.

Những vận động viên tới chặng cuối của cuộc đua lại tiếp tục lao đến bệnh viện Massachusetts để hiến máu. Rất nhiều người cũng chạy theo họ. Vài giờ sau vụ nổ, các bệnh viện ngừng tiếp nhận máu hiến vì đã có đủ.

Những cửa hiệu gần nơi xảy ra vụ nổ bom sẵn sàng cung cấp mọi thứ từ Wi-Fi, đến điện thoại di động hay đồ ăn cho người dân và vận động viên. Nhà hàng El Pelon Taquería ghi rõ: "chỉ trả tiền nếu bạn có thể"; Make Shift Boston mở rộng mọi cánh cửa cung cấp nước uống, điện thoại và internet; nhà hàng Oleana đảm bảo cung cấp bữa ăn nóng cho bất kỳ ai có nhu cầu...

Nhiều hãng hàng không sẵn sàng thay đổi chuyến bay cho các vận động viên bị mắc kẹt muốn rời khỏi thành phố. Có hãng như Southwest Airlines tuyên bố sẽ đảm bảo nơi ăn chốn ở cho du khách bị ảnh hưởng mà không tính thêm chi phí.

Các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến, các trang web đưa ra mọi hình thức hỗ trợ cho người muốn tham gia trợ giúp các nạn nhân. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ, trang web Boston.com đã có hơn 3.000 đăng ký cung cấp nơi ở, đồ ăn, quần áo, cho người bị ảnh hưởng. Người Boston thậm chí không ngồi thụ động chờ người hỏi trợ giúp. "Một vận động viên kể rằng, anh ta phải dừng lại vô số lần vì có quá nhiều người dân Boston hỏi có cần giúp đỡ không?", Billy Baker, phóng viên tờ Boston Globe, cho biết. Mọi trang mạng tràn ngập lời cầu nguyện và chia sẻ...

Zuker một thành viên tham gia cuộc chạy đua cho biết anh cảm thấy hạnh phúc khi cuộc đua vẫn tiếp diễn và đích đến là bệnh viện. Nơi hầu hết các vận động viên đã tham gia hiến máu tình nguyện cho những nạn nhân của vụ nổ khi cần thiết. Anh mô tả hành động này khiến cho đích đến trở thành "nơi hạnh phúc nhất trên trái đất".

Còn một người dân ở Boston thì chia sẻ: "Trong thảm kịch, tình người dâng tràn. Tôi thực sự tự hào về quê hương tôi".

4.- Vụ nổ nhà máy phân bón ở Texas, nhiều lính cứu hỏa hy sinh.

Tổng thống Hoa Kỳ Obama phát biểu trong buổi lễ tưởng niệm những người lính cứu hỏa đã hy sinh tại vụ nổ nhà máy phân bón.

Chỉ một tuần kể từ khi đến Boston sau vụ đánh bom khiến 3 người thiệt mạng, ông Obama sẽ có buổi nói chuyện tại đài tưởng niệm trong khuôn viên trường đại học Baylor ở Waco để tôn vinh 11 người đã chết trong vụ nổ nhà máy phân bón tại Texas.

Ban Tổ chức hy vọng sẽ thu hút hàng nghìn người (những người tham gia vào công tác cứu trợ đầu tiên khi vụ nổ xảy ra) tới tham gia buổi lễ được tổ chức tại nhà thi đấu bóng rổ của trường đại học với hơn 10.000 chỗ ngồi. Các nhân viên và khoảng 300 xe cứu hỏa trên khắp cả nước sẽ tham gia diễu hành tại buổi lễ.

Vụ nổ ngày 17.4.2013 tại nhà máy phân bón ở Waco đã san bằng một khu dân cư người Czech - Mỹ tại thị trấn Tây, cách Waco (Texas) khoảng 20 dặm. Vụ nổ đã khiến 14 người thiệt mạng và khoảng 200 trăm người bị thương.

Trong số những người hỗ trợ cứu nạn, có 33 tình nguyện viên cứu hỏa đã đến từ thị trấn 2.700 người dân này. 5 người trong số đó đã chết khi cố gắng điều khiển hệ thống báo cháy khi nhà máy này phát nổ 20 phút sau đó. Ngoài ra, 4 nhân viên y tế ở các thị trấn lân cận là những người lính cứu hỏa đang tham gia một lớp học tại thị trấn Tây có mặt tại vụ hiện trường vụ nổ đã thiệt mạng.

Hai nạn nhân khác trong số những người cứu trợ đầu tiên, một là nhân viên cứu hỏa tại Dallas đang nghỉ phép và một thợ hàn đã đến nơi xảy ra vụ nổ để hỗ trợ.

Vụ nổ này có ảnh hưởng từ một trận động đất nhỏ và đã để lại một miệng hố lớn trên mặt đất tại nhà máy.

Các nhà điều tra vẫn chưa xác định được rõ nguyên nhân, mặc dù họ nghi ngờ vụ nổ xuất phát từ một tai nạn công nghiệp tại các kho chứa phân bón.

Ngoài Tổng thống Obama, những người diễn thuyết sẽ gồm có Thống đốc bang Texas Rick Perry và Giám đốc trường Đại học Baylor, Kenneth Starr.

Các nhà điều tra vụ nổ nhà máy phân bón đã không loại trừ hành vi đốt phá nhưng họ cũng cho biết vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự phạm tội.

KẾT LUẬN:

- Thế là từ nay, các Ngân Hàng Thụy Sĩ đã mất quyền bất khả xâm phạm, dấu giếm Tiền bạc và quý kim của các tay Tham nhũng cỡ lớn ở khắp các Quốc gia, theo luật FATCA của Hoa Kỳ. Và cũng vì thế, có rất nhiều người giàu sinh sống tại Mỹ đã từ bỏ thẻ Xanh và Quốc tịch Mỹ, ra sống ở một nước khác, nhằm tránh bị đánh thuế Lợi tức kếch xù của họ. Thế là thẻ Xanh và Quốc tịch Hoa Kỳ bây giờ nhiều người cũng chê, không còn hấp dẫn như là trước đây nữa. Dù sao đa số công dân Mỹ và các nước đang phát triển trên thế giới cũng vui mừng vì luật FATCA đã ngăn cản bớt nạn các con bạch tuộc nhiều vòi, đã hút máu của đa số dân nghèo tại Mỹ cũng như ở mọi nơi.

- Khi Thủ tướng Ba Lan Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì Hoover – Tổng thống Mỹ tương lai - vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai sinh viên trẻ ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai người sinh viên đó”. Thế giới này đúng thật là tuyệt vời, khi bạn cho đi thứ gì, bạn sẽ nhận lại được những điều tương tự.

- Dù trong nỗi kinh hoàng trong thảm kịch Boston và vụ nổ nhà máy phân bón tại Texas, ở đâu tình người cũng dâng tràn.

Từ đó, người dân Mỹ tự hào về quê hương Hoa Kỳ - Liên bang non trẻ đã được thành lập từ cuộc chiến tranh cách mạng khởi sự từ thủ đô kháng chiến Boston này, chống lại người Anh vào năm 1775, với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 4-7-1776 và đặc biệt với bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đầu tiên trên thế giới và sau đó, vào năm 1788 Hoa Kỳ bầu George Washington làm Tổng thống đầu tiên, dẫn dắt Liên bang non trẻ này trở thành một cường quốc hàng đầu hiện nay.

(Tham khảo: Các bài viết và tài liệu trên Internet)

PHẠM VŨ




“SỰ PHẪN NỘ DỮ DỘI”

CỦA JONATHAN SWIFT

Một câu văn khắc trên mộ chí của nhà văn Jonathan Swift (1667 – 1745), tác giả của cuốn tiểu thuyết “Gulliver du ký”, đã nhắc tới “sự phẫn nộ dữ dội” luôn dày vò trái tim ông mỗi khi ông nhìn thấy những hành vi tàn ác và ngu xuẩn của giống loài được coi là khôn ngoan nhất và cao quý nhất tên trái đất này. Sự phẫn nộ đó cũng là cảm hứng chủ đạo trong hầu hết những tác phẩm châm biếm bất hủ của ông…

Cha của Jonathan Swift đã theo một người anh trai giàu có rời miền Yorkshire (Anh) để đến lập nghiệp ở Ireland. Ông trở thành một viên chức nhỏ trong bô máy chính quyền tại Ireland và qua đời ít lâu sau đó. 7 tháng sau, bà vợ góa của ông hạ sinh Jonathan Swift tại thành phố Dublin (1667), nhưng nhiều người ngờ rằng người cha thật sự của đứa bé là John Temple, một nhà quý tộc có tên tuổi ở Ireland. Godwin, người anh trai tốt bụng, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho Jonathan Swift theo học ở trường Kilkenny và Trường đại học Dublin. Giữa lúc Jonathan Swift chưa có nghề nghiệp ổn định, những biến động xảy ra ở Ireland sau khi vua James II thoái vị và chiếm đóng Ireland đã buộc ông và những người Ireland gốc Anh khác phải trở về Anh. Godwin đã bỏ lại tất cả sản nghiệp ở Ireland và chết trong nghèo khó sau khi trở về quê hương, nên chàng thanh niên Jonathan Swift phải trông chờ sự giúp đỡ của những người bà con khác. Từ năm 1689 đến năm 1699, Jonathan Swift vào làm thư ký cho công tước William Temple, con trai của John Temple (có lẽ cũng là người anh cùng cha khác mẹ của Jonathan Swift) ở Moor Park, Surrey, cách thủ đô London 40 dặm. William Temple là một nhà ngoại giao đã về hưu và là bạn thân của vua William, đã tiếp đãi con trai của người bà con bên vợ (mẹ Jonathan Swift vốn là bà con của Dorothy Osborne, vợ của William Temple) trọng hậu, nên thời kỳ sống ở Moor Park là thời kỳ cực kỳ quan trọng trong sự hình thành nhân cách của Jonathan Swift: ông làm quen với những sinh hoạt chính trị và kế thừa được những kinh nghiệm quý báu của William Temple. Thời kỳ này cũng là thời kỳ Jonathan Swift gặp gỡ và yêu người phụ nữ được ông đặt cho biệt danh “Stella”, người sẽ đóng vai người bạn tâm tình và là đối tượng của mối tình lớn nhất trong cuộc đời ông. Bà Johnson góa chồng, bạn thân của một người em gái của William Temple, có 2 cô con gái: một cô tên là Esther mới 8 tuổi, được cả gia đình Temple cưng chìu (người ta cũng ngờ rằng Esther Johnson là con gái của William Temple, tức là cháu gái của Jonathan Swift vì Jonathan và William là anh em cùng cha khác mẹ); chàng thư ký Jonathan Swift được giao nhiệm vụ kèm cặp cô bé cho tới tuổi trưởng thành. Ông đã dạy cô bé tập đọc, tập viết và một mối tình sâu đậm dần dần nẩy nở khi Esther trở thành một thiếu nữ có nhan sắc mặn mà. Trong thời gian làm gia sư, Jonathan Swift khám phá ra rằng mình có khiếu viết văn trào phúng và có thiên hướng tôn giáo; ông gia nhập giáo hội Anh giáo và viết những tác phẩm châm biếm sự suy đồi của tôn giáo và học thuật ở Anh: tác phẩm “Câu chuyện về cái chậu” (Tale of a tub) và “Trận chiến sách vở” (Battle of the books) được xuất bản năm 1704 (và được hiệu đính năm 1710) đã thể hiện tài năng của nhà văn trào phúng trẻ tuổi. Năm 32 tuổi, Jonathan Swift trở về Ireland, làm mục sư tuyên úy và trở thành thư ký của huân tước Berkeley. Sau khi William Temple từ trần (1699), Esther Johnson cùng với một người bạn gái thân thiết tên Rebecca Dingley sang Ireland, và Jonathan Swift thường xuyên gặp mặt nàng ở thành phố Dublin. Người ta không rõ hai người có bí mật kết hôn với nhau hay không, nhưng hai người đã thật sự gắn bó với nhau trong 28 năm sau đó. Ngay cả cái chết của Esther Johnson (1727) và sự xuất hiện của Hester Vanhomrigh, một phụ nữ trẻ yêu say đắm Jonathan Swift, cũng không lay chuyển được tình cảm sâu đậm dành cho người phụ nữ được coi là “người bạn chân thành nhất, cao cả nhất và thân thiết nhất” của ông. Với tư cách là thành viên của giáo hội Anh giáo, Jonathan Swift tham gia nhiều cuộc luận chiến và nhiều hoạt động chính trị ở Anh và Ireland vào năm 1710. Đối tượng công kích của nhiều bài văn châm biếm của Jonathan Swift là những nhà tư tưởng tự do, những người Công giáo và những chính khách thuộc đảng Whig (một đảng phái chủ trương xác lập quyền lực của Quốc hội để đối đầu với nhà vua). Ông trở lại Anh, được đảng Tory (đảng bảo hoàng) hoan nghênh nhiệt liệt, trở thành người phụ trách tờ Examiner (Người quan sát), cơ quan ngôn luận của chính quyền Oxford và Bolingbroke, và được coi là nhà báo xuất sắc nhất của Anh trong thời kỳ này. Sinh hoạt chính trị sôi động ở Anh trong giai đoạn này được Jonathan Swift mô tả trong những bức thư gửi cho Esther Johnson, sau này được tập hợp và in với nhan đề “Journal to Stella” (Nhật ký gởi Stella). Hai bộ trưởng trong chính phủ Anh đánh giá cao tài năng của ông và kiến nghị với nữ hoàng Anne bổ nhiệm ông vào chức mục sư phụ trách nhà thờ Thánh Patrick ở Dublin (Ireland) để tưởng thưởng công lao của ông. Ông phải miễn cưỡng rời nước Anh để sang nhậm chức ở Ireland 1 năm trước khi nữ hoàng Anne từ trần và đảng Tory của ông bị thất thế trên chính trường. Ở Ireland, ông tỏ rõ tài năng của một chức sắc giáo hội và trở thành người lãnh đạo phong trào của Ireland chống lại sự thống trị của người Anh (1724). Dưới bút danh M.B.Drapier, ông viết nhiều bức thư ngỏ để kêu gọi người dân Ireland tẩy chay những đồng tiền mới (khoảng 100.000 bảng) do William Wood đúc ở Anh, có nguy cơ làm phá sản ngành tài chính của đất nước Ireland vốn đã nghèo nàn. Mọi người ở Dublin đều biết rõ Jonathan Swift là tác giả của những bức thư ngỏ này, nhưng không một ai muốn làm kẻ chỉ điểm để nhận 300 bảng tiền thưởng mà chính phủ Anh hứa tặng cho người nào chỉ ra được lai lịch và tên thật của người mang bút danh M.B.Drapier. Jonathan Swift thật sự được coi là người anh hùng dân tộc ở Ireland.

Mặc dù tham gia tham gia nhiều hoạt động chính trị trong một giai đoạn có nhiều biến động, Jonathan Swift vẫn có vẻ cách biệt với những người cùng thời: ông là một khuôn mặt nổi bật giữa những chính khách lỗi lạc của London, đồng thời cũng là nhà văn có trí tưởng tượng phong phú, óc khôi hài sâu sắc và những cảm xúc mạnh mẽ vượt xa tất cả những nhà văn cùng thời. Người ta thường coi ông là nhà văn yếm thế thù ghét loài người và tác phẩm “Gulliver’s Travels” (Gulliver du ký) bất hủ của ông được coi là tác phẩm thể hiện rõ nhất lòng thù hận sâu sắc đối với loài người. Trong một bức thư gửi cho nhà văn Alexander Pope, Jonathan Swift cũng tự xưng là kẻ ghét đời, nhìn nhận rằng mình yêu thương những cá thể nhưng lại thù ghét loài người nói chung, và không coi con người như một “sinh vật có lý trí” (animal rationale) như các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, mà chỉ coi nó như một sinh vật có thể có lý trí (an animal capable of reason). Ông coi quan điểm này là “nền tảng lớn lao” của “tự tưởng yếm thế” của ông. Thật ra, “tư tưởng yếm thế” của ông chỉ là thái độ đối kháng với quan điểm lạc quan dễ dãi của những người tin tưởng ở bản chất tốt lành của con người. Trái với quan điểm “yêu thương loài người” của những nhà văn lãng mạn và các nhà triết học duy lý, Jonathan Swift đưa ra một quan điểm cũ hơn và dễ chấp nhận hơn: bản tính con người có nhiều khuyết điểm và chúng ta không thể làm gì được với loài người (hoặc cho loài người) nếu không nhận biết những giới hạn của họ về phương diện đạo đức và trí năng. Một câu văn khắc trên mộ chí của ông sau này cũng nhắc tới “sự phẫn nộ dữ dội” (fierce indignation) luôn dày vò trái tim ông (và được thể hiện qua những tác phẩm châm biếm sâu cay nhất của ông) mỗi khi ông nhìn thấy những con người có đầy đủ lý trí và có khả năng hành động theo lẽ phải lại tự nguyện lựa chọn điểu ác hoặc sự ngu muội.

“Gulliver du ký” (1726), cuốn truyện phiêu lưu được trẻ em trên thế giới yêu thích, là tác phẩm châm biếm thể hiện rõ nhất cái thường được gọi là “tư tưởng yếm thế” của Jonathan Swift. Nhiều đoạn trong tác phẩm bất hủ này có vẻ ám chỉ những sự kiện xảy ra ở nước Anh vào thời của Jonathan Swift, nhưng vấn đề chủ yếu được ông đề cập tới lại là bản tính con người, và đối tượng đả kích chủ yếu của ông là những thể chế chính trị, kinh tế và xã hội bất toàn do con người sáng tạo ra để bù đắp những khiếm khuyết của mình. Jonathan Swift đã sử dụng một thủ pháp cổ điển: một chuyến du hành tưởng tượng. Lemuel Gulliver, người viết cuốn du ký, là một y sĩ làm việc trên một chiếc tàu, có học vấn, tốt bụng, vui tính, thành thực, ham học hỏi và có tinh thần yêu nước; tóm lại là một con người điển hình, có nhiều điểm tương đồng với mỗi người trong chúng ta. Gulliver thực hiện bốn chuyến du hành và chuyến du hành nào cũng kết thúc ở “những nước xa xôi trên thế giới”. Trong chuyến du hành thứ nhất, Gulliver bị đắm tàu và đặt chân đến vương quốc Lilliput; anh thấy mình là một người khổng lồ giữa vương quốc của những người tí hon, cảm thấy thích thú khi sống trong thế giới nhỏ bé, xinh xắn đó, nhưng dần dần anh khám phá ra sự độc ác, sự xảo quyệt, sự tham lam và sự ngông cuồng của mọi người. Trong chuyến du hành thứ hai, anh lạc vào vương quốc Brobdingnag, xứ sở của những người khổng lồ. Anh cứ ngỡ những người khồng lồ này sẽ là những con người hung bạo nhất, nhưng sự thật trái ngược hoàn toàn với những dự cảm của anh: Brobdingnag giống như một thiên đường trên trần thế đặt dưới quyền cai trị của một vị minh quân giàu lòng nhân ái. Trong chuyến du hành thứ ba, Gulliver đặt chân đến vương quốc Laputa và Jonathan Swift đã mượn lời tường thuật về chuyến đi tưởng tượng này để đả kích những cực đoan trong các lý luận và các học thuyết chính trị, khoa học và kinh tế. Người ta nhận thấy phần lớn chuyến đi này là một biểu tượng của đời sống chính trị ở Anh dưới thời của bộ trưởng Robert Walpole thuộc đảng Whig. Trong chuyến du hành thứ tư, Gulliver đặt chân đến xứ sở của loài ngựa Houyhnhnms sống hoàn toàn theo lý trí và những người nô lệ Yahoos có thân hình giống như con người, nhưng lại không hề có lý trí và chỉ biết hành động theo bản năng. Gulliver kinh hãi khám phá ra rằng loài ngựa Houyhnhnms mà anh tôn sùng đã coi anh như một người Yahoos, và những người Yahoos đáng tởm này cũng coi anh như một người của bọn họ. Anh cũng thấy những hành vi và tổ chức xã hội thô sơ của người Yahoos có nhiều điểm tương đồng với xã hội loài người. Vốn mong muốn trở thành một người có lý trí, biết kiềm chế những đam mê và dục vọng như loài ngựa Houyhnhnhms, Gulliver không chịu đựng nổi tất cả những điều xấu xa khi trở về Anh và cảm thấy thù ghết tất cả mọi người. Nhà văn Alexander Pope cho rằng Gulliver “là một người đứng trên eo đất hẹp” giữa thế giới tinh thần thuần túy và thế giới nhục cảm thuần túy; bi kịch của anh là ở chỗ anh mong muốn trở thành một cái gì khác với con người thật của mình, và – theo Jonathan Swift – nhận thức sai lầm này của anh đã nảy sinh từ những lý thuyết triết học lạc quan của Pope và Bolingbroke. Thế nhưng Gulliver không phải là Jonathan Swift và tâm trạng bi quan cùng cực của Gulliver không biểu hiện trọn vẹn quan điểm triết học của Jonathan Swift, dù rằng chứng bệnh Meniere (mê đạo tai giữa bị thừa dịch, khiến cho bệnh nhân chóng mặt, ù tai và giảm thính lực) hành hạ ông trong mấy chục năm trời đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành “tư tưởng yếm thế” của ông. Trong những năm cuối đời (từ năm 72 tuổi), ông bị điếc hoàn toàn, không còn tiếp xúc được với người khác nên những người thân và bạn bè tìm mọi cách để trông nom và giải quyết mọi công việc của ông. Ông từ trần vào năm 1745, 18 năm sau cái chết của Stella, người bạn gái thân thiết, và sau 3 năm dài chìm đắm trong trạng thái hôn mê.

Các thế hệ nhà văn đến sau đã coi Jonathan Swift như một trong những nhà văn lớn nhất của Anh có bút pháp hoàn hảo, nghĩa là biết dùng “những từ thích hợp ở những nơi thích hợp” (proper words in proper places) để mô tả những sự kiện và thể hiện những cảm xúc. Nhiều người, trong đó có nhiều nhà văn có tên tuổi, đã tìm cách bênh vực ông từ khi Macaulay, Jeffrey và Thackeray đả kích “tư tưởng yếm thế” của ông, nhưng dưới mắt tất cả mọi người, ông vẫn là một người có tâm hồn bí ẩn. Người ta không sao dung hòa được “tư tưởng yếm thế” của ông với tình yêu sâu sắc của ông và tình cảm sâu đậm mà bạn bè đã dành cho ông, cũng như không thể nào giải thích được vì sao một ngườicó giọng điệu chua chát và oán ghét phụ nữ như ông lại có thể khơi dậy được những tình cảm sâu sắc nhất trong tâm hồn của những người phụ nữ như Stella và Hester Vanhomrigh.

DUY LỘC

(Theo “The Norton anthology of English literature”

– nxb W.W.Norton, New York)

ĐỖ THIÊN THƯ st.


 

Tác giả: Dương Lêh

Người ta nói ngay khi hắn mới lọt lòng, một bàn tay nắm thật chặt, đến khi cô đỡ đét vào mông, hắn mới khóc thét lên và bàn tay hắn mở ra, người ta thấy đó là một lá bài tứ sắc. Cái “huyền thoại” này người ta đặt cho hắn không biết từ bao giờ để giải thích cho cái tính bẩm sinh mê bài bạc của hắn, và cũng muốn nói lên cái việc lưu truyền nòi giống chính xác, đó là cha mẹ hắn đã có được một hậu duệ chân truyền. Hắn đã tiếp nhận sự nghiệp đỏ đen của cha mẹ hắn một cách dũng cảm. Cái nghề được làm thân bằng quyến thuộc với bác thằng bần.

Khoảng bẩy, tám tuổi, đi đâu hắn cũng cầm bộ bài tây loại con nít chơi, lá bài nhỏ bằng tấm hình 4x6, hắn vừa đủ biết đếm để chơi món bài cào ba lá. Hắn đi khắp xóm Cây Thị để dụ mấy đứa con nít cùng tuổi để chơi, ăn thua bằng dây thun mà hắn bện lại thành một sơi dây dài gần một thước. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng hai bàn tay của hắn rất điêu luyện. Hắn chia bài từ phải sang trái hay ngược lại đều rất linh hoạt. Khi chia xong, đợi các nhà con úp bài lên đống dây thun, được coi là tiền đặt, hắn bắt đầu “nặn”. Tay mặt cầm ba lá bài, tay trái đậy lên, đưa lên gần mắt, nhìn xuyên qua khe hở của bàn tay trái trong vài giây đồng hồ, sau đó hắn đổi lá bài thứ hai lên trên, đưa lên mắt xem như lá thứ nhất, và cũng chừng hai, ba giây, hắn hạ bài xuống để lộ ra hai lá bài, lần đó là con tám bích và con bẩy cơ. Hắn xét bài mấy tay con, một đứa ba nút, một đứa sáu nút, hai đứa tám nút. Hắn thấy hơi oải, hai thằng tám nút đặt hơi nhiều dây thun. Hắn hạ bài xuống cho mọi người thấy và bắt đầu nặn ra lá thứ ba. Lần này hắn nặn theo chiều ngang, hắn đẩy lá bài ở trên qua bên trái từ từ cho thấy hàng nút của lá thứ hai. hắn la lên “hai hàng… rô, rô.” Như vậy lá bài đó có thể là lá “bốn rô” hoặc lá “năm rô”. Nếu là “bốn rô” thì hắn được chín nút, tức là ăn hết còn nếu là lá năm rô, sẽ là “bù”, hắn phải thua và phải chung hết cho mọi người. Nhưng chỉ trong nháy mắt sau khi thấy hai hàng rô của lá thứ ba, hắn quăng bài xuống và la lên “chín nút rồi”. Hắn rất lanh mắt, không cần coi lá thứ ba, hắn biết là đã thắng vì vừa thấy lá bài “năm rô” ở trong xấp bài của một thằng tay con. Bài cào ba lá có cái thú “nặn” bài để tìm kết quả, nó làm cho người ta ghiền, mê vì có lẫn giây phút hồi hộp “nhứt chín, nhì bù”. Một là có thể mua được một chiếc xe gắn máy hoặc mất đi một tài sản gì đó có giá trị tương đương. Khi lớn lên hắn đã từng trải qua không biết bao nhiêu lần những giây phút hồi hộp lịch sử này...

Người ta khi lớn lên đều muốn có một gia đình để sinh con đẻ cái, để lưu truyền nói giống, nói theo kiểu mấy ông bà già xưa, thời đàn ông còn bới đầu củ tỏi, đàn bà ăn trầu bô bô, rồi nhổ nước và bã trầu vô mấy gốc cây xung quanh nhà. Thằng Thược, tên của hắn do ông nội hắn lấy chữ đầu của tên cái bông thược dược, được nối dõi tông đường. Khi hắn ra đời cũng là lúc nhà hắn là một nơi chứa bài tứ sắc, bài cào, xì lác, và cha mẹ hắn là người quản lý trực tiếp để lấy “xâu”. Đây là một khoảng tiền bằng một tỉ lệ qui định mà người thắng một ván bài phải bỏ vào một cái đĩa cho chủ chứa đến nhận. Như vậy, người có nhà chứa bài cứ ngồi không hưởng lợi, chỉ có “ăn” chứ không bao giờ thua. Mỗi chiếu bài hay còn gọi là sòng bài thường kéo dài thâu đêm suốt sáng, ngày này qua ngày khác, gần như bất tận, người nào quá mệt mỏi hay hết tiền mà không còn vay mượn ai được đứng dậy ra về, ngay sau đó có người vào trám chỗ. Nhà chứa bài thường chơi điệu đối với con bạc. Họ thường tổ chức nấu cháo gà, cháo vịt phục vụ cho các con bạc vào lúc mười giờ tối và bốn giờ sáng. Các con bạc không phải tốn kém gì cả. Trong trường hợp con bạc nào muốn ăn sang hơn như cơm tấm, mì, hủ tíu thì đưa tiền cho chủ chứa đi mua giùm, không một chút nề hà. Sòng bạc và nhà chứa chỉ đóng cửa nghỉ xả hơi mỗi khi có cảnh sát bố ráp. Thông thường họ chỉ nghỉ vài hôm rồi mở cửa lại, người ta lại tới đánh bạc ì xèo. Có gì đâu, mỗi khi cảnh sát thi hành chiến dịch, thông tin thường “rò rỉ”, cho nên sau mỗi chiến dịch không thấy ai bị bắt bớ gì cả. Có chăng cũng chỉ bị giam giữ vài ngày rồi được cho về sau khi nôp một ít tiền phạt. Giống như cái đám đào vàng ở ngoài miền Trung, chúng đã đào hầm hố, sử dụng xe cơ giới như xe cẩu, xe cạp, xây lán trại, mở đường giao thông không ai hay biết. Nhưng mỗi khi lực lượng chức năng hành quân vào truy quét tận hang ổ thì không còn một móng, cả xe cơ giới cũng biến mất, chỉ còn vài lán trại lèo tèo, tranh nứa nằm lăn lóc.

Thược lớn lên như thổi, chẳng mấy chốc hắn đã trưởng thành, thời niên thiếu của hắn kinh qua trường lớp một cách sơ sài. Hắn học toán chỉ cần đếm được tới mười. Người ta đố hắn: “Đếm tới nữa coi”. Hắn trả lời ngay là: “Bồi, đầm, già, ách”.

Một ngày nọ, hàng xóm nghe cha mẹ hắn phân bua, hắn đã chôm một mớ tiền và vàng rồi đi biệt. Người ta nói “của cờ bạc để ngoài sân”, cho nên con cái chôm chỉa của cha mẹ hắn không có gì khó khăn. Cha mẹ hắn phải khó khăn lắm mới đọc được bức thư từ biệt của hắn viết trên tờ giấy lót trong bao thuốc lá. Đại ý hắn nói theo bạn bè đi lập nghiệp, Hắn không nói là đi đâu, chỉ cho biết sơ sơ là đến các tỉnh gần biên giới với Kampuchia. Giống như một con chó mẹ với bầy con nhỏ. Rủi ro có một con biến mất, chó mẹ có lẽ buồn vài hôm rồi đâu vào đó. Cha mẹ hắn chắc cũng vậy. Hai người lại quay vào phục vụ những sòng bạc, đang lặng lẽ sát phạt. Đặc biệt ở những sòng bạc thế này, những con bạc cho dù đang sát phạt nhau với những số tiền lớn nhưng họ trao đổi câu chuyện với nhau rất êm thắm, không như những sòng bạc trong các phim Tàu ồn ào như cái chợ.

Không đầy một tháng sau, lúc trời sẩm tối, hắn trở về. Mẹ hắn đang lấy gói thuốc lá để vào đĩa cho khách, ngước lên nhìn thấy hắn, mừng rỡ:

- Mầy đi đâu mất biệt?

Hắn trả lời cộc lốc:

- Làm ăn.

- Sạch sẽ rồi phải không?

- Ừa!

Rồi hắn bỏ lên gác. Đúng như mẹ hắn nghĩ. Hắn đã thua sạch sẽ số tiền và vàng mà hắn đã chôm chỉa được của cha mẹ hắn cách đây gần một tháng.

***

Cái tin thằng Thược lấy vợ nhanh chóng lan truyền ra khắp xóm. Ai cũng nghĩ thằng nầy lấy vợ rồi chắc sẽ lo kiếm công ăn việc làm gì đó để nuôi vợ con chứ không còn rớ vô bài bạc. Rồi đám cưới diễn ra. Cô dâu là con gái của bà Tư bán bánh canh giò heo ở phường bên cạnh. Bà con hàng xóm xậm xì:

- Hèn gì tui thấy thằng Thược hay qua bên đó ăn bánh canh.

- Tội nghiệp con nhỏ, nhè cái thằng ham mê cờ bạc mà yêu thương cái nỗi gì.

- Kệ người ta bà ơi, miễn tụi nó thương nhau, biết đâu thằng này đổi tính, chí thú làm ăn nuôi con nuôi cái.

- Cái ngữ cờ bạc này không có bỏ được đâu bà ơi.

Đúng như vậy, từ ngày lấy vợ về thằng Thược vẫn sống bám cha mẹ nó, sống bám vào tiền xâu của mấy sòng bài. Sáng sớm vợ nó trở về phường bên kia phụ bà già bán bánh canh. Cuộc sống của vợ chồng nó không có gì căng thẳng. Con vợ sống bên nhà chồng cũng thoải mái. Cái ăn, cái mặc bên nhà chồng lo đầy đủ. Mỗi ngày sau khi phụ bán với mẹ già đến gần trưa thì hết hàng, cô trở về bên nhà chồng giúp dọn dẹp nhà cửa, quét tước, giặt giũ, hoặc nấu nướng thêm vài món ăn, phụ việc cơm nước cho nhà chồng. Biết được việc cô đối xử với bên nhà chồng như vậy, hàng xóm ai cũng khen. Trong khi đó, ông chồng, cái ông Thược này đây, thì thường xuyên đi từ sáng đến chiều mới về. Người ta ai cũng biết anh ta mê thêm cái môn đá gà. Nay trường gà này, mai trường gà nọ. Có hôm anh ta ôm về một con gà nòi cao lớn. Nhà đông người ra vào, anh để con gà ở dưới mái hiên trước nhà rồi lấy lồng bội chụp lên. Con gà đứng, cái đầu gần đụng nóc lồng bội. Tối đến anh đem con gà vô nhà bếp, chụp lồng bội rồi lấy tấm vải phủ lên gần kín lồng bội để cho gió không lùa vào làm cho con gà bị cảm lạnh. Từ đó sáng nào cũng vậy, người ta thường thấy hắn ngồi chồm hổm trước nhà, cho gà ăn. Hắn bốc từng hạt lúa đút cho gà, thỉnh thoảng cầm chén nước đưa lên cho gà uống. Vừa cho gà ăn hắn còn thêm cái màn nói chuyện với… gà. Có người đã nghe được câu chuyện hắn “trao đổi” với con gà cưng của hắn: “Ráng lên con Triển Chiêu của tía. Thắng con chó, à quên, con gà mà, ừ thắng được con khốn La Thành, tía sẽ cho con nhiều “ngân lượng”. Cuộc chiến sẽ mười phần sôi động. Một quan Ngự Miêu của vua nhà Tống đấu với một tướng đời Đường chưa từng xảy ra trong lịch sử… Tàu.

Vợ thằng Thược vẫn phụ bà già bán bánh canh vào mỗi buổi sáng. Đàn bà có chồng rồi sao thấy có vẻ mập ra.

- Xời, nó có bầu rồi đó. Mấy cha đàn ông này hổng biết gì hết trơn.

Bà Bảy đang xỉa cục thuốc lớn gần bằng trái chanh nói với kiểu cách của người rành đời. À ra vậy, thằng cha Thược này giỏi ghê, mới lấy vợ ba bốn tháng nay đã thấy lúp xúp rồi. Hèn gì thấy vợ nó mỗi khi đi ra đường thường lấy cái nón lá che trước bụng. Bà già chồng thỉnh thoảng mua món ngon vật lạ về tẩm bổ cho con dâu. Có lần bà vô tận Chợ Lớn, tới đường Nguyễn Tri Phương mua về một trái sầu riêng gần ba kí lô, vàng rực, theo như anh chàng bán hàng, gốc người Hoa, đây là loại hàng quý hiếm chính gốc Thái Lan, hột lép, bao ăn. Bà đem về chia cho mỗi người một hột, riêng con dâu bà để cho ba hột đựng trong một cái đĩa, lấy miếng plastic mỏng phủ lên trên, đặt vào tủ lạnh “để lát nữa nó về ăn, mấy đứa nhỏ không được đụng vô nghe bây!”…

Dạo này thằng Thược có vẻ như trúng độ gà. Hình như nó đang gặp thời vận tốt. Nó thường xuyên vắng mặt trong nhiều ngày. Người ta nói nó đang đi tuyển gà. Có người mới nghe qua sửng sốt, bán tín bán nghi: “Hổng lẽ cờ bạc chưa đủ thất đức sao nó còn nhảy vô cái nghề dụ dỗ con gái người ta đưa vô con đường nhục nhã như vậy”. Tư ba gác hoảng hồn, phân bua: “Hổng phải đâu bà Bảy ơi, tui nói thằng Thược nó đi tuyển gà, có nghĩa là nó đi… mua gà. Gà thiệt. Nó mua gà để đá”. Tôi nghiệp bà Bảy chất phác, nghe Tư ba gác nói bà tưởng nó đi dụ dỗ con gái nhà nghèo cho đi lấy chồng nước ngoài. Tư ba gác còn nói thằng Thược ra tận Phú Yên để tuyển gà, nó nghe người ta nói gà nòi Phú Yên độc chiêu lắm, tự chúng nó biết… võ. Có người mua được một con gà nòi ở đây đem về đá đâu thắng đó. Hóa ra con gà này có cú Hồi mã thương, làm bộ thua bỏ chạy ba bước, chỉ trong chớp mắt nó quay đầu lại tung một cú đá một lúc cả hai chân và hai cái cựa sắc bén của nó đâm ngay vào bầu diều con gà đối phương. Con gà kia lăn ra huơ chân mấy cái rồi nằm im. Chủ nó chung tiền một cách bực tức rồi cúi xuống xách con gà lên, đem về bỏ vô nồi cà ri. Có con gà biết ngón đòn Kim kê độc lập. Khi sắp tấn công đối phương, nó xòe cánh ra như đại bàng đang tung cánh, ngẩng đầu lên đứng một chân, chân kia đưa ra trước như đe dọa, và rồi chỉ một cái vỗ cánh, gà bay lên phủ lên đầu đối phương và hai cái cựa ghim thẳng vào hai bên đầu cánh sát vào cần cổ của gà kia.

Một buổi sáng, lúc đó khoảng mười giờ, bà Bảy từ ngoài đầu ngõ te te chạy vô. Bà hơi bị dư mỡ, hai chân chống không nổi thân hình đồ sộ, nên bà không phải chạy mà là đi lặc lè, nghiêng qua nghiêng lại. Vừa gặp mọi người đang lố nhố nhìn, bà vừa nói vừa cười: “Vợ thằng Thược đẻ rồi. Con trai. Dễ thương lắm!” Thì ra, hồi khuya nầy, vợ thằng Thược chuyển bụng sắp sinh, thằng Thược không có ở nhà. Nó đã ôm con gà Đơn Hùng Tín ra đi từ mấy hôm trước. Bà già chồng và con nhỏ người làm dìu vợ thằng Thược ra ngỏ lên taxi đến bệnh viện Từ Dũ. Cùng lúc đó bà Bảy nhà đối diện qua con hẻm, chợt thức giấc thấy vậy vội vã mặc áo chạy theo phụ giúp và sau đó ở lại cho đến khi em bé được sinh ra, mẹ tròn con vuông, bà mới chạy về cho cả xóm hay.

Bốn ngày sau, bà nội dìu con dâu đang ôm em bé từ từ bước vô nhà. Những con bạc ngẩng đầu lên trầm trồ: “A! Thược con đây nè!”, rồi tiếp tục chú ý vô canh bạc. Hôm chuẩn bị đến bệnh viện phụ sản, ông nội đã dặn dò đặt tên cho nó là Dược cho đầy đủ tên của cái bông thược dược. Từ ngày hoàng tử Dược xuất hiện trong ngôi nhà này, mọi người có vẻ bận rộn hơn vì cô con dâu không phụ giúp gì cho công việc bên nhà chồng lý do là bận chăm sóc cho “hoàng tử bé”. Mấy sòng bạc vẫn như mọi ngày âm thầm lặng lẽ, các con bạc thản nhiên chăm chút từng cây bài đánh ra cốt để dành thế thượng phong.

Một buổi chiều, “đức vua” về tới. Biệt danh này được mấy con bạc đặt cho thằng Thược, một kẻ giang hồ lãng tử.

“Đức vua” bước vào phòng để hoàng tử. Một sanh linh nhỏ bé đang nằm ngủ hết sức bình yên. Mẹ hắn quay qua hỏi:

- Thấy nó giống mầy hông Thược?

- Trời! còn nhỏ xíu mà làm sao thấy được?

Nó nhìn sang cô vợ đang ngồi ở mép giường cũng đang hướng về nó, ngập tràn hạnh phúc. Thược nắm tay vợ, mỉm cười lặng lẽ như thầm cám ơn vợ đã sanh cho nó một đứa con trai vô cùng dễ thương. Người đàn bà cảm động ngã đầu lên ngực hắn.

Nhưng Thược đã ra đi ngay sáng hôm sau, không một ai hay biết…

***

Một buổi chiều, một người đàn ông trung niên, bước vào xóm Cây Thị. Hắn nghĩ trong bụng: “Xóm này bây giờ đổi khác quá sức tưởng tượng. Nhà nào nhà nấy đều có lầu, có gác, con hẻm được tráng xi măng. Đường mương thoát nước có nắp đây đàng hoàng. Bà con dạo này chắc làm ăn khá lắm. Nhưng sao không thấy ai quen hết trơn”. Đến một khúc quanh, hắn nhìn dáo dác như đang hồi tưởng lại một hình ảnh gì đó trong ký ức: “Chỗ này, hồi xưa có một cây trứng cá, hồi xưa là nhà dì Bảy, đối diện xéo xéo là nhà của mình. Phải rồi. Chỗ này đây. Sao bây giờ kín cổng cao tường quá vậy?” Một bà già từ trong một ngõ nhỏ bước ra:

- Ông kiếm ai vậy?

Hắn gỡ cặp mắt kiếng đen xuống

- Tôi kiếm nhà ông Ba hồi đó có thằng con trai tên là Thược.

- À, tôi nhớ ra rồi, Vậy chú là chú Thược đây hả?

- Dạ, dạ phải, còn dì đây là…

- Tui thứ Năm, hồi xưa tui ở xóm đàng sau, chú không nhớ đâu. Nhưng mà tui biết rõ gia đình chú lắm.

- Bà con còn ai ở đây nữa không dì Năm.

- Đi hết rồi, họ đi trồng cà phê đâu ở trên Bình Phước nghe nói bây giờ khá lắm. Tui bị bệnh bỏ về, che cái chái ở với con cháu bán vé số. Mà tui hỏi nè. Chú đi đâu mất biệt vậy? Gần hai chục năm rồi chứ ít ha.

- Vậy dì Năm có biết hai má con thằng Dược ở đâu không?

- Thì cũng đi lên đó hết. Mà sao chú về kịp lúc quá vậy, mới hôm kia thằng cháu tui về kể, hổng biết tranh giành đất đai sao đó, sinh ra chém lộn, thằng Dược bị nhốt mấy tháng nay rồi. Chú lên kiếm thằng cháu tôi nó chỉ cho. Địa chỉ nè…

Hắn trở ra đường, cảm thấy vô cùng ân hận. Con mới ba bốn ngày tuổi mà hắn nhẫn tâm bỏ đi, rồi đi biệt. Gần hai chục năm qua, không biết con mình sống chết ra sao. Lần này về, hắn muốn tìm gặp con để bù đắp cho nó những thiệt thòi mà đứa nhỏ đã phải gánh chịu bao lâu nay. Một tương lai tươi sáng sẽ dành cho con hắn. Hắn quyết định vào trại giam tìm con hắn rồi sẽ đi tìm vợ sau.

Dược cầm tờ giấy phép lên khu vực tiếp tân. Nó vừa đi vừa suy nghĩ. Lúc nãy quản giáo nói có cha là Nguyễn văn Thược lên thăm. Đúng rồi, đây là người cha, mà theo mẹ nó kể, đã bỏ nó đi biền biệt khi nó mới vừa hai, ba ngày tuổi. Mẹ nó nói tưởng đâu cha hắn đi có lâu lắm một vài tháng rồi về, ai ngờ ông ta đi biệt tăm, biệt tích, như chưa từng có vợ con ở cái xứ sở này. Có phải là cha nó đi làm ăn lương thiện gì đâu, chỉ là mê bài mê bạc. Cũng có thể cha hắn đang sống với một người phụ nữ nào đó nơi xứ người, bên cạnh đàn con vài ba đứa. Khả năng này rất có thể xảy ra. Trong khi đó mẹ nó ở đây tảo tần nuôi nấng cho nó nên người. Bây giờ nó đã có đủ khả năng làm lụng nuôi nấng, phụng dưỡng mẹ nó. Chẳng may nó bị giam giữ nơi đây chỉ vì một phút nóng giận thấy mẹ nó bị người ta đánh đập, nó đã gây thương tích cho nhóm người phe bên kia. Nó sẵn sàng nhận lãnh bản án để rèn luyện con người nó tốt hơn để rồi sau vài năm nữa nó sẽ lại trở về đoàn tụ với mẹ nó. Cha nó thấy không cần thiết phải có mẹ con nó nên đã bỏ đi như vậy. Dược càng nghĩ nó càng thương mẹ nó.

Bước vòng qua đầu trên của luống rau muống, Dược tiến vào “phòng tiếp tân”, đúng ra là cái lán để tiếp thân nhân đến thăm nuôi “trại viên” đang được cải tạo lao động.

Anh quản giáo, chỉ vào một người đàn ông khoảng bốn mươi, bốn lăm tuổi, mặc áo jeans, trông tướng giống như tài xế xe đò:

- Đây là bố anh từ xa về thăm. Anh được phép ra bàn kia nói chuyện trong mười lăm phút.

Dược đi theo người đàn ông đó đến chỗ cái bàn có hai ghế để đối diện nhau:

Người đàn ông ngồi xuống, Dược đứng phía bên kia nhìn lại. Người đàn ông cất tiếng, mắt long lanh ướt:

- Ba là Thược đây con. Dược, con trưởng thành rồi. Ba xin lỗi không ở nhà lo chăm sóc hai mẹ con…

- Chú tìm nhầm người rồi. Không phải cháu.

Nói rồi Dược chạy đến bên quản giáo:

- Thưa cán bộ, cho em về trại, chú này tìm nhầm người rồi. Lần sau em không tiếp nữa…

Dược lách người ra cửa, nhảy qua luống rau muống chạy một hơi về trại…

Dương Lêh

 



VĂN MINH BÌA SÁCH

NGUYỄN THỤY KHA

Một người bạn nói với tôi: “Đúng là giàu vì bạn, sang vì vợ. nếu sự nghiệp của mình là một quyển sách thì vợ mình là cái bìa sách. Bìa sách đẹp thì làm sang cho cả quyển sách”. Tôi càng ngẫm càng thấy sự so sánh này thật độc đáo. Nếu con người đã có một văn minh “vợ” thì sách cũng đã có một văn minh bìa sách. Mùa xuân, giữa rượu và hoa,thử lạm bàn một chút.

Lại từ một phía khác, thấy bìa sách như trang phục của quyển sách. Và trang phục cũng đã có một văn minh của nó. Trang phục thay đổi kiểu mốt theo từng thời, thì bìa sách cũng theo từng thời mà có kiểu mốt của nó. Cũng là cuốn Truyện Kiều của cụ Tố Như. Nhưng cuốn “Kiều” ngày đầu thế kỷ in ở Hàng Gai, cái bìa một kiểu mốt. Và từ đó đến nay, đã biết bao lần “Kiều” được tái bản. Song đã có lần nào bìa “Kiều” giống lần nào.

Nếu sách gắn với người viết sách thì bìa sách gắn với họa sỹ. Cái mối quan hệ giữa người viết sách đọng lại ở hình thức bìa sách. Họa sỹ làm bìa sách không phải là sáng tạo ra một cái gì mình tự nghĩ ra, mà sáng tạo, mà nghĩ từ nội dung của cuốn sách, mà thành. Trong thế kỷ 20 này, từ khi có cuốn sách đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ, bìa sách đã gắn với các thế hệ họa sỹ. Những bậc cao niên hội họa như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn đã từng là những người tạo mốt đầu tiên cho trang phục sách, cho bìa sách. Sau đó là đến các họa sỹ lớp kế tiếp như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên. Đặc biệt ở thế hệ này, các họa sỹ như Bùi Xuân Phái, Văn Cao, Sỹ Ngọc, vv… đã tạo ra một ấn tượng mạnh cho văn minh bìa sách. Hình như từ bìa sách của các ông, người đọc sách mới à lên một tiếng rằng thì ra có một thứ văn minh mà đến bây giờ ta mới biết. Đó là “văn minh bìa sách”. Cũng chính những người này đã ghi đậm dấu ấn cho tranh minh họa, tranh phụ bản của các cuốn sách. Việc thống kê ra những bìa sách đẹp đối với các cao nhân trên là không cần thiết. Xin người đọc cứ tự lần tìm lại mà kiểm chứng. Sau đó lại đến thời của những Lê Huy Hòa, Trần Lưu Hậu vv… Nổi lên cùng thời tôi là một họa sỹ đã quá cố - anh Hoàng Hữu. Bìa sách Hoàng Hữu là đặc sản một thời trong thế giới sách. Bìa sách Hoàng Hữu nổi tiếng như bài thơ “Hai nửa vầng trăng” của anh. Cũng thời này ở miền Nam, cũng không thể nào quên những tên tuổi như: Đinh Cường, Hoàng Ngọc Biên vv… Còn đến bây giờ là thời kỳ của những Thành Chương, Hoàng Hồng Cẩm, Phạm Quang Vinh, Việt Hải (một họa sỹ trẻ ở Sài Gòn chứ không phải bác Việt Hải, “sếp” của gallery Hàng Khay) vv…

Tuy nhiên, nhìn lại sách Việt Nam, tỷ lệ bìa xấu lại chiếm đa số so với những bìa đẹp. Có một thời, tỷ lệ này biểu hiện sự chưa nhận thức đúng về bìa sách. Còn hôm nay, thì tỷ lệ này lại phản ảnh trung thực một thời kỳ hỗn loạn – thời kỳ thương mại hóa của những loại sách rẻ tiền. Chưa bao giờ thẩm mỹ bìa sách lại lố bịch và nhăng nhố như hôm nay. Các họa sỹ có năng lực làm bìa sách thì lại không có nhiều thời gian, không được đặt làm bìa một cách nghiêm túc. Các họa sỹ kém năng lực thì lại bằng cách này, cách khác ngồi xổm lên cái bìa sách một cách rất là…! Thậm chí những người chuyên kinh doanh sách tự làm lấy bìa sách! Không biết cơ man nào là sách do chính các đầu nậu cắt dán các hình ảnh gán ghép vào bìa. Hình như đã có vụ kiện của một gia đình cô gái con nhà lành nào đó về việc đưa ảnh của cô vào bìa một cuốn sách mà nhân vật chính của nó lại là một cô gái giang hồ. Nếu trở lại so sánh ban đầu thì quả thật là đau khổ cho các bà vợ, vì bìa sách bây giờ đâu có làm sang cho các cuốn sách nội dung đã chẳng lấy gì làm hay ho cho lắm. Nó chỉ khêu gợi mắt người mua để đạt được hiệu quả thương mại. Còn bất biết là có đạt được thẩm mỹ hay không. Chính từ ý đồ thương mại, ngay cả tên sách cũng bị thay đổi theo để có thể gây ấn tượng mạnh trước mắt người mua.

Tôi vừa đọc hồi ký Ta đã làm chi đời ta của thi sỹ Vũ Hoàng Chương. Thật cảm động khi ông ghi lại những kỷ niệm với danh họa Tô ngọc Vân – người làm bìa cho tập thơ đầu của ông. Ông Chương viết: “Mây (tập thơ đầu của Vũ Hoàng Chương là tập thơ Mây) với Vân có duyên với nhau từ cái thời xa xưa chữ Nho gặp tiếng Việt. Cho nên lời gọi phát xuất từ cây bút của nhà danh họa kia đã được đám mây – giang hồ hưởng ứng, bằng lòng tự thu nhỏ lại trong một cái bầu rượu, xuống nằm bất tử ngay trên bìa sách của Hoàng (tức là Vũ Hoàng Chương – N.T.K). Bầu rượu và đám mây đều màu nâu, bìa sách thì màu vàng rực rỡ, trong khi những chữ nhà in sắp tên tác giả và tác phẩm thì in bằng mực đen trên một cái nền nhỏ hình vuông, cũng màu nâu và đặt ở khoảng trên, bốn phía lại đóng khung đen, giống như khung ảnh.

Chiếc bầu rượu này, chẳng hiểu có phải Tô Ngọc Vân đã chiêm bao nhặt được ở tận Đông Hải, do Lý Thiết Quải đại tiên bỏ quên hay không. Chỉ biết hình thù nó mập tròn, nét vẽ đậm, và đặt chênh chếch tưởng đâu sắp té ngửa đến nơi, và té ra ngoài… bìa sách”. Ông Chương viết tiếp: “Nhà Đời Nay (nhà xuất bản in tập thơ Mây của Vũ Hoàng Chương – N.T.K) quyết định in nhà in nhà tức là in tại ấn quán Ngày Nay số 80 đường Quan Thánh Hà Nội. Sách in cỡ lớn mà máy in được dành cho lại là thứ nhỏ nhất – máy Minerve. Ông MIến quản lý bảo rằng phải thứ máy đó mới thực hiện được hết những khía cạnh tế nhị của tập thơ do họa sỹ Tô Ngọc Vân vẽ”.

Thật đánh kính trọng cái tình trân trọng của thi sỹ Vũ Hoàng Chương và những người thợ in dành cho danh họa Tô Ngọc Vân với tư cách một họa sỹ làm bìa sách. Than ôi! Cái tình trân trọng này đến bây giờ không biết có còn không? Hy vọng là vẫn còn, ít nhất ở một số người viết sách chân chính và ở những nhà in có tư cách.

Mãi mãi bao giờ bìa sách cũng phải đủ thẩm mỹ như một kỷ niệm đẹp giữa người viết sách, họa sỹ và nhà in. Đó là văn minh bìa sách. Đó là người vợ sang trọng của cuốn sách do cuộc hôn phối giữa họa sỹ và nhà in sinh ra. Mùa xuân, nhìn những gáy sách mới trên giá sách, biết ở đấy có một tổ ấm. Và một văn minh.

HOÀNG KIM THƯ st.


ĐÔI ĐIỀU VỀ

THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ TRONG THI PHẨM

CỦA NHÀ THƠ NỮ NGỌC TUYẾT

Thiếu Khanh

Thưa Quý vị và các bạn,

Theo chỗ tôi biết, có lẽ đây là đêm thơ đầu tiên của nhà thơ nữ Ngọc Tuyết. Chị đã có các tập thơ Giọt Đầy Giọt Vơi, Lá Trở, và Sang Mùa được tuần tự xuất bản vào các năm 2005, 2006, 2007 [1] . Tôi được đọc các tập thơ thứ hai và thứ ba trong số đó. Điều khiến tôi chú ý trước tiên trong các tập thơ ấy là những bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú của chị.

Có lẽ Ngọc Tuyết là một trong số rất hiếm hoi các nhà thơ ở thành phố mà trong ba năm liên tục đến nay mỗi năm đều có tác phẩm mới ra đời. Nếu coi đó là một đặc điểm, thì đặc điểm thứ hai của chị, theo tôi, là những bài thơ Đường luật trong các tập thơ mà tôi vừa nói. Hiện nay rất ít nhà thơ còn làm thơ Đường luật; số nhà thơ nữ làm thơ thất ngôn bát cú lại còn ít hơn nữa.

Thơ thất ngôn bát cú từng bị chê bai bài bác trong phong trào Thơ Mới vào những năm 30 của thế kỷ 20, nếu nó còn lây lất đến nay cũng chỉ là “sống ráng” ở trên mức “sống chui”. Và thơ Đường hầu như vắng mặt trong các thi phẩm của các nhà thơ của chúng ta xuất bản hàng năm. Tuy tại Tp HCM có một câu lạc bộ thơ Đường của tổ chức văn hóa UNESCO mà vừa rồi có ấn hành hai tập thơ thất ngôn bát cú rất dày gồm thơ của các hội viên, mỗi tập có lẽ khoảng năm – bảy trăm trang, nhưng đó là sinh hoạt mang tính phong trào, không có sự tham dự của các nhà thơ chuyên nghiệp. Vì vậy, tôi thấy sự có mặt của thơ thất ngôn Đường luật trong các thi phẩm của nhà thơ Ngọc Tuyết là một điều đặc biệt đáng chú ý.

Thơ thất ngôn bát cú là một thể thơ cổ của Tàu, với các đặc tính hạn vần, hạn chữ, và yêu cầu niêm luật rất khắt khe, nên không còn được nhiều người, nhất là người trẻ bây giờ, ưa thích. Nếu khoảng nửa đầu thế kỷ trước các tên tuổi như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Quách Tấn, Bùi Khánh Đản… còn quen thuộc trên thi đàn thì bây giờ dường như độc giả ở tuổi 40 trở lại không mấy người nhắc đến thơ Đường luật. Từ sau tác phẩm “Mùa Cổ Điển” của thi sĩ Quách Tấn vào đầu những năm sáu mươi của thế kỷ 20, mãi đến gần đây mới chỉ có một nhà thơ lão thành Đinh Vũ Ngọc ở Quảng Nam ra mắt tập thơ “Nắng Vườn Xưa” với toàn thể thơ thất ngôn bát cú, mà người đọc ông hầu hết là người lớn tuổi. Còn về các nhà thơ nữ thì từ sau khi nữ sĩ Mộng Tuyết xứ Hà Tiên im tiếng trên thi đàn từ hơn nửa thế kỷ trước (Bà mới qua đời gần đây), cho đến nay dường như chưa có hay không có mấy nhà thơ nữ in thơ Đường luật trong thi phẩm của mình – nếu họ có làm thơ Đường luật.

Như chúng ta đã biết, nền thi ca Việt Nam đã và đang trải qua nhiều bước cải cách. Nhiều người còn đang bàn cãi những bước cải cách ấy là tiến hay lùi, đưa thơ đi sâu vào lòng người hay ngày càng rời xa người đọc. Trong quá trình tự lột xác liên tục của thơ, Thơ Mới của phong trào Thơ Mới thập niên 30 thế kỷ trước đã bị coi là cũ; từ khoảng cuối thập niên 50 thế kỷ 20, một số nhà thơ ở miền Bắc, trong đó có nhà thơ Trần Dần, đã bắt đầu các thể nghiệm cách tân thơ, rồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong Nam cùng với một số thi sĩ trong nhóm Sáng Tạo đề xướng Thơ Tự Do không vần điệu, từ đó ra đời loại thơ phá thể, rồi thơ giống văn xuôi – gọi là thơ xuôi – vân vân… và bây giờ người ta đang nói và làm thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại, thơ internet… Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta vẫn “hồn nhiên” làm thơ thất ngôn Đường luật và “hồn nhiên” in thơ Đường luật của mình trong các thi phẩm chính thức! Như thế là đặc biệt lắm chớ sao!

Nhà thơ Ngọc Tuyết có những câu thơ lục bát sâu lắng như thế này:

Nhủ lòng thôi chớ hoài mong

Càng chia càng thiếu càng đong càng đầy

Địa đàng ôm cả vào tay

Dẫu mai tim ứa giọt cay cũng đành…

(Dẫu Mai)

Và chị đã đưa tình cảm dịu dàng đằm thắm của mình vào thể thơ thất ngôn bát cú rất hồn nhiên, khiến người ta không nhận ra hai thể thơ ấy và các thể thơ khác nữa đang nằm bên nhau trong cùng thi tập:

Lá tím hôm nào giấu ở đâu

Mùa thu đục ẩm mắt thu sầu…

(Lá Tím)

Hoặc:

Tóc rối lưng chiều mắt chấm vai

Hồn hoa nghiêng ngả gọi đêm dài

Gió đưa mằn mặn mầm thương lạ

Cỏ ngậm nồng nồng sợi nhớ sai…

(Nghiêng Chiều)

Thơ thất ngôn bát cú thường được coi như một bức tranh dù trữ tình hay tả cảnh, mà nếu mỗi câu thơ được coi như một nét vẽ, thì trừ câu phá đề và câu thúc – tức câu đầu và câu cuối - bức tranh chỉ bao gồm không hơn sáu nét vẽ. Vì vậy mỗi nét vẽ phải hết sức cô đọng và hàm súc – không thể thừa và không được thiếu. Người ta chê thơ thất ngôn bát cú chính vì sự “chật chội” đó. Nhưng sự chật chội trong khuôn khổ bài thơ vẫn không gò bó được tình cảm của chị gởi vào thơ. Chẳng hạn bài thơ có tựa là Có dưới đây của nhà thơ Ngọc Tuyết:

Có con đường nhỏ có vòng tay

Có một chiều mưa ướt đẫm ngày

Có phút hồn nhiên môi mắt lịm

Có giây kỳ diệu gối chăn đầy

Có đời căng mạch nghe tình dậy

Có đất vươn mình đợi nắng vây

Có biển cùng ta đi ngủ muộn

Có ai nhớ chuyện đã yêu này.

Thất ngôn bát cú trước hết là lối thơ ưa thích của các nhà trí thức thời xưa, tức các nhà nho. Các cụ là người có học vấn cao và uyên bác; tâm hồn các cụ thấm nhuần phong cách đĩnh đạc trịnh trọng của các vị thánh hiền, thơ của các cụ không phô diễn các cảm xúc cực đoan gay gắt hay sống sượng thô thiển, cho nên đây là một thể thơ sang trọng và tao nhã, và dường như nó có vẻ đặc biệt thích hợp với phong cách trầm tĩnh điềm đạm và tình cảm đằm thắm nhưng chừng mực của Ngọc Tuyết, một nhà thơ vốn từng tốt nghiệp đại học khoa ngữ văn, và có lẽ vì vậy đã có cơ hội cảm nhận tính chất của thể thơ cổ đó gần gũi và phù hợp với tâm tình dịu dàng kín đáo của mình.

Tuy không so sánh được với sự sang trọng và đĩnh đạc trong thơ thất ngôn bát cú của vị nữ lưu tiền bối là Bà Huyện Thanh Quan:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Nhưng nhà thơ Ngọc Tuyết vẫn luôn giữ được sự chừng mục trong tình cảm của mình thể hiện trong thơ Đường luật của chị. Dường như nhà thơ có điều gì đó không trọn vẹn trong tình cảm đời thường, nhưng trong các tập thơ của chị mà tôi đã đọc, lời thơ không tỏ chút gì dằn vặt khắc khoải và nỗi đam mê khao khát tình yêu được thể hiện rất nhẹ nhàng bóng bẩy:

Vòng tay nồng thắm trói hồn em,

Có thế mà thôi nhớ đến mềm

Cát trắng phơi mình chờ biển dạo

Biển bờ đợi gió đếm chiều lên…

(Sóng Gọi)

Hoặc có táo bạo lắm cũng chỉ đến chừng này:

Ước gì trời đất ngừng xoay chuyển

Vũ điệu ái tình quấn quít trao.

(Vũ Điệu)

Thơ bát cú Đường luật đòi hỏi phải có đối ở hai cặp “thực” và “luận” là các câu 3 – 4 và 5 – 6. Chính cái việc đối này thường là một thách thức như con dao hai lưỡi: nó là chỗ rất dễ để lộ sự non tay của tác giả khi các câu đối có vẻ cũ và sáo mòn; hoặc nó chứng tỏ bản lãnh vững vàng của tác giả với những vế đối mới mẻ, “xuất sáo” và sáng tạo, như hai câu 3 và 4 trong bài Ngược Gió:

Muốn hỏi rằng ai có khỏe không

Nhưng sao lại thấy đắng nơi lòng

Bởi mây vắng gió mây buồn trắng

Vì nắng đan mưa nắng khó hồng…

Hoặc hai câu 5 và 6 trong bài Lá Tím:

Bắt nắng cuộc đời va bãi cạn

Tung bờm mùa lũ vượt dòng đau

Ở trên tôi có nói thơ bát cú Đường luật đòi hỏi phải tuân theo niêm luật rất khắc khe. Ngoài luật bằng trắc, vần và đối, nhà thơ phải để ý đến qui định:

Nhất tam ngũ bất luận

Nhì tứ lục phân minh

Nghĩa là âm của các chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm trong câu thơ thì không nhất thiết phải theo luật bằng trắc, nhưng các chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu của mỗi câu phải tuân thủ âm bằng trắc rõ ràng. Như thế gọi là đúng niêm. Câu thơ sai âm bằng trắc ở các chữ đó thì gọi là câu thơ thất niêm.

Và câu thơ cuối cùng này trong bài thơ Ta Với Ta của chị là một câu thơ thất niêm:

Đời mãi rẽ ngày hoài trống vắng

Cuối vườn yêu thương nhớ chưa qua.

Chữ thương là chứ thứ tư, âm bằng, trong khi theo câu thơ nó phải là âm trắc.

Tuy nhiên chính sự thất niêm cố ý này đã tạo hiệu ứng cho câu thơ, khiến câu thơ bảy chữ gồm năm âm bằng trở nên một lời than tiếc không nguôi, chớ không phải lời phát biểu một sự kiện đơn giản và khô khan.

Giả dụ tác giả thay từ thương bằng một từ nào đó có âm trắc, từ “nỗi”, chẳng hạn, câu thơ sẽ là

Cuối vườn yêu nỗi nhớ chưa qua

Thì câu thơ đúng niêm luật, nhưng đó là một câu thơ thật bình thường như kể một sự kiện mà thôi, không có hiệu ứng khiến người nghe cảm nhận được sự than tiếc của tác giả. Chính thủ thuật này cho thấy nhà thơ đã rất chắc tay trong xử lý niêm luật thơ Đường.

Khi mới tập đi xe đạp, chúng ta thường bấu chặt hai bàn tay vào “ghi đông” xe, mà xe vẫn cứ ngã. Sau khi đã đi thạo, chúng ta không còn nhớ đến việc phải giữ chặt “ghi đông” xe nữa, đôi khi chúng ta có thể chỉ cầm lái một tay, hoặc thậm chí có thể buông cả hai tay mà xe vẫn chạy băng băng. Làm thơ Đường luật dường như cũng phần nào tương tự như vậy. Khi luật thơ đã hòa nhập vào hồn thơ rồi, nhà thơ không còn bấu chặt tay vào niêm luật nữa.

Trước đây nhà thơ Xuân Diệu đã từng tấm tắc tâm đắc với một từ thất niêm trong câu thơ Nguyễn Trãi:

Tuổi già tóc bạc cái râu bạc

Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh

“Cái râu bạc” toát lên một cái gì đó có vẻ ngang tàng khí khái, hơn là “Chòm râu bạc” rất hiền hậu, yên thân.

Câu đầu và câu thứ ba trong bài thơ tuyệt tác Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đều thất niêm. Câu thứ ba thì trong bảy chữ đã sáu chữ mang âm trắc:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Câu thơ toàn âm trắc khúc khắc gập ghềnh như thể tác giả tuyệt vọng vì hạc vàng đã bay mất từ xưa không bao giờ trở lại nữa.

Nói dài dòng như thế, tôi không hề có ý thổi phồng phỉnh nịnh nhà thơ Ngọc Tuyết làm thơ Đường luật có tài năng ngang hàng với Nguyễn Trãi, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, và thi hào Thôi Hiệu đời Đường của nước Tàu cổ. Dĩ nhiên nếu khắt khe một chút người ta có thể tìm thấy đây đó trong những bài thơ Đường luật của chị những chỗ có lẽ còn chưa vừa ý với chính tác giả của chúng. Chẳng hạn, cùng với nhiều nét mới và sáng tạo, trong thơ Đường luật của chị thỉnh thoảng có một đôi chỗ chưa tránh được những từ quá cũ hay những ý khuôn sáo. Ví dụ:

Ai làm con tạo ngược vần xoay…

(Nợ)

Hoặc:

Từ độ trăng về qua lối mộng

Bao lần bão nổi cuộn hồn hoa…

(Ta Với Ta)

Nhưng mà ở đời có ai toàn bích đâu? Vả lại sự nghiệp thơ của chị còn rất dài, nếu mỗi năm chị vẫn đều đều có tác phẩm mới ra mắt người yêu thơ thì chắc gì người ta còn dịp gặp lại những nét chưa tinh lọc đó nữa. Trong bài thơ Ngược Gió của chị có câu:

Vì nắng đan mưa nắng khó hồng

Ba từ nắng đan mưa vẽ một cách rất mới cảnh trời vừa mưa vừa nắng, và cảnh lòng với niềm vui buồn đan xen nhau, thật đắt.

Và câu cuối trong bài thơ Lá Tím, tác giả viết:

Mặn chát tình ta bóng bạc màu,

Với phát hiện bóng bạc màu chị đã thật sự đóng góp thêm một nét sáng tạo rất mới trong thơ.

Trong các tập thơ của Ngọc Tuyết mà tôi được đọc, chị sáng tác với nhiều thể loại thơ rất phong phú, từ thơ ba câu, bốn câu, tám câu; thơ hai chữ, ba chữ, bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, lục bát, thất ngôn Đường luật, và cả thơ văn xuôi, trong đó những bài thơ thất ngôn Đường luật của chị đã “chung sống hài hòa” với các thể thơ khác, và cùng thể hiện một tâm hồn thơ nữ đằm thắm, dịu dàng, phản ánh phong cách điềm đạm và chừng mực của chị trong cuộc sống đời thường.

Xin chúc chị ngày càng đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong nghệ thuật.

Cám ơn quý vị và các bạn đã lắng nghe.

Thiếu Khanh.


[1] Đến nay chị đã có thêm các thi phẩm Nháp (Nxb Thanh Niên, 2009), và Mót (Nxb Hội Nhà Văn, 2011)



Phụ Bản II

XƯỚNG HỌA THƠ ĐƯỜNG

MỘT TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ THANH CAO

(KỲ 6)


Thơ mời họa:

Nhóm Lò Hương

Kính tặng tất cả các Thi Hữu đã nhóm lò hương trầm quý báu nhen nhúm cho HƯƠNG XƯA tỏa ngát trên thi đài…

Cám ơn người đã nhóm Lò Hương

Nhen nhúm hồn thơ tỏa bốn phương

Vun đắp vườn văn tươi đóa Hạnh

Điểm tô đài bút rạng bông Đường

HƯƠNG XƯA thắm đượm tình thi hữu

Nếp cũ chưa nhòa chữ kỷ cương

Ước vọng tao đàn hoa nở rộ

Cho người dệt gấm trải tơ vương…

THÙY DƯƠNG

Bài họa 1:

Nhóm Lò Hương

Nam Bắc chung lòng nhen nhúm hương

HƯƠNG XƯA” càng rạng nét phân phương

Phương thì vừa lúc tươi Hoàng Cúc

Cúc đóa từng phen sánh Hải Đường

Đường luật Hàn Thuyên trường bác cổ

Cổ phong chinh phụ thọ vô cương

Cương cường giữ vững tinh hoa

mới dung hòa dễ vấn vương.

LẠC NAM

Chủ Nhiệm CLB Thơ Ca Cổ Truyền Hà Nội

Bài họa 2:

Tự nhiên hương

Thế gian “Hữu xạ tự nhiên hương”

Gió quyện gần xa tỏa khắp phương

Tam quốc phân tranh từ Hậu Hán

Thất ngôn nghiêm luật thuở Sơ Đường

Võ, Công ngày nọ Tài thua Đức

Ngô, Việt năm xưa nhu thắng cương

Mộng ước trong vườn hoa đủ sắc

Cho tình thêm đượm ý thêm vương…

Nhà Thơ Ý YÊN NGHĨA

Thủ Đức

Bài họa 3:

DẬY HƯƠNG

Thương tạ con tim chớm dậy hương

Sóng lòng se sẽ thả mười phương…

PHƯỢNG tung cánh vút tầng non PHƯỢNG

ĐƯỜNG trải trùng khơi ngát biển ĐƯỜNG

Thắp sáng trang hoa từng nét bút

Thổi bừng bút tuệ rõ dòng cương

Cho thi ca lộng vầng sương khói

Nghe dấu thời gian động tiếng vương

Mai Khê

263, Đề Thám, Quận 1

TRUNG THU, TRĂNG

Lộng lẫy gương trăng tắm giếng vàng

Dặt dìu đêm mượt ánh ngân quang

Xôn xao trẻ nhỏ vui đầu xóm

Nhộn nhịp đèn hoa rộ khắp làng

Đĩa bánh tròn tươm hương hạnh phúc

Chung trà đậm sánh nghĩa liên hoan

Gió im chẳng dám làm cây động

Sợ chạm dòng sương ướt má nàng

XUÂN VÂN


TRĂNG

Mười sáu       trăng tròn ánh chiếu gương

Dặm trường  trăng tỏa khắp thôn hương

Rộn ràng      trăng sáng vui đầu ngõ

Dìu dặt         trăng thanh giỡn cuối đường

Xuân đến     trăng gieo niềm phấn chấn

Hè sang       trăng gợi nét sầu vương

Tuyệt thay   trăng dệt thêm nguồn hứng

Chỉ tiếc        trăng về đượm nhớ thương

XUÂN VÂN

KHÁT KHAO XANH

Người ta tìm kiếm bạc vàng

Tôi nay tìm lại thời gian mất rồi

Như tìm ngọc quý đánh rơi

Tìm sao thấy được mà tôi vẫn tìm

Những ngày tuổi mộng thần tiên

Những năm tháng thuở trao duyên ban đầu


Một thời chinh chiến có nhau

Tình đồng đội chẳng nơi đâu đẹp bằng

Những ngày đào củ hái măng

Cầm hơi đánh giặc xả thân quên mình

Ai còn ai nhớ đình ninh

Miếng cơm lam mẹ vẫn dành cho con


Dấu xưa chìm khuất có còn?

Giữa dòng lốc xoáy giữa cơn bão bùng

Làm sao rõ được đục trong

Làm sao dò được nông sâu lòng người

Bước qua cạm bẫy thói đời

Giữa vòng cát bụi vẫn soi thấy mình


Người ta tìm kiếm lợi danh

Tôi nay khao khát màu xanh tình người

LÊ NGUYÊN – 6/2010


Quý nhất trên đời

Em ơi! Anh đâu biết hát 

Em ơi! Anh đâu biết nhạc là gì?

Nhưng lòng anh nhiều khi khao khát

Được hát lên và hát cho em nghe

Anh hát cho em nhẹ vơi đi tất cả

Hát cho em khuây khỏa tâm hồn

Cho quên đi nỗi cô đơn

Để hồn ta sát lại nhau hơn

Anh hát cho em thêm yêu cuộc sống

Kỷ niệm nhau, một thời thơ mộng

Hương tình yêu bay bổng diệu kỳ

Không có em đời chẳng ý nghĩa chi

Giàu sang đâu do ta quyết định

Tiền của nào rồi cũng sẽ ra đi

Cái tưởng được thì đời lại cướp mất

Chỉ còn em

Tình yêu của anh

Là quý nhất trên đời

LÊ MINH CHỬ

TIẾNG ĐÀN TÂM

Ngón đàn nắn nót nhạc tri âm

Cung oán, cung thương giọng bổng trầm

Dây vũ nồng nàn, duyên gặp gỡ

Dây văn ướt át lệ trầm ngâm

Đàn đưa lưu thủy xuôi dòng chảy

Đàn luyến xuân tình thoắt lặng câm

Khắc khoải tơ lòng thêm réo rắt

Nhớ ai tha thiết tiếng đàn tâm

THANH CHÂU

DIỄM XƯA

Tóc liễu buông mành dòng suối biếc

Mắt nai ngơ ngác tuổi xuân xanh

Nụ cười lưu luyến như hoa bướm

Lời nói ngọt ngào tợ yến oanh

Lối cỏ, gót sen đùa nắng sớm

Thềm bông, vóc ngọc giỡn trăng thanh

Rồng mây nương tựa vui ngày tháng

Keo rã, hồ tan,… sao nỡ đành

THANH CHÂU


THÁNG NĂM CỎ ÚA


Ngày tháng đó Mùa Xuân qua rất vội,

Nắng ngập ngừng, tàn úa lá khô bay,

Chiều lạnh lùng, bơ vơ, hồn sa mạc,

Bóng tối mịt mờ, hoang vắng, chơi vơi...


Tháng năm ấy, ai nhuộm màu cỏ úa,

Đóa quỳ vàng hờ hững nắng ban mai,

Phai nhạt, dập vùi một loài hoa dại,

Tình hư không, xa vắng... bước đường dài,


Bên khung cửa, mùa Xuân đi xa mãi,

Mảnh trăng buồn nhung nhớ dáng hương xưa,

Mây lững lờ trôi, gió về ái ngại,

Dấu giọt buồn, đôi mắt bỗng xa xôi...


Tháng Năm xưa, ngày gập ghềnh mưa bão,

Ơ thờ, quên mình - Thân cỏ mong manh,

Kỷ niệm vùi chôn bên làn tóc rối,

Tháng Năm buồn... Mưa ướt lạnh bờ vai.


Có vạt nắng hoàng hôn nào sót lại,

Sưởi ấm dùm... Chiều tím trót lênh đênh...

Phạm Thị Minh-Hưng


Nhớ Tây Ninh

Cơn mưa chiều gợi nhớ Tây Ninh
Tỉnh lỵ nhỏ với hai mùa mưa nắng
Nắng đổ lửa và trời thông thốc gió
Vẫn dịu êm một màu lá cỏ
Khi bâng khuâng tôi chợt mơ về.

Trong cơn mơ
Nỗi nhớ Tây Ninh tan trong hơi thở
Đâu Lòng Hồ lộng gió
Đâu Núi Bà lờ lững cáp treo
Toà Thánh trang nghiêm trầm mặc ánh nắng chiều
Hai vệ đường hàng dương lá reo dìu dặt.
Những con đường xa tít tắp
Dẫn tôi về tới ngõ mộng mơ.
Vàm Cỏ Đông, dòng sông nhỏ lững lờ
Nằm êm ả bên vệ đường tấp nập
Tháp truyền hình đêm đêm chớp tắt
Anh đỏ đèn gợi tưởng tháp Eiffel
Những con đường xưa,
mái trường Cao đẳng thân quen
In dấu ấn không phai mờ năm tháng.

Tây Ninh đó,em vẫn còn nghèo lắm
Nhưng trong lòng tôi
Tây Ninh vẫn đẹp
Vẫn là chiếc nôi đưa, vẫn là câu hát
Về một thời tuổi trẻ
Vẫn êm đềm trong giấc mộng của tôi.

XUÂN HẢO (2000)



V Ợ

Vợ khi còn là người yêu: - Thiên Thần.
Những lá thư tình của vợ: - Thiên Thư.
Con đường xưa vợ đi: - Thiên Đường.
Vợ dáng nhịp nhàng lướt đi trên sàn nhảy
như rồng múa phượng bay: - Thiên Long Bát Bộ.

Sắc đẹp của vợ: - Thiên Hạ Đệ Nhất Phu Nhân.
Mùi thơm của vợ: - Thiên Hương.
Vợ có bầu: - Thiên Thai.

Vợ đang lâm bồn: - Thiên Sản.
Từ người yêu trở thành vợ, rồi từ từ được tấn phong lên chức
bà già, bà nội, bà ngoại: - Thiên Chức.

Phòng ngủ của vợ : - Thiên Cung.
Nhà của vợ: - Thiên Đình.
Thành phố vợ ở: - Thiên Đô.
Suy nghĩ của vợ: - Thiên Kiến.
Lý lẽ của vợ: - Thiên Lý.

Quyết định của vợ: - Thiên Thạch.
Chữ nghĩa của vợ: - Thiên Văn.
Vợ đang lên giọng ca karaoke:- Thiên Ca.
Lời vợ dặn: - Thiên Lệnh.
Vợ gọi thì phải bẩm vâng thưa bà:- Thiên Bẩm.

Mọi việc đều do vợ định đoạt: - Thiên Định.
Chồng được vợ cưng: - Thiên Tử.
Vợ quen chân đi cà kê dê ngỗng: - Thiên Di.
Tài mua sắm của vợ: - Thiên Phú.
Vợ chỉ biết về mình: - Thiên Vị.

Ba mẹ, anh chị em, bà con họ hàng bên vợ: - Thiên Triều.
Vợ hay ngồi lê đôi mách, nói chuyện tào lao: - Thiên Tào.
Số lấy vợ chằng lửa: - Thiên Mệnh.
Vợ hay nổi máu ghen bậy ghen bạ: - Thiên Tính.
Vợ nổi cơn thịnh nộ gào thét như một vị tướng khi ra quân:
- Thiên Lôi Địa Tướng.

Bị vợ hạ đo ván: - Thiên Hạ.
Tiền lương, tiền túi, tiền cà-phê cà pháo đều bị vợ tóm thu gọn:
- Thiên Thu.
Vợ có tài tề gia nội trợ, coi ngó mọi việc trong nhà ngoài ngõ
và muốn mọi người phải kính nể, tôn sùng mình như một vị thánh lớn:
- Tề Thiên Đại Thánh.
Muốn dê vợ mà vợ không cho phép hay lạnh lùng không hợp tác:
- Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên.
Vợ nắm lấy thời cơ đầu tư vào nhà cửa đất đai để sinh lời
và bắt chồng phải vui vẻ làm theo quyết định của mình:
- Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hòa.

Tướng đi của vợ: - Thiên Tướng.
Vợ thay đổi xiêm y kiểu tóc, lối trang điểm lia lịa:
- Thiên Hình Vạn Trạng.
Vợ trang điểm, vẽ mặt xanh lè, đánh phấn trắng toát:
- Thiên Thanh Bạch Nhật.
Vòng vàng, ngọc ngà, kim cương, hột xoàn của vợ lóng lánh
như các vì sao: - Thiên Hà.
Em gái vợ: - Thiên Nga.

Vợ vắng nhà: - Thiên Đàng.
Có bồ nhí mà vợ biết được: - Thiên Tai.

Blog Canhlantrang



CHO MỘNG NGÁT HƯƠNG

Tôi viết hai chữ Yêu Thương

Lên vòm trời xanh bát ngát

Tôi nhắn gọi đàn chim vang tiếng hát

Đem nắng hồng nhuộm thắm buổi hoàng hôn

Đem về đây muôn cánh bướm chập chờn

Cùng dệt trọn vần thơ tình ái


Tôi viết hai chữ Yêu Thương vĩ đại

Vào không gian vời vợi trăng sao

Cho loài người tha thiết mến yêu nhau

Cho nhân thế hết u sầu đau khổ

Cho ánh trăng vàng không nức nở

Cho chiến tranh thôi tàn phá cuộc đời

Cười lên đi, muôn hoa xuân rực rỡ

Hát lên đi, cho xuân dài vạn thuở


Cầm tay nhau ca ngợi tình yêu

Xuân về dâng muôn sắc thắm mỹ miều

Tình tuyệt diệu không còn biên giới

Êm ái bao la ngọt ngào như tiếng suối

Thanh cao như giọng hát thiên thần

Giấc mơ hồng sáng chói

Ta nhặt hoa xuân dệt khúc tình ca

Nhạc xuân ngân nga tha thiết đậm đà

Ôi mùa xuân, mùa xuân đầy hứa hẹn


Tôi sẽ viết hai chữ Yêu Thương trọn vẹn

Lên áng mây lam giăng mắc khung trời

Đừng buồn khổ người ơi

Đời không sầu như cành hoa tím

Không đen tối phũ phàng như định mệnh

Không ưu tư như mưa lạnh chiều đông


Tôi sẽ viết hai chữ Yêu Thương

Vào giữa lòng vũ trụ

Cho hoa yêu rắc khắp nẻo đường

Cho tình thương về ngự trị

Cho tám hướng trời mộng ngát hương

NGÀN PHƯƠNG

Đừng tưởng!


Đừng tưởng cứ núi là cao

Cứ sông là chảy, cứ ao là tù

Đừng tưởng cứ dưới là ngu

Cứ trên là sáng, cứ tu là hiền

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên

Cứ nhiều là được, cứ tiền là xong

Đừng tưởng không nói là câm

Không nghe là điếc, không trông là mù


Đừng tưởng cứ trọc là sư

Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang

Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

Đừng tưởng cứ uống là say

Cứ chân là bước, cứ tay là sờ

Đừng tưởng cứ đợi là chờ

Cứ âm là nhạc, cứ thơ là vần

Đừng tưởng cứ mới là tân

Cứ hứa là chắc, cứ ân là tình



Đừng tưởng cứ thấp là khinh

Cứ chùa là tĩnh, cứ đình là to

Cứ già là hết hồ đồ

Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền

Đừng tưởng cứ quyết là nên

Cứ mạnh là thắng, cứ mềm là thua

Dưa vàng đừng tưởng đã chua

Sấm rền đừng tưởng sắp mưa ngập trời

Khi vui đừng tưởng chỉ cười

Lúc buồn đừng tưởng chỉ ngồi khóc than


                ***


Đừng tưởng cứ nốc là say

Cứ hứa là thật, cứ tay là cầm

Đừng tưởng cứ giặc – ngoại xâm

Cứ bè là bạn, cứ dân là lành

Đừng tưởng cứ trời là xanh

Cứ đất và nước là thành quê hương


                 ***


Đừng tưởng cứ lớn là khôn

Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng chẳng có thì không

Chẳng trai thì gái, chẳng ông thì bà

Đừng tưởng chẳng gần thì xa

Chẳng ta thì địch, chẳng ma thì người

Đừng tưởng chẳng khóc thì cười

Chẳng lên thì xuống, chẳng ngồi thì đi

Đừng tưởng sau nhất là nhì

Gần quan là tướng, gần suy là hèn

Đừng tưởng cứ sáng là đèn

Cứ đỏ là chín, cứ đen là thường


Đừng tưởng cứ đẹp là thương

Cứ xấu là ghét, cứ vương là tình

Đừng tưởng cứ ghế là vinh

Cứ tiền là mạnh, cứ dinh là bền

Đừng tưởng cứ cố là lên

Cứ lỳ là chắc, cứ bên là gần

Đừng tưởng cứ đều là cân

Cứ đông là đủ, cứ ân là nhờ

Đừng tưởng cứ vần là thơ

Cứ âm là nhạc, cứ tờ là tranh

Đừng tưởng cứ vội thì nhanh

Cứ tranh là được, cứ giành thì hơn

Đừng tưởng giàu hết cô đơn

Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo


                    ***


Đừng tưởng cứ bến là neo

Cứ suối là lội, cứ đèo là qua

Đừng tưởng chồng mẹ là cha

Cứ khóc là khổ, cứ la là phiền

Đừng tưởng cứ hét là điên

Cứ làm là sẽ có tiền đến ngay

Đừng tưởng cứ rượu là say

Cứ gió là sẽ tung bay cánh diều

Đừng tưởng tỏ tình là yêu

Cứ thơ ngọt nhạt là chiều tương tư


                  ***


Đừng tưởng đi là sẽ chơi

Lang thang dạo phố vào nơi hư người

Đừng tưởng vui thì sẽ cười

Đôi hàng nước mắt lệ rơi đầm đìa…

Đừng tưởng cứ mực là bia

Bút sa gà chết nhân chia cộng trừ…

Đừng tưởng cứ gió là mưa

Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

Đừng tưởng cứ hạ là ve

Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu là lá tuôn

Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.


Đừng tưởng cứ thích là yêu

Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

Đừng tưởng tình chẳng lung lay

Chỉ một giấc ngủ, chẳng may… có bầu.

Đừng tưởng cứ cầu là hên,

Nhiều khi gặp hạn, ngồi rên một mình.

Đừng tưởng vua là anh minh,

Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

Đừng tưởng tìm bạn tri âm,

Là sẽ có kẻ mạn đàm suốt đêm.

Đừng tưởng đời mãi êm đềm,

Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.


Đừng tưởng cười nói ân cần,

Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường

Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

Đừng tưởng cứ chọc là cười

Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

Đừng tưởng khó nhọc gian lao

Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

Đừng tưởng cứ giỏi là hay

Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng cứ quỳnh là thơm

Nhìn đi nhìn lại hóa ra cúc quỳ

Đừng tưởng mưa gió ầm ì

Ngày thì đã hết trời dần về đêm

Đừng tưởng nắng gió êm đềm

Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

Đừng tưởng góp sức là chung

Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

Đừng tưởng cứ tiến là lên

Cứ lui là xuống, cứ yên là mằn


Đừng tưởng rằm sẽ có trăng

Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

Đừng tưởng cứ nước là trong

Cứ than là hắc, cứ sao là vàng

Đừng tưởng cứ củi là than

Cứ quan là có, cứ dân là nghèo

Đừng tưởng cứ khúc là eo

Cứ lúc là mạt, cứ sang là giầu

Đừng tưởng cứ thế là khôn!

Nhiều thằng khốn nạn còn hơn cả mình

Đừng tưởng lời nói là tiền

Có khi là những oán hận chưa tan

Đừng tưởng dưới đất có vàng

Vàng đâu chả thấy phí tan cuộc đời


                      ***


Đừng tưởng cứ nghèo là hèn

Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

Đừng tưởng quan chức là rồng,

Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

Đời người lúc thịnh, lúc suy

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên!...

Hoàng Chúc st



Đêm Thu

Hoa sữa nồng thơm suốt phố dài
Anh đi, sương lạnh ướt đầm vai
Trăng xa vời vợi như em đó
Đơn lẻ bên trời ngóng đợi ai?

Hà Ni, 10-1976

Vũ Đình Huy

AUTUMNAL NIGHT

Milk flowers hotly scented throughout the long street
I walked with cool dew dripping wet my shoulders
The moon is so far away like you
Alone at the horizon, for whom are you waiting for?

Hanoi, 10-1976

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN

Em đi

Trở lại căn phòng mới vắng em,
Còn đây hương ấm thoảng êm đềm,
Từ nay khoảng trống mênh mông mãi,
Thương nhớ dâng đầy như bóng đêm!

Hà Ni, 5-1977

Vũ Đình Huy

YOU LEFT

Going back to the room from which you’re absent
I still flashingly felt your soft and warm scent
From now on, the emptiness will be eternally immense
Regrets arose high like the night shadow!

Hanoi, 5-1977

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN

Thư Em

Thư em lấp lánh bên đèn
Như trong nắng sớm triều lên sóng ngời.
Tình em như biển bồi bồi
Nâng thuyền anh đến chân trời ước mơ !

Hà Ni, 20- 7-1977

Vũ Đình Huy

YOUR LETTER

Your letter sparkled beside the lamp
Like the glaring tide that rose in the morning sunlight
Your love is like the fretty sea
Lifting my boat to the dreamy horizon!

Hanoi, 20- 7-1977

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ

TỐNG GIANG

(trong truyện Thủy Hử)

Ở Việt Nam, phim về đề tài lịch sử, dã sử chưa nhiều, và còn hạn chế về mọi mặt nên trên ti-vi thường hay xuất hiện phim ngoại nhất là phim Trung Quốc. Tôi nhớ ngày xưa, cái thời bảo đi xem phim Trung Quốc là đã chán ngấy, chẳng ai muốn xem, bởi chưa xem người ta đã biết kết cục thế nào rồi: “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”… Thế mà từ thời họ “khai phóng” đến nay phim của họ đã có một bước tiến dài.

Thời còn nhỏ tôi đã từng xem truyện Tây Du Ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử… nay họ dựng phim xem thật sinh động, nào những Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, nào Tống Giang, Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng… thỏa mãn óc tưởng tượng của người xem. Dù là người Việt Nam nhưng nhìn thấy nhân vật trong phim họ cũng đều chấp nhận, mặc cho Đài Loan, Hồng Kông vv… có dựa theo cốt truyện sáng tạo ra, nhưng nhiều người không thích, khó chấp nhận, nhân vật diễn không hay bằng phim Trung Quốc đại lục. Trước đây tôi cũng ngưỡng mộ những người anh hùng Lương Sơn, họ thật tài, mỗi người một vẻ, rất tự do tự tại. Nhưng bây giờ xem phim Thủy Hử, tự nhiên tôi lại có vài cảm nhận khác về họ nhất là người đứng đầu: TỐNG GIANG.

Thời kỳ Bắc Tống có cánh quân nông dân khởi nghĩa, lúc đầu tụ tập tại Lương Sơn Bạc làm “Lục lâm thảo khấu”. Sau khi Tống Giang gia nhập đã tự đặt ra mục đích có ý nghĩa và trương cờ “Thế thiên hành đạo” để tập hợp lực lượng… Nhưng sự thực thế nào? Có phải như vậy không? Nếu ta gỡ bỏ cái vỏ bọc hào nhoáng bên ngoài thì sẽ thấy một sự thật khác. Họ không phải là thay trời làm việc nhân nghĩa mà che giấu mục đích cá nhân. Về sau chính Tống Giang đã giải thích “Thế thiên hành đạo” là thay triều đình làm việc, lộ rõ dã tâm “tạo phản” không phải vì chính nghĩa gì mà chỉ là để mưu cầu “Mọi người sẽ có thể lưu danh sử xanh, làm vẻ vang tổ tiên, làm vinh dự cho con cháu”. Thật nực cười, người “anh hùng” ấy chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo, vì hư danh, đâu có phải vì đại nghĩa. Gỡ nốt cái màn che cuối cùng, lột trần truồng sự việc sẽ rõ: Họ đã đem cái cờ “Thế thiên hành đạo” để đổi lấy quan phù. Chấp nhận chiêu hàng để được chức quan. Tưởng là mình anh hùng nhưng thực ra lại bị triều đình lợi dụng biến thành công cụ đi giết người, dẹp các cuộc khởi nghĩa khác như khởi nghĩa của Phương Lạp mà triều đình không làm được.

Hậu quả, người của Tống Giang chết gần hết, kẻ còn lại thì bị thương tích tơi tả. Mơ ước được chức quan, phải khom lưng quỳ gối, phủ phục, mặt úp sát đất, mông chổng lên trời trông thật tội nghiệp. Đâu còn phong độ hiên ngang tự do tự tại như hồi còn ở Lương Sơn. Rồi sau đó chính Tống Giang lại bị bọn gian thần mượn kế ban ngự tửu của Hoàng Đế để đầu độc. Đến khi tỉnh ra thì đã quá muộn. Kẻ hám danh, muốn lưu danh nhưng lại lưu danh xấu.

Qua đó cho người đời thấy, một khi tư tưởng không đúng đắn tất sẽ đi vào con đường cùng: Tự phủ định mình. Ông ta đã từng làm quan, đã từng thấy sự bất công, thối nát của bọn quan lại triều đình đối với nhân dân và chính ông cũng đã từng phản đối, đã từng quyết tâm từ bỏ quyền lợi đã có để “Mưu cầu chí lớn”. Vậy mà, sau lại quay lại quy phục triều đình và hại biết bao người. Ông đã không chịu đựng nổi sự cám dỗ từ bên ngoài đưa đến… Thực là “Một đời thông minh, một đời hồ đồ”. Bả hư danh đã biến ông trở thành kẻ ngu ngốc.

Bi kịch như thế hầu như có rất nhiều, từ trước đến nay chưa ngừng diễn bao giờ. Bởi vì con người ta luôn luôn không dứt nổi lòng tham đối với tiền của, danh lợi. Sau khi thắng lợi họ trắng trợn hưởng thụ vàn bạc, châu báu, mỹ nữ. Ý chí chiến đấu và dũng khí của họ đều đã tuột mất ngay từ khi nhìn thấy của báu và mỹ nữ. Cái mà họ được, chỉ có bài học đau đớn và sự diệt vong. Nếu tỉnh táo, thành công mà vẫn giữ được nguyện ước ban đầu thì đâu đến nỗi bị hủy diệt tang thương như thế.

Nguyên nhân cản trở con người ta đến thành công có nhiều: Lòng tham quá mạnh về vật chất, công danh, mỹ nữ… hoặc hám hư vinh quá lớn, hoặc tầm nhìn quá ngắn vv… Đã trương cờ “Thế thiên hành đạo” chống lại triều đình thối nát hại dân mà vẫn nghĩ mình là tướng cướp, sau đầu hàng để mong ghi sử xanh tức che dấu dã tâm, giả tạo, lừa dối người khác và khốn nạn hơn là lừa dối chính mình. Người ta nói “Giết người, đốt nhà, nhận chiêu hàng” đích thực là con đường ngắn để làm quan, nhưng không phải là con đường làm quan yên ổn. Trong khi đó vài người không đi làm quan như Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm,... được sống tiêu dao tự tại vui vẻ ngoài đời.

Con người ta thường lấy việc giành được hư danh và tiền tài làm vẻ vang và danh lợi đã trở thành chủ đề lớn của đời sống cá nhân cho nên mọi việc may rủi đều sinh ra từ đây. Có thể nói, bất cứ cuộc đời nào phúc họa cũng 50%, kể cả người được gọi là thành công, nhiều người đã thất bại sau khi thành công. Mọi việc đều có thể, nếu có tầm nhìn, biết lo xa một chút sẽ tránh được sự phát sinh hậu quả không tốt về sau.

LÊ MINH CHỬ

NGÀY LỄ CỦA MẸ & CHA

XUẤT PHÁT TỪ HOA KỲ

NGÀY CỦA MẸ: HOA CẨM CHƯỚNG.


Vào chủ nhật tuần thứ 2 của tháng Năm, trong các gia đình Mỹ, con cái ở tất cả các độ tuổi đều đặc biệt quan tâm đến Mẹ mình. Đó là ngày duy nhất trong năm, khi con cái, dù già hay trẻ, cố gắng tỏ rõ sự tôn kính Mẹ mình một cách thiết thực.

Anh Quốc là một trong các nước đầu tiên đặt ra ngày kỷ niệm người Mẹ. Thế kỷ 18, khi rất nhiều người còn làm gia nô cho các gia đình giàu có, “Ngày của Mẹ” được đặt ra để họ có thể nghỉ việc về nhà ở với các bà Mẹ của mình. Mặc dù tập tục này đã mất đi, khi cuộc cách mạng công nghiệp làm thay đổi cách sống và cách làm việc của họ, nhưng một ngày Chủ nhật giành cho Mẹ vẫn được đặt ra như một ngày lễ vào thế kỷ 20.

Tại Hoa Kỳ, có được lễ Ngày của Mẹ (Mother’s Day) là nhờ tính kiên tâm và tình yêu Mẹ mãnh liệt của một cô con gái, Anna Jarvis. Mẹ của Anna đã dồn hết tâm sức cho gia đình khi họ ở tiểu bang West Virginia (WV), trong khi cha cô nhậm chức Bộ trưởng ở Philadelphia, Pennsylvania. Là con gái, Anna giúp Mẹ chăm sóc khu vườn nhà đầy những hoa Cẩm chướng trắng, loài hoa ưa thích của Mẹ cô. Khi bà mất vào ngày 5.5.1905, Anna quyết định tôn vinh Mẹ mình. Cô cầu xin vị mục sư ở nhà thờ cô thường đi lễ, cho đặt một bàn thờ để tưởng nhớ Mẹ mình. Cũng trong ngày Chủ nhật đó ở Philadelphia, vị mục sư đã cầu nguyện cho Mẹ của Anna và tất cả các bà Mẹ bằng một lễ “Ngày của Mẹ” đặc biệt. Cô Anna Jarvis khi đó bắt đầu viết thư cho các nghị sĩ Quốc hội tiểu bang WV, đề nghị họ đặt ra một ngày để tôn vinh các bà Mẹ.

Vào năm 1910, Thống đốc tiểu bang WV tuyên bố ngày Chủ nhật thứ 2 của tháng Năm là “Ngày của Mẹ”; và một năm sau thì tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều kỷ niệm ngày lễ này. Vào buổi sáng Ngày của Mẹ, con cái những gia đình Mỹ, theo truyền thống, phục vụ bữa sáng cho Mẹ ở trên giường. Một số người khác lại tặng Mẹ những món quà do chính mình tự làm ra (Sau này cô Anna đã phản đối các món quà do các công ty chế tạo sẵn, vì như thế khiến các con lười biếng, không tự tay làm mà cứ ra cửa hàng mua quà tặng Mẹ, cô cho là như thế sẽ mất hết ý nghĩa cao quý lúc ban đầu).

Trong dịp này, người lớn thì tặng Mẹ hoa cẩm chướng màu Đỏ - loại hoa chính thức của “Ngày của Mẹ”. Nếu Mẹ đã mất thì có thể sẽ mang hoa cẩm chướng màu Trắng đặt trên mộ Mẹ.

 

ĐOẢN VĂN - NHẠC PHẨM “BÔNG HỒNG CÀI ÁO”


Chúng ta biết là “Bông hồng Cài áo” – đoản văn nổi tiếng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng tác tại trại hè Camp Ockanickon ở Medford, New Jersey, Hoa Kỳ vào năm 1962 trong dịp Thiền sư nói chuyện với thanh thiếu niên về văn hóa Việt Nam và đã được đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn chép tay 300 bản, mỗi bản đều có gắn thêm một bông hoa màu hồng cho người còn Mẹ, hay màu trắng cho người đã mất Mẹ. Rằm tháng Bảy năm ấy, họ họp nhau lại tại chùa Xá Lợi, làm lễ Bông hồng cài áo đầu tiên. Từ đó, lễ Bông hồng cài áo đã trở thành một truyền thống. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối ra mắt độc giả bằng quyển Bông Hồng Cài Áo trong ngày Vu Lan. Năm 1965, đoàn cải lương Thanh Nga đã dựng và trình diễn vở tuồng Bông Hồng Cài Áo. Tại trong nước cũng như tại nước ngoài, đoản văn Bông Hồng Cài Áo đã được dịch và in ra nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Trung Quốc, Nga, Thái Lan và tiếng Lào.

Có người thắc mắc hỏi Thiền sư: Tại sao lại chọn hoa hồng và phải chăng chỉ hoa hồng là biểu trưng cho tình yêu, Thiền sư cho biết: “Mình nên hiểu chữ hồng trong bông hồng là đỏ. Cài hoa khác như hoa cẩm chướng cũng có màu đỏ. Không nhất thiết phải là hoa hồng, bất cứ hoa gì cũng được, kể cả hoa lan”.

Lễ Bông hồng cài áo tổ chức tại Làng Mai (miền nam nước Pháp - nơi Thiền sư viết sách, dạy thiền, làm vườn và giúp trẻ em nghèo đói ở khắp nơi) mỗi mùa hè kể từ năm 1983 đã làm theo tinh thần Việt Nam. Lễ này không những để vinh danh người Mẹ mà cũng để tưởng nhớ và vinh danh người Cha nữa. Mỗi người được cài hai bông hoa hồng, một dành cho Mẹ và một dành cho Cha. Bông hoa dành cho Cha nằm hơi cao lên một chút để phân biệt với bông hoa cho Mẹ. Và anh sẽ cài một bông hồng cho Cha khi Cha còn sống, một bông hồng cho Mẹ khi Mẹ còn sống.

Từ đoản văn nổi tiếng này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phóng tác ra một nhạc phẩm mang cùng tên “Bông Hồng cài áo” cũng rất nổi tiếng - khiến đoản văn Bông Hồng Cài Áo của Thích Nhất Hạnh càng nổi tiếng hơn:

Một bông Hồng cho em,

Một bông Hồng cho anh

Và một bông Hồng cho những ai

Cho những ai đang còn Mẹ

Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn

Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi

Như đóa hoa không mặt trời

Như trẻ thơ không nụ cười

Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm

Như bầu trời thiếu ánh sao đêm.

Mẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiền

Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên

Là bóng mát trên cao

Là mắt sáng trăng sao

Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào

Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau

Là tiếng dế đêm thâu

Là nắng ấm nương dâu

Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu

Rồi nói, nói với Mẹ rằng:

"Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?"

- Biết gì? - "Biết là, biết là con thương Mẹ không?"

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em

Thì xin anh, thì xin em

Hãy cùng tôi vui sướng đi.

NGÀY CỦA CHA

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có “Ngày của Cha” vào Chủ nhật thứ 3 của tháng Sáu. Thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, đã tổ chức “Ngày của Cha” lần đầu vào năm 1915.

Ngày Của Cha là một lễ được dùng để tôn vinh những người làm cha, tôn vinh cương vị làm cha, mối quan hệ với người cha và ảnh hưởng của người cha trong xã hội. Ngày này được ăn mừng vào Chủ nhật thứ ba của tháng 6 tại nhiều quốc gia và có thể rơi vào những ngày khác ở một số nơi. Ngày này bổ sung cho Ngày của Mẹ - lễ tôn vinh các bà mẹ.

Tại nước Mỹ, N gày c ủa Cha được ăn mừng phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20 . Ngày của Cha được cử hành vào nhiều ngày khác nhau trên toàn thế giới và thường liên quan đến việc tặng quà, bữa ăn tối đặc biệt cho cha, mẹ, và các hoạt động mang tính gia đình .

Nhưng việc ăn mừng Ngày của Cha sớm nhất được biết đến đã diễn ra ở Fairmont , tiểu bang West Virginia (WV) vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của 210 người cha bị mất vài tháng trước trong Thảm họa Monongah Mining Monongah , WV vào ngày 06 tháng 12 năm 1907. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc ăn mừng Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, và chỉ cách đó một vài dặm. Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà.

Tuy nhiên, sự kiện đó bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tiểu bang W V không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Tất cả công lao trong việc giúp Ngày của Cha ra đời về sau lại được ghi nhận cho Sonora Dodd người thị trấn Spokane , tiểu bang Washington (WA) đã tổ chức Ngày của Cha một cách độc lập vào 2 năm sau đó. Sự kiện của bà cũng chịu ảnh hưởng từ Ngày của Mẹ.

L ễ kỷ niệm của bà Clayton đã bị lãng quên cho đến năm 1972, khi một trong những người tham dự để buổi lễ do bà tổ chức nhìn thấy Tổng thống Mỹ Richard Nixon công bố Ngày của Cha, và làm việc để phục hồi di sản của nó. Ngày lễ này hiện được tổ chức hàng năm nhà thờ chính tòa Methodist - tức nhà thờ Williams Memorial Methodist Episcopal . Fairmont , WV nay được đề cử là "Quê hương Ngày của Cha đầu tiên".

Một dự luật công nhận Ngày của Cha là ngày lễ quốc gia được đưa lên Quốc hội Mỹ vào năm 1913. Năm 1916, Tổng thống Woodrow Wilson đến Spokane để nói chuyện trong lễ kỷ niệm Ngày của Cha và muốn công nhận nó chính thức, nhưng Quốc hội phản đối, vì sợ rằng nó sẽ bị Thương mại hóa . Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge đề nghị vào năm 1924 rằng nên đưa Ngày của Cha vào diện các ngày lễ quốc gia, nhưng chưa có công bố quốc gia.

Năm 1957, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith viết một kiến nghị buộc tội Quốc hội đã bỏ phớt lờ Ngày của Cha suốt 40 năm, trong khi "chỉ tôn vinh 1 trong 2 phụ huynh của chúng ta". Năm 1966, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã đưa ra lời loan báo tổng thống đầu tiên tôn vinh những người cha, và chỉ định dành ngày Chủ nhật thứ ba trong tháng 6 làm Ngày của Cha.

Sáu năm sau, ngày này đã được chính thức trở thành ngày nghỉ lễ trên toàn quốc ở Mỹ sau khi Tổng thống Richard Nixon ký nó thành luật vào năm 1972.


NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ:

Ngày Quốc tế Phụ nữ hay còn gọi là Ngày Liên Hiệp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế được Liên Hiệp Quốc chính thức hóa vào năm 1977 . Trong một thế kỷ qua, người phụ nữ đã giành được sự bình đẳng trước pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực và ở hầu hết các nước trên thế giới . Tuy thế, hiện nay phụ nữ vẫn không ngừng tranh đấu vì quyền bình đẳng với nam giới .

Ngày 8 tháng 3 năm 1857 , các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại Thành phố New York : 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Hoa Kỳ trong hãng dệt thàn h lập công đoàn đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.[

- 8 tháng 3 năm 1975 , Liên Hiệp Quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.

- Năm 1977, nghĩa là hai năm sau Năm Quốc tế Phụ nữ, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Và ngày 8 tháng 3 được chọn để trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia trên thế giới.

Hiện nay ngày Quốc tế Phụ Nữ vẫn còn được xem là ngày lễ chính thức tại những nước sau đây: Angola , Armenia , Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Macedonia, Moldova, Mông Cổ, Nga , Tajikistan , Ukraina , Uzbekistan , và Việt Nam. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái, vv. . . Tại một số nơi, nó cũng được xem tương đương với Ngày của Mẹ (Mother's Day).

Điều đáng nói là ngày Quốc tế Phụ nữ ít được quan tâm đến tại Anh và Mỹ và các nước Tây phương khác.

NGÀY QUỐC TẾ NAM GIỚI

Ngoài Ngày của Cha, còn có Ngày Quốc tế Nam giới được tổ chức tại nhiều quốc gia vào ngày 19 tháng 11 để dành cho những người đàn ông con trai không phải là cha.

Ngày Q uốc tế N am giới là một sự kiện quốc tế được tổ chức vào ngày 19 tháng 11 hàng năm. Ngày này được bắt đầu vào năm 1999 ở Trinidad và Tobago và được Liên Hợp Quốc ủng hộ, và nhận được sự ủng hộ của các nhóm nam giới ở Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi và vùng Caribe. Mục đích của Ngày Q uốc tế N am giới là tập trung vào sức khoẻ của nam giới và trẻ em nam, cải thiện quan hệ giữa hai giới, thúc đẩy bình đẳng giới và làm nổi bật vai trò của nam giới. Đây là dịp để nam giới nêu bật sự phân biệt đối với họ và để k ỷ niệm những thành tựu và đóng góp của mình, đặc biệt là đóng góp đối với cộng đồng, gia đình, hôn nhân và chăm sóc con cái. Ngày Q uốc tế N am giới được tổ chức tại Trinidad và Tobago, Jamaica, Australia, Ấn Độ, Mỹ, Singapore, Anh và Malta vào ngày 19 tháng 11 và nhận được sự ủng hộ trên toàn cầu .

LỄ VU LAN – LỄ BÁO HIẾU:

Tích xưa kể rằng, khi đức Phật còn ở dương thế, trong số những người theo hầu đức Phật có ngài Mục Kiền Liên, một vị tôn giả tu luyện được nhiều phép thần thông. Tưởng nhớ mẹ nên một ngày nọ Mục Kiền Liên dùng đôi mắt thần nhìn xuống địa ngục, thấy mẹ là bà Thanh Đề bị Diêm Vương đày làm quỷ đói do kiếp trước gây nhiều nghiệp ác.

Thương mẹ quá, Mục Kiền Liên dùng phép thuật xuống địa ngục để mang cơm dâng cho người. Bà Thanh Đề do lâu ngày nhịn đói nên khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình vì sợ các cô hồn khác đến tranh. Chính vì vẫn còn tính "tham sân si" nên khi bà đưa bát lên miệng, thức ăn đã hóa thành lửa đỏ không thể ăn được. Chứng kiến cảnh này Mục Kiền Liên đau xót vô cùng bèn cầu xin Đức Phật giúp mình cứu mẹ.

Đức Phật dạy rằng: Kiền Liên thần thông quảng đại nhưng một mình không thể cứu được mẹ do ác nghiệp của bà quá nặng, chỉ còn cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong thành công. Vào ngày Rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ (sau 3 tháng an cư kiết hạ) thì sửa một cái lễ đặt vào trong chiếc chậu để dâng cúng và thành khẩn cầu xin mới có thể cứu rỗi vong nhân khỏi địa ngục tăm tối.

Mục Kiền Liên thành tâm làm theo lời Phật dạy và không những cứu được mẹ mà còn giải thoát được tất cả vong hồn bị giam cầm ở âm cung. Từ đó ngoài ý nghĩa "mùa hiếu hạnh", tháng bảy Âm lịch còn gọi là tháng "xá tội vong nhân", tức là thời gian các vong hồn được thả tự do. Trong những ngày này, người dân thường lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí (bố thí) thức ăn cho các cô hồn (tức là vong hồn không có người thân) để mong họ phù hộ cho mình.

Từ đó về sau theo lời Phật dạy, các phật tử muốn báo hiếu cha mẹ cũng cử hành lễ Vu Lan để cầu siêu cho các đấng sinh thành và cầu phá địa ngục cho những vong hồn.

Điều linh thiêng là vào ngày Lễ Vu Lan, một chiếc cầu vô hình dường như được bắc giữa hai bờ của thế giới Dương (người sống) và thế giới Âm (người chết). Lễ Vu Lan ở Việt Nam vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch, không những nhắc nhớ việc báo hiếu cha mẹ mà còn bao hàm ý nghĩa tìm về cội nguồn để biết ơn và báo ơn. Tư tưởng ấy hoàn toàn phù hợp với tư duy hiền hậu chất phác của người Việt Nam: "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

TÓM TẮT

Năm nay, Ngày lễ Mẹ nhằm vào ngày 12.5.2013 và Ngày lễ Cha rơi vào ngày 23.6.2013, chúng ta đều tưởng nhớ đến các bậc Sinh thành đã khuất bóng hay tỏ lòng biết ơn nếu Cha Mẹ còn sống. Chúng ta cùng hát vang bài hát ngợi ca Công ơn của cả hai Cha - Mẹ:

Bài hát: Ơn nghĩa Sinh thành – của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước

Uống nước nhớ nguồn

Làm con phải hiếu

Em ơi hãy nhớ năm xưa

Những ngày còn thơ

Công ai nuôi dưỡng.

Công đức sinh thành

Người hỡi đừng quên

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước

Trong nguồn chảy ra

Người ơi, làm người ở trên đời

Nhớ công người sinh dưỡng

Đó mới là hiền nhân.

Vì đâu, anh nên người tài ba

Hãy nhớ công sinh thành

Vì ai, mà có ta

Uống nước nhớ nguồn

Làm con phải hiếu

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước

Trong nguồn chảy ra...

(Tham khảo: Trích bài hát Bông hồng cài áo - Ơn nghĩa Sinh thành và sách báo nói về Ngày của Cha –Ngày của Mẹ)

PHẠM VŨ


Phụ Bản III

Hãy là chính mình

Hà Mạnh Đoàn

Con yêu dấu,

Chủ nhật thứ 3 của tháng Sáu là ngày tôn vinh các người cha, bố biết với tuổi còn nhỏ chuẩn bị vào cấp 2 chắc còn lâu con mới viết về ngày của các người cha được. Vậy hôm nay bố viết trước cho con theo giọng kể chuyện mà con rất thích. Những chuyện kể cho con bố chỉ nhớ mang máng thôi nhưng bố cho thêm ít mắm, ít muối cho nó đậm đà thêm í mà.

Thuở nhỏ “bố già” đọc được một truyện vui trong “ Truyện ngụ ngôn Việt Nam” – vui thật là vui – để bố kể lại cho con nghe nhé:

Có một chàng mèo ngày ngày ra nằm bờ hiên chải lông cho thật mượt, vuốt cằm, tỉa tót hàm ria vểnh vao, mài vuốt cho thật nhọn có lẽ chỉ để làm kiểng thôi vì nhà chàng ta nhiều chuột lắm hay là chàng ấy có tình bạn thâm niên với chuột -như Tom & Jerry - Đôi bên cùng chung sống cho có lợi? Chàng mèo được ông chủ cưng nên thay vì gọi là “con mèo” thì lại được sửa tên là “con Trời”, và thế là mèo ta càng vểnh râu tợn!

Một ngày nọ, khi đang ngắm bầu trời xanh xanh có vài chị mây lơ lửng, chàng bỗng nhủ thầm:

- Đã là Trời thì chẳng ai làm gì được cả.

Thế nhưng chưa kịp tự đắc thì một bóng mây nhè nhẹ trôi qua, chàng ta nở to con ngươi và mơ màng:

- Ước gì ta được làm nàng mây bay lang thang khắp chốn, không gì tự do bằng, chẳng ai ngăn cản được mình cả.

Nhưng rồi chàng lại thấy nàng mây đang bay bị những cơn gió đùa nghịch dồn lại thành một đống đen sì. Rồi nàng mây sụt sùi rơi lệ nhưng chúng vẫn không tha. Chàng ta lại nghĩ:

- Gió mới ngon lành hơn. Ấy nhưng mà gió lại bị thành cản lại. Hóa ra thành mới là mạnh.

Chàng gật gù:

- Không gì mạnh mẽ bằng thành, chung quanh là hào sâu, bảo vệ cho mọi người không sợ kẻ địch xâm lăng… Ta phải là thành.

Khoái chí với tư tưởng đó chàng lại rên hừ hừ thích thú. Bỗng chàng giật nẩy mình vì chợt nhớ:

- Không được, thằng chuột mới là mạnh. Hàm răng sắc nhọn của nó thật là kinh khủng. Đào ngạch khoét vách là nghề của nó, tường nào, thành nào cũng thua nó, kho nào cũng vào được để rồi tha hồ ăn uống no nê. Vậy ta phải làm chuột.

Đang sung sướng với tư tưởng làm chuột, chợt có tiếng “meooo” của nàng mèo hàng xóm. Chàng mèo giật bắn mình lên:

- Chết thật, thế thì mình lại làm miếng thịt ngon cho ả rồi. Cô nàng này siêng năng lắm làm mèo thôi. Chỉ có làm mèo mới làm vua mà thôi.

Như vậy “Mèo lại hoàn mèo” như câu tục ngữ ta vẫn thường nói là như vậy đó.

***

“Bố già” lại kể tiếp cho con một chuyện hơi giống câu chuyện trên:

Xưa kia khi Thượng đế tạo nên muôn loài, Ngài cho mọi vật được vẽ lên mình tấm áo theo dạng tự chọn, muốn màu nào cũng được, trang điểm ra sao tùy ý trước khi bay vào trần thế. Sáo ta thấy nàng công chăm chút từng ly từng tí bộ lông: thêu từng mảng màu, vẽ từng cọng lông mắt, tô cái mào dựng đứng… sáo liền thốt lên một tiếng “qua” - bố dịch theo nghĩa thời nay là: “rảnh”. Nói xong sáo ta đổ hết một màu đen lên người. Nó cho rằng với tấm áo màu đen đơn giản chỉ cần chăm sóc sơ sơ, nó sẽ có nhiều thời gian để chơi đùa. Thế là với tấm áo đen tuyền chàng ta tung tăng bay vào bầu trời tự do.

Ngày qua ngày, chàng ta nhận thấy những cô nàng có bộ cánh sặc sỡ chẳng ai gần với mình cả. Chỉ nghe thấy tiếng là mọi người tránh xa cả cây số vì họ nghĩ là sáo chê họ. Chàng Sáo suy tư: “Ta phải thay đổi thôi, nhưng bằng cách nào? Dễ ợt, học tiếng của mấy ả”. Vài ngày sau chàng Sáo đã có thể rù rì được vài câu cơ bản của một vài ả, giống như một số người mới biết vài ba chữ ngoại ngữ liền áp dụng ấy mà. Khi cất tiếng lên là quý nàng bay đến, nhưng chợt phát hiện ra chàng sáo đen thì các nàng “xí” rồi bay mất.

Sáo ta không nản chí và chàng quyết định: “Lượm tất cả các loại lông còn xài tốt mà các ả loại ra thay cho các cọng lông đen của mình”. Chà, cũng công phu và đau đớn lắm, giống như những người hay sửa mặt, sửa môi, căng da mặt… cho giống diễn viên nổi tiếng vậy. Thế là công đoạn nội dung và hình thức - thay tiếng cộng thêm thay màu lông - như thế tạm ổn rồi, xuất hành thôi.

Kia rồi, mấy ả đang “cùng nhau múa xung quanh vòng”, sáo ta liến xáp lại khoe giọng và khoe áo mới. Nhưng kìa cái giọng chan chát cố hữu làm sao đánh lừa được ai và tệ hại hơn nữa những cọng lông bắt đầu rơi lả tả xa lìa thân thể của sáo. Chẳng cần đợi lâu các ả thi nhau cấu xé vì cho là mình đã bị lừa gạt. Các nàng lấy lại những gì là của mình khiến cho chàng sáo gần như là trần như nhộng. Có nàng còn đanh đá thốt lên:

- Đánh cho giống nòi nó khỏi nhìn ra nó luôn.

Trước sự hung hãn của tập thể, Sáo ta chỉ còn nước ôm đầu trọc lóc, thân thể đầy thương tích chạy về cùng đồng loại. Nhưng khốn thay, đồng loại chắng ai biết con này là con gì - vì như đã nói nó trần như con nhộng vậy.

May thay chỉ một người nhận ra nó, người đó chính là mẹ nó, người đã nghe tiếng nó từ khi còn là trái trứng, đã ấp ủ con trong những ngày đông giá lạnh, mớm cho từng miếng mồi, tập cho những sải cánh đầu tiên, mẹ con cùng thủ thỉ bên nhau khi con vừa mới bước vào đời… Chàng Sáo vùi đầu vào đôi cánh của mẹ, chẳng cần nói nhiều, mẹ nó cũng đã hiểu. Càng nhìn những thương tích của con, mẹ càng đau lòng và thì thầm với chàng trai trẻ:

- Con à, mọi cái đều có cái giá của nó. Mình phải là chính mình không là ai khác, vì khi khoác lên người cái áo của ai thì càng làm vinh danh cho người đó và chính những điều tốt đẹp của mình sẽ bị mất hết.

Đến đây “bố già” chép lại cho con bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine do Cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch:

Công đổi lông, Sáo liền nhặt lấy,

Đem lên mà cắm bậy vào mình:

Cùng Công đi diện vung vinh;

Coi trong bộ tịch có tình khoe khoang.

Đàn Công thật, biết chàng giả mạo,

Xúm nhau vào báng nhạo một phen;

Đánh cho một trận huyên thiên;

Mổ cho trụi đến lông đen của mình.

Sáo bấy giờ nghĩ tình đồng loại,

Về bọn nhà, chúng lại đuổi đi…

Thôi “Bố già” tóm lại nhé: Hãy là chính mình, không bắt chước ai cả. Vì khi ta bắt chước ai đó như bắt chước điệu bộ của ca sỹ này hay của nghệ sỹ kia, hoặc theo mốt của cầu thủ này, cầu thủ nọ… thì ta chỉ là cái bóng của họ, cùng lắm thì trở thành bản sao của họ mà thôi và mất đi chính mình. Hãy là chính mình, làm đúng bổn phận của mình - như chàng mèo hãy chăm lo bắt chuột, chàng sáo hãy bắt sâu bọ và những côn trùng gây hại cho nhà vườn – thế thì với lứa tuổi của con, là một người con ngoan hãy cố gắng học hành cho tốt và nhất là luôn quan tâm giúp đỡ mọi người. Chúc con sang năm lên lớp Sáu luôn là niềm hãnh diện của gia đình.

“Bố già”



BÀI VĂN CUỐI CẤP…

Đã năm năm rồi, em học ở trường Nguyễn Thái Sơn. Dưới mái trường thân yêu này, em có biết bao kỷ niệm, biết nhiều thầy cô, quen nhiều bạn,… nhưng bây giờ đã là cuối năm, đến lúc lên cấp học mới, leo lên một “đỉnh núi” mới, cũng là khi em phải chia tay thầy cô, bè bạn,…

Bây giờ nhìn cái gì, em cũng lâng lâng cảm xúc, luyến tiếc. Nhớ biết bao mấy giờ ra chơi, giờ học, giờ nghỉ,… Lại càng yêu thêm mấy tiết học mà cô Sương dạy. Những bài toán khó: phân số, hỗn số, chuyển động… bao nhiêu là công thức khiến em phải đau đầu… Nhưng cuối cùng, chuyện gì xảy ra, một đợt kiểm tra HK II chạy qua, thế là hết, em đã hoàn tất chương trình tiểu học và giờ thì chỉ còn chuẩn bị cho lễ tốt nghiệp.

Một năm học lớp 5 – cuối cấp kết thúc như vậy sao? Lòng em đột nhiên buồn bã, và đau quắt lại khi bàng hoàng nhận ra rằng mình đã hết tuổi tiểu học rồi. Sau một thời gian dài bên mái trường này, bao nhiêu buồn vui đã hòa quyện lại thành một hồi ký tiểu học đẹp đẽ. Em ngắm lại ngôi trường, nó vẫn như xưa - lúc em mới bước chân vào lớp Một, còn nhút nhát nép mình vào bố mẹ, nay đã là một học sinh lớp Năm chững chạc -tường vôi trắng, cánh cửa xanh, cái trống trường quanh năm suốt tháng ngồi chễm chệ trên cái giá ngoài sảnh…

Thật khó tả nổi tâm tình của một người học sinh sau khi trải qua năm năm bên một ngôi trường, cái sự quyến luyến vì nhớ mà cũng có hơi hồ hởi, háo hức về cấp học mới trong tâm trí.

Bài văn này có lẽ là bài học cuối cô giao cho chúng em, bài học cuối cấp tiểu học, nhưng em sẽ nhớ mãi. Nhìn lại những người bạn bút chì, bút mực,… đã đồng hành cùng em trên con đường học tập lại thấy rất cảm ơn họ; ngay cả đến thước kẻ, bình mực,... cũng thấy thân thương.

THANH DIỆP

23.5.2013



HÀNH HƯƠNG KÝ SỰ

Thưa quý thành viên, giữa tháng 4 vừa qua tôi được một Linh mục bạn thân mời đi hành hương nước ngoài 3 tuần, từ 15/4/2013 đến 04/5/2013. Hành trình qua một số nước như sau:

- 15/4: Tp HCM đi Thổ Nhĩ Kỳ (Istanbul) quá cảnh Thái Lan.

- 16/4: Từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Israel.

- 19/4: Từ Israel về Thổ Nhĩ Kỳ rồi bay luôn sang Roma (Italia).

- 24/4: Từ Roma đi Barcelona (Tây Ban Nha) rồi đi tới Lisbon (Bồ Đào Nha).

- 26/4: Từ Lisbon đi Toulouse (Pháp).

- 29/4: Từ Paris trở về Thổ Nhĩ Kỳ.

- 04/5: Từ Thổ Nhĩ Kỳ qua Thái Lan trở về Tp HCM.

Chuyến đi ghé qua nhiều nước và nhiều nơi, có rất nhiều sự để tham quan, thế nhưng chuyến đi này không phải thuần túy là du lịch, mà chủ yếu là cuộc hành hương về "Đất Thánh" của những tín hữu Công giáo, giống như tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới, phải cố gắng hết sức để trong đời mình về hành hương một lần Thánh địa Mecca (thuộc Ả Rập Saoudite), quê hương của tiên tri Mahomet. Đoàn hành hương chúng tôi gồm 48 người (Đức Hồng Y Gioan Bt. Phạm Minh Mẫn – Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp HCM, 7 Linh mục, 3 nữ tu và 37 giáo dân nam nữ).

Người ta nói "đi một ngày đàng học một sàng khôn", tôi đi 21 ngày chắc cũng thấy được nhiều "cái khôn" của thiên hạ, nhưng đại loại những công trình kiến trúc hoành tráng, những cảnh đẹp Âu Mỹ, những phương tiện hiện đại, những tập quán bản địa… thì nhiều thành viên trong Câu lạc bộ chúng ta đã đi du lịch đó đây và cũng đã thuật lại tỉ mỉ trong bản tin rồi, nên tôi chỉ xin ghi lại vài nét đặc biệt mà tôi ghi nhận được ở đó đây để chia sẻ với anh chị em, như câu chuyện thân tình trong nhà với nhau thôi.

1. Một chút so sánh giữa Pháp và Ý :

Cả 2 nước cùng thuộc Tây Âu giáp nhau, thủ đô Roma và Paris cũng tương tự nhau. Roma cổ hơn Paris một ít, vẻ hoành tráng và cảnh quan cũng tương tự nhau. Nếu Paris có dòng sông Seine thơ mộng ngay trung tâm thủ đô thì Roma cũng có sông Tiber kiều diễm không kém, với những cây cầu cổ kính bắc ngang, Paris có bảo tàng Louvre danh tiếng nhất thế giới thì Roma cũng có bảo tàng Vatican chẳng kém, quả thật "kẻ tám lạng, người nửa cân", "mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười" (Kiều). Tuy nhiên xét về những công trình kiến trúc và điêu khắc thì Roma hơn hẳn Paris – Nhà thờ Đức Bà Paris không thể sánh được với Đền thờ Thánh Phêrô, hoặc Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, hay Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Paris ít công trình đá, còn Roma là lò đá đặc biệt cẩm thạch vào bậc nhất thế giới, nên các tượng và công trình kiến trúc lớn toàn bằng đá. Đứng giữa lòng Đền thờ Thánh Phêrô, ngước mắt lên trần cao hơn 20m, người viết ngẩn ngơ không thể hiểu được làm thế nào mà các kiến trúc sư thế kỷ 15-16 lại có thể làm được những chiếc quá giang (xà ngang) khoảng 25m mà không có cột béton đỡ ở giữa, chịu được sức nặng của cả trần nhà bằng chất "vữa" giống như béton, chia thành những ô, tô vẽ hình ảnh, sơn mầu, thếp vàng. Đền thờ Thánh Phêrô được Đức Giáo Hoàng Nicôla V (1447-1455) tái thiết do kiến trúc sư Bernardo Rossellino phụ trách. Công việc tiến hành tới khi Đức Nicôla qua đời vào tháng 3/1455 thì công việc tạm ngưng, mãi tới thời Đức Giáo Hoàng Giulio II (1503-1513) mới tiếp tục lại, và kiến trúc sư cũng là họa sĩ, điêu khắc gia đại tài Michenlangelo được giao nhiệm vụ với dự toán chi phí 200.000 đồng tiền vàng. Việc xây dựng kéo dài tới ngày 18/11/1626, Đức Giáo Hoàng Urbano VIII mới khánh thành.

Đền thờ có chiều dài 187m, ngang 150m, diện tích chưa kể phòng thánh là 22.067m2, chứa 54.000 người, mặt tiền cao 46m, chiều ngang 115m, các cột đá cao 29m, đường kính 2,67m, vòm có đường kính gần 20m, cao 50,35m, nặng 56.208.837 tấn, chiều cao tính từ mộ Thánh Phêrô lên là 136m. Quảng trường liền trước Đền thờ hình bầu dục, dài 196m, rộng 148m. Hai dãy hành lang vòng cung như vòng tay người mẹ mở rộng ôm tất cả đoàn con, do kiến trúc sư Bermini thực hiện, gồm 284 cột đá xếp thành 4 hàng đối xứng nhau, mỗi bên 142 cột. Cột cái có đường kính 1,45m, cao 18,60m, tất cả đều bằng đá trắng ngà, trên hành lang vòng cung đặt 140 tượng, mỗi tượng cao 3,24m. Các tượng ở mặt tiền Đền thờ cao 5,65m toàn bằng đá trắng hơi xám.

Cột đá (Obélisque) tượng trưng cho uy quyền của các triều vua chúa, có lẽ ban đầu xuất phát từ Ai Cập cổ đại. Cột đá bốn mặt nhỏ dần đến chóp đỉnh. Cột đá ở quảng trường Thánh Phêrô bằng đá vân cương đỏ, từ Đông phương được đưa về Roma thời hoàng đế Nerô, sau bị đổ và bỏ phế. Cột đá cao 41,3m, nặng 312 tấn, di chuyển quãng đường hơn chục km phải mất 5 tháng (từ 30/4/1585 – 10/9/1585). Làm thế nào để di chuyển và dựng lên được là một câu hỏi mà khách tham quan đặt ra. Xin nói thêm dường như những nước văn minh xưa rất ưa dựng cột đá, ở Roma có khá nhiều, ở Paris, Thổ Nhĩ Kỳ cũng có khá nhiều, những nơi khác người viết chưa tới nên không biết.

Ngoài Đền thờ Thánh Phêrô, Roma còn nhiều Đền thờ đồ sộ khác, người ta quen gọi "Tứ Đại Giáo Đường", đó là Đền thờ Đức Bà Cả, Đền thờ Gioan Latran, Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Đền thờ nào cũng làm khách tham quan sững sờ, riêng Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành được kể là lớn nhất các Đền thờ Công giáo trong mấy thế kỷ, cho tới khi hoàn thành Đền thờ Thánh Phêrô.

Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành có chiều dài 125,64m với 6 hàng cột đá cẩm thạch đỏ có vân bóng lưỡng, liền lạc từ trên xuống dưới, hai hàng cột cái đường kính gần 1m, cao khoảng 18m, không biết người xưa lấy đâu ra những cột đá liền lạc, to lớn như vậy rồi lại còn công đẽo gọt, chuyên chở và dựng lên nữa! Thật không thể tưởng tượng được. Chúng ta cần nhớ thời đó không có máy móc, cần cẩu, không có ximăng cốt thép, mọi việc xây dựng đều dùng thủ công.

Paris cũng nhiều công trình kiến trúc hoành tráng nhưng rất ít công trình đá, các tượng ở Pháp hầu hết là ximăng, còn các công trình và các tượng ở Ý hầu hết bằng đá và cẩm thạch.

2. Nhận xét thứ hai là vấn đề "vệ sinh" :

Ở Pháp cũng như Ý, Thổ Nhĩ Kỳ và chắc chắn nhiều thành phố lớn khác, có lẽ do "tấc đất tấc vàng" nên khách tham quan gặp không ít khó khăn trong việc tìm nhà vệ sinh công cộng, dù phải "bỏ tiền" vào máy (1/2 Euro), ngay cả những nơi rất nhiều khách tham quan như Nhà thờ Đức Bà Paris, tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn, người viết cũng không thấy nhà vệ sinh công cộng ở đâu. Nơi nào có như quảng trường Thánh Phêrô thì đông ơi là đông, xếp hàng dài dài… Bà con trong nhóm hành hương nói với nhau: "Cái món đắt khách nhất là nhà vệ sinh", ở đâu cũng vậy, cho nên cách tốt nhất để giải quyết "bầu tâm sự" là kiếm một nhà hàng ăn hoặc một quán cà phê vô uống rồi xin "quá giang", dĩ nhiên hao nhiều xu (1 ly cà phê nhỏ xíu = 2 Euro, 1 khẩu phần ăn sáng nhẹ = 9 Euro). Cũng phải khen dân địa phương và khách du lịch nữa, ở chỗ dù khó khăn như thế nhưng rốt cuộc cũng "êm xuôi". Người viết không hề thấy ai "tưới cây, tưới cột" cả, phạt có mà chết! Chỉ tội những ai có tý tuổi nhiều khi phải nhịn khát khá là cực! Viết về thực tế này là để nhắn gửi những ai có ý định đi du lịch Âu châu, đề phòng cẩn thận kẻo lỡ có chuyện thì khốn đấy! (xin bà con thứ lỗi).

3. Tại Roma :

Một điểm tham quan tôi lưu ý là hang toại đạo (Catacombes), đó là một nghĩa trang rất lớn ngầm dưới lòng thành phố Roma, đường ngang đường dọc chi chít, hun hút như mạng nhện, thỉnh thoảng lại có một khoảng trống khá rộng như là đầu mối của những đường hầm. Người ta kể có người đã lạc cả tuần lễ ở dưới hang, không tìm được đường ra, và đã có có trường hợp người bị lạc lâu quá đã chết vì đói, khát và kiệt sức!

Có người thắc mắc "toại đạo" là gì? Xin thưa toại đạo hay tụy đạo là hán tự: toại hay tụy là cái hầm, cái hang; đạo là đường. Toại đạo là đường hầm giống như địa đạo Củ Chi của ta, nhưng khác nhau ở công năng. Địa đạo Củ Chỉ là hầm ngầm trú ẩn để chiến đấu, còn hang toại đạo là nghĩa trang chôn người chết. Đây là kiểu mai táng giống như lối táng vua Chúa ở Ai Cập hay Trung Hoa, Việt Nam… Một đường hầm ngoắt ngoéo được đào dẫn tới một phòng rộng để quan tài, rồi khi xong nghi lễ sẽ lấp đường hầm đi, lấp luôn cửa hầm để chẳng ai biết chính xác quan tài đặt ở đâu (đề phòng thế lực thù địch quật mồ hay trộm cướp đào bới báu vật tùy táng…).

Hang toại đạo ở Roma khá sâu, khoảng 15-20m, hình như cũng có nhiều tầng, cấu trúc chung chung là 1 đường ngầm rộng vừa phải có thể khiêng quan tài vào, rồi khoét huyệt sâu 2 bên vách, đặt quan tài vào rồi lấy phiến đá lớn và trét huyệt lại. Trên phiến đá đề danh tánh người chết, dân Roma cũng chôn theo đồ đạc cho người quá cố như những chiếc bình, chiếc đèn gốm… Roma đất cao nhất là hang toại đạo, dường như ở trên đồi nên đường hầm rất là khô ráo, không có nước, đất thì rất cứng, nhiều nơi toàn đá…

Sở dĩ hang toại đạo trở nên thời danh vì dưới triều hoàng đế Néro cấm đạo (khoảng năm 54-68), các tín hữu Công giáo bị lùng bắt nên chui xuống hang toại đạo để sống và sinh hoạt tôn giáo: đọc kinh cầu nguyện, nghe dạy giáo lý, dâng Lễ, lãnh nhận các Bí tích… để bảo vệ niềm tin. Ban đêm, tùy thời cơ, họ bò về nhà tìm cách sản xuất, làm ăn, sáng sớm lại chui xuống hầm. Người tín hữu được nghĩa trang che chở vì Roma có luật: nghĩa trang bất khả xâm phạm, lính tráng chỉ canh gác bên ngoài thôi, không ai được phép xuống lục soát, bắt bớ dù biết có "tội nhân" trốn dưới đó. Đấy là luật và Roma nổi tiếng về luật pháp và tinh thần thượng tôn pháp luật (tất cả các trường Luật xưa nay trên cả thế giới đều nghiên cứu, tham khảo (cách nào đó) luật La Mã! Ở điểm này thì phải khen Roma và người Công giáo tiên khởi, và cả ngày nay nữa phải cám ơn "Luật Roma".

Hang toại đạo còn nổi danh vì là nơi an táng các Thánh Tử đạo tại Roma, trong đó có nhiều vị Giáo Hoàng, Giám mục và giáo dân. Khách tham quan khá đông, hết nhóm này tới nhóm khác, đặc biệt là không nhóm nào được phép thiếu hướng dẫn viên để còn biết đường mà chui ra!

4. Triều yết Đức tân Giáo Hoàng Phanxicô .

Sáng thứ tư (24/4/2013), cả đoàn rời khách sạn sớm, tới dâng Lễ tại hầm mộ Thánh Phêrô. Sau đó ra quảng trường chờ yết kiến Đức tân Giáo Hoàng Phanxicô. Phái đoàn Việt Nam nhờ uy tín của Đức Hồng Y Gioan Bt. Phạm Minh Mẫn nên được xếp trên khán đài danh dự ngay bên phải lễ đài, chỉ cách ĐGH 15m nên thấy và nghe rất rõ. Khoảng 9 giờ sáng, ĐGH ngồi trên xe đặc biệt, không có mui, chầm chậm đi ra theo đường dành sẵn len lỏi giữa đoàn tín hữu đứng chật quảng trường ra tới tận đường Đại Kết (có khoảng 100.000 người và có cảnh sát Ý làm thủ tục kiểm tra người và túi xách qua máy dò tựa như sân bay).

Sau 20 phút vẫy chào, ban phép lành cho dân Chúa và được dân Chúa hoan hô chào đón, Ngài lên lễ đài bắt đầu buổi cầu nguyện, đọc Lời Chúa bằng 6 thứ tiếng, rồi ĐGH ban huấn từ… ĐGH có nhắc tới hai tiếng "Việt Nam". Sau cùng các Hồng Y, Giám mục lên bắt tay chào ĐGH – Phái đoàn Việt Nam cửa 3 đại diện kính tặng Đức Giáo Hoàng một tượng Đức Mẹ Việt Nam bồng Chúa Hài Nhi, mặc áo dài, tay cầm chiếc nón lá… Lễ nghi diễn ra trong khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ. Ngồi trên khán đài, người viết rất cảm động khi nhìn xuống đoàn người đông như kiến cỏ, thuộc đủ mọi thành phần, sắc tộc, tiếng nói. Ngồi ngay sau phái đoàn Việt Nam là phái đoàn Congo, họ đánh trống, thổi kèn và hát rất hay để chào đón ĐGH. Người viết cảm nhận được sự tôn kính và lòng yêu mến các tín hữu khắp hoàn cầu dành cho vị Cha chung. Họ rất sốt sắng cầu nguyện cho Ngài và im phăng phắc lắng nghe lời Ngài… Buổi triều yết chúng tôi tham dự chỉ có 100.000 người thôi, chứ vào chiều ngày 18/5 vừa qua, 200.000 thành viên các phong trào, cộng đoàn và hội đoàn từ nhiều nơi trên thế giới đã cùng tham dự buổi canh thức cầu nguyện với Đức Thánh Cha Phanxicô nhân dịp Năm Đức Tin với chủ đề "Con Tin", xin gia tăng "Đức Tin" cho chúng con, thì khung cảnh còn nhộn nhịp, hoành tráng tới mức nào! Quả thật Đức Thánh Cha là người Cha thân yêu của mọi tín hữu trên hoàn cầu và là bạn của mọi người, chẳng kể sắc tộc, màu da, tôn giáo.

5. "Trần ai" cửa khẩu vào và ra khỏi Israel!

Nguyên tắc thì hành khách có mặt 2 giờ trước khi bay. Đoàn chúng tôi hơi đông nên hướng dẫn viên yêu cầu có mặt trước 4 tiếng, thế mà loay hoay gần sát "nút" mới xong. Khâu kiểm tra hành lý và người rất kỹ, bắt mở vali ra… phỏng vấn đủ chuyện. Có 2 người trong nhóm chúng tôi bị hỏi: "Bố tên gì ? Ông nội tên gì?" Rồi ra ngồi đó chờ gần tới giờ bay mới cho vô, chẳng biết họ có ý gì! Những nhân viên thì nam cũng như nữ, mặt lạnh như "nước đá"! Nhập cảnh đã vậy, xuất cảnh cũng như thế… Bà con an ủi nhau: tại nước Israel nhỏ bé quá, lại nhiều kẻ thù quá nên họ phải kiểm tra kỹ như vậy, dù sao mình cũng phải ráng mà vào vì mục đích tôn giáo, tức là hành hương thăm viếng những nơi Chúa Giêsu sinh ra, lớn lên, bị bắt, bị hành hình và mai táng… chứ thắng cảnh thì Israel thua Việt Nam xa: toàn là đồi núi khô cằn, chỉ có cây cọ và chà là là chủ yếu… Thế nhưng cũng phải khen Do Thái về môi trường sạch, đường phố tốt - không có rác, trật tự tốt. Chẳng thấy anh chị cảnh sát nào ở ngoài đường, ngay cả những nơi đông khách tham quan… Kỹ thuật Do Thái cao, nhất là nông nghiệp với kỹ thuật tưới "nhỏ giọt" vì họ khan hiếm nước. Có những cánh đồng đất sỏi đá khô rang, nhưng những luống cây vẫn xanh um, người viết có lần nói với bà con rằng: cà phê của mình mà nắng hạn thế này thì khô cháy từ lâu rồi!

Hai đặc điểm đáng ghi nhớ đối với Israel và Palestin là:

a. Biển Chết có nước mặn gấp 6 lần nước biển, không sinh vật nào sống được và người tắm không bao giờ sợ chết đuối vì họ nổi lềnh bềnh (nhưng xin lưu ý chớ để nước biển vào mắt, chí nguy đấy!).

b. Thành Giêricô cổ nhất thế giới và ở độ sâu nhất thế giới (272m dưới mặt nước biển), vậy mà vẫn thấy khô rang, chả thấy nước nôi gì hết!

6. Nói về Thổ Nhĩ Kỳ .

Trước khi tới Thổ Nhĩ Kỳ người viết cứ đinh ninh: "Thổ Nhĩ Kỳ thì cũng giống Lào hay Campuchia thôi chứ gì!" – Bé cái lầm! Người viết phải thầm "xin lỗi" nước Thổ Nhĩ Kỳ về ý nghĩ sai lầm đó. Nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày xưa là một nước hùng mạnh, nhất là dưới triều vua Othman (644-656), nước Thổ đã bành trướng sang cả châu Âu lẫn châu Á. Đạo quân Hồi giáo chiếm các thành phố như chẻ tre vậy.

Ngày nay nước Thổ Nhĩ Kỳ có diện tích 779.452km2 (gấp hơn 2 lần Việt Nam), một phần ở châu Âu, một phần ở châu Á, dân số 55 triệu – 80% theo Hồi giáo là quốc giáo, số còn lại thuộc dân thiểu số, theo Kitô giáo, Chính Thống giáo và các tôn giáo khác. Thủ đô là Ankara, thành phố không lớn lắm nhưng là trung tâm chính trị và hành chính. Trung tâm kinh tế là Istanbul với 21 triệu dân, chỉ thua Mêhico City 26 triệu dân. Nhà cửa tuyệt đại đa số là hiện đại như Âu châu, thỉnh thoảng có những xóm nhà cửa còn xập xệ như những khu bình dân Việt Nam. Đường sá tốt và tương đối sạch, cũng giống như Pháp và Ý, xe con đậu đầy 2 bên đường, chỉ còn khoảng trống giữa lòng đường cho các xe lưu thông. Tài xế Thổ Nhĩ Kỳ quả có tay lái "lụa", không thấy một vụ va quẹt nào trên các đường đầy ắp xe như vậy. Người viết có cảm tưởng dân Istanbul không có garage riêng, tất cả xe cộ đều quăng ra đường.

Dân Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul sống hòa đồng, chấp nhận những dân thiểu số, chúng tôi hỏi một vị Linh mục trẻ ở một Nhà thờ Công giáo xem có khó khăn nào không, có bị kỳ thị không, thì ngài cho biết bà con sinh hoạt tôn giáo bình thường không gặp khó khăn chi hết. Chỉ có điều có quá nhiều Đền thờ Hồi giáo, Đền nào cũng có tháp cao, có khi 4, 5 tháp, tháp nào cũng có 8 loa sắt công suất cực lớn phát oang oang các buổi cầu kinh của họ 5 lần, từ sáng sớm đến tối, mọi người đều phải nghe…

Một điều ai cũng công nhận là phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ rất đẹp và luôn ăn mặc kín đáo, thường phục của họ là chiếc áo dài đen chấm gót, đầu đội khăn chỉ để hở mặt, một số che kín mặt chỉ để hở đôi mắt (chắc là các cô gái đã có chồng, vì những người này thường đi với một người đàn ông).

Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ dường như không phải lao động nặng nhọc, công việc chủ yếu của họ có lẽ là nội trợ, chăm sóc gia đình, con cháu… Mọi công việc nặng nhọc, kiếm sống đàn ông đảm nhận. Ở Istanbul, một chợ cá rất sầm uất, mọi việc buôn bán toàn thấy đàn ông, các bà chỉ xách giỏ đi mua thôi. Một ngôi chợ cổ xây dựng cách nay 600 năm, dân địa phương, khách du lịch vô chợ đông đến nỗi lòng chợ cũng không còn lối đi, lúc nào cũng phải "lách". Hàng quán đủ thứ, nhưng đa số là thực phẩm, các đồ gia vị và các đồ mỹ nghệ lưu niệm…

Nói về đồ mỹ nghệ lưu niệm thì phải tới tới hình ảnh phổ biến nhất trên hầu hết các món đồ, từ chiếc nhẫn, chiếc vòng tay, hoa tai… cho đến đồ gốm sứ, chén, đĩa,… đó là một con mắt xanh đậm "mắt rắn" – Hướng dẫn viên kể rằng, người Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị ảnh hưởng sâu đậm của thần thoại Hy Lạp : nữ thần Médusa (mặt người, tóc là những con rắn quấn vào nhau) rất xinh đẹp, bị nữ thần Athéna – con gái của chúa tể Zeus (thần Dớt) ghen ghét, truyền chặt đầu. Dân chúng tôn kính quý yêu thần Médusa vì bà hay phù hộ kẻ khốn cùng, nên vẽ khuôn mặt thần Médusa để đeo. Thần Athéna một lần nữa nổi cơn ghen, bắt mọi người phải xóa khuôn mặt đó đi, ai còn đeo thì phải chết. Dân vẫn còn mến thần Médusa vì thấy bà chịu oan ức, nên cuối cùng họ chỉ vẽ một con mắt xanh biếc để đeo (mắt rắn) như một bùa hộ mạng vậy.

Nhận xét về Thổ Nhĩ Kỳ, nhóm tham quan đều nhất trí rằng:

- Môi trường tự nhiên họ sạch hơn ta.

- Trật tự giao thông tốt hơn ta.

Môi trường văn hóa cũng khá "sạch": hoàn toàn không có các bảng quảng cáo "sex" – kiểu phụ nữ ăn mặc "nghèo nàn". Sách vở, báo chí, người viết không đọc được nhưng cũng không dám có những hình ảnh nhố nhăng, khêu gợi như nhiều nơi trên thế giới.

7. Về mặt địa lý và lịch sử :

Đối với Thiên Chúa giáo, Thổ Nhĩ Kỳ có khá nhiều di tích liên quan tới Cựu Ước và Tân Ước – Chính vì thế mà chúng tôi đến Thổ Nhĩ Kỳ:

a. Thành Haran, nơi tổ phụ Abraham đã từ Ur đến cư ngụ, cũng là quê hương của bà Rebeca, ông Laban và 2 cô con gái Lêa và Rachen vợ của tổ phụ Giacóp.

b. Núi mà tổ phụ Abraham đem con là Isaác lên để tế lễ Chúa Trời.

c. Taxo – quê hương thánh Phaolô.

d. Giáo đoàn tín hữu đầu tiên được nhận danh hiệu Kitô hữu là Antiochia.

e. Bảy giáo đoàn thánh Gioan nhắc tới trong sách Khải Huyền: Êphêxô, Ximiếcna, Pecgamô, Thyatira, Xacđê, Philađenphia và Lauđikia. Đặc biệt thành phố Ephêxô nơi thánh Gioan làm Giám mục, có ngôi nhà cổ được xác định là nhà của Đức Mẹ sống những năm cuối đời bên cạnh thánh Gioan. Ba vị Giáo Hoàng là Phaolô VI, Chân phước Gioan-Phaolô II và Bênêđictô XVI đã tới kính viếng và dâng Lễ ở đây. Đoàn hành hương chúng tôi cũng đến kính viếng và dâng Lễ tại đây. Khách hành hương tới khá đông.

8. Điểm cuối cùng mà người viết muốn thông tin cho bà con là các khách sạn ở Âu châu (các nước tiên tiến khác chắc cũng vậy), hơi khác với Việt Nam một chút, đó là họ không cung cấp miễn phí cho khách thuê phòng: kem đánh răng và bàn chải đánh răng, khăn nhỏ rửa mặt, cả đôi dép đi trong phòng nhiều khách sạn cũng không có. Hỏi tại sao thì được trả lời: vì "quá" tôn trọng khách, không biết khách dùng loại bàn chải nào, kem nào, khăn mặt loại nào, dép thì do muốn đề phòng cho khách khỏi nhiễm nấm nên không có! Ai đi du lịch thì phải tự mang theo. Té ra những khách sạn 5 sao, 4 sao của Âu châu cũng có cái thua khách sạn 1 sao của nước ta, thậm chí cả phòng trọ 0 sao những thứ đó cũng được cung cấp đầy đủ cả! Quá tuyệt!


Tân Sa Châu, ngày 28 tháng 05 năm 2013

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Triết


BẠN TÔI XVII

hay là

KẺ KHÔNG AN NGHỈ NGÀN THU


Đã khá lâu tôi không viết và kể gì về bạn tôi, khiến nhiều độc giả đã đọc XVI truyện về bạn tôi thắc mắc: “Ông nghỉ chơi với ông bạn vàng rồi à?”, “ Bạn ông bị bà nào kít náp (kidnap= bắt cóc) rồi sao mà không thấy ông kể gì về cha ấy nữa”, “Kể tiếp về ông bạn kỳ dị, kỳ cục, kỳ quái của ông đi?”… Những câu hỏi dồn dập, khiến tôi cảm thấy đôi lời giải thích lý do tại sao gần bốn tháng nay tôi không viết thêm gì về bạn tôi là cần thiết, và sau đây là lý do tại sao mãi tới hôm nay tôi mới lại viết tiếp Bạn Tôi XVII.

Trong 4 tháng vừa qua, như thường lệ tôi có ghé qua thăm bạn tôi độ trên dưới một chục lần. Lúc trước mỗi lần tôi ghé, tôi thường được anh tiếp đãi rất nồng hậu và thường xuyên rủ đi du hí, khi gần khi xa. Nhưng trong những lần gần đây tôi không thấy anh tỏ ý rủ đi đâu cả, ngoài ra khuôn mặt anh thường lộ vẻ đăm chiêu, không giống như lúc trước, lúc nào cũng thoải mái, vui vẻ, miệng thì cười hô hố, mỗi khi kể xong một chuyện tiếu lâm theo phong cách của riêng anh. Hơn nữa trong những lần ghé thăm gần đây anh tiếp tôi có vẻ hơi gắng gượng, tuy vẫn rất nồng hậu. Khi được hỏi tại sao lúc này không đi câu, đi dạo, anh cho biết là đang quan tâm đến một vấn đề khá quan trọng, nhưng chỉ với riêng con người anh, không liên quan gì tới mọi người. Khi nghe tôi hỏi vấn đề gì mà quan trọng thế, thì anh cười cười và bảo tôi: “Tuấn kiên nhẫn một tí, khi xong việc mình sẽ tâm sự với cậu ngay vì cậu là người bạn thân nhất của mình mà?”. Nghe anh nói vậy tôi đành chịu chả biết làm sao, nhưng tôi cố để tâm tìm hiểu xem vấn đề anh đang quan tâm là vấn đề gì, và rồi điều tôi ghi nhận đầu tiên là mỗi lần tôi vừa bước vào là đều thấy anh đang đọc sách. Vừa thấy có khách, anh cẩn thận để cuốn sách vào giá sách to đùng rồi mới ra bắt tay mời vào. Qua hai ba lần anh làm y như vậy, tôi liền hạ quyết tâm tìm hiểu anh đọc thứ sách chết tiệt gì đã làm tôi mất thú được cùng anh tiếu ngạo giang hồ!

Thế là mỗi lần tới, tôi liếc nhanh để nhớ vị trí anh cất sách trước khi ra gặp, sau đó tìm cách nghía xem anh ta đọc đề tài gì. Tiếc rằng không được việc, vì giá sách của anh to đùng không thể xác định được cuốn nào là cuốn anh vừa cất… Cho tới lần gần đây tôi bỗng khoái quá, khi không thấy anh cất sách, và để cuốn sách ngay trên bàn và ra mời tôi vào. Vừa vào, việc đầu tiên tôi làm là ngó tên sách và thấy đó là cuốn: “Chứng cứ có Thiên Đình” của Tiến sĩ Eben Alexander, xuất bản năm 2012 (Proof of Heaven by Dr. Eben Alexander). Thấy tôi đọc tên cuốn sách, anh cười và bảo tôi: “Tính tò văn mò cố hữu của Tuấn hôm nay sẽ được thỏa mãn thoải mái vì việc mình quan tâm coi như đã được giải quyết. Hôm nay mình sẽ cho Tuấn biết, và thậm và chí còn bàn và cãi với Tuấn nữa!” Thấy anh trở lại cách nói đùa cợt tếu táo, tôi mừng quá và vội nói: “Ôi tuyệt vời, tôi sẵn sàng nghe anh bằng cả hai tai và… mũi!” Anh nói: “Rồi! mời ngồi, để mình cho máy lạnh chạy mát thêm một chút, nóng ơi là nóng!”. “Tuấn thấy không? Con người dù giỏi đến mấy đi nữa, cũng đã làm gì chống lại được với Thiên Nhiên, với Lão (ý anh nói Ông Trời) được đâu? Chỉ cần Lão nổi hứng nóng lên hoặc lạnh đi gấp độ mươi mười lăm lần là chúng ta tay trong tay dắt nhau ĐI XA hết! Khỏi cần cãi cọ, eo xèo, tranh chấp, bành trướng, teo trướng gì với nhau nữa, đúng không? Tôi gật đầu đồng ý, và anh bắt đầu giải thích và kể về vấn đề anh quan tâm trong mấy tháng vừa qua. Anh bảo tôi: “Tuấn biết không? Trong mấy tháng vừa qua mình quan tâm tới vấn đề Đời Sau (Afterlife) sẽ tiếp nối Đời Này là cuộc Đời, với 26 tuổi lần thứ 3 (nói kiểu Picasso chứ không thèm nhận vơ là kiểu của mình) mình đã đi được gần 4/5. Mình luôn tin tưởng gần như tuyệt đối là sau 1/5 nữa (mà chưa chắc đã được) là mình buộc phải ra đi và… không chấm hết. Mình luôn tuyệt đối tin là những gì mình đã khổ công học, luyện và đạt được trên đường đời mà mình đã trải qua SẼ CÒN MÃI VĨNH HẰNG VĨNH CỬU, và sẽ mãi mãi là của mình, là TÀI SẢN TINH THẦN, TRI THỨC, sẽ luôn luôn ở bên mình mãi mãi và mãi mãi… không thể có chuyện CHẾT LÀ HẾT”. Rồi anh chỉ cuốn sách và nói: “Tuấn biết không? Mấy lần trước cậu lại chơi đều bắt gặp tôi đang đọc sách, những lần đó tôi chưa muốn chia sẻ với Tuấn vì mình chưa thấu đáo vấn đề mình quan tâm. Bây giờ thì không những mình nói cho cậu biết được rồi, mà còn muốn bàn với cậu nữa vì cậu dưới mắt mình luôn luôn là MỘT MISTER (CHỨ KHÔNG PHẢI CON) MỌT SÁCH! Cuốn này là của Tiến sĩ Y khoa Eben Alexander, một Giáo sư ngành Y ở Đại Học Harvard. Mùa Thu năm 2008, sau một tuần lễ bị hôn mê, ông ta tỉnh dậy và viết cuốn Chứng Cứ có Thiên Đình này để kể việc ông ta lên thăm Thiên Đình trong những ngày bị hôn mê, và để chứng minh là Thiên Đình có thật. Ngoài cuốn này mình còn đọc các cuốn sau đây mà mình đã khổ công kiếm được:

- Life Afterlife (Cuộc Sống trong Đời Sau) của Kate Atkinson

- Life Afterlife của Raymond Moody trong đó tác giả này nghiên cứu về 100 trường hợp có sự sống sau cái Chết.

- The Afterlife revealed: What Happened After We Die (Cuộc Sống trong Đời Sau được tiết lộ: Chuyện gì xảy ra sau khi chúng ta chết) của Michael Tymn.

- The Afterlife Unveiled: What the Dead are Telling Us About Their World (Bỏ Bức Màn Che Cuộc Sống trong Đời Sau: Những Người Chết Nói Gì về Thế Giới của Họ) của Stafford Betty.

- Testimony of Light: An Extraordinary Message of Life After Death (Lời Chứng của Ánh Sáng: Một Thông Điệp Kỳ Ảo về Cuộc Sống sau Cái Chết) của Helen Greaves

- A reviting investigation into what awaits us after life: Afterlife của (Một cuộc điều tra hấp dẫn về những gì chờ đợi chúng ta sau đời sống này: ở Đời Sau) của Tiến Sĩ John L. Takeuchi Turner.

Chính vì mình bận đọc sáu cuốn sách này, mà trong 4 tháng nay chúng ta không được đi du hí, hì! hì!” Tôi hỏi anh: “Đọc xong anh đi đến kết luận gì?”. Anh nói: “Từ từ rồi Tuấn sẽ biết ngay thôi! Mình đã đọc thật kỹ cả sáu cuốn đều là sách bán cực chạy (Bestseller) vì người nước ngoài tương đối quan tâm đến việc đời sau hơn người mình! Và trong khi đọc mình đặc biệt chú tâm tới điểm trong sáu tác giả có anh nào chị nào NÓI ĐẾN QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CÁ NHÂN CỦA MÌNH KHÔNG? Sau khi đọc kỹ, mình rất vui khi thấy những suy nghĩ của mình rất Ư LÀ ĐỘC ĐÁO vì bằng chứng là trong cả sáu cuốn sách dài thòng chả có tác giả nào nghĩ TRÙNG HỢP với những ý nghĩ và mục tiêu của riêng mình. Và để hiểu được các điều đó Tuấn cần nghe mình diễn giải cặn kẽ mới được”. Anh ngưng nói 1 phút, uống mấy hụm nước và hỏi tôi: “Tuấn có thấy là tôi năm nay đã 26 lần thứ ba, mà đã làm được gì tốt cho đồng loại chưa? Tôi dùng từ “đồng loại” chứ không phải “đồng bào” vì tôi muốn nói tới Nhân loại, tới Con Người nói chung, chứ không phải chỉ riêng Quê Hương mình. Lý do đơn giản là sau ngày ra đi sẽ không còn ranh giới nước này nước nọ, sẽ không còn thời gian hạn định, mà sẽ chỉ còn Con NgườiThời Gian Vô Tận, đồng thời cũng sẽ chỉ vẫn còn Cái ThiệnCái Ác, những Con Người TốtNhững Con Người Xấu. Ngay lúc này, ngay trong những ngày mình đang còn sống nhăn này, trước muôn vàn cái ác trên toàn cầu, ví dụ như ở Mỹ, những em học sinh bé nhỏ có tội gì mà có kẻ ác nã súng vào cướp đi mạng sống của nhiều em, ở Đức 3 tên tân phát xít đã thản nhiên giết 9 người vì lý do chủng tộc, ở Tây phương nhiều người đang sống an lành bỗng bị bọn xấu bắt cóc để mổ lấy nội tạng vv… hoặc trước muôn ngàn bất công đang xảy ra hàng ngày ở khắp mọi nơi, Tuấn và tôi đành chịu trơ mắt nhìn chứ đâu có làm gì được? Do đó, tôi thật sự cảm thấy là do bất lực trước mọi tội ác, trước mọi bất công, tôi thực sự là đang chết,đang an nghỉ vài thu – để rồi sau đó ngàn thu… vẫy vùng!”, vì tôi tin chắc là với ý chí, sau ngày tôi đi xa, tôi sẽ trước nhất thành vô hình, vô ảnh có thể hiện diện ở bất cứ nơi đâu trong nháy mắt, sau đó nếu thành thần thì tốt rồi, nhưng nếu không thành thần, thì cũng thành quỷ để có thể thực hiện ước muốn ngàn thu vẫy vùng, và hai từ vẫy vùng của tôi biểu trưng cho ước muốn và dự tính của tôi là thay mặt Đất Trời, đứng hẳn về phía những Thiện Nhân chống lại và trừng phạt mọi Kẻ Ác hiện diện trong Nhân loại ở bất cứ nơi đâu. TÓM LẠI ƯỚC MUỐN VÀ DỰ TÍNH CỦA TÔI LÀ SAU NGÀY RA ĐI SẼ ĐI HÀNH HIỆP TRỪ GIAN DIỆT ÁC TRÊN HOÀN . Và tôi thật sự không thấy 6 tác giả 6 cuốn sách nói về Đời Sau, mà tôi đã đọc rất kỹ, nhắc nhở gì tới việc Trừ Gian Diệt Ác khi về nơi Vĩnh Hằng!

Thấy anh nói vậy tôi vội hỏi: “Anh muốn đi hành hiệp như vậy thì là anh quên hết quý bà của anh rồi à? Mà anh “an nghỉ vài thu” là chỉ còn vài thu nữa hay sao?” Anh mỉm cười và bảo tôi: “Tuấn đừng lo, hôm mình viết thế có một mẫu hậu, tình cờ ở bên mình, đã giật lấy bút, mở ngoặc đơn sau chữ vài để thêm chữ chục rồi! Đừng lo! Còn việc quên quý bà, thì Tuấn thực là ngớ ngẩn “mình chỉ hành hiệp trong ban ngày cũng như công chức làm giờ hành chánh, còn từ chiều cho tới sáng hôm sau thì là dành cho quý bà của mình, mà mình chẳng có phút nào quên được! Rồi còn điều này cậu cũng nên biết, đó là khác với mọi người thường nói về với ông bà (là đã ngỏm), mình thì mình không giống mọi người, vì mình chỉ ghé thăm ông bà rồi lại về ngay với quý bà, thế mới lạ!”. Tôi lại hỏi tiếp: “Chỉ nghĩ có vậy và đọc vài cuốn sách, sao tôi bắt gặp anh có vẻ suy tư rất lung, là sao vậy?” Anh giãi bày: “À về điểm này Tuấn biết không? Mình đã dành rất nhiều thời giờ và vẫn sẽ còn phải mất rất nhiều giờ suy nghĩ khác trong mấy chục thu còn lại trước ngày lên đường. Chính vì mình dự trù trường hợp không thành thần mà lại thành quỷ. Nhưng có thành quỷ thì mình cũng không giống lũ quỷ bình thường mà mình sẽ thành một THIỆN QUỶ, và chính vì mình là một Thiện Quỷ nên khi đi hành hiệp mình sẽ phải có NHỮNG HÌNH PHẠT TỐT DÀNH CHO KẺ ÁC MỘT CƠ HỘI HỐI CẢI SỬA CHỮA CHỨ KHÔNG TẬN DIỆT CHÚNG NHƯ LŨ QUỶ BÌNH THƯỜNG. Và Tuấn đã bắt gặp mình suy tư nhiều, và còn phải suy nghĩ nhiều hơn nữa, chính vì mình phải NGHĨ RA MUÔN NGÀN HÌNH PHẠT TỐT để áp dụng trong lúc hành hiệp, trong ngàn thu vẫy vùng của mình. Tôi vội hỏi: “Vậy anh nghĩ ra được bao nhiêu Hảo Hình Phạt rồi?” Anh trả lời ngay không do dự: “Mình mới nghĩ ra và viết ra được độ trên một trăm, còn cần nhiều lắm và cần Tuấn nghĩ hộ nữa”. Tôi nói sẵn sàng cộng tác, và đề nghị anh đưa ra hai thí dụ Hảo Hình Phạt. Đồng thời cũng hỏi anh rằng nếu áp dụng Hảo Hình Phạt mà lũ ác ôn không hối hận cải đổi thì sao?”. Anh cảm ơn tôi và giải thích: “Hảo Hình Phạt chỉ áp dụng quá tam ba bận, nếu sau ba bận mà kẻ ác không biết hối cải, hoàn lương, thì đơn giản lắm, chỉ việc trao chúng cho lũ quỷ bình thường cho chúng vào vạc dầu luộc chín là xong! Và sau đây là hai thí dụ điển hình về Hảo Hình Phạt, Tuấn nghe xem có hay không? Khi nói hình phạt tốt thì không làm tội nhân đau quábị mất mạng, trái lại còn từ từ khỏi dần khi tội nhân hối hận, sửa đổi.

- Thí dụ 1.- Ví dụ tên ác ôn trông thấy một cô gái xinh đẹp và thèm muốn lại gần tán tỉnh, thì trong lúc trong lòng hắn muốn tiến lại phía người đẹp, thì tôi dùng quyền phép bắt hai chân hắn đi giật lùi ra xa, thay vì tiến lại gần (để rồi khi hắn hối cải thì lại từ từ tiến lại gần được) và như vậy là tên ác ôn sẽ đau đớn lắm!

- Thí dụ 2.- Ví dụ tên ác ôn gặp chuyện gì vui muốn nở một nụ cười thật tươi, thì tôi dùng quyền phép bắt hắn nở một nụ cười méo sệch miệng trông rất tởm (để rồi khi hắn hối cải, nụ cười sẽ dần dần trở lại bình thường) Tuấn thấy được không?”. Tôi khen là hay, anh thích lắm và hẹn khi nào rỗi sẽ cùng thảo luận bàn cãi để đặt thêm những hình phạt tốt nữa.

Ra về, tôi thấy được rõ một điều là bạn tôi sẽ là người rất bận rộn trong cõi Vĩnh Hằng, sẽ là người KHÔNG AN NGHỈ NGÀN THU

VŨ ANH TUẤN



Phụ Bản IV

NGƯỜI MẸ ĐIÊN

Những người nghèo khổ, cùng quẫn dù có phải tàn nhẫn với nhau bề ngoài vì sự sống còn nhưng trong lòng họ vẫn đầy tính người tột cùng khổ đau. Bản năng làm mẹ ở đời là vô hạn. Xin mời đọc một câu chuyện cảm động thấm đẫm tình người.

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng. Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể. Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói:

- Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!

Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con. Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi:

- Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!

Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo:

- Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?

Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét:

- Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?

Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại. Bà nội ngồi thẫn thờ, hóa ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói:

- Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!"

Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi:

- Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!

Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại. Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi:

- Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi.

Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? Mẹ còn sống không? Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo:

- Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!

Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo:

- Thụ... bóng... bóng..."

Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to:

- Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!

Tôi tức tối đáp lại nó:

- Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!

Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đồng trổ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa:

- Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được...

Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi:

- Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà...

Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi:

- Đừng... đừng...

Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo:

- Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...

Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo:

- Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!"

Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi:

- Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!

Tôi vùng vằng bĩu môi:

- Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!

- A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!

Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt:

- Đánh tôi, đánh tôi!

Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm:

- Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!

Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa. Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi:

- Thụ... ô...

Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra. Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên:

- Mẹ!

Đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói:

- Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra.

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hòa giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu. Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. 20 km đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này. 27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì. Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?". Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng dọa cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi... Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào...". Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi. Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!".


Bs Nguyễn Lân-Đính st

TRỞ LẠI VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

BẰNG CÔNG NGHỆ LASER

Nhiều thập niên rồi, Laser được ứng dụng trong ngành Y đã không xa lạ với người trong nghề và vô số bệnh nhân. Nhưng việc điều trị bằng công nghệ Laser Bán Dẫn và Laser Nội Mạch được PGS Tiến Sĩ Trần Minh Thái và các cộng sự ở Phòng Thí Nghiệm Công Nghệ Laser Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, kết hợp Y Học Cổ Truyền và Y Học Hiện Đại đã thành công trên nhiều loại bệnh: như Phục Hồi Chức Năng sau tai biến, Di Chứng Bại Não ở trẻ em, Tim Mạch, Trĩ, Viêm Xoang, Viêm Họng, Bệnh Phụ Khoa vv... Từ năm 2007 đã có đến 200 cơ sở điều trị trải đều từ Nghệ An đến Cà Mau và càng lúc càng nhân rộng thêm. Thế nhưng do không có điều kiện để quảng bá, ngoài thông tin xuất hiện trên các báo cáo Khoa Học và chuyên môn, truyền thông đại chúng không hề đề cập đến, dù đây là phương pháp trị liệu tiên tiến so với thế giới, thời gian phục hồi nhanh, hiệu quả, mà lại ít tốn tiền, do đó những bệnh nhân trong nước ít biết tới, các Bệnh Viện thì thờ ơ… thật quả là đáng tiếc.

Tôi là người may mắn, nhờ tò mò mà đã tìm đến để điều trị bằng Công Nghệ Laser mà tôi đã có bài viết về những gì chứng kiến trong những ngày điều trị, cũng như kết quả nơi chính bản thân tôi đăng trên Nội San số 23. Sự việc diễn ra từ năm 2008, đến nay kết quả đến nay vẫn còn lưu lại, là bệnh nghẹt mũi, sổ mũi về đêm của tôi đã chấm dứt hẳn. Tôi không phải đội mũ len khi đi ngủ nữa. Việc đi lên, đi xuống lầu của tôi cũng không phải nghỉ một lúc rồi mới tiếp tục được. Riêng bệnh Suyễn vẫn còn, nhưng mức độ nhẹ hơn, tôi vẫn phải tiếp tục dùng Ventolin, nhưng không còn tình trạng như đợt trước khi điều trị, là trong 2 tháng mà phải nhập viện đến 4 lần!

Vừa qua tôi lại phải quay lại với phương pháp này. Lý do là vì tôi vốn sợ lạnh, từ trước đến giờ, chưa bao giờ dám lên Đà Lạt vào Mùa Đông. Nhưng lại liều mạng đi du lịch Mỹ 3 tháng vào Mùa Đông theo lời dụ dỗ của em tôi: “Đi cho biết những ngày lễ lớn của nước Mỹ. Trong nhà có heat, ra xe cũng có heat, sợ gì?”. Thú thật là tôi vừa đi mà vừa lo thầm, mang theo cả cái máy xông Suyễn, 4 ống Ventolin, một đống thuốc tim mạch, và lòng cứ hồi hộp không biết bệnh có chịu nằm yên hay không?

Từ đầu tháng 11 là nước Mỹ bắt đầu trở lạnh. Qua đến tháng 12 thì cái lạnh ngày càng tăng. Sáng sớm nhìn ra ngoài sân thấy sương đọng thành tuyết. Tôi phải mặc đến 3 bộ đồ dày. Đồ nỉ hẳn hòi, bên ngoài kèm áo lạnh dày cộp... vậy mà ngồi trên salon hai chân cứ nghe lạnh buốt như ngâm trong nước đá. Phải lấy mền điện trùm vô thêm thì mới chịu nổi. Có lẽ vì vậy mà bệnh nhức mỏi bắt đầu phát tác. Đã vậy, nhiều lúc lên xuống thang lầu hai chân tôi như yếu xìu, cứ như chực khuỵu xuống. Nhưng đã đến Mỹ rồi, chẳng lẽ trùm mền, nằm nhà? Thế là tôi cố trang bị cho đủ ấm để có thể đi shopping, đi Siêu Thị để mọi người đừng lo. Ngày lễ Halloween còn dám đi xem người Mỹ hóa trang đi đầy đường. Đi xem Ngôi Nhà Ma cách nhà cả mấy mươi cây số! Chưa hết. Trước Noel, trời lạnh như cắt, mà cháu tôi còn chở chạy vòng vòng nhiều khu phố xem thiên hạ kết đèn màu để mừng Giáng Sinh, lại còn dám bước ra khỏi xe để chụp hình nữa chứ. Có lẽ vì thế mà cơ thể tôi đã phải gồng lên hết cỡ để chịu đựng.

Thế rồi bắt đầu tháng 1 là thời điểm lạnh nhất của nước Mỹ. Thấy cơ thể tôi coi bộ chịu hết xiết, có vẻ bắt đầu muốn lên tiếng. Chứng nhức mỏi lại tăng lên, Ventolin phải xịt liên tục. Tôi bắt đầu đếm từng ngày, chờ đến ngày về VN để trị bệnh. Nhưng trước ngày về khoảng 1 tuần, bệnh Suyễn của tôi muốn trở chứng. Ventolin xịt xem ra chẳng ăn thua! Cái máy xông Suyễn của tôi trở thành vô dụng, vì tôi quên là điện ở VN 220 Volt, ở Mỹ 110 volt! Chưa chịu đầu hàng. Tôi cố gắng mua cục đảo điện. Nhưng công suất của máy lại cao hơn. Vậy là đành chịu thua. Thế là em tôi đã phải chở đến phòng mạch của BS VN ở Mỹ để khám, chữa. Chỉ một lần khám và mua 20 viên thuốc thôi mà đã hết 155 đô la! Cũng may, BS tốt bụng cho mượn bình oxy. Về nhà tôi kết hợp với thuốc xông Suyễn mang theo. Nhờ vậy mà bệnh cũng giảm phần nào. Nhưng tôi không dám chần chừ nữa, lập tức đổi vé, về VN sớm hơn dự định 1 tuần, vì tiền thuốc quá mắc so với bên nhà. May mà không phải nằm viện, nếu đi Bệnh Viện không biết tới con số nào.

Tôi chỉ mong về tới Việt Nam là tìm ngay nơi gần nhất để trị bệnh, nhưng em tôi lại theo về chơi đến sau Tết mới đi, đành phải nán lại. Tiễn em tôi xong là tôi lập tức liên lạc để nhờ Tiến Sĩ Thái chỉ cho tôi nơi nào có điều trị bằng Laser gần Thành Phố để trị bệnh, vì tuy biết Thạc Sĩ Bác Sĩ Thiên Hoa trị bệnh rất hay, nhưng mãi tận Tân Châu, mà tôi không thể bỏ nhà thời gian dài được. Tôi vẫn biết Tiến Sĩ Thái ít thì giờ, muốn tự lên mạng để tìm, nhưng bộ môn không có trang Web riêng. Thông tin về những địa điểm trị bệnh bằng Laser không có, đành phải làm phiền ông. Tiến Sĩ Thái cho tôi địa chỉ và số điện thoại Phòng Khám Đông Y Đa Khoa của các Soeur Dòng Đa Minh ở Thủ Đức.

Sở dĩ tôi đặt tin tưởng vào Công nghệ trị bệnh bằng Laser, bởi năm 2008, thời gian tôi trị bệnh ở Phòng Phục Hồi Chức Năng của Thạc Sĩ Bác Sĩ Thiên Hoa ở Tân Châu, đã tận mắt chứng kiến: Một bà cụ 91 tuổi, liệt mềm, cả tứ chi và người mềm rũ, lưỡi cũng không nói được. Thế mà chỉ trong 8 ngày điều trị bằng Laser, bà đã tự ngồi dậy được, và trong 10 ngày đã tự đi đứng được, rồi xuất viện. Nếu không tự mình mục kích, mà nghe người khác kể lại có lẽ tôi không thể nào tin được, vì với những trường hợp liệt mềm như vậy, cộng với tuổi tác bà cụ quá cao, tập vật lý trị liệu cả năm chưa chắc đã phục hồi!

Chân tôi từ lúc trở về VN vẫn còn yếu. Bắp chuối rất nhức, không thể đi bộ xa, lúc nào đi đâu đều phải nhờ con tôi chở đi. Địa chỉ Phòng Khám ở Phường Linh Trung Thủ Đức. Nhưng số 52, đường số 25, mẹ con tôi đi hỏi thì nhiều người dân ở Thủ Đức không biết. Thế là vòng vèo cả tiếng đồng hồ. Cuối cùng rồi cũng đến do một người địa phương chỉ. Họ nói: Cứ hỏi “Phòng chữa bệnh của các dì, đối diện Nhà Thờ” là ai cũng biết.

Mới chở đi được 3 hôm, con tôi có việc phải đi tỉnh. Muốn cho bệnh mau hết tôi đành phải tự mình đi xe buýt. Từ nhà tôi, muốn ra bến xe buýt phải đi bộ cỡ 300m. Đến Bến Thành, lại phải băng qua đường để đón xe đi Thủ Đức. Xe đậu ngang hông chợ Thủ Đức rồi thì phải băng qua cửa chợ tới bên kia đường để đón xe buýt số 141. Xe ngừng quá chợ Tam Hà, tôi phải đi ngược lại ngã 3, rồi đi vô Phòng Khám nằm đối diện Nhà Thờ Thánh Nguyễn Duy Khang cách đường Tô Ngọc Vân cả hơn 300m. Vậy mà chỉ sau 3 lần vô Laser Nội Mạch tôi đã có thể tự mình đi. Không những thế. Có hôm đi ra tới chợ rồi, sực nhớ còn quên một việc, tôi phải quay trở vô, rồi lại quay ra. Tính ra phải đi bộ gần cả cây số, vậy mà vẫn không sao. Rõ ràng hiệu quả của Laser thật quá nhanh chóng, không thể chối cãi.

Trước lúc đi chữa bệnh thì ngoài nhức cơ bắp chân, hai chân bị yếu. Chỗ thoái hóa đốt sống cổ của tôi cũng đau. Nhất là ngang eo lưng, ngay chỗ đốt sống bị thoái hóa đau nhức rất nhiều. Chỉ cần cúi người, hay ngồi trên ghế lâu một chút mà đứng dậy thì rất đau, phải lom khom một lúc rồi mới đứng thẳng dậy được. Nhưng ngay 2 lần vô Laser Nội Mạch, tôi đã có thể ngồi để trồng đến 12 giỏ hoa Mười Giờ mất hơn cả tiếng đồng hồ mà vẫn không sao.

Tôi vui mừng gọi điện để báo cáo với Tiến Sĩ Thái về tình hình sức khỏe đã cải thiện của tôi, đồng thời khi lui tới trị bệnh cho hết một liệu trình 21 ngày, tôi cũng hỏi thăm đôi điều về Phòng Khám của các Soeur mà hàng ngày đến chữa bệnh tôi thấy bệnh nhân ra vô rất đông. Soeur Khuyên là người phụ trách cho biết: trước đây Phòng Khám là một căn nhà cấp 4, các soeur chỉ chữa theo Đông Y là bắt mạch, hốt thuốc, châm cứu. Trong một lần về thăm gia đình, tình cờ soeur đọc thấy một tờ báo nói về phương pháp trị bệnh bằng Laser. Thế là sau khi đi tìm hiểu thêm máy Laser của nước khác, so với tính năng của máy Laser của Việt Nam, soeur đã quyết định tìm đến Trường Đại Học Bách Khoa để gặp Tiến Sĩ Thái. Sau đó, các soeur xin được tài trợ của Vương Quốc Luxembourg để cất lại Phòng Khám khang trang như hiện nay. Phía tài trợ cũng trang bị toàn bộ các Máy tập Vật Lý Trị Liệu, một số máy Laser. Một nữ mạnh thường quân đã giúp cho những chiếc giường inox rất sạch sẽ. Hiện nay, Phòng Khám có một phòng bắt mạch, hốt thuốc theo Đông Y. Hai Phòng Vật Lý Trị Liệu. Một Phòng châm cứu và điều trị bằng Laser Bán Dẫn, Quang Châm và một phòng dành để vô nước biển và Laser Nội Mạch. Các soeur bắt đầu làm việc từ sáng sớm, sau khi đi lễ xong, vì nhiều bệnh nhân là công nhân viên, sáng sớm ghé châm cứu rồi mới đi làm. Phòng Khám làm việc Buổi sáng, từ Thứ Hai đến Thứ Sáu hàng tuần.

Câu chuyện tôi hỏi thăm cứ đứt quãng, vì bệnh nhân đến liên tục. Các soeur hết đo huyết áp, lại vô nước biển, tháo kim, tắt máy. Phòng khám lúc nào cũng vang lên những điệu nhạc rộn rã. Hết Lambada rồi Tout l’ amour, Jingle bell, Happy Birthday… khi kết thúc một liệu trình, nghe rất vui tai.

Nhìn các soeur trong những chiếc áo blouse trắng tinh, nét mặt hiền hòa, thoăn thoắt tới lui, cúi xuống trên các bệnh nhân. Đôi khi kiên nhẫn lắng nghe bệnh nhân kể lể, tâm sự… Tôi thấy người bệnh đến đây rất thoải mái, xem các soeur như người thân. Không có cảnh hai ba người chen chúc trong một giường, mà người bệnh đến, đo huyết áp, bắt mạch, hốt thuốc, châm cứu, hoặc truyền nước biển xong rồi về. Phòng Khám không nhận bệnh nhân nằm lại. Các soeur cho biết, do máy móc và cơ sở được tài trợ, nên tiền khám, chữa và chạy máy chỉ lấy tiền thuốc, kim, cộng một ít tiền điện thôi. Tôi có hỏi nếu vậy thì lấy kinh phí đâu ra để bảo trì hay thay khi máy móc bị hỏng hay hết thời hạn sử dụng? Vì máy móc cũng như con người, đến lúc nào đó phải hư hao. Dù máy được sản xuất tại Việt Nam, nhưng là hàng công nghệ cao, làm ra đâu có đơn giản nên giá thành đâu có rẻ? Soeur cho biết điều đó còn đang cân nhắc, vì lấy phí cao thì sợ bệnh nhân nghèo không kham nổi. Nhưng thu phí như hiện nay, mai mốt khi vật dụng hao mòn cần phải thay thế thì chưa biết sẽ tính cách nào? Hiện tại, Cộng Đồng còn phải gánh vác những khoản chi phí sửa chữa nhỏ của Phòng Khám.

Tôi thấy đây là một Cộng Đồng thật sự làm theo lời Chúa, sống tốt đạo, đẹp đời. Việc làm tốt đẹp, giúp ích cho xã hội cũng được Nhà Nước công nhận. Năm 2012, Phòng Khám đã nhận được Bằng Khen của Hội Đồng Y Học Quận Thủ Đức về thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng và phát triển Quân Hội. Nhiều người ở các Tỉnh xa, thậm chí có cả Việt Kiều cũng nghe được mà tìm đến để nhờ chữa trị. Tôi hỏi Soeur Khuyên: Phòng khám này đặc biệt trị bệnh nào hiệu quả nhất, thì soeur cho biết là Tai Biến và Parkinson. Rõ ràng đó là hiệu quả của Laser. Tiếc thay, ngay cả tên của công nghệ Laser cũng không được nêu trên biển của Phòng Khám, nhiều người sử dụng cũng chỉ biết đó là: “Chạy Máy”! Tôi hỏi phòng Khám có thống kê con số bệnh đã được chữa khỏi hay không? Soeur Khuyên cho biết: Sau khi thành lập, hai năm đầu thì hàng năm, nhà tài trợ có cử người đến để kiểm tra. Phòng phải ghi lại địa chỉ, tên tuổi của từng bệnh nhân, những trường hợp đã chữa khỏi, để khi đại diện của bên tài trợ về thì mời đến để họ gặp tận mặt từng người. Sau 2 năm, thấy các Soeur làm việc nghiêm túc nên họ thôi không kiểm tra nữa. Phần các Soeur thì ngoài thời gian phục vụ ở Phòng Khám, còn phải lo về mặt tôn giáo, nên không có thì giờ để thống kê lại, chỉ biết hết lòng với bệnh nhân, ai đến cũng được chữa trị tận tình, bệnh nhân khỏe lại là thấy vui rồi.

Con người là vốn quý của xã hội, cần phải có sức khỏe mới có thể sống vui và đóng góp cho cộng đồng được. Theo đà tiến bộ của khoa học ngày nay, hàng loạt nhà máy, xe cộ thải ra bao nhiêu khí độc, con người phải nạp vào phổi hàng ngày. Thức ăn cũng bị tẩm đủ loại hóa chất. Thực vật thì ngấm thuốc trừ sâu. Động vật thì thuốc tăng trưởng, cộng thêm cuộc sống ngày càng khó khăn làm cho căng thẳng nên rất dễ đổ bệnh. Theo thông tin của ngành Y, chỉ riêng bệnh Tai Biến, hàng năm Việt Nam ta có đến gần 17.000 trường hợp, là một con số đáng lo ngại, vì di chứng của nó kéo dài, không chỉ làm mất sức lao động của người bệnh, mà cả thân nhân cũng bị ảnh hưởng, do người bệnh không thể tự đi lại. Nhiều người kể cả vệ sinh cá nhân cũng không làm được. PGS Tiến Sĩ Trần Minh Thái là nhà khoa học đã đi tiên phuông trong lãnh vực phục hồi chức năng cho người bị tai biến bằng công nghệ Laser. Thời gian phục hồi rất nhanh mà chi phí lại rất thấp, là thế mạnh của công nghệ này. Đến nay, con số không nhỏ bệnh nhân đã trở về với cuộc sống đời thường như chưa từng bị bại liệt - thay vì gắn liền với chiếc xe lăn - nói lên sự thành công của phuơng pháp này. Một số bệnh khác, thay vì phải cắt bỏ bộ phận bị nhiễm bệnh, thì Laser có thể chỉ tiêu diệt mầm bệnh, giữ nguyên những bộ phận bị thương tổn là khoa học tiên tiến nhất so với Tây Y hiện nay.

Tiềm năng của chiếc máy Laser, theo tôi, rất lớn. Vì hiệu quả của nó to lớn như vậy mà Ts Thái và các cộng sự đã thu nó rất nhỏ, gọn, chỉ nặng 1,5kg. Mục đích đã được người sáng chế nêu rõ: “Để dễ dàng đến với bệnh nhân”, thay vì máy cồng kềnh thì phải nằm một vị trí nhất định và bệnh nhân phải đến với máy! Như vậy, theo tôi, tương lai không xa, khi phương pháp này được đại chúng biết đến, thì chỉ cần lập một số Trung Tâm có trang bị điện thoại để nhận tin cấp cứu là các Y, Bác sĩ có thể đến tận nhà bệnh nhân. Đỡ phải tốn giường nằm. Đỡ phải mở Bệnh Viện với những chi phí điều hành rất cao để rồi tất cả sau đó đổ vô viện phí mà bệnh nhân phải gánh chịu.

Tôi tin rằng, nếu ngày nào mà các Bệnh Viện lớn thấy và nhìn nhận lợi ích thật sự của phương pháp điều trị này đối với bệnh nhân để hợp tác, thì có thể đặt một Phân Khoa Ngay trong Bệnh Viện. Hoặc đội ngũ điều trị bằng Công Nghệ Laser chỉ cần mang máy đến với những bệnh nhân sau khi đã cứu cấp qua khỏi nguy kịch, để làm công việc tiếp theo là Phục Hồi Chức Năng thì hay biết mấy, vì bệnh nhân không phải nằm lâu, nhường giường cho những người nặng hơn. Hoặc bệnh nhân sau đó xuất viện về nhà điều trị tiếp thì sẽ giải quyết được tình trạng Bệnh Viện thiếu giường, hai ba người chia nhau 1 giường hay nằm tràn lan ra cả hành lang của Bệnh Viện mà ai đi thăm thân nhân nằm Viện cũng thấy đau lòng! Chưa kể là mỗi bệnh nhân còn kèm theo 1 hoặc 2 người nuôi nằm vạ vật trong các hành lang BV, bọn xấu cũng trà trộn theo đó để trộm cắp, gây mất an ninh, trật tự. Nếu có một phương pháp phục hồi đáng tin cậy để bệnh nhân nhanh chóng xuất viện về điều trị tại nhà cũng là một giải pháp tốt đẹp cho cả 3: Bệnh Viện, người bệnh và thân nhân. Thầy thuốc nào mà chẳng muốn cho người bệnh mau lành. Có điều do Công Nghệ Laser hiện đại như vậy lại nằm chung với các Phòng Khám Đa Khoa nhỏ bé nên các vị bên Tây Y không biết gì về tầm vóc cũng như hiệu quả của nó nên không quan tâm đó thôi.

Mọi người đều biết, Tây Y xuất sắc về mổ xẻ, cắt bỏ các mô bị hư, thay một số bộ phận nhiễm bệnh nặng, chữa rất nhiều thứ bệnh hiệu quả cấp thời. Nhưng phần Phục Hồi Chức Năng thì bộ môn Vật Lý Trị Liệu hay Châm Cứu làm tốt hơn. Công Nghệ Laser gần như bao gồm cả hai bộ môn này. Do vậy, tôi thấy rất lạc quan, khi nghĩ rằng, nếu được quảng bá rộng rải, biết đâu, trong tương lai Việt nam ta sẽ là điểm Du Lịch Trị Bệnh để phục hồi chức năng cho những người bại liệt thì sao? Có thể lắm chứ, vì đó vốn là thế mạnh của Công Nghệ Laser. Tiếc là chưa được nhiều người biết đến.

Du lịch trị bệnh thì thế giới đã làm nhiều rồi, nhưng với nước ta thì còn hạn chế do thiếu quảng bá. Các Bác Sĩ của nước ta cũng xót xa thấy nhiều người không biết rằng có nhiều bệnh nước mình trị rất tốt, nên đã đổ biết bao nhiêu tiền của để sang Singapore, hay Trung quốc để trị. Chúng ta không thể phủ nhận là Bệnh Viện nước ngoài thì cơ sở vật chất sang hơn của ta. Cung cách phục vụ cũng lịch sự hơn. Phòng ốc cũng khang trang hơn. Kỹ thuật, máy móc cũng hiện đại hơn. Nhưng không phải bệnh nào họ cũng trị hết, mà tiền thì phải tính bằng núi! Nhiều người tốn cả chục tỷ rồi cũng quay về nằm chờ chết! Điển hình như trường hợp người bạn tôi kể lại là bạn của ông, mới phát hiện bị ung thư gan, người vợ bèn đưa chồng sang Trung Quốc để thay gan, vì nghe nói bên đó kỹ thuật tối tân. Bà đã tốn cả 60 ngàn đô, để cuối cùng phải mang chồng hồi hương trong… cái hũ! Giá mà không đi, cứ uống thuốc Nam cầm cự thì có khi vừa không tốn tiền mà chồng bà còn tiếp tục kéo dài cuộc sống ít ra là cũng vài tháng nữa! Nhưng ai có người thân bệnh mà chẳng nóng lòng?

Trong vai trò nhà Khoa Học đầu ngành, Ts Thái chỉ muốn làm sao tìm càng được nhiều cách thức để chữa thật nhiều bệnh, và cũng không muốn người bệnh phải gánh thêm phí tổn nào khác ngoài những chiếc kim cần phải thay mỗi lần điều trị. Tôi thầm nghĩ, giá như ngày trước Ts Thái chịu nhượng sáng chế lại cho nước ngoài theo đề nghị, hẳn phương pháp từ lâu đã chễm chệ trong những bệnh viện tối tân nước ngoài với chi phí cao ngất, đâu có phải lận đận nằm lẫn trong những Phòng Khám Đa Khoa như những phương pháp bình dân khác mà cũng không được bao nhiêu người biết đến ngoài những bệnh nhân đã khỏi bệnh và những báo cáo Cấp Bộ và Cấp Đại Học Quốc Gia tại Trường Đại Học Bách Khoa TP HCM do các PGS Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, Bác Sĩ, và các Lương Y… tâm huyết với bộ môn !

Dù không được quảng bá, nhưng đến nay cũng đã có trên 300 cơ sở rải rác ở các tỉnh thành trong nước, hàng ngày vẫn âm thầm chữa trị cho biết bao nhiêu bệnh nhân nghèo, hẳn phần nào cũng đáp ứng được nguyện vọng của người đã nghiên cứu ra phương pháp rồi. Hơn nữa, con số: 1 Tiến Sĩ đã bảo vệ luận án thành công, 2 nghiên cứu sinh đang thực hiện luận án Tiến Sĩ, 37 luận án Thạc Sĩ và 59 luận văn tốt nghiệp Đại Học nói lên ngọn lửa đam mê mà Tiến Sĩ Thái nhen nhúm đã truyền lần xuống các thế hệ kế tiếp, tương lai bệnh nhân sẽ được nhiều người phục vụ hơn.

Công Nghệ Laser cũng từng “mang chuông đi đấm xứ người” và đã được đánh giá cao. Thiết Bị Laser Công suất thấp đã được trưng bày tại triển lãm quốc tế về thành tựu khoa học điển hình Châu Á “Science News from Asia – Power of Asia, Power of Science” do Viện Bảo Tàng về thành Tựu Khoa Học MIRAIKAN (Nhật Bản) tổ chức năm 2007. Phòng Thí Nghiệm cũng được 1 Huân Chương Lao Động hạng 3 - 2 bằng khen của Thủ Tướng chính Phủ - 1 bằng khen của Bộ Giáo Dục và Đào tạo - 1 Bằng khen của Giám đốc Đại Học Quốc Gia và hàng chục giấy khen của Hiệu trưởng Trường Đại Học Bách Khoa Tp HCM.

Có lần trao đổi qua điện thoại, tôi có hỏi ngoài những sản phẩm đang ứng dụng, Tiến Sĩ còn có công trình nghiên cứu nào khác nữa không? TS Thái cho biết là ông tiếc là quỹ thời gian còn quá ít, không đủ cho ông thực hiện bao nhiêu nghiên cứu còn nằm trên giấy vì không có kinh phí. Những gì đã và đang thành công trên bệnh nhân chỉ là sản phẩm từ cả chục năm về trước của ông! Nghe thế để thầm tiếc cho những công trình khoa học làm ích lợi cho con người như vậy, lại không có điều kiện tiếp cận với những nguồn tài trợ để thực hiện, trong khi đó, nhiều người thừa thải tiền của lại mang ném vào những thú chơi xa xỉ khoa trương phù phiếm, thậm chí có người xây lăng cho mình cả nhiều tỷ đồng. Nếu tiền đó được dùng cho việc nghiên cứu trị bệnh thì lợi ích cho bá tánh biết bao!

Nước ta từ lâu đã khuyến khích Người Việt dùng hàng Việt, thì đây là “Hàng Việt Nam chất lượng cao” thật sự, vì đây là công trình nghiên cứu thành tựu từ Phòng Thí Nghiệm của Trường Đại học Bách Khoa Tp HCM, là một trong những trường Đại Học hàng đầu của nước ta mà qua 34 năm thực hành đã khẳng định hiệu quả trên các bệnh: Đau vùng thắt lưng do thoái hóa gai đốt sống. Đau lưng cơ năng. Viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp, Đau Khớp. Đau khớp gối do thoái hóa gai xương khớp gối. Đau gót chân do thoái hóa hương gót chân. Đau vùng sống cổ do thoái hóa, gai đốt sống cổ. Các bệnh cơ-xương-khớp khác. Viêm xoang. Viêm tai giữa có mủ. Viêm mũi, Viêm họng hạt, viêm Amygdale, Đau thần kinh tọa. Liệt nửa người do tai biến mạch máu não Liệt thần kinh số 7. Các bệnh thần kinh khác. Các bệnh khác… mà kết quả điều trị khỏi và giảm trên 94%. Bệnh nhân lại không phải nằm viện hay qua đại, tiểu phẫu quả là một thành tựu mà không phải phương pháp trị liệu nào cũng đạt tới.

Phương Pháp thì hiệu quả, mà giá tiền điều trị rất thấp, lại khỏi phải nằm viện tốn kém. Với những người khỏi bệnh nhờ công nghệ này thì bản thân, gia đình, bạn bè, người quen thấy rõ diễn tiến từ lúc bệnh cho đến lúc khỏi ra sao, đã chứng minh được hiệu năng của phương pháp điều trị mới mẻ này. Nhưng với những người hoàn toàn chưa biết thì thật là đáng tiếc, bởi vì người bệnh có khi phải tốn thêm thời gian, tiền bạc, công sức, thay vì được phục hồi sớm hơn. Đây là một thành tựu khoa học có đẳng cấp, nhưng được đưa thẳng đến các Phòng Khám Đa Khoa để phục vụ bệnh nhân, không nhằm mục đích kinh doanh, chỉ muốn mọi người được khỏi bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng mà ít tốn tiền, theo nguyện vọng của Nhà Khoa Học đầu ngành và các cộng sự. Vì thế, tôi mong nhiều người được biết thêm về hiệu quả của công nghệ này để giới thiệu cho bạn bè, người quen khi cần thiết, vì không biết đối với các bệnh khác ra sao, riêng đối với bệnh tai biến thì càng được chữa trị sớm thì kết quả càng nhanh. Kéo dài lâu thì phải mất nhiều thời gian hơn để phục hồi. Việc tiếp tay quảng bá cũng phù hợp với nguyện vọng của PGS Tiến Sĩ Trần Minh Thái và các cộng sự, khi đầu tư tâm huyết để nghiên cứu, sáng tạo, chỉ với mong ước duy nhất: làm sao để chữa cho thật nhiều thứ bệnh với giá thật rẻ cho mọi người, giàu cũng như nghèo đều được chia sẻ. Nếu là người kinh doanh thì chỉ cần một phát minh là đã mở được Bệnh Viện kiếm khối tiền rồi. Nhưng các nhà Khoa Học nước ta đã không quan tâm đến việc làm giàu cho bản thân, chỉ cố gắng ngày càng đưa ra nhiều sản phẩm mong sao chiến thắng bệnh tật, trả lại sức khỏe cho con người. Với ngần ấy năm miệt mài trong Phòng Thí Nghiệm, lấy sự thành công trong nghiên cứu làm niềm vui cho bản thân. Theo tôi, không cần ai biểu dương, các vị đã thật sự xứng đáng là “Lương Y như từ mẫu”. Như thế, chắc chắn không phải là những bằng khen, những huy chương vàng hay đồng, những giải thưởng quốc tế hay nội địa, mà nụ cười lại nở trên môi những người mà trước kia căn bệnh quái ác gần như đã tước đi của họ cả một tương lai phía trước, khi được trở lại với những sinh hoạt thường nhật như xưa, chính là những tấm huy chương sống động mà cuộc đời dành tri ân đội ngũ các vị vậy.

Tâm Nguyện

(tháng 5/2013)

HAI QUÁN NƯỚC

Les deux auberges của Alphonse Daudet


Đó là lúc tôi trở về từ thành phố Nêmes vào một buổi trưa tháng bảy.

Trời nắng gay gắt chói chang.

Xa tít mù là một con đường trắng đổ lửa, bụi bặm, ở giữa các vườn cây ôliu và cây sồi nhỏ, dưới ánh nắng bàng bạc bao phủ cả bầu trời. Không có một bóng mát, không có một ngọn gió. Chỉ có sự rung động của không khí nóng và tiếng kêu chói tai của các con ve sầu, âm nhạc điên loạn, ầm ĩ thúc giục, dường như có cả cái âm vang linh động mênh mang của ánh sáng!...

Tôi lội bộ giữa sự hoang vắng trong hai tiếng đồng hồ, khi mà, xuất hiện thình lình trước mặt tôi, một khóm nhà trắng giữa đám bụi mịt mù của con đường.

Đó là nơi mà người ta gọi là điểm dừng chân Thánh Vincent. Năm hoặc sáu nông trại trải dài những nhà kho mái đỏ. Có một cái ảng khô nước nằm trong một bụi cây sung xơ xác… Và ở cuối xóm là hai quán nước to đối diện nhau, ở mỗi bên đường.

Môi trường của hai quán nước nầy có cái gì khiến cho người ta cảm động.

Một bên là một ngôi nhà mới to, đầy sự sống, sự nhộn nhịp. Tất cả các cánh cửa đều được mở rộng. Xe song mã dừng ở trước, ngựa mệt được tháo ách. Hành khách bước xuống xe, ăn uống vội trên đường trong bóng mát của các bức tường. Các con la, các xe cộ chen chúc ở ngoài sân. Các phu đánh xe thì nằm trong nhà gara để tránh nắng. Ở trong quán,vang lên những tiếng la, những tiếng chửi thề, những tiếng va chạm của các viên bi, những tiếng nổ dòn của nắp chai nước ngọt, những tiếng cụng ly… và nổi bật trên tất cả sự ồn ào đó, là một giọng ca vui vẻ, sang sảng, làm rung chuyển các cửa kính:

Người đẹp Margoton

Sáng sớm trở mình dậy

Cầm cái bình bằng bạc

Đi tìm nguồn nước uống

Quán nước đối diện thì trái lại, im lặng và có vẻ như bị bỏ hoang. Cỏ dại mọc dưới thềm. Cánh cửa thì gãy. Trên cửa là một chùm cây ôrô héo tàn đong đưa. Những bậc thềm được kê bằng những viên đá lót đường!... Tất cả những điều đó có vẻ rất nghèo nàn, rất thảm thương, đến đỗi phải có một tấm lòng trắc ẩn thật sự để có thể ghé lại đó ăn uống một chút gì.

Vừa bước vào, tôi gặp ngay một căn phòng dài, hoang vắng và buồn bã, mà ánh sáng ban ngày chiếu rọi vào từ ba cái cửa sổ lớn không có màn che, làm cho nó càng buồn thảm và trống trải thêm. Một vài cái bàn xiêu vẹo mà mấy cái ly tách hoen ố bụi bặm lăn lóc ở trên. Một bàn bida bể, phô bày bốn cái lỗ hổng như bốn cái tô ăn mày. Một cái đi văng, một cái bàn thu ngân nằm im đó trong hơi nóng nặng nề, bẩn thỉu!... Và những con ruồi!. Và những con ruồi!. Chưa bao giờ, người ta thấy nhiều ruồi như vậy: trên trần nhà, trên các cửa kính, trên ly tách, từng đám!, từng đám! Khi tôi mở cửa, chúng nó bay lên rần rần, như tôi bước vào một tổ ong vậy.

Tận trong phòng, bên khung cửa kính, có một người phụ nữ đứng nhìn ra ngoài. Tôi gọi những hai lần:

- Nầy, cô chủ quán!

- Nầy, cô chủ quán!

Cô ta từ từ quay lại để cho tôi nhận thấy một gương mặt chất phác đến tội nghiệp, nhăn nheo nứt nẻ, màu bụi, đội khăn choàng hầu có dây ren đỏ lòng thòng, giống như những bà già ở xứ ta trang điểm vậy. Song le, không phải là một người đàn bà già, nhưng mà nước mắt đã làm phai tàn đi gương mặt!...

Nàng vừa hỏi vừa lau đôi mắt:

- Ông cần chi?

Tôi nói:

- Ngồi nghỉ ngơi một chút, và ăn uống cái gì đó!...

Nàng nhìn tôi rất ngạc nhiên mà không rời khỏi chỗ đứng, dường như nàng chưa hiểu!...

Tôi vội hỏi:

- Ở đây không phải là quán nước sao vậy?

Người thiếu phụ thở dài:

- Vâng!... Đây là quán nước, nếu ông cho là thế… Nhưng mà, tại sao ông không đi qua quán nước trước mặt, như những người khác. Như vậy thì vui vẻ hơn…

- Đối với tôi thì quá mức vui vẻ rồi đó. Tôi thích ngồi ở quán cô, tốt hơn…

Rồi không đợi nàng trả lời, tôi ngồi ngay xuống trước một bàn.

Khi yên chí là tôi nói chuyện nghiêm túc, cô chủ quán bắt đầu tới lui lăng xăng: mở tủ, khua động các chai rượu, lau chùi ly tách, xua đuổi mấy con ruồi… Người ta có cảm tưởng như vị khách nầy là một đại quan không bằng. Thỉnh thoảng nàng dừng lại, hai tay ôm đầu có vẻ thất vọng vì không nhớ ra điều gì đó.

Kế đến, nàng vào phòng trong. Tôi nghe động đậy xâu chìa khóa, mở khóa thùng bánh, thổi bụi, phủi bụi, chùi rửa chén dĩa… Thỉnh thoảng có một tiếng thở dài, một tiếng nức nở nghẹn ngào!...

Mười lăm phút sau của công việc bận rộn đó, tôi đã có trước mặt: một dĩa nho khô, một ổ bánh mì cứng như đá cuội và một chai rượu nho.

Con người lạ lùng nầy nói:

- Mời ông dùng bữa.

Và nàng trở lại ngay chỗ cũ trước cửa sổ.

Vừa ăn uống, tôi vừa gợi chuyện với nàng:

- Khách không thường tới lui nơi đây sao, cô chủ?

- Ô không!... Không ai cả!...

Khi trước, chúng tôi ở đây một mình thì khác. Chúng tôi là quán trạm nghỉ chân. Có những bữa ăn cho thợ săn trong mùa vịt trời. Những xe cộ đến suốt năm…

Nhưng mà kể từ ngày mấy người láng giềng đến đây lập nghiệp, thì chúng tôi mất tất cả.

Người ta thích đến quán nước trước mặt hơn. Người ta nhận thấy quán chúng tôi quá buồn tẻ.

Thật sự là ngôi nhà của chúng tôi không được mấy tươm tất. Tôi thì không đẹp. Tôi bị bệnh sốt rét. Tôi buồn rầu vì mấy đứa con của tôi đã mất…

Quán bên kia thì trái lại, người ta cười vui suốt buổi. Đó là một cô Arlésienne làm chủ quán, một phụ nữ đẹp thướt tha, có dây chuyền vàng quấn cổ. Vả lại cô ta cũng có nhiều kinh nghiệm. Các phu xe thì quay mặt đi, để đến với cô ta… Còn tôi, thì ở đây suốt cả ngày mà không có khách khứa nào vãng lai!.

Nàng nói với một giọng lơ đễnh, lạnh nhạt, mà mặt luôn luôn áp vào cửa kính. Rõ ràng là trong cái quán trước mặt có cái gì đó làm cho nàng bận tâm.

Thình lình, ở đầu đường kia, có xảy ra một sự nhộn nhịp. Xe song mã tiến đến ào ạt trong bụi mù… Người ta nghe tiếng roi quất, tiếng nhạc ngựa reo.

Mấy đứa con gái chạy ra cửa vừa la to:

- Adiousias!... Adiousias!...

Và tiếp theo đó, là một giọng hát sang sảng trổi lên thật tuyệt vời:

Người đẹp Margoton

Sáng sớm trở mình dậy

Cầm cái bình bằng bạc

Đi tìm nguồn nước uống

Mà chưa trông thấy gì

Ba kỵ mã quân đội

Chàng thứ nhứt tươi cười

Chào người đẹp duyên dáng

Nghe tiếng hát, cô chủ quán run rẩy cả người. Nàng day qua tôi và nói nhỏ nhẹ:

- Ông có nghe không? Đó là chồng tôi. Anh ấy hát hay phải không?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô ta:

- Thế nào? Chồng của cô cũng sang ca hát bên đó sao?

Nàng trả lời với một giọng buồn bã nhưng dịu dàng:

- Ông muốn làm sao đây, thưa ông? Đàn ông là như vậy đó. Họ không muốn nhìn thấy người vợ khóc; và tôi thì tôi khóc mãi, kể từ khi cái chết của mấy con… Kế đến là sự buồn bã của một cái tiệm nước to mà không có một ai đến cả… Vì thế, lúc buồn thì chồng tôi lại qua quán nước trước mặt để uống rượu và vì ảnh có giọng ca tốt, cho nên cô Arlésienne mới mời ảnh hát… Suỵt!... Kìa, ảnh lại hát.

Và rung cảm với những giọt nước mắt nặng nề, cô nàng trở nên xấu xí hơn… Và đứng trước cửa kính, nàng ta dường như mê mẩn để nghe chàng José của nàng ca hát cho cô Arlésienne nghe:

Người đẹp Margoton

Sáng sớm trở mình dậy…

Dịch thuật: THANH CHÂU

NGƯI ĐI

ĐÀM LAN

Tiếng chim lách chách chuyền qua những tán lá xanh ngắt, đang đong đưa theo làn gió sớm, lấp lóe vài chùm nắng ban mai.

Tôi vùng dậy, thức đã lâu, nhưng tôi chưa vội ra khỏi giường, vì còn muốn nán nán thêm chút hơi ấm gối chăn, lại thêm tiếng những chú chim ríu ran buổi sớm thật thú vị nhưng nếu nằm thêm tí nữa thì thành con cá ươn mất. Tôi vươn vai rồi thu dọn mùng mền gọn ghẽ. Đi ra sân sau, ngang qua phòng chị Hai, tôi lén nhìn vào. Chị đang cắm cúi trên trang giấy, ngọn đèn bàn vẫn điềm tĩnh nhả từng chùm ánh sáng. Chắc chị lại thức trắng đêm qua rồi. Tôi thầm hỏi: “Không biết ý tứ đâu ra mà chị viết lắm thế?” Có lần chị giải thích: Tự nhiên trong tâm trí mình, những ý nghĩ cứ tuôn ra, thôi thúc mình phải cầm bút viết nó ra giấy, nếu vì một lý do nào đó mà không viết ngay nó ra được, thì có khi nó mất hút không tìm lại được nữa. Vậy nên tôi thấy chị gần như viết cả ngày, có nhiều khi lại cả đêm. Sinh hoạt hàng ngày chẳng giờ giấc điều độ gì cả. Có lúc đang làm việc gì đó mà bắt gặp môt thoáng ý, chị bỏ dở việc đang làm, viết đã. Thi thoảng có đêm tôi thức giấc, nghe bước chân chị khẽ khàng lên xuống, dường như chị đang có điều gì suy niệm lung lắm vậy. Có khi là tìm một từ phù hợp với đoạn văn chị đang mô tả, có khi thì loay hoay với một đoạn kết của một cốt truyện, sao cho nhân vật của chị có tình có lý, trọn thủy vẹn chung. Đó là tôi nghe chị nói lại trong một lúc khác, chứ trong những lúc chị đang suy niệm thì chớ dại mà chen vào, làm bay biến mất thì không đền được đâu.

Vì vậy nên tôi nhè nhẹ đi ra sau rửa mặt. Xong, biết thói quen của chị tôi cắm cái ấm điện pha cho chị một ly cà phê sữa. Khi bê đến cửa phòng chị, tôi thận trọng:

- Chị Hai…

Ngẩng lên thấy tôi, chị vui vẻ vẫy:

- Vô đi nhỏ.

Đặt ly cà phê lên bàn, tôi hỏi:

- Chị lại thức suốt đêm à?

Chị cười, nét mặt không có gì là mệt mỏi:

- Đầu hôm chị có ngủ được một chút, gặp cơn mơ ngồ ngộ, tỉnh dậy nảy ra một đề tài, thế là không ngủ được nữa.

- Em chịu chị thật, mơ mà cũng thành chuyện được.

Hớp một ngụm cà phê, chị khoan khoái nói:

- Biết làm sao được khi đam mê nó thôi thúc và lôi kéo. Sao em dậy sớm thế?

- Cũng định nướng thêm một chút nữa mà không được, dậy sớm cũng thành thói quen rồi chị ạ.

- Ừ, thói quen tốt giúp ta có sự chừng mực. Con gái mà ngủ nướng coi chừng “chống ề” đó em.

Tôi phì cười:

- Càng tốt, em được ở mãi với chị, không sợ bị chị đuổi đi.

Một cái lườm thật ngọt:

- Ối giời, chưa đến lúc đấy.

Tôi ôm vai chị cười lỏn lẻn:

- Đi ăn sáng với em đi.

- Thôi, em đi đi rồi mua đại cái gì về cho chị cũng được, chị viết nốt đoạn này đã.

Tôi nghe lời chị, chị lại cúi xuống trang giấy. Khi tôi về với gói bánh cuốn nóng trên tay, thì chị đã nhoài ra giường, nét mặt như đang cười. Nếu có phải chị đang mơ, thì tôi mong cơn mơ này dài hơn cơn mơ trước. Để gói bánh lên bàn, tôi khép nhẹ cánh cửa phòng, trước khi cánh cửa phòng khép hẳn, ánh mắt tôi chạm phải bức di ảnh của mẹ. Một chút bần thần, mênh mang…

Chị Hai hơn tôi bốn tuổi, chúng tôi chỉ còn nhớ được mặt người cha qua bức ảnh bán thân trên bàn thờ. Mẹ tôi là một phụ nữ tầm tầm, cả vóc người lẫn các khả năng. Vì vậy mà tuổi thơ chúng tôi không phải là một bức tranh nhiều màu săc lắm. Ba mẹ con cứ lúc cúc như bầy gà, gà mẹ mỗi lúc nhặt được gì lại túc ầm lên gọi hai con. Thúng xôi trễ bên sườn mẹ từ khi trời còn tối. Tiếng rao như tiếng hát thật ngọt len vào khắp các ngõ xóm. Tiếng rao ấy như khúc ru tuổi thơ tôi, như nhịp hò mái đẩy cho chị em tôi từng bước đến trường. Nhưng ông trời oan nghiệt, đã tắt nghẹn tiếng rao ấy vào một ngày mưa lâm thâm buốt giá. Khi chị tôi chuẩn bị thi vào đại học, còn tôi thì ngấp nghé cổng trường cấp III. Mẹ tôi đổ xuống, kéo theo cả một tương lai phía trước của chị. Và tôi, chắc chắn cũng chẳng hơn gì nếu chị tôi không mau chóng nhận ra vai trò “Quyền tỉ thế mẫu” của mình. Hoàn cảnh luôn là một động lực cho sự trưởng thành. Chị tôi lau khô dòng nước mắt, cuộn lên gáy mớ tóc thề lưng lửng ngang vai, xếp những trang giấy vời vợi ước mơ vào góc tủ. Và thúng xôi ngày ngày trễ bên sườn mẹ, giờ đeo bên sườn chị, trông có vẻ nặng nề hơn. Tiếng rao non nớt, nghèn nghẹn. Đôi mắt chị càng sâu vì khuya sớm, lại càng ráo hoảnh trước những trớ trêu cuộc đời. Đôi mắt ấy chỉ lưng tròng mỗi khi tôi bỏ học theo bạn đi chơi, cho dù chỉ là một buổi học thêm. Chị không la mắng, quát tháo, nhưng tôi lại rất sợ khi chị khóc. Nhìn chị khóc thì lòng dạ cứ như đứt ra từng đoạn, chị khóc không ra tiếng, đôi môi mím chặt, run run, ép tiếng nấc lục khục trong cổ họng, hai bờ vai rung rung, hai mi mắt đỏ mọng, hai bàn tay nắm chặt. Mỗi lần như vậy, tôi ôm chặt lấy chị, khóc lóc hứa hẹn không sai phạm nữa. Và rồi tôi nhận thức một cách rõ rệt những gì chị đang cố gắng cho tôi, tự nhắc mình nhiều hơn để không làm chị buồn. Hình ảnh sương khuya nắng sớm và sự ra đi của mẹ, khiến tôi luôn thắc thỏm mỗi khi chị lọ mọ ra đường trong lúc bao người còn đang say giấc. Nỗi lo sợ ấy cứ ám ảnh mãi, một ngày tôi không kìm được nữa, níu tay chị khóc nói:

- Chị Hai à, chị đừng đi bán như vầy nữa, em sợ lắm, chị có thể tìm được việc khác tốt hơn mà chị Hai…

Vuốt tóc tôi, chị hiểu được nỗi sợ của tôi. Và rồi chị treo cái vật bất ly thân của mẹ lên vách. Cậm cạch với mớ từ vựng Anh văn vào những buổi tối. Rồi chị hớn hở cầm cái vốn liếng kiến thức ít ỏi của mình đi gõ cửa. Nhưng mọi chuyện không dễ dàng như chị em tôi nghĩ. Tấm thân mảnh mai của chị càng mảnh mai hơn sau những lời từ chối khéo:

- Cô thông cảm, đây vừa nhận được người rồi…

- Cô vui lòng, chúng tôi đang bận quá…

Hay làm ra vẻ tốt bụng:

- À để tôi giới thiệu cô đến…

Hoặc sự trì hoãn:

- Cô cứ về đi, có gì chúng tôi sẽ liên lạc sau.

Cứ thế, chị em tôi ngắc ngoải theo những lời ngẫu hứng vô chừng. Thực ra nếu để tìm một công việc tàm tạm cho qua thì cũng không đến nỗi quá khó, nhưng chị em tôi muốn chị tìm được một công việc có tính lâu dài và hướng phát triển về sau. Cóp nhặt những mẩu vụn không đầu không cuối từ những nghe ngóng loanh quanh, chúng tôi hiểu ra rằng, không phải chỉ có kiến thức là đã đủ, mà để có được điều mình đang mong muốn, cần phải có thêm một số điều kiện kèm theo khác. À ra thế! Xã hội thì quá phức tạp, chị tôi thì quá đơn giản, làm sao đáp ứng được những yêu cầu ngoắt ngoéo ấy. Nhưng chị tôi chưa vội nản chí, chị vẫn nhẫn nại, hy vọng rồi một ngày sẽ có được kết quả tốt. Thế rồi cũng đến một ngày, chị tôi cố nuốt cái cảm giác mình như một món hàng trong ánh mắt quét ngang, lướt dọc của một tay tuyển nhân viên cho một công ty tư nhân, và một lời hứa hẹn lưng chừng:

- Có khả năng có việc cho cô đấy. Chiều cuối tuần cô đến công ty phỏng vấn nhé.

Niềm vui nhen nhóm. nhưng vẫn có chút gì gờn gợn trong trực giác của chị. Còn tôi cứ vô tư:

- Trời ơi! Còn mấy ngày nữa mới đến cuối tuần, sao họ không hẹn đầu tuần cho mau hả chị.

- Người ta bao nhiêu việc chứ có phải mỗi việc của mình đâu mà.

Tôi phập phồng, thấp thỏm nhìn theo dáng chị trên chiếc xe đạp liêu xiêu. Thời gian trong tôi như ngưng đọng trong sự chờ đợi. Tôi cứ ngóng mãi ra cửa rồi lại liếc nhìn đồng hồ. Mấy tiếng đồng hồ đã trôi qua, bỗng chiếc xe đạp vọng tiếng cút kít, tôi mừng rỡ chạy ào ra đón chị. Nhưng chị không nhìn tôi, quăng cái xe đổ kềnh và xấp giấy lả tả, chị đâm sầm vào nhà úp mặt lên giường khóc tức tưởi. Tôi cuống cuồng, hỏi han, nhưng chị vẫn khóc. Tôi chẳng làm sao được cũng khóc theo. Mãi lúc sau, đã tạm bình tâm trở lại, tôi mới nghe được chuyện xảy ra thế nào. Ra đó là một địa điểm trá hình của bọn chuyên lừa dảo phụ nữ. May mắn cho chị tôi là do trực giác không yên, nên vừa thoáng thấy có dấu hiệu khác lạ, chị đã lẻn trốn ra ngoài bỏ chạy, suýt bị bắt lại. Trời ạ! Suýt tí nữa thì tôi đã không còn dược nhìn thấy chị. Ơn Trời! Có phải mẹ khôn thiêng mà phù hộ cho chị em con đấy không?

Sau chuyện bất trắc ấy, chị tôi không đi tìm việc làm nữa, mà loay hoay thế nào chị lại bắt tay vào một công việc. Đó là dịch sách báo nước ngoài, và viết văn. Ngày còn đi học, chị cũng có chút văn khiếu, không ngờ có lúc nó lại là cứu cánh. Chuyện đời bao dằn xóc, bức ách giúp chị viết chắc và hăng hơn. Duyên chữ nghĩa bắc cầu, đôi ba giải thưởng đã giúp chị có chút thành tựu trên văn đàn. Dù chưa là gì, nhưng cũng đủ giúp chị em tôi bước qua chiếc cầu gập ghềnh, khúc khuỷu. Tôi đã bước được vào cổng trường Đại Học Y khoa, thực hiện ước mơ xưa của mẹ. Cây kim của tôi cũng có chức năng tựa như cây bút của chị, chích vào những nỗi đau để chữa những nỗi đau cho con người. Và tôi luôn tâm niệm lòng mình: Sẽ cố gắng để xứng đáng với những âm vọng tiếng rao xưa của mẹ tôi, với những chắt chiu, vun đắp của chị, sẽ là một chữ NGƯỜI đúng nghĩa.

ĐÀM LAN


|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
 54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
 59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
 69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
 74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
 84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
 89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
|  54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
|  59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
|  69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
|  74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
|  84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
|  89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
Netadong.com thiết kế