Hiện có 3 người xem / 1308969 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 14/7/2012

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA VÀ NAY

Như thường lệ, Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã giới thiệu với các thành viên 2 cuốn sách: Cuốn đầu là một cuốn sách nghiên cứu bằng tiếng Anh nói về Hội Tam Điểm (The Freemasons), một Hội Kín dữ dằn nhất trong các Hội Kín tự cổ chí kim. Cuốn sách khổ 13x20 cm, dày 340 trang của tác giả Jasper Ridley, được in ở Luân Đôn năm 2008. Tuy chẳng bao giờ thèm lưu tâm tới “Cô Chị” (Chính trị), nhưng người viết rất tò mò về cái hội kín đầy quyền lực này, nên khi mua được người viết thích quá. Những điều đại cương mà người viết biết về Hội Tam Điểm là những điều dưới đây:

1/ Hội Kín này tên tiếng Anh là Freemasonry và tên tiếng Pháp là Franc-maconnerie và là kẻ thù chung của Đảng Cộng Sản – của Thiên Chúa Giáo và của Đảng Phát Xít Đức.

2/ Hội Kín này có những hội viên là những nhân vật lẫy lừng thế giới như: ở Mỹ là các Tổng Thống Washington – Jefferson – Grant – Abraham Lincoln – Franklin Roosevelt, Truman, và Lyndon B. Johnson. Ở Pháp là Jules Ferry – Paul Doumer – Mendès-France (Chính trị), Voltaire (Văn học). Ở Việt Nam ta thì có Vua Duy Tân khi ông bị lưu đày ở đảo Réunion. Với cuốn sách này người viết sẽ hoàn toàn được đáp ứng mọi sự tò mò liên quan tới Hội Kín này.

Cuốn thứ 2 là một cuốn Từ Điển Nhân Danh, Địa Danh & Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật Trung Quốc (với 2 phiên âm Pin-Yin và Wade-Giles) của tác giả Hoàng Xuân Chính là một Bác sĩ hiện đang định cư ở Houston (Mỹ). Sách khổ 14x21cm, dày 718 trang và được in ở Mỹ và bán với giá 35 Mỹ kim. Người viết tình cờ gặp được cuốn Từ Điển này tại cửa hàng sách của một cô bạn thân và được cô để cho với một giá “cực kỳ ân huệ”. Thực là may mắn cho người viết vì đây là một trong những cuốn sách mà người viết thích nhất, và thèm, và cần có nhất. Giả sử người viết gặp nó tại một nơi khác, thì sẽ cần phải có ba cái đầu để bị trảm quyết cùng một lúc. Sở dĩ người viết yêu quý cuốn sách này vì, với nó, khi người viết đọc sách của Tây Phương viết về Trung Quốc, gặp những danh từ Hoa ngữ được La Mã hóa theo 2 phiên âm Pin-Yin và Wade-Giles, thì sẽ biết được chúng chỉ nhân vật nào, địa phương, địa danh nào, tác phẩm văn học, nghệ thuật nào.

Nội chỉ việc có thể biết rất chính xác tên các nhân vật chính trong các tiểu thuyết danh tiếng của Trung Hoa như: Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, Tam Quốc, Tây Du, Nho Lâm Ngoại Sử, Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai, Thuyết Đường, Phong Thần, Chinh Đông, Chinh Tây, Quỳnh Giao, Kim Dung vv… được Tây Phương La Mã hóa như thế nào cũng đủ làm chủ nhân cuốn sách sướng rên lên rồi!

Sau phần giới thiệu sách, anh Phạm Vũ có nói truyện về chuyến du lịch trở về thăm quê anh, và có kể nhiều chuyện về Mạc Đăng Dung và Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời anh cũng có nói về 5 thành nhà Mạc vẫn còn di tích.

Tiếp lời anh Phạm Vũ, anh Trần Văn Hữu có lên nêu vài ý kiến về mấy loại thơ mới và vài nhân vật đang được ca cẩm vân vân và vân vân, sau đó anh ngâm tặng các thành viên một bài thơ rất truyền cảm, do giọng ngâm rất hay Trời phú cho anh. Sau khi anh Hữu nêu vài ý kiến về thể loại thơ mới, các thành viên đã tham gia tranh luận rất sôi nổi, nhưng chẳng đi tới đâu vì mạnh ai tôn trọng ý kiến của chính mình, và cuối cùng quan điểm chung là thơ mà hay thì phải đi thẳng ngay vào lòng người, và người đây là tất cả mọi người chứ không phải chỉ vài nhóm, và rồi qua thử thách của thời gian (cách đánh giá quan trọng và chính xác nhất) NHỮNG GÌ CÓ CHÂN GIÁ TRỊ SẼ TỒN TẠI, sẽ được người đời nhớ tới những gì dzổm sẽ tự chúng tàn lụi, chẳng ai thèm nhớ tới, và một điều chính xác như hai với hai là bốn là NHỮNG CHÂN GIÁ TRỊ SẼ CHẲNG CẦN AI KHEN, MÀ CŨNG CHẲNG SỢ AI CHÊ…

Sau khi cuộc tranh luận sôi nổi kết thúc với những kết luận như trên, để thay đổi không khí, anh Lê Minh Chử đã thổi tặng các thành viên một bài sáo rất hấp dẫn.

Tiếp theo là anh Thanh Châu lại hùng dũng hát tặng các thành viên bài “5 anh em trên chiếc xe tăng”, và buổi họp rất hào hứng này kết thúc vào lúc 11 giờ 15 cùng ngày. 



Vũ Thư Hữu

VÀI CHI TIẾT VỀ CUỐN

“TOÀN BỘ CÁC TRUYỆN NGẮN

CỦA GUY DE MAUPASSANT”

(COMPLETE SHORT STORIES

OF GUY DE MAUPASSANT)

MÀ TÔI VỪA CÓ DUYÊN MAY CÓ ĐƯỢC

Năm 1978, khi tới thăm Linh Mục Trần Thái Hiệp, Giám Đốc Đại Chủng Viện, tôi tình cờ thấy trong tủ sách của Cha bộ “Toàn Bộ Tác Phẩm của Guy de Maupassant gồm 3 cuốn” (Oeuvres complètes de Guy de Maupassant en 3 volumes), mỗi cuốn dày trên 1000 trang bằng giấy Thánh Kinh, là thứ giấy cực mỏng và bền, có thể nói không ngoa rằng đây là loại giấy tốt nhất tự cổ chí kim, và cả trong tương lai nữa. Thấy tôi thích quá, Cha bảo tôi cứ cầm về đi vì Cha biết tôi chơi sách và rất ham đọc. Tôi liền mời Cha ghé thăm nhà và tặng Cha một phác thảo cỡ 30x40 cm của Nguyễn Trí Minh vẽ một Thánh Đường ở Mỹ, vì tôi biết Cha rất thích tranh. Trong bộ sách bằng Pháp văn 3 cuốn đó có 1 cuốn dành riêng cho trên 200 truyện ngắn của Maupassant. Có bộ sách trong tay, tôi đã để gần một năm trời để đọc những truyện ngắn tuyệt vời đó. Tôi tuy được học tiếng Pháp từ bé, nhưng năm 1954, theo cha mẹ vào Nam, năm ấy tôi vừa tròn 20 tuổi, thì Pháp thua ở Điện Biên Phủ và khăn gói về Pháp. Thế là tôi buộc lòng phải quay sang sử dụng tiếng Anh, do đó, sau khi có bản tiếng Pháp, tôi luôn luôn mong ước có được bản dịch tiếng Anh để đối chiếu (vì đó cũng là một cách tuyệt vời để trau dồi tiếng Anh). Mấy chục năm về trước, nhất là ở Tây Phương, những tác phẩm của các tác giả lớn như Maupassant đều được dịch một cách thật nghiêm túc, chính xác, tuyệt đối không có “dịch loạn” như ở ta hiện nay. Tôi ôm trong lòng ước mong có bản dịch tiếng Anh đó từ 1978 tới nay là vừa đúng 34 năm, và năm nay, năm thứ 34 là năm ước mơ của tôi thành sự thật. Cách đây 6 tháng, một thành viên trong CLB Sách Xưa và Nay của tôi, Bà Tâm Nguyện, có làm một chuyến Mỹ du, và trong chuyến đi bà có ghé thăm một chợ sách cũ ở Mỹ; tại chợ sách này bà đã mua được cuốn “Complete short stories of Guy de Maupassant” này và sau khi đem khoe nó trong một buổi họp, bà đã nhường lại nó cho tôi. Thật là tuyệt vời vì cuốn này cũng làm bằng giấy Thánh Kinh, bìa bằng da heo và cũng dày 1003 trang với 3 cạnh mạ vàng. Mặc dầu cuốn sách được in năm 1903 (109 năm trước) nhưng 3 cạnh mạ vàng vẫn còn óng vàng tuyệt đẹp. Có cuốn quý thư trong tay, tôi đọc ngay vài truyện và thấy các dịch giả (khuyết danh) nhưng dịch quá hay, quá sát và trên sách có ghi là “In ở Mỹ”.

Trong đời chơi sách và đọc sách của tôi, tôi đã đọc sách của trên dưới 500 tác giả, nhưng số tác giả tôi thật sự yêu thích lại chỉ có trên dưới 20 chục người mà những người tôi thích nhất là: Victor Hugo, Honoré de Balzac, Eugène Sue, Paul Féval, Voltaire, Swift, Maupassant, Marcel Proust, Edmond About, Charles Dickens, Jules Verne, Conan Doyle…

Maupassant cũng là một tác giả tôi thích nhất và thấy tội nhất vì ông chết quá trẻ, năm ông mới 43 tuổi. Ông tên đầy đủ là Henri René Albert Guy de Maupassant (1850 – 1893), khi chưa đầy 10 tuổi cha mẹ ông ly dị và ông và em ông tên là Hervé được giao cho thân mẫu nuôi. Bà này là bạn thân của nhà văn Gustave Flaubert, và là em một nhà thơ, nên bà cũng rất thích thơ văn và rất lo chuyện học hành cho Maupassant. Được sống với mẹ, một bà mẹ rất chiều và chăm lo việc học hành cho con, Maupassant là một thiếu niên khỏe mạnh, cao lớn, đã có một đoạn đời tự do, nhẩy nhót rong chơi, và cậu còn có thú đi chơi bằng thuyền nữa. Đây có thể là đoạn đời mà Maupassant được hưởng nhiều thú vui nhất trong cuộc đời vắn số của ông. Năm 13 tuổi Maupassant được mẹ cho nội trú ở Chủng Viện Yvetot, cậu học hành rất chểnh mảng, không ưa thích lối sinh hoạt của các tu sĩ trong Chủng Viện, nên cậu học thì ít mà làm thơ bậy bạ thì nhiều, và trong số nhưng bài thơ có rất nhiều bài nhạo báng các tu sĩ thầy học của mình. Một ngày kia Giám Đốc Chủng Viện bắt được những bài thơ đó và Maupassant bị đuổi học. Cậu lại được cho vào nội trú ở Trường Trung Học Rouen, ở chỗ này Maupassant học rất chăm chỉ và đậu Tú Tài ở đây. Khi cuộc chiến năm 1870 nổ ra, Maupassant vừa đúng 20 tuổi và gia nhập quân đội, và sau đình chiến vì nóng lòng muốn được sống ở Paris, Maupassant nhận một việc làm ở bộ Hải Quân với đồng lương thật ít ỏi, nhưng vào năm 1878, ông xin được việc ở Bộ Giáo Dục với lương bổng khá hơn nhiều. Đây là lúc ông bạn bè đàn đúm chơi bời thả giàn, bồ bịch lung tung, đùa rỡn không coi ai ra gì và rất được nhiều quý cô ưa thích vì ông cao lớn, đẹp trai, và rất vui tính. Maupassant đã tận hưởng mọi thú vui ở thủ đô và chưa hề cảm thấy dấu hiệu nào về căn bệnh thần kinh sau này sẽ làm ông chết sớm. Nhưng cùng thời gian đó, ông lại cũng học viết văn rất hăng say với sư phụ Gustave Flaubert, bạn của mẹ ông và bà cụ đã gửi ông cho Flaubert nhờ dạy viết văn. Nhờ Flaubert tận tâm dạy bảo Maupassant bắt đầu có một số tác phẩm được các độc giả ưa thích đón nhận và chỉ vài năm sau đã trở thành một tác giả danh tiếng và giàu có. Lúc này ông tuy sống và làm việc ở Paris nhưng lại cho xây một biệt thự rất đẹp ở quê nhà ở Normandie để thỉnh thoảng lại về nghỉ và viết văn ở đó. Cũng thời điểm này Maupassant bỗng nổi hứng muốn di chuyển và ông đã đi du lịch nhiều nơi như đến Đảo Corse (1880), sang Algérie (1881), sang Bretagne (1882), sang thăm nước Ý và Sicile (1885), sang Anh Quốc (1886), và sang Tunisie (1888-89). Lúc này Maupassant đã rất nổi tiếng, đi đến đâu cũng được đón tiếp chiều chuộng, và qua những chuyến đi này Maupassant đã có được cơ man nào là những cảm xúc mới lạ.

Lúc này công việc viết văn của ông rất bận rộn và mang lại rất nhiều tiền, ông trở thành giàu có, và cũng ăn chơi tới bến, nhất là về lãnh vực tình ái lăng nhăng, tình dục thả dàn. Nhưng mà rồi những dấu hiệu một căn bệnh tâm thần bắt đầu xuất hiện, Maupassant trở nên bồi hồi, bối rối, căng thẳng. Ông đã tâm sự với sư phụ Flaubert nhiều lần và tỏ ra lo lắng là dòng họ nhà ông có máu điên, vì em trai ông Hervé quả đã chết vì bệnh điên năm 33 tuổi. Tới năm 1889, các bạn bè của ông thấy rất rõ những đổi thay trên hình thể của ông. Từ một người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh, năng động vui tươi, ông bỗng trở nên rầu rĩ, cáu bẳn và thường xuyên cãi cọ với nhà xuất bản, với báo giới, với cả các y tá và bác sĩ của chính ông. Mặt ông trở nên hốc hác, thân hình gầy guộc, và ông chính thức tự coi là đã mắc bệnh điên. Cuối năm 1891, sau khi về thăm thân mẫu khi đó sống ở Nice, ông đã lấy dao tự rạch cổ, nhưng chỉ bị thương nhẹ. Các bạn bè mang ông trở lại Paris và ông bị đưa vào nhà thương điên tên là Maison Blanche, nơi ông khắc khoải sống trong mê loạn trong 18 tháng trời và qua đời năm 1893.

Được coi là nhà văn viết truyện ngắn số 1 của Pháp, Maupassant viết toàn những truyện rất hiện thực và không hề có tí tính chất triết lý nào. Những truyện ngắn của ông viết về đủ mọi hỉ, nộ, ai, lạc trong dòng đời và đi rất sâu vào lòng người đọc. Ông chả thèm viết lách nhố nhăng, ẩn dụ, với hiện dụ gì nhưng được mọi người yêu quý và nhớ đến rất nhiều. Một thí dụ cụ thể là nếu bạn quen những người bạn Pháp và hỏi về Maupassant thì ai cũng biết, nhưng nếu hỏi về Guillaume Apollinaire thì chỉ có một số nhỏ biết và nhớ thôi! Tuy chỉ sống một cuộc sống quá ngắn ngủi, nhung cuộc sống của ông, trừ mấy năm cuối đời, đã là một cuộc sống RẤT ĐÁNG SỐNG, hơn nữa VĂN TÀI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG MÀ MAUPASSANT ĐÃ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI CHẮC CHẮN ĐÃ VÀ SẼ KHIẾN ÔNG ĐƯỢC MUÔN THUỞ, khác hẳn với nhiều kẻ tiền rừng bạc biển, nhưng chẳng để lại cái cóc khô gì, thì khi chúng ra đi, hầu như chắc chắn là sẽ chỉ được VẠN NIÊN…

Trích Hồi Ký 60 năm chơi sách, Chương VI

Vũ Anh Tuấn



Người Thầy

KHÔNG DÁM ĐỨNG LỚP

Nhà văn thường nhìn chuyện đời theo con mắt vừa ngây thơ vừa đầy chủ quan mà chính họ không hay biết.

NVS

Tôi chưa biết mình nên ngồi vào bàn nào. Đứng lửng thửng, xớ rớ giữa phòng, chung quanh lắm cặp mắt ngó mình thì dị quá. Bối rối. Chờ đợi như lúc nhỏ chờ người lớn ai đó chọn giùm để mình khỏi một quyết định khó cân phân. Cũng hơi lâu. Thôi thì tự lo vậy, ai cũng bận bịu bạn bè, cũng tíu tít tay bắt mặt mừng người quen có khi vài ba năm mới gặp lại. Ai cũng lo chào người mới đến, gần như quên hết hoạt cảnh chung quanh. Tôi liếc mau một vòng. Bàn Giáo Sư thì nghiêm chỉnh phát sợ, thầy cô đều trên dưới bảy mươi, lại chỉ có độ một phần ba là quen mặt, chắc khó nói chuyện cho thuận tai thuận miệng. Bàn học trò thì chắc chắn vui hơn, trẻ trung, có bàn mình quen biết hầu hết. Tôi ngồi xuống một bàn khi thấy vài nụ cười chào đón quen quen, bàn của các Nứng. Như vậy dễ xử cho ban tổ chức, dễ cho mình khỏi lấn cấn.

Những câu chuyện cũng rôm rả như thường lệ dầu tôi ít nói, chỉ góp phần bằng tiếng cười hay những câu vuốt đuôi biểu đồng tình. Như là đến tuổi nào đó thì tính bén nhạy trong sự phát ngôn không còn nữa, những gì mình muốn nói hầu như đã có người nói giùm vài phút trước. Và trí mình luôn luôn lơ mơ suy nghĩ nầy nọ về câu nói đó tuy rằng nó cũng chẳng quan trọng hay mới mẻ gì cho lắm. Cứ như vậy trí tôi nhảy theo đuôi những câu nói trong khi chính mình im như củ khoai, ngồi thừ mơ màng.

Và tôi vui với bàn của mình. Chỉ cần cười góp cũng đủ lãng quên đời. Nâng ly vô vô dầu uống chẳng bao nhiêu, thiên hạ năm mươi hay chăm phần chăm tôi chỉ uống từng ngụm nhỏ, tiếng cũng nhỏ nhẹ, góp phần có mặt, góp hào hứng nhiều hơn là hưởng ứng uống, .

Và câu chuyện nầy dẫn đến chuyện kia tôi quên mất là mình đi với vợ, với bạn.

Một cái vỗ vai thân mật:

- Mầy tính ngồi đây luôn với mấy rể hả? Qua ngồi với tụi tao đi!

Tôi ngước lên cùng lúc với những tiếng chào nho nhỏ của nhiều người chung bàn chào người mới nói: “Thưa thầy, Thưa thầy”.

Có tiếng nói nhỏ của người biết chuyện:

- Thầy Tâm đó, xưa ổng chuyên môn đi tới gần cổng trường mới nhét áo vô quần, vừa ra khỏi lớp là kéo áo bỏ ra ngoài liền, rủ học trò đi đánh bi-da.

- Không tao ngồi đây được rồi. Xin miễn cho lên ngồi chiếu trên lúc nầy. Bổn phận các nứng là ngồi chung bàn với nhau. Nhường bàn quý Thầy lại cho tụi bây.

Thằng bạn tôi uống cạn ly với vài người học trò già của nó rồi khật khưởng đi qua bàn khác. Chắc chắn là hắn ta đi qua bàn khác, ông trời con nầy chẳng chịu về bàn mình liền đâu, tôi biết chắc mẳm điều đó. Một người thân mật nói với tôi:

- Bàn nứng của mình vui ha! Năm nay nứng lại về nữa ta!

Tôi gật đầu cười, trong khi hất hàm về phía người bạn vừa mới đi:

- Chừng nào anh ta còn sống thì tôi còn về. Đó là cái cớ dễ thương phải không các nứng rể?

Một anh khác:

- Già như nứng còn đi được là tốt quá rồi. Nghe nói ngồi máy bay mấy chục giờ liền. Cũng mệt. Khá lắm đó!

Một câu khen hình như của người thiệt biết chuyện, nói lớn mà không cần biết nói với ai:

- Nứng coi đầu bạc trắng nhưng tâm hồn còn trẻ trung chán, ngồi với anh em mình thì hợp quá. Nứng về để tìm tòi sách vở cũ xưa, nhứt là sách Nôm.

Nhiều người day qua hỏi nhỏ bạn ngồi kế “Sách Nôm là sách gì?”

Tôi lên tiếng, cũng là cái phao đổi thay đề tài:

- Sách của ông bà mình viết trước khi người Pháp đến nước ta, trước khi có chữ quốc ngữ. Loại chữ đó già còn hơn ông cố tôi, lâu rồi, hiện giờ còn rất ít người biết.

Một anh chàng ngổ ngáo lớn tiếng vui vui:

- Bù trất. Biết chết liền. Thôi kệ nó ba cái chữ Nôm, mình vô chút coi! Khát nước rồi.

Không khí coi bộ vui hơn. Tôi hào hứng cũng uống hai ba ngụm lớn.

Một người hơi chững chạc, ngập ngừng hỏi:

- Hình như anh trước đây có dạy ở trường nầy?

- Ờ, có mà như không có, tôi về trường nhận việc cuối năm 1963, vừa ngay sau khi ông Diệm bị đảo chánh, lâu lắm rồi, lúc vừa mới bước qua tuổi hai mươi vài năm. Thế nhưng lại không dám đứng lớp. Chuyện hơi dài dòng.

Cả bàn im phăng phắc.

***

Người thanh niên rụt rè trình Sự Vụ Lịnh cho ông Hiệu Trưởng, cũng thuộc lứa tuổi mình. Ông Hiệu Trưởng thân mật mời khách ngồi xuống ghế trước mặt rồi xin phép khách chờ chút xíu, cầm Sự Vụ Lịnh qua phòng nói là nhờ Giám Học xếp giờ liền.

Độ mười phút sau ông về, tươi cười:

- Anh bắt đầu dạy tuần tới nha, bây giờ cũng lỡ cỡ, tuần tới dạy nguyên tuần cho tiện, anh dạy 12 giờ. Hai lớp Đệ Tam, một lớp Đệ Ngũ, Việt Văn, hai lớp Đệ Thất, Công Dân.

Khách chỉ cười, không phát biểu ý kiến. Họ biết mình tay mơ nên chỉ xếp những lớp nhẹ nhàng. Lớp Đệ Tam học trò ít chuyên cần, nhứt là môn Việt Văn, không có chuyện mất căn bản nên học sinh thường dưỡng sức cho năm sau.

Một lúc sau Giám Học bước vào, đi với người anh của khách:

- Anh Xuân, xin giới thiệu, anh Thơm, bạn cùng khóa với tôi ở Đại Học Sư Phạm, anh của ông Giáo Sư mới nầy.

Không khí coi bộ thân mật hơn.

Ông Hiệu Trưởng nói trong khi dượm đứng dậy:

- Anh Lục, sao mình không dẫn anh S. đi một vòng thăm lớp của anh ấy cho quen lớp, quen học trò?

Bốn người ra tới cửa văn phòng thì ông nói thêm:

- Mà thôi! Nhờ anh! Tôi sực nhớ lại là mình còn mấy chuyện cần giải quyết liền.

Khách thả bàn toán trong trí: Ông Hiệu Trưởng ngoại giao ghê, và tế nhị nữa. Có thể ông muốn để không khí thân mật lại cho ba người vốn quen biết nhau trước.

Đến trước một lớp đang im phăng phắc, Lục nói nhỏ:

- Lớp của anh Sơn, dạy Lý Hóa. Sơn dạy hay, vui mà học sinh đều ngán vì thường bị truy bài.

S. nheo mắt với Sơn. Biết nhau quá mà! Tối qua cả bọn đi đánh bi-da trả tiền bàn và chầu cà phê, về khuya bị chủ nhà khóa cổng, Thầy giáo phải tháo giày để leo rào vô. Sáng nay trông hắn nghiêm chỉnh khác thường.

Một cô học trò áo dài trắng thanh tú cầm viên phấn, tay buông thỏng, đang đứng trước bảng đen, dáng e thẹn ngại ngùng khi thấy khách.

Lại một màn giới thiệu thầy mới cho tuần tới.

Cả lớp hơi ồn ào bàn tán. Ánh mắt cô học trò đương đứng trên bảng, liếc nhìn đánh giá người thầy mới. S. thấy đôi mắt đẹp, trong sáng và thơ ngây. Cặp mắt có chút hoang dại của người Miên với tròng đen tròn lớn, vành mắt sâu, chút lãng mạn và cao sang của người Tàu của một chút xếch nhẹ thật nhẹ ở đuôi mắt. Người con gái cúi đầu xuống nhìn chân mình như bối rối. S. kéo nhẹ áo hai người kia nhắc là thôi để Sơn nó làm việc…

Và tôi ở lại nhà trọ của các bạn chơi hoang luôn cả tuần để rồi về Sàigòn không xuống nữa.

Vậy đó, tôi đến và đi như cơn gió thoảng. Bước vào lớp như một người sẽ làm thầy, và bỏ trường đi vì trốn chạy một ánh mắt.

Có nhiều tiếng ồ ồ, ngạc nhiên và suy nghĩ.

Người ngồi kế bên hỏi S.

- Nứng vẫn còn chưa nói hết. Có gặp ánh mắt, có thấy một cử chỉ nhưng tại sao bỏ trường, chúng tôi vẫn chưa hiểu.

Chuyện không có gì. Nhưng phải nói cho dài dòng tâm sự. Tôi thích tỉnh nhỏ yên bình, yêu những ngôi chùa Miên có kiến trúc Khmer đặc biệt màu vàng với nhiều đường nét cong cong. Những địa danh Kế Sách, Xẻo Gừa, Bố Thảo,Vũng Thơm, Đại Ngãi, cù lao Dung, Bãi Xàu… Với những cánh đồng lúa mút tận chơn trời quyến luyến lòng tôi. Chùa Năm Ông, Chùa Ông Bổn, Bún mắm, Bánh pía, mè láu… đặc danh, và những người đàn bà Miên nói tiếng Việt lơ lớ thiệt thà cho tôi một cảm giác thiệt là thanh bình dầu trong một đất nước đương có chiến tranh. Thế nhưng có một sự kiện nho nhỏ… Tiếc quá! Cô nữ sinh có đôi mắt mê hồn kia lại ở kế bên nhà trọ của chúng tôi. Dì của nàng làm chủ nhà trọ và nấu cơm cho các thầy. Người dì thường nhờ nàng dọn cơm cho chúng tôi. Sự bẽn lẽn rụt rè ban đầu đã từ từ vơi đi. Tôi thấy thích cặp mắt đó. Những ngày chót của tuần lễ trên bàn dùng làm phòng khách có cắm nhiều hoa. Tôi nghĩ rằng mình không nên dạy ở đây vì có một người con gái đương chờ tôi ở Sàigòn. Tôi trốn chạy để bảo vệ một ánh mắt đẹp miền quê thì đúng hơn.

Câu chuyện riêng tư nầy kể ra chỉ có mục đích trả lời câu hỏi trên.

Có tiếng ai đó trầm ngâm, giọng triết lý:

Thật ra là trốn chạy ánh mắt của lương tâm, ánh mắt Caen.

Vâng! Đúng! Mọi chuyện đều có thể xảy ra. Khi thấy mầm xấu bắt đầu xuất hiện thì phải hủy nó ngay. Để cho tới khi đã thành cây thì hơi khó. Ở đây nếu nói là Tình Yêu thì tự thân nó là điều thánh thiện, nhưng có lẽ trong vị trí của tôi lúc đó, sự nghiêm khắc với chính mình là điều cần thiết, dù sao tôi cũng mới ra trường, sự nghiệp giáo dục là một lý tưởng của tôi...

Gần năm mươi năm rồi, tôi vẫn còn nhớ vóc dáng mảnh mai đó, cặp mắt man dại và đài các pha trộn hai ba dòng máu đó, nhưng không có ý định đi tìm quá khứ. Định mệnh con người như sự di chuyển của những thiên thể và những đám tinh vân trong vũ trụ. Hội tụ đầy đủ những điều kiện nào đó thì hai bên được gặp nhau, khi điều kiện hết thì cuộc hành trình của ai tiếp tục theo quỹ đạo nấy. Điều kiện khoa học đó ông bà mình gọi bằng từ dễ hiểu là duyên. Có duyên thì gặp không có duyên thì lìa. Sự suy nghĩ của mỗi người để quyết định tạo sự hợp/lìa cũng là do cái duyên điều khiển, thúc đẩy gián tiếp mà ta không hay biết.

Hình như sau câu nói của S. tất cả chín nứng ngồi cùng bàn đều quay về tìm ánh mắt duyên của mình.

S. nói thêm sau khi hớp một ngụm bia:

Chúng ta không cải sửa được điều đã xảy ra. Ánh mắt kia tôi đã chọn thái độ là buông cho mất đi để bảo toàn nó. Sau đó thì dầu muốn cũng không thể nào tìm lại được nữa. Thế nhưng đây cũng chưa chắc là điều thiệt thòi. Có được ánh mắt của lương tâm không phải là chuyện dễ. Và có được một ánh mắt để làm hành trang trong đời còn quí hơn là chiếm đoạt nó…

Dường như bàn của các nứng im lặng hơn các bàn chung quanh, ít nhứt cũng là năm bảy phút. Tiếng nhạc hơi ồn nhưng giọng ca lảnh lót của cô ca sĩ mới nổi láy mấy câu Nỗi Buồn Hoa Phượng của nhạc sĩ Thanh Sơn nghe tê tái không diễn tả được: Ngày mai xa cách, hai đứa hai nơi. Phút gần gũi nhau mất rồi… Người xưa biết đâu mà tìm.

Victorville, CA, June 2012

Nguyễn Văn Sâm 

(Viết riêng cho tập san Kỷ niệm 50 năm thành lập trường Hoàng Diệu)

Ghi Chú : Nứng, Tiếng để gọi anh rể của người vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, có nguồn gốc từ tiếng Tiều như chế, hia, chệt, tía…


Thăm Virginia

VỚI CỐ ĐÔ RICHMOND

Đây là một trong hai Tiểu bang (cùng với Maryland), Virginia đã nhường một khu đất nhỏ để Tổng thống đầu tiên xây Thủ đô Washington bé nhỏ, riêng biệt với các Tiểu bang khác. Virginia được đặt tên theo tước vị trong thi ca “The Virgin Queen” của Nữ hoàng Anh Elizabeth – vị Nữ vương sống độc thân trọn đời - Thuộc địa này thành lập trong thời trị vì của Bà.

VIRGINIA (VA) LÀ LÃNH THỔ ĐẦU TIÊN CỦA THUỘC ĐỊA BẮC MỸ

- Tiểu bang này là nơi mà vào năm 1607, một nhóm người nông dân Anh tạo dựng Thuộc địa ở Jamestown đầu tiên đặt chân lên Bắc Mỹ, sau đó khi giành được độc lập thì VA là một trong 13 Tiểu bang nguyên thủy của Hoa Kỳ.

- VA là một trong 4 Tiểu bang sử dụng tên “The Commomwealth of Virginia”, 3 Tiểu bang khác là: Pennsylvania, Massachusetts và Kentucky. 46 Tiểu bang còn lại sử dụng “The State” đi kèm với tên của mỗi Tiểu bang.

- VA là quê hương của vị Quốc phụ, Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông sinh ở Wakefield, hạt Westmoreland. Hiện nay, tại đây có bảo tàng, tượng đài tưởng nhớ tới Tổng thống Washington.

VIRGINIA LÀ “MẸ CỦA 8 TỔNG THỐNG VÀ “MẸ CỦA 3 TIỂU BANG”

Tiểu bang Virginia là “Mother of Presidents”, bởi vì đây là nơi sinh ra 8 vị Tổng thống Mỹ:

- TT thứ 1: George Washington,

Sinh quán: Westmoreland Co., VA (1732-1799)

- TT thứ 3: Thomas Jefferson,

Sinh quán: Shadwell, VA (1743-1826)

- TT thứ 4: James Madison,

Sinh quán: Port Cornway, VA (1751-1836)

- TT thứ 5: James Monroe,

Sinh quán: Westmoreland Co.,VA (1758-1831)

- TT thứ 9: William Harrison,

Sinh quán: Berkeley, VA (1773-1841)

- TT thứ 10: John Tyler,

Sinh quán: Greenway, VA (1790-1862)

- TT thứ 12: Zachary Taylor,

Sinh quán: Orange Co.,VA (1784-1850)

- TT thứ 28: Woodrow Wilson,

Sinh quán: Staunton, VA (1856-1924)

Tiểu bang Virginia cũng là “Mother of States”, bởi vì một phần của Thuộc địa cũ này trở thành các Tiểu bang: Kentucky (KY), Indiana (IN) và West Virginia (WV) - Đặc biệt, trước thời Nội chiến, WV nằm trong tiểu bang VA, nhưng khi Nội chiến bắt đầu, sau Hội nghị Wheeling, West Virginia đã tách khỏi VA, WV gia nhập Liên bang ngày 20-6-1863, không tham gia vào Chính phủ ly khai miền Nam và WV là một trong 2 Tiểu bang thành lập trong thời Nội chiến (Tiểu bang kia là Nevada tách khỏi Lãnh thổ Utah). WV có thủ phủ là Charleston (đặt theo tên cha của người thành lập Tiểu bang, Charles).

Virginia vì nằm sát thủ đô Washington, nên một số cơ quan chính phủ Liên Bang tọa lạc tại đây, như Ngũ giác đài trụ sở Bộ Quốc phòng…

Tại đây – ngay sát thủ đô Washington, có một ngôi chợ người Việt lớn nhất tại Bờ đông Hoa Kỳ, đó là Siêu thị Eden, có hình dáng tương tự chợ Bến Thành Sài Gòn, nhằm để Việt kiều bớt nhớ quê hương. Ở đây, người viết cùng gia đình đi mua sắm, có nhiều cửa hàng bán đủ hàng hóa như kim hoàn, thời trang, quần áo, mỹ phẩm, thức ăn và hoa quả tươi sống, nhiều cửa hàng bán các món ăn quê hương như: phở, bún bò, hủ tiếu, cơm, bánh bèo, bánh chưng, bánh ít…, hoa quả thì ôi thôi đủ thứ trái cây trong nước: chôm chôm, mít, sầu riêng, măng cụt… nhìn thật là đẹp mắt, thèm ơi là thèm. Đa số khách hàng là người Việt sinh sống tại các Tiểu bang kế cận, vì nhớ món ăn quê hương nên ngày cuối tuần thường ghé Siêu thị Eden mua sắm. Kể ra, người Việt cũng hãnh diện, vì có Chợ Eden, Chợ Maxim’s (ở Philadelphia, PA), khu Little Saigon (ở Santa Ana, CA) và ở các Tiểu bang khác – nhằm để sánh vai với Chinatown của người Hoa và Little Italy của người Ý ở vài nơi.

Thủ phủ của VA là thành phố Richmond (đặt tên theo Công tước Richmond, con trai của vua Charles II). Mã số bưu chính (Zip code) của Tiểu bang Virginia là VA 22 000 và 23 000.

CỐ ĐÔ RICHMOND - THỜI NỘI CHIẾN HOA KỲ.

Trong thời Nội chiến, 11 Tiểu bang miền Nam tách khỏi Liên Bang United States of America - USA (thời ấy có 33 Tiểu bang) với lá cờ “the Stars and Stripes” (13 sọc xanh dương – trắng với 33 ngôi sao) thủ đô là Washington, DC, có tổng thống Lincoln mới đắc cử.

Miền Nam thành lập Liên hiệp Confederate States of America - CAS (1861-1865) với lá cờ “the Stars and Bar” (có 1 thanh lớn và 11 ngôi sao) đặt thủ đô tại Montgomery, Alabama (chỉ một năm) sau dời về Richmond, VA, với tổng thống riêng là Jefferson Davis (trước là Bộ trưởng Chiến tranh của Chính phủ Lincoln). CSA gồm 11 Tiểu bang: South Carolina (SC), Mississippi (MS), Florida (FL), Alabama (AL), Georgia (GA), Louisiana (LA), Texas (TX), Arizona (AR), Tennessee (TN), North Carolina (NC) và Virginia (VA).

Đó là vào năm 1861, Nội chiến nổ ra – cuộc chiến tồi tệ nhất mà thế giới chứng kiến. Ít nhất 600.000 người chết vì cuộc chiến hoặc bị bệnh. Cuộc chiến đã đấu tranh để giữ Liên Bang thống nhất. Nó phát sinh bởi vì các Tiểu bang miền Nam duy trì Nô lệ - mang từ châu Phi sang để làm việc trong các cánh đồng trồng bông. Trong lúc đó, nô lệ không được phép tại miền Bắc, và hai phe tranh luận với nhau về việc “Có nên duy trì nô lệ tại các vùng đất mới ở miền Tây không?”. Năm 1860, Abraham Lincoln, đảng Cộng hòa, chống lại việc duy trì nô lệ, đã đắc cử Tổng thống. Vào tháng 12, tiểu bang SC nói rằng họ muốn tách riêng và 10 Tiểu bang miền Nam khác đi theo, thành lập Liên hiệp CSA. Nội chiến bắt đầu vào tháng 4-1861, miền Nam có tướng Lee tài giỏi và có nhiều tiền nhờ vào việc bán bông sang Anh quốc. Nhưng miền Bắc có nhiều quân và nhiều nhà máy hơn. Họ cũng có Lincoln, một trong các vị Tổng thống tuyệt vời nhất mà Hoa Kỳ đã có. Hai vị tướng nổi tiếng đã giúp miền Bắc chiến thắng:

- Tướng Sherman được nhớ đến trong một bài hát nổi tiếng nói về việc làm cách nào mà ông đã di chuyển 60.000 quân trong một chiến dịch từ Atlanta, GA, tới bờ biển Đại Tây dương, bẻ gãy Liên hiệp CSA làm hai phần, sau Nội chiến, ộng đứng đầu quân đội Mỹ.

- Tướng Grant là người đại diện miền Bắc ở Appomattox năm 1865, khi miền Nam của tướng Lee chấp nhận thua trận. Tổng thống Lincoln yêu cầu tướng Grant đối xử khoan hồng với quân sĩ của tướng Lee, họ đều không phải vào tù. Buồn bã thay, vào tháng 4-1865, lúc Nội chiến vừa kết thúc, Tổng thống Lincoln bị ám sát, sau đó, vị Tổng thống mới không đủ mạnh để mang miền Bắc và Nam đoàn kết. Các tranh luận về quyền của người da đen vẫn tiếp diễn.

Thành phố Richmond trong Chiến tranh Cách mạng có nhiều sự kiện lịch sử xảy ra ở đây, vì VA là quê nhà của vị Tổng Tư lệnh Washington lãnh đạo 13 Thuộc địa, chiến thắng người Anh và lập nên Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ - USA.

Trong cuộc Nội chiến, thủ đô Richmond cũng có tòa nhà Quốc hội và Nhà Trắng riêng của Miền Nam (hiện nay 2 tòa nhà này được sử dụng làm viện Bảo tàng Confederary để kỷ niệm thời Nội chiến). Lúc đó, Richmond là thủ đô của chính phủ Liên hiệp CSA nhằm chống lại chính phủ Liên bang USA, do Lincoln làm Tổng thống, làm việc ở Nhà Trắng, có tòa nhà Quốc Hội ở đồi Capitol, tại thủ đô Washington. Vô tình, Tiểu bang Quê nhà của Washington lại đi ngược lại ước muốn thống nhất Liên bang của vị Tổng thống đầu tiên. Mặc dù cố đô Richmond chỉ tồn tại trong 4 năm ngắn ngủi, thật là đáng tiếc!

Kỷ niệm của Edgar Allan Poe (1809-49) với Richmond:

Ông là nhà văn, nhà thơ sinh ở Boston, Massachusettes. Ông viết thơ và truyện ngắn. Các tác phẩm của ông nổi tiếng là những câu chuyện kinh dị về bí mật và tử thần, gồm: -The Fall of the House of Usher (1839) và – The Pit and the Pendulum (1843). Poe được coi là ông tổ của thể loại truyện Trinh thám hiện đại, căn bản là truyện: - The Murder in the Rue Morgue (1841). Thi phẩm của ông là The Raven sáng tác vào năm 1845. Ông uống rượu nhiều nên mất khi còn trẻ. Truyện của Poe đã được chuyển thể thành nhiều bộ phim. Đặc biệt mới đây (2012), tại nhà bán đấu giá R.R. Auctions ở Littleton, New Hampshire, một lá thư của nhà văn Poe viết năm 1837 vừa được bán với giá kỷ lục 164.000USD vào năm 2012. Đây là bức thư Poe gửi cho nữ biên tập viên Sarah Hale của một tạp chí phụ nữ, đề nghị không đăng bài ông đã gửi bữa trước. Ông Bobby Livingston, phó giám đốc nhà đấu giá R.R.Auctions cho biết:

- “Lúc sinh thời Edgar Allan Poe rất hiếm khi viết thư tay”.

Lá thư trên được viết 8 năm trước khi xuất hiện thi phẩm The Raven (Con quạ) nổi tiếng nhất của ông, vào thời điểm Edgar Poe phụ trách mục phê bình văn học cho một tạp chí tại Richmond, VA.

TÓM TẮT

Virginia là một tiểu bang hết sức đặc biệt: có cố đô Richmond thời Nội chiến, là quê hương của vị Tổng thống đầu tiên và 7 vị Tổng thống Hoa kỳ khác và từ chính thuộc địa đầu tiên ở Bắc Mỹ này, sau đã được phân chia thành ra 3 tiểu bang hiện nay là Kentucky, Indiana và West Virginia. Virginia cùng 3 tiểu bang khác (Kentucky, Pennsylvania, Massachusetts) sử dụng danh xưng “The Commonwealth of Virginia” trên các văn bản chính thức.

(Tham khảo: các sách viết về Hoa Kỳ và trên Internet)

PHẠM VŨ



Phụ Bản I

TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT (tt)

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI SÁU

HAI TĂNG CUỐN RÈM

*Công Án:

Trước giờ trai, các học tăng đến thăm hỏi ngài Đại Pháp Nhãn ở chùa Thanh Long. Sư giơ tay trỏ bức rèm. Bấy giờ có hai ông Tăng cùng ra cuốn rèm.

Sư nói:

- Một được, một mất.

Lời giải:

Việc cỏn con có gì đâu mà phải ghi thành Công Án cho người sau tham học? Hai ông Tăng đó, kẻ làm xong thì thôi. Người chưa xong thì cũng sẽ phải tự hoàn tất nếu muốn tiếp tục con đường tu hành.

Tốt nhất là người tu muốn tu hành cho thành công thì phải “nội quang phản chiếu”, để xét lỗi của mình mà sửa. Nhìn, ngó, chê, khen người tới hay chưa? tiến hay lùi làm gì? Sao không coi lại bản thân mình đang tới đâu, để mà tập trung, lo dồn tâm ý tu tập?!

Kết luận: Người tu Phật nào cũng biết Phật dạy “cuộc đời là Vô Thường”. Cái Thân đang tồn tại hôm nay, ai biết được lúc nào đó sẽ hết Nghiệp, hết Duyên? Nếu cứ tiếp tục nhìn ra, xem người, luận người, thì kiếp nào mình mới tu xong!

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI BẢY

KHÔNG PHẢI TÂM KHÔNG PHẢI PHẬT

*Công Án:

Một ông Tăng hỏi Hoà Thượng Nam Tuyền:

- Có pháp nào chưa dạy nữa không?

Sư đáp:

- Có.

Ông Tăng lại hỏi:

- Pháp chưa dạy là pháp gì vậy?

Sư nói:

- Không phải Tâm, không phải Phật, không phải vật.

Lời giải:

Vào tu học thì ban đầu người tu được hướng dẫn cho cách hiểu, cách hành để tìm Tâm, Thấy Tâm, rồi điều phục nó để được Giải Thoát hay gọi là Thành Phật. Sau khi hoàn tất được những giai đoạn này thì phải Xả cái kết quả đi. Nếu không, cứ tiếp tục ôm cái Tâm chứng đắc. Thấy Mình Thành Phật. Thấy mọi người chung quanh là chúng sinh để mình “độ” thì rõ ràng là Tăng Thượng Mạn!

Hòa Thượng Nam Tuyền đã nhắc cho ông Tăng một câu cần ghi nhớ của Đạo Phật. Khi mới vào tu học thì có Nhân, Ngã, Pháp. Có Ta Chấp Pháp, chấp Ngã. Có Quả Phật để thành. Nhưng khi thành tựu rồi thì Ta cũng không còn, lấy ai để thành Phật?

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI TÁM

CÂY ĐUỐC CỦA LONG ĐÀM

*Công Án:

Ngài Đức Sơn thăm hỏi Ngài Long Đàm cho đến tối. Sư nói:

- Đã khuya rồi, sao ông chưa về đi?

Đức Sơn vái chào, vén rèm mà ra, thấy bên ngoài trời tối đen liền quay trở vào thưa:

- Bên ngoài tối quá!

Sư thắp một cây đuốc giấy trao cho. Đức Sơn toan cầm lấy. Sư liền thổi tắt mất. Đức Sơn tỉnh ngộ, sụp lạy.

Sư nói

- Ông thấy được ý nghĩa chi?

Đức Sơn đáp:

- Tôi từ nay trở đi hết nghi hoặc những lời dạy của chư Hòa Thượng trong thiên hạ.

Hôm sau Sư thăng đường nói:

- Trong đây có một kẻ răng như rừng gươm, miệng như chậu máu, bị đánh một hèo mà chẳng quay đầu lại, mai kia mốt nọ leo lên đỉnh cao dựng đạo của ta.

Đức Sơn bèn đem mấy bộ sớ sao đến trước pháp đường, cầm một bó đuốc giơ lên nói:

- Hết thảy mọi biện giải cao thâm chỉ như một cái lông tơ nơi thái hư, hết thảy mọi yếu quyết chỉ như một giọt nước đổ xuống vực.

Bèn đốt hết các bộ sớ sao rồi vái lạy mà đi.

Lời giải:

Trước khi đến với Hoà Thượng Long Đàm, Đức Sơn đã là một người làu thông kinh sách, viết cả mấy bộ sớ sao. Nhưng không trả lời được câu hỏi của một bà lão bán quán khi bà nói về Tam Tâm, vì Ngài chỉ chuyên lý giải Kinh, không hiểu, không thuộc Phật Pháp!

Sau cả ngày đàm đạo, nhờ đuốc giấy và sự nhắc nhở của Ngài Long Đàm mà Đức Sơn ngộ ra rằng không nên nương ánh sáng của người khác. Mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Lúc đó Ngài mới ngộ ra, thấy rằng bao nhiêu lý giải cũng không bằng một lời nhắc khẽ, nên tự đốt sớ sao của mình, thôi không còn khoe vốn hiểu biết nữa! Vì tu là để Hành, không phải là để khoe khoang.

CÔNG ÁN THỨ HAI MƯƠI CHÍN

CHẲNG PHẢI GIÓ, CHẲNG PHẢI PHƯỚN

*Công Án:

Nhân gió lay phướn, có hai ông Tăng tranh luận.

Một ông nói:

- Phướn động

Ông kia nói:

- Gió động

Cãi qua cãi lại không ra lẽ. Lục Tổ nói:

- Không phải gió động, không phải phướn động, tâm các ông động đấy.

Hai ông Tăng giật mình run sợ.

Lời giải:

Cuộc đời vẫn đầy đủ mọi pháp : nắng mưa, tốt, xấu, thủy triều lên xuống, con nước lớn ròng, hết đêm tới ngày, vạn vật sinh sôi. Con người thì vẫn trong đà Sinh, Lão, Bịnh Tử mà tiến, và trong cuộc sống có biết bao nhiêu pháp xảy đến cho mỗi người.

Phải, trái, hơn, thua, cao, thấp... là nguyên nhân của biết bao nhiêu xáo trộn ở cuộc đời. Chuyện nhỏ thôi, gió lay phướn, không ảnh hưởng tới ai cũng làm ra được một cuộc tranh luận huống là những chuyện mất mát, va chạm quyền lợi, bị xúc phạm danh dự… Bao nhiêu người đã hại nhau chỉ vì chút quyền lợi nhỏ nhoi. Thậm chí anh em cũng sẵn sàng giết nhau để tranh chấp gia tài, của cải. Vì thế mà có Đạo Phật để nhắc nhở rằng mọi người nên giữ cái Tâm của mình. Vì chính nó có thể lôi mình xuống tận địa ngục. Nhưng tu hành thành Thánh, thành Phật cũng do nó.

Các pháp thì vốn thế, nếu Tâm mình đừng động theo nó, thì sẽ được như gió, lưu thông không trở ngại. Ngược lại, chấp lấy pháp, khởi tâm theo pháp thì trùng trùng duyên khởi, nghiệp quả kéo theo nhiều kiếp luân hồi không dứt.

Cũng may hai ông Tăng tranh cãi nhau chuyện nhỏ và nghe lời nhắc để dừng đúng lúc.

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI

TỨC TÂM TỨC PHẬT

*Công Án:

Ngài Đại Mai hỏi ngài Mã Tổ:

- Phật là gì?

Sư đáp:

- Tức tâm tức Phật.

Lời giải:

TÂM chính là PHẬT. Tổ Đạt Ma củng dạy: "MUỐN TÌM PHẬT THÀ TÌM TÂM". "TỨC TÂM TỨC PHẬT". Nhưng nhiều người đã loanh quanh đi tìm bên ngoài, màu mè sắc tướng, tụng kinh, nhiễu tháp, tô đắp hào quang cho tượng bên ngoài rồi lại nghĩ đó là Phật để ngày ngày đối trước tượng lễ bái xì xụp, khấn vái cầu xin!

Câu "Tức Tâm tức Phật" là lời của Tổ Đạt Ma mà ai cũng biết. Nhưng khi tu hành lại không quay vô để tìm Phật nơi tâm của mình, cứ mãi quay ra cầu Phật ngoài, vì thế Kinh Kim Cang đã dạy:

"Ai nương sắc để thấy Ta,

Dùng âm thanh để cầu Ta.

Kẻ đó hành tà đạo.

Không thấy được Như Lai".

Tu Phật là để Thành Phật. Nhưng qua lời bàn của Ngài Vô Môn ta không hiểu vì sao Ngài lại sợ Phật. Sợ nói, sợ nghe đến chữ Phật đến nỗi chỉ cần "nói chữ Phật là phải ba ngày súc miệng, nghe nói Tức Tâm tức Phật thì phải bịt tai mà chạy". Rõ ràng Ngài sợ hai chữ đó. Hay là Ngài chỉ thích nghe nói Phật là mè, là cứt như Động Sơn và Vân Môn nói thôi?

Với suy nghĩ như thế, nếu còn xưng là đệ tử Phật môn, ăn cơm Phật, mặc áo Phật, còn viết sách để dạy người tu Phật thì thật đáng ngạc nhiên! Chẳng hiểu Ngài sẽ dạy người sau tu để thành gì nữa!

CÔNG ÁN THỨ BA MƯƠI MỐT

TRIỆU CHÂU KHÁM PHÁ BÀ LÃO

*Công Án:

Có một ông Tăng hỏi một bà lão:

- Đường nào đi đến Đài Sơn?

Bà lão đáp:

- Cứ đi thẳng.

Ông tăng mới bước đi năm ba bước, bà lại nói:

- Đường đường một ông thầy tu, cứ thế mà đi kìa!

Sau có người kể lại cùng Ngài Triệu Châu. Sư nói:

- Để ta tới xem bà lão này ra sao cho.

Hôm sau, Sư bèn đến, cũng hỏi như vậy, bà lão cũng đáp như vậy.

Sư trở về nói với tăng chúng:

- Bà lão ở Đài Sơn, ta đã khám phá cho các ông rồi đó.

Lời giải:

Xem ra các thầy tu ở chùa cũng không tránh được thị phi, và cũng quá rảnh rang để thắc mắc việc đời! Bà lão đó, chỉ có một chiêu độc nhất, trả lời duy nhất một câu: "Cứ đi thẳng", để rồi cười nhạo người hỏi là: "tu hành mà nghe người nói là cứ thế mà đi!".

Bà lão đó không phải một vị chân tu đáng kính, cũng chẳng phải thánh nhân xuất thế. Trước sau cũng chỉ nói có hai câu. Có nói được lời vàng ngọc hay ho chi đâu, thì có đáng chi mà cần phải khám phá? Vậy mà hết người này đến người khác bảo nhau đến gặp. Ngài Triệu Châu cũng phải đến gặp để lại nghe đúng mấy câu đó! Thế mà Ngài Vô Môn lại lấy đó làm Công Án để người sau Tham! Bao nhiêu Phật Ngôn, bao nhiêu Pháp Cú sao không Tham?

Tham Công Án này để ngộ ra điều gì có lợi cho việc tu hành đây? Theo nhân quả thì Tham gì gặp đó. Tham bà lão chắc khó gặp Phật Pháp được!

Tâm Nguyện

(còn tiếp) 




THEO 

DÒNG

ĐỜI

(2)

2. Ai bảo về quê là khổ, về quê sướng lắm chứ...

Xe đò ngừng trước con đường đất đỏ dẫn vô ấp Cam Tân, chúng tôi lục tục xuống xe. Ngay bên cạnh con đường đất người ta gắn một tấm bảng lớn ghi: “Tổ Hợp Tâm Phúc, sản xuất công nông nghiệp và vận chuyển”. Đây là cột mốc mà ông ba vợ tôi đã cho biết để bảo xe đò dừng lại khi đến nơi. Chúng tôi đã báo trước giờ khởi hành, để mấy cậu em canh giờ đạp xe ra đón. Từ ngoài đường vô đến nhà khoảng chừng năm cây số, đường lại khó đi. Các loại xe máy cày đã làm cho mặt đường trở nên gồ ghề, lồi lõm. Vợ tôi ẵm đứa con gái thấy có vẻ nhẹ nhàng, còn tôi cõng anh con trai đã hơn sáu tuổi, nặng trình trịch, chàng cảm thấy thích thú trước cảnh đồng không mông quạnh, gió thổi hiu hiu. Chợt có một chiếc xe bò lọc cọc qua mặt chúng tôi, chàng nhóc của tôi phát lệnh: ”Đua với con bò đi ba, mau về tới nhà!”. Tôi giật mình trước sáng kiến của nó, nhưng vẫn thong thả đáp: “Ba hết pin rồi con!”. Có lẽ hắn đoán tôi mệt vì cõng nó từ nãy đến giờ. Đột nhiên từ sau một khúc quanh xuất hiện hai thanh niên đạp xe chạy đến. Tôi biết ngay các cậu em đến đón, tôi nói: “Mấy cậu tới rồi!”.

Vào đến sân nhà chúng tôi thấy quả là một khung cảnh nhà quê. Chung quanh nhà là những đám ruộng chín vàng bao bọc. Ngôi nhà được dựng trên một thửa đất xinh xắn, có dăm ba cây xoài, vài cây mít. Trên mặt đất có vài luống trồng cải, trồng khổ qua, mướp. Vài cây ớt đã có trái chín đỏ mọng thấy muốn hái và cắn một miếng cho khoái, mặc dù biết chắc là rất cay. Nhưng khi tôi nhìn kỹ ngôi nhà thì mới phát hiện ngôi nhà đã bị sập nửa chừng. Vừa lúc đó ba vợ tôi giải thích: “Nhà này ba làm bằng khung sườn của nước ngoài do một người bạn tặng, nhưng vì ba lợp tôn làm bằng vỏ thùng phi, rất nặng, cơn lốc tuần rồi đã làm cho căn nhà bị nghiêng xuống, các cây cột đều bị cong. Tuy vậy nó cũng còn che mưa che nắng được, ra vào chỉ phải lom khom một chút”.

Tôi thấy hơi ngỡ ngàng, nhưng đã lỡ lên đây rồi biết làm sao bây giờ. Chúng tôi đành phải vào sắp xếp chỗ ở trước khi ăn bữa cơm đầu tiên tại một vùng thôn quê hẻo lánh...

Đám ruộng ngay trước nhà có tên là đám Thần nông 62 đã chín vàng, bông lúa trĩu nặng quằn chúi xuống mặt ruộng. Một vài chỗ bị gió thổi ngã rạp xuống. Sáng ngày hôm sau cả nhà tay cầm liềm bước xuống ruộng chuẩn bị gặt. Riêng cậu em út, khoảng mười bảy mười tám tuổi, kéo ra một cái “cộ” chuẩn bị đập lúa sau khi người ta gặt xong xếp trên mặt ruộng. Vợ tôi được phân công ở lại nhà để chăn hai đệ tử và lo cơm nước cho đám thợ gặt gia đình vào buổi trưa. Tôi cầm liềm nhìn mọi người chung quanh để học cách gặt lúa. Thật ra không có gì khó, chỉ việc tóm bụi lúa rồi đưa liềm cắt dưới gốc một nhát là xong, thường thường cắt ba bốn bụi lúa rồi mới đặt nằm xuống mặt ruộng để ông “cộ” tới nuốt, tức là đập những bó lúa này để lấy hạt. Tuy nhiên khi gặt phải hết sức cẩn thận, chứ nếu không, khi một tay tóm bó lúa, tay kia đưa liềm cắt dưới gốc không khéo sẽ cắt vào ngón tay út của bàn tay đang gom bó lúa. Những thợ gặt chuyên nghiệp thường đi gặt thuê cho biết lúc đầu mới tập họ bị đứt tay là chuyện thường tình. Đến gần trưa tôi cảm thấy mỏi lưng nên đứng dậy cho thư giãn, nhân tiện tôi bước lại gần cái “cộ” xem cậu em út đang đập lúa. Tôi thấy cậu cầm một bó lúa lớn có chu vi bằng bốn gang tay được giữ chặt bằng một sợi dây bố, gọi là dây “nài”, lúa được đập vào một cái thang nhỏ dựng trong cộ, bên trên cộ có lưới che để lúa không bị văng ra ngoài. Thỉnh thoảng cậu em dừng tay, hốt lúa trong cộ đổ vào thúng rồi bưng vào nhà đổ lên một tấm vải cao su trải ở ngoài sân để phơi. Má vợ tôi phụ giúp thêm bằng cách lấy một cái “trang” giống hình dáng một cái cào cỏ nhưng không có răng mà chỉ là một tấm ván, cào trên lúa, trải mỏng ra cho mau khô. Lúc này trời nắng nóng nên lúa rất mau khô. Bà má vợ tôi lấy một cái thúng xúc đầy lúa bước qua một tấm bạt khác trải sẵn dưới đất, bà giơ thúng lúa lên cao rồi từ từ đổ xuống tấm bạt, lúa nặng rơi ngay xuống, còn rơm rác bị gió thổi bay ra ngoài đất. Động tác này người ta gọi là “gie” lúa. Có chỗ, gọi là “rê” lúa. Tôi không biết cái nào đúng, cái nào sai, thôi thì bắt chước bà già gọi là “gie” cho được việc. Tính ra từ khi làm đất, gieo mạ, cấy, làm cỏ, xịt thuốc cho đến khi thành hạt gạo phải qua nhiều công đoạn. Ở Việt Nam nhà nông chưa cơ giới hóa được những khâu này. Có nhiều nơi còn phải cày bằng trâu, cũng có nhà nghèo quá không tiền mướn trâu cày, phải cuốc để vỡ đất, chuẩn bị cho mùa kế tiếp. Trong khi đó ở Nhật Bản, công việc nhà nông hoàn toàn làm bằng máy móc hết trơn. Nông dân mặc quần áo bảo hộ lao động như công nhân nhà máy, mang giày cao cổ không hề biết đến mặt mày hình dáng con đỉa tròn méo ra sao, cũng không có cái cảnh “bán lưng cho trời, bán mặt cho đất” như thường gọi khi nói đến nông dân Việt Nam.

Ngày xưa, cũng vì muốn tránh khỏi cuộc đời tay cày tay cuốc nên ba tôi đã bỏ xóm bỏ làng lên Saigon kiếm sống không dè chỉ mới đến đời tôi lại quay trở về với cái cuốc cái cày.

Phía bên kia hàng rào kẽm gai là phần đất của ông Phan. Trước đây ông Phan là một luật sư ở Saigon, không biết có trắc trở gì trên con đường công danh sự nghiệp đã khiến ông giải nghệ lên đây mua đất thành lập nông trại. Muốn đến nhà ông phải đi qua một cái cầu bắc ngang qua một dòng suối chỉ còn là một lạch nước nho nhỏ có lẽ vì trên đầu nguồn đã gần cạn nước. Cách ngôi nhà chừng mười mét về phía tay phải là một nhà mồ, trong đó có hai ngôi mộ xây bằng xi măng kiên cố rất đẹp mắt có cổng vào bằng sắt theo kiểu những nhà mồ của Tây phương, bên trên ghi bốn chữ “ngôi mộ song phần”. Theo lời ba vợ tôi kể thì ngôi mộ song phần này đã có một cư dân vào trú ngụ rồi. Đó là bà vợ của ông Phan đã chết trong một tai nạn giao thông. Ngôi mộ bên cạnh còn trống đương nhiên là để dành cho ông, mặc dù ông chỉ mới ngoài bốn mươi tuổi. Có lẽ còn quá sớm đối với một người đàn ông mới ở tuổi này mà đã chuẩn bị sẵn sàng nơi đến cuối đời như vậy.

Trước cửa nhà ông có một tấm bảng lớn ghi “Tổ hợp Tâm Phúc, sản xuất công nông nghiệp và vận chuyển”, giống như tấm bảng mà chúng tôi đã nhìn thấy ngoài đường cái. Thì ra chủ nhân của cái tổ hợp này là ông Phan.

Một buổi sáng, vừa thức dậy, ông ba vợ của tôi cho biết ông vừa giới thiệu tôi cho ông Phan để xin việc làm trong tổ hợp và đã được ông Phan đồng ý. Ba vợ tôi nói là muốn tìm cho tôi một công việc ở văn phòng thay vì phải lội xuống ruộng cày cấy vất vả.

Ngay sáng hôm đó tôi ăn mặc đàng hoàng vào gặp ông Phan. Trong khi ngồi nói chuyện, ông cho biết kế hoạch kinh doanh của ông rất lớn. Ông sẽ liên kết với nông dân địa phương để trồng mía, xây dựng nhà máy sản xuất đường các loại giống như ở nước Cuba người ta trồng mía bạt ngàn, đường bán ra khắp mọi miền trên thế giới. Ông cũng sẽ liên kết trồng bắp rồi lập nhà máy sản xuất thực phẩm gia súc để bán cho các trại chăn nuôi. Ông nói: “Tuy nhiên đây là kế hoạch về lâu về dài sẽ làm khi nào có điều kiện thuận tiện. Như vậy tổ hợp chưa có thu nhập nên chưa tính việc phát lương cho các anh, nhưng tổ hợp vẫn nuôi ăn đầy đủ, ai ăn một bữa, đăng ký một bữa, ai nhà khó khăn muốn ăn hai bữa cứ đăng ký hai bữa. Bây giờ tôi phải về Saigon tổ chức ngành kinh doanh vận chuyển”. Rồi ông chỉ vào một phụ nữ ngồi gần đó: “Mọi việc ở nhà có cô Tư đây thay tôi phụ trách. Em với anh Bảo đây tổ chức cái văn phòng làm việc cho anh. Nhớ coi tụi nó đào cái ao cá”. Rồi ông ôm cặp bước ra xe gắn máy có người chờ sẵn sau khi đưa cho tôi một tấm danh thiếp. Đó là tấm danh thiếp của luật sư Minh Phan với bẩy dòng chữ ghi chức vụ trong đó chỉ có dòng chữ “Chủ tịch Hội đồng Quản Trị kiêm Tổ Trưởng Tổ Hợp Tâm Phúc” là liên quan đến công việc kinh doanh hiện tại. Còn những chức vụ khác đều là chủ tịch hoặc giám đốc, như là Chủ tịch Nghiệp đoàn luật sư quốc tế, Giám đốc Công ty Chim Cá Cảnh… nghe có vẻ ngớ ngẩn và tôi không đoán được chức vụ đó thuộc cơ quan gì và ở đâu. Tôi thoáng có một suy nghĩ: “Ông Phan này có vẻ tưng tửng”. Tuy nhiên vì tò mò nên cũng thử xem “con tạo xoay vần đến đâu”.

Nhìn qua cửa sổ tôi thấy có khoảng chín mười người thanh niên, trong đó có vài cô gái đang đào xới trong vườn. Tôi hỏi Cô Tư:

- Họ làm gì vậy cô?

- Đào ao cá đó.

- Ủa, đào trong vườn cây ăn trái vậy sao?

- Thì ông Phan bảo cứ đào chỗ nào trống, khi nào gặp cây thì chừa lại. Như vậy hồ cá sẽ có hình dáng uốn éo rất đẹp.

Tôi không nói gì thêm, lặng lẽ đi tìm một cái bàn trống, theo lời chỉ dẫn của Cô Tư, chuẩn bị tư thế để làm việc. Tôi phải tự chế ra công việc và làm ra vẻ mình có kinh nghiệm về quản lý doanh nghiệp bằng cách cặm cụi phác họa ra cái sơ đồ tổ chức tổ hợp, căn cứ vào những chức năng ghi trên bảng hiệu. Đầu tiên tôi nháp một cái sơ đồ tổ chức bằng những nét vẽ sơ sài cho thể hiện nhà máy đường, nhà máy thực phẩm gia súc cùng với các bộ phận quản lý hai nhà máy này. Sau đó tôi phác họa thêm bộ phận vận chuyển với hệ thống xe đò chạy đường Long Thành – Vũng Tàu. Phương án hoạt động kinh doanh với những chi tiết cụ thể cùng với dự trù kinh phí tôi ghi chú sẽ được viết sau.

Buổi trưa hôm đó tôi ở lại ăn cơm trưa tại tổ hợp. Nhân dịp này tôi được tiếp xúc với những thanh niên đang đào ao cá lúc nãy. Hầu hết họ là dân trong xã này và xã lận cận thuộc huyện Hố Nai cùng có gia đình đang ở trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Một số lớn các bạn trẻ này có trình độ trung học phổ thông và vài bạn chín chắn hơn đang học đại học nhưng đã bỏ học trở về quê nhà làm ruộng làm rẫy kiếm sống. Một em trong năm vừa thi rớt đại học, có lẽ còn bức xúc nên khi tôi hỏi sao không rán học ôn sang năm thi lại. Bạn trẻ này trả lời: “Không đậu đại học thì phải tự đi kiếm ăn. Anh không nghe người ta nói sao?”. Rồi bạn ấy ngâm hai câu thơ:

“Cổng trường đại học cao vời vợi!

Đồng ruộng mênh mông đợi anh về…” (1)

Tôi cũng được biết thêm, Cô Tư này là bà vợ sau của ông Phan, nhưng không chính thức. Cô theo ông lên đây để cùng xây dựng tổ hợp và tự nguyện đảm trách công tác hậu cần, cụ thể là lo cơm nước cho công nhân. Tự nhiên tôi nghĩ đến ngôi mộ song phần ở bên bờ suối, ở đó chỉ còn một chỗ trống, nếu bà vợ sau này cũng muốn chung một song phần với ông Phan nữa thì sao đây? Có lẽ ông Phan phải xây một song phần khác và cái song phần đang có đành phải để trống một bên mãi mãi. Đây mới là vấn đề khó khăn vì không thể tự hỏi “thân này ví xẻ làm đôi” nửa chôn bên nớ, nửa về bên ni, được không?

Ba ngày sau, lúc gần xế trưa luật sư Phan về đến tổ hợp. Ông tỏ ra hài lòng khi thấy mọi người ở nhà làm việc tốt. Ông bảo Cô Tư cho mọi người nghỉ tay để vô văn phòng họp. Cô Tư bước ra ngoài đến bên cây cột có treo cái mâm xe hơi làm kẻng báo giờ giấc lao động, gõ ba tiếng chát chúa rồi la lên: “Vô họọọọọọ…p!”.

Mọi người đã vào phòng đầy đủ. Ông Phan ngồi ở bàn giám đốc đặt ở giữa phòng, cô Tư ngồi bên cạnh, một chân đặt trên ghế, hai bàn tay để lên đầu gối, ông Phan nhìn mọi người, nói: “Mấy ngày qua, tôi đi công tác ở thành phố, được biết mọi người ở nhà làm việc tốt, tôi biểu dương anh em”. Cử tọa đồng loạt vỗ tay rôm rốp. Ông Phan bưng ly nước hớp một ngụm, chậm rãi nói tiếp: “Trong tương lai, chúng ta sẽ được hân hạnh đón tiếp những cổ đông tham gia vào hoạt động kinh doanh của Tổ hợp Tâm Phúc. Tôi giải thích cho các anh em rõ, cổ đông là những người đóng góp cổ phần vào Tổ hợp. Mà cổ phần là gì? Cổ phần là phần hùn, là tiền bạc hay là của cải vật chất người ta đem đóng góp vô trong tổ hợp của chúng ta. Tôi là luật sư, tôi hiểu biết cái chuyện này. Các anh em ở miền đồng quê rẫy bái không biết đâu. Tôi sẽ hướng dẫn nâng tầm hiểu biết của các anh em để cùng nhau tiến bộ. Có như vậy chúng ta mới thành công, và chắc chắn sẽ thành công”. Cả đám công nhân lại vỗ tay, lần này lâu hơn lần trước. Tổ trưởng khoát tay cho mọi người im lặng, rồi tiếp: “Tôi nói là sự thật, chiều mai sẽ có một cổ đông lên đây đóng góp phần hùn bằng hiện vật, cụ thể là gạo. Đúng là gạo, và rồi họ sẽ tiếp tục đem lên nữa, các anh em không sợ đói. Ngoài ra chúng ta cũng sẽ tiếp nhận phương tiện để tiến hành ưu tiên thực hiện hoạt động vận chuyển, giống như phương án hoạt động mà anh Bảo đã viết mấy hôm nay và mới đưa tôi đọc”.

Buổi họp kết thúc. Tổ trưởng chiêu đãi bánh ngọt nước trà. Mọi người ăn uống vui vẻ, cười nói rôm rả. Ai ai cũng thấy phấn khởi, cảm nhận được cái tương lai sáng trưng của tổ hợp Tâm Phúc và khen ngợi tài ngoại giao của tổ trưởng. Mới đi một chuyến công tác có vài ngày thôi mà đem lại kết quả vượt trên cả mong đợi. Đặc biết là tổ trưởng cho tiến hành hoạt động vận chuyển. Ai cũng mơ mộng. Rồi đây, tổ hợp sẽ vươn tầm hoạt động ra khỏi cái ấp Cam Tân với những chiếc xe đò bóng láng nối liền những địa danh như Long Thành, Vũng Tàu, Phan Thiết rồi biết đâu có thể lên tới Đà Lạt, Nha Trang và xa hơn nữa… Mọi người ra về trong lòng thơ thới hân hoan.

Qua ngày hôm sau, tổ trưởng cho biết ông sẽ ra Xã làm việc sau đó lên Huyện gặp mấy anh bên Ủy ban rồi đi ăn cơm trưa. Ở nhà đừng chờ cơm. Ông nói thêm: “Anh em thấy không? Tôi rất bận, rất nhiều việc. Cứ hết việc này lại ‘dắt dây’ đến chuyện khác”. Tôi giật mình, mang máng nhớ lại, ở ngoài Bắc người ta dùng từ ngữ “dắt dây” khi nói tới hai con chó đực và cái đang làm cái chuyện lưu truyền nòi giống. Nhưng thôi, tôi không quan tâm nữa cứ để ông muốn dắt dây gì thì dắt. Tôi đang nôn nóng chờ đợi ông, bà cổ đông nào đó lên đây đóng góp cổ phần vào tổ hợp Tâm Phúc này.

Mặt trời dần dần lặn sau lùm tre bên hông nhà, luật sư Phan đã trở về tổ hợp, chúng tôi sắp xếp đồ đạc để ra về. Bỗng nhiên có một chiếc xe ngựa đang qua cầu chạy vào tổ hợp. Có người vào báo, tổ trưởng nhanh chóng bước ra tiếp khách. Người đánh xe khoảng gần sáu mươi tuổi, da mặt rám nắng, ăn mặc đàng hoàng, áo bỏ vô thùng, mang dép da, nhảy xuống tươi cười đi đến bắt tay tổ trưởng rồi hai người đi vào văn phòng. Tổ trưởng quay về phía chúng tôi: “Kêu hết vô đây họp”.

“Xin giới thiệu với anh em, đây là Bác Sáu ba của Cô Tư, hôm nay lên đây để đóng góp phần hùn vào tổ hợp của chúng ta. Trước mắt bác góp hai bao gạo để làm lương thực cho anh em yên tâm công tác và một phương tiện để chúng ta thực hiện ngành kinh doanh vận chuyển. Đó là chiếc xe ngựa ở ngoài kia. Những hiện vật này sẽ được quy thành tiền để đưa vào sổ sách của tổ hợp. Chúng ta hoan hô Bác Sáu”. Nói đến đây luật sư Phan vỗ tay trước để mọi người vỗ theo.

Sau đó, ba bốn anh thanh niên hò nhau đưa hai bao gạo vào nhà, và một chức vụ mới phát sinh được giao cho một thanh niên khác cũng là em của cô Tư, đó là chăm sóc con ngựa. Bạn bè đặt liền cho anh ta một danh hiệu là “phò mã”.

Đêm đó, tôi nằm thao thức suy nghĩ phải bổ sung vào phương án kinh doanh vận chuyển của tổ hợp Tâm Phúc ba chữ “bằng xe ngựa”.

Dương Lêh

(1) Hai câu này nghe truyền miệng, không rõ xuất xứ.



ĐẠI HẠ GIÁ

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ?

Sách vở, quần áo, đồ điện tử vv... hạ giá!

Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá.

Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt.

Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi: -Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973.

Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

- Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai.

Ngần ngừ lúc lâu, chị nói: -Anh có bán... trả góp không?

- Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

- Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp

- Xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

- Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

- Nhưng...

- Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

- Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:

- Thầy Bi, thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng, tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ, trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to: “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh, tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là Tấm lòng”.

Vũ Anh Tú st

THƠ VĂN

nên duyên phận

Theo lịch sử nước ta, triều đại nhà Hồ là một triều đại phong kiến ngắn nhất, chỉ kéo dài vỏn vẹn có 7 năm (1400-1407) với hai đời vua là Hồ Quý Ly (1400-1400) và Hồ Hán Thương (1400-1407). Tiên tổ Hồ Quý Ly vốn nguời làng Bào Đột, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) sau đó có một nhánh dời ra ở Đại Lai (Thanh Hóa) làm con nuôi cho họ Lê trải bốn đời mới sang qua Quý Ly, do đó trước ông mang họ là Lê Quý Ly. Được vua Trần Nghệ Tôn tin dùng, Lê Quý Ly xuất thân làm Chỉ Hậu Chánh Hội Trưởng (1372) chẳng bao lâu được phong tới chức Khu mật đại sứ, tước Trung Tuyên Hầu và được kết duyên vói em gái vua là Huy Ninh Công chúa trước đó vốn là vợ của một tôn thất nhà Trần. Năm Nhâm Tý (1372) vua Nghệ Tôn truyền ngôi cho em là Trần Kinh và về phủ Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng. Trần Kinh lên ngôi lấy hiệu là Duệ Tôn nhưng mọi việc cũng đều do Thượng Hoàng Nghệ Tôn quyết định. Thời kỳ nầy lại xảy ra quân Chiêm Thành sang xâm chiếm đất nước ta. Trong triều bấy giờ Hồ Quý Ly chuyên quyền, khắp nơi giặc giã nổi lên cướp phá, lợi dụng tình hình ấy, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân ra đánh Thanh Hóa (Kỷ Tỵ 1389). Hồ Quý Ly thân hành lo việc chống giữ nhưng đánh không lại phải rút quân về. Quân Chiêm thắng thế theo mặt biển kéo vào kinh đô Thăng Long. Bên ta Trần Khắc Chân được lệnh đem quân cự địch. Tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390) trong trận đánh với quân Chiêm trên sông Hoàng Giang khúc sông Hồng Hà thuộc đại hạt Nam Xang tỉnh Hà Nam nhờ hàng tướng của Chiêm Thành là Ba Lậu Kế nhân ông có lỗi bị Chế Bồng Nga khiển phạt nên đã làm phản nhảy lên bờ chỉ điểm cho Trần Khắc Chân chiếc thuyền nào có Chế Bồng Nga nên Trần Khắc Chân đã cho cung thử nã tên vào đó, rốt cuộc Chế Bồng Nga trúng tên mà chết. Thấy Chiêm Thành luôn xâm lấn bờ cõi Việt Nam, vua Duệ Tôn quyết định thân chinh trừng phạt, lúc đó Chế Bồng Nga hãy còn trên ngôi nên có ý sợ cho người đem vàng đút lót nhưng đã bị quan trấn thủ Hóa Châu (Nghệ An) là Đỗ Tử Bình bên ta ỉm đi và phao tin rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên xin vua cử binh đi đánh. Không ngờ Chế Bồng Nga cho người trá hàng kéo quân ra khỏi Đồ Bàn (kinh đô Chàm) và cho quân lập đồn mai phục. Duệ Tôn tưởng thật kéo quân theo đường biển vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn) định đánh chiếm Đồ Bàn, không ngờ khi vào thành bị quân Chế Bồng Nga ùa ra vây đánh khiến Duệ Tôn chết trong đám loạn quân, còn Hồ Quý Ly bỏ chạy nhưng về sau chẳng hề bị khiển phạt chỉ có quan trấn thủ Đỗ Tử Bình trông coi hậu quân không dám tiến lên cứu vua là bị giáng chức. Thượng Hoàng Nghệ Tôn được tin vua Duệ Tôn chết trận bèn lập con Duệ Tôn là Hiền lên nối ngôi hiệu là Phế Đế (1377-1388) nhưng mọi quyền hành vẫn do Thượng Hoàng nắm giữ. Nước Đại Việt những năm này lại bị Chiêm Thành sang quấy nhiễu, cướp bóc dữ dội; vua Trần Nghệ Tôn rất tin dùng Hồ Quý Ly nên đã cất nhắc lần hồi lên đến chức vụ Khu mật sứ và trước đó đã gả em gái mình là Công chúa Huy Ninh cho Hồ Quý Ly. Tương truyền cuộc tình duyên của Hồ Quý Ly và Công chúa Huy Ninh là một mối duyên kỳ ngộ nhuốm màu sắc phản ánh của thơ văn. Hồ Quý Ly lúc còn hàn vi thường theo người cha nuôi họ Lê đi buôn đường biển. Một lần thuyền ghé vào bờ Quý Ly thấy trên bãi biển ai đó đã vạch lên cát câu thơ: “Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai”. Quý Ly nhẩm thuộc lấy câu đó. Đến khi đã làm quan, một hôm hộ giá vua Trần đi chơi, nửa chừng ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện rất nhiều cây quế, vua liền ra câu đối: “Thanh Thử điện tiền thiên thu quế”. Các quan cùng đi, lúng túng chưa kịp nghĩ ra câu đối thì Quý Ly nhớ lại câu thơ trên bãi biển năm xưa bèn đọc luôn: “Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai”. Cả hai câu ghép lại thành hai vế đối rất chỉnh, có nghĩa là: Trước điện Thanh Thử cả ngàn cây quế, trong cung Quảng Hàn chỉ một cành mai, lại rất hợp với ý vua có ý đề cao em gái mình là công chúa (Nhất Chi Mai). Nghe xong các quan đều phục tài Hồ Quý Ly. Vua Trần càng kinh ngạc hơn bởi nhà vua có một em gái là công chúa Huy Ninh đặt tên Nhất Chi Mai. Nàng luôn ở trong cung cấm không hề ra ngoài tiếp xúc với dân chúng. Vua hỏi Quý Ly: Nhà ngươi làm sao biết được việc trong cung ta, ta chỉ có một người em gái đặt tên là Nhất Chi Mai, cung của công chúa tên là Quảng Hàn cũng chính do ta đặt. Quý Ly cứ thật tình tâu bẩm việc trên. Vua cho là chuyện lạ tin là duyên trời định nên gả công chúa Huy Ninh cho Quý Ly. Công chúa gá duyên với Quý Ly sanh được hai con là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng nhường ngôi cho em là Hồ Hán Thương khi kế nghiệp Hồ Quý Ly. Nhắc lại việc vua Trần Duệ Tôn cho quân theo đường biển vượt cửa Thị Nại (Quy Nhơn) tiến vào đánh thành Đồ Bàn (Kinh đô Chàm), có tướng Đại Việt là Đỗ Lễ biết âm mưu mai phục của Chế Bồng Nga nhưng Duệ Tôn không nghe nên khi vào thành đã bị quân Chàm bốn phía ùa ra vây đánh, Duệ Tôn chết trong đám loạn quân. Thượng Hoàng Nghệ Tôn được tin vua Duệ Tôn chết trận bèn lập con Duệ Tôn là Hiền lên nối ngôi hiệu là Phế Đế (1377-1388) nhưng mọi quyền hành vẫn do Thượng Hoàng nắm giữ. Thượng Hoàng Nghệ Tôn vẫn cứ một mực tin dùng Hồ Quý Ly, nhưng vua Phế Đế đã thấy rõ âm mưu thoán đoạt của Quý Ly. Thượng Hoàng Nghệ Tôn mất năm 1394. Quý Ly lên làm Phụ Chánh Thái Sư và đến năm Canh Thìn (1400) thì bỏ Trần Thiếu Đế và tự xưng làm vua đặt quốc hiệu là Đại Ngu(1). Thượng Hoàng Nghệ Tôn trị vì được ba năm, trong thời gian tại vị đã để cho gian thần lấn át quyền hành, xa lánh trung thần nghĩa sĩ, cứ một mực tin dùng Hồ Quý Ly, cho được quyền thế đến nỗi làm sụp đổ cơ nghiệp nhà Trần. Nghệ Tôn mất rồi, Quý Ly lên làm Phụ chánh Thái sư thâu tóm quyền hành trong nhà ngoài ngõ. Để dễ đường thoán đoạt Quý Ly quyết định dời đô vào Thanh Hóa; xây thành Tây Đô(2). Xét về mặt yếu điểm quân sự, nơi xây thành đô không phải là trọng yếu nhưng Hồ Quý Ly năm 1397 đã bắt ép vua Thuận Tôn (vua kế nghiệp Phế Đế) phải dời kinh về Tây Đô, có lẽ Quý Ly muốn được tiếng nơi quê cha đất tổ mà ông đã trải qua 4 đời cũng là đất đế đô… Quý Ly ép vua nhường ngôi để đi tu ở cung Bảo Thạch tại núi Đại Lai (Thanh Hóa). Thuận Tôn buộc phải nhường ngôi cho con là thái tử An lúc đó mới 3 tuổi lên kế nghiệp tức là vua Thiếu Đế (1398-1400), Hồ Quý Ly tự xưng là Quốc Tế Thượng Hoàng, ở cung Nhân Thọ, ra vào dùng Nghi vệ thiên tử. Đến tháng Hai năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly bỏ Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, lật đổ nhà Trần lập ra nhà Hồ. Triều thần lúc đó có Thái bảo Trần Nguyên Hạng là em ruột của Thương Tướng Trần Khắc Chân(3) lập hội muốn trừ bỏ Quý Ly. Việc bại lộ Hồ Quý Ly đang tay hạ sát các tôn thất nhà Trần và những người theo phe, có đến 370 người. Triều Trần từ khi kế nghiệp nhà Lý do vua Thái Tôn Trần Cảnh đến đời Thiếu Đế là 12 ông vua, trị vì được 175 năm. Vua Nghệ Tôn nhu nhược đã để cho Hồ Quý Ly tóm thâu quyền hành, dẫn đến âm mưu thoán đoạt triều thần và dân chúng lúc bấy giờ đều cho Quý Ly là người giảo quyệt, không chịu thần phục, cho nên quân Minh khi do nhóm Phục Trần qua cầu viện đã lợi dụng sang xâm chiếm nước ta, Nam quân của nhà Hồ đã liên tiếp thua trận ở Mộc Phàm Giang và Hàn Tử Quan, mùa hạ năm Đinh Hợi (1407) Thượng Hoàng Hồ Quý Ly cùng vua Hồ Hán Thương lánh vào Tây Đô rồi chạy xuống Nghệ An, tại núi Thiên Cầm thuộc hạt Kỳ Anh, Hồ Quý Ly bị giặc bắt, tiếp đó toàn gia quyến và tùy tướng của vua Hồ chịu chung số phận với Hồ Quý Ly. Người Tàu đưa Hồ Quý Ly cùng em là Quý Ty, các con là Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương cùng thân nhân và tướng sỹ thuộc hạ về giam giữ tại Kim Lăng (Trung Hoa). Chỉ có Hồ Nguyên Trừng sau đó được sống tự do vì người Minh biết Hồ Nguyên Trừng là một tay kỹ xảo có thể giúp họ chế tạo những chiến cụ cơ xảo và chính Hồ Nguyên Trừng đã giúp cho người Minh chế ra súng “thần công đại pháo” nhưng viên đạn bắn ra là một mũi tên bằng sắt rất lớn, có thể đi xa hàng chục cây số, tuy không nổ lại khi chạm đích nhưng cũng đã làm cho địch kinh hoàng, trong lúc khoa học Âu tây chưa chế ra được súng đại bác. Người Tàu đã đãi ngộ Hồ Nguyên Trừng cho làm quan và cuối cùng được phong chức Công bộ Thị lang. Sau Quý Ly cũng được phóng thích nhưng phải đi làm lính tuần tại Quảng Tây; thân nhân phải ở lại đất Tàu. Nhà Hồ tuy nắm chính quyền chẳng được bao lâu (từ năm 1400 đến năm 1407) nhưng đã thi hành được nhiều công cuộc hữu ích cho quốc gia xã hội. Triều đại nhà Hồ tuy ngắn ngủi, Hồ Quý Ly dùng thủ đoạn áp chế các vua Trần để cuối cùng thoán ngôi, nhưng lịch sử cũng phải nhìn nhận Quý Ly là một người có biệt tài về kinh tế, có tài quản trị dân chúng trong việc kiến quốc đem lại lợi ích cho một nước. Kể ra như sau:

- Chỉnh đốn việc võ bị : Để đề phòng giặc Bắc, Hồ Quý Ly sai lập hồ sơ hộ tịch, để biết số dân đinh trong nước mà lấy thêm lính. Chia quân thành các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc gồm 20 vệ, mỗi vệ có nhiều đoạn, đồn, tổ chức phòng vệ ở các cửa bể và những nơi hiểm yếu, làm những thuyền lớn có hai từng, phía dưới có quân chèo, còn ở trên thì quân sĩ có thể đi lại được dễ dàng để chiến đấu, cho chế tạo quân khí và lập kho để chứa.

- Ngân sách : Muốn cho ngân sách quốc gia được dồi dào, đủ tiền chi tiêu vào các cuộc cải cách xã hội, Hồ Quý Ly cho phát hành các loại tiền giấy (1 quan vẽ hình rồng, 5 tiền vẽ hình phượng, 3 tiền vẽ hình lân, 2 tiền vẽ hình quy, 1 tiền vẽ hình mây, 30 đồng vẽ hình sóng, 10 đồng tiền vẽ hình rêu biển).

- Giáo dục : Có óc thực tế Hồ Quý Ly thay đổi phép giáo dục và cách thi cử. Chú trọng lối học thực dụng hơn là lối cử nghiệp, văn học thời này trở nên hưng thịnh, đặc biệt là Hồ Quý Ly đã dùng chữ Nôm chấn hưng nền quốc học, dịch kinh thi, kinh thư, làm sắc chiếu để ban ra trong dân, khỏi phải dùng chữ của nước ngoài.

- Xã hội : Về mặt xã hội Hồ Quý Ly đặt sở quảng tế thực tức nhà thương đặt chức Quảng tế thư thừa để trông coi. Ở các hộ đều có lập ra một kho lúa thương binh, lấy tiền công mua lúa trữ vào, phòng những năm mất mùa đem ra bán cho dân chúng. Xem thế đủ biết Hồ Quý Ly là một người có tài về kinh tế, đã hết lòng chăm lo việc dân việc nước. Tiếc một nỗi là Hồ làm vua chỉ được mấy năm thì có giặc Minh theo lời cầu viện của phái phục Trần, kéo sang phá đổ tan tành bấy nhiêu công nghiệp kiến quốc của Quý Ly.

Chuyện văn thơ nên duyên phận ở nuớc láng giềng :

Vương An Thạch làm Tể tướng đời vua Tống Thần Tôn (1068-1086) bên Tàu là một nhà học giả đã đặt ra nhiều phép cải cách chính trị, chủ trương gần đồng với chủ nghĩa xã hội ngày nay. Thuở còn hàn vi Vương An Thạch cũng miệt mài kinh sử để chờ xuống kinh đô ứng thí. Tới kỳ thi, nhân đi ngang qua một huyện đường, ông thấy trên cổng huyện có cắm cây cờ thêu hình con hổ kèm theo câu thơ: “Hổ kỳ phi, kỳ phi hổ, kỳ quyện hổ tàn hình”. Và có ai đối được ông Huyện sẽ gả con gái cho. Thân hào nhân sĩ trong vùng cũng nhiều nhưng không ai đối được, Vương An Thạch nhẩm thuộc lòng câu trên, khi đến kinh đô gặp đề thi do ban giám khảo ra là: “Mã tẩu đăng, đăng tẩu mã, đăng túc mã đình kỳ”. Nhằm lấy ý nghĩa của đèn kéo quân có hình ngựa chạy quanh do chiếc đèn dầu phộng ở giữa chiếu lên giấy, khi đèn tắt hình cũng dừng lại - cũng như câu trên - khi cờ không có gió phất thì cũng không thấy hình con hổ. Vương An Thạch đã ghi vế đối của câu đã gặp ở huyện đường, nên kỳ thi trên đã đỗ tiến sỹ. Thế là Vương An Thạch được một lúc hai việc vui: thi đỗ và cưới vợ. Ngày đăng quang cũng là ngày cưới, họ Vương liền cho treo trước cổng huyện đường nhà vợ hai chữ “Song Hỷ” viết liền khít vào nhau trong một vòng tròn và từ đó chữ “Song Hỷ” trở thành tục lệ như lời cầu chúc, niềm vui được nhân đôi và truyền sang nước ta đã từ lâu, cho đến nay trong những tiệc cưới, trên sân khấu trên hàng chữ nêu danh tánh cô dâu - chú rể, chữ “Song Hỷ” cũng thường được dán bên trên, hoặc trên thiệp cưới cũng đều có in chữ “Song Hỷ” trong vòng tròn, bên trên tên của cô dâu - chú rể. Người mình cũng thường hay nói: “Đại đăng khoa” để chỉ thi đỗ và “Tiểu đăng khoa” để chỉ cưới vợ. Nhưng sau này, trong giới học trò khi đã đến tuổi vị thành niên thì các cậu cũng rất né câu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”.

PPT st

Ghi chú:

Hồ Quý Ly kể từ khi bắt đầu bước chân vào triều Trần, đã trải qua các vua sau:

- Trần Nghệ Tôn (1370-1394): với chức Chỉ Hậu Chánh Hội Trưởng.

Trần Nghệ Tôn sau khi ở trên ngôi 2 năm đã về Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng cho đến 1394.

- Trần Duệ Tôn (1372-1377): Hồ Quý Ly được thăng tới chức Khu mật đại sứ

- Trần Phế Đế (1377-1388): thấy được âm mưu thoán đoạt của Quý Ly

- Trần Thuận Tôn (1388-1398): Thuận Tôn nghe lời dèm pha của Quý Ly, giáng Phế Đế xuống làm Minh Đức đại vương, Thiếu Đế lên thay.

- Trần Thiếu Đế (1388-1400): Thiếu Đế lên ngôi khi 3 tuổi, năm 1400, Hồ Quý Ly làm Phụ chính Thái sư bỏ Thiếu Đế, thoán ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ, lấy quốc hiệu là Đại Ngu.

(1) Đại Ngu: Nghiêu Thuấn là tên một ông vua đời xưa nước Tàu, do vua Đường Nghiêu truyền ngôi cho (2255-2208 trước công nguyên). Hồ Quý Ly thuộc dòng dõi Nghiêu Thuấn nên đặt tên nước là Đại Ngu.

(2) Tây Đô: thành Tây Đô thuộc địa phận Thanh Hóa (cũng gọi là thành nhà Hồ) năm1397 xây xong Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tôn (1388-1398) phải dời đô về đây. Thành xây gấp rút, bằng những khối đá lớn chồng lên nhau, cũng là một kỳ công, kéo theo nhiều tai nạn cho phu dịch là dân chúng trong vùng. Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới ngày 17.6.2011. Ở Nam phần Việt Nam ngày trước nguời dân cũng thường gọi thành phố Cần Thơ là Tây Đô đối với thành phố Sài Gòn.

(3) Trần Khắc Chân tướng tôn thất nhà Trần, người đã hạ được Chế Bồng Nga vua Chiêm Thành, lúc đang chỉ huy đội binh thuyền hùng hậu tiến vào đánh phá Thăng Long. Đường Trần Khắc Chân hiện nay thuộc quận Nhứt Tp.HCM, nối liền đường Trần Quang Khải và Rạch Thị Nghè.


Phụ Bản II

Xướng Họa

THƠ ĐƯỜNG

MỘT TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ THANH CAO

Thùy Dương

 

Xướng Họa Thơ Đường là một trò chơi trí tuệ thanh cao của các nhà Nho xưa, nhất là từ khi thơ chữ Nôm ra đời. Từ xưa, thơ Đường luật đã được coi là loại thơ bác học, vì nó đòi hỏi niêm luật chặt chẽ, ngôn từ tao nhã, ý tứ sâu xa. Các nhà Nho có thể gửi gấm tâm sự của mình một cách ngắn gọn súc tích, gói trọn chỉ trong 8 câu thơ với 56 từ. Tuy nhiên thơ Đường làm bằng chữ Nho của các cụ ngày xưa âm điệu nghe không bay bổng như thơ Đường chữ Nôm với những âm điệu bằng trắc trầm bổng. Hơn nữa thơ chữ Nôm ngày nay viết bằng Quốc ngữ dù có một số từ chữ Hán đi nữa, nhưng đọc qua người chơi thơ có thể cảm nhận một cách dễ dàng khiến cho cảm xúc dễ đi vào lòng người.

Ở thế hệ chúng ta cách đây độ 20 năm trở về trước, còn nhiều nhà thơ rất thích thú với trò chơi Xướng Họa Thơ Đường, dù cho đời sống lúc đó còn khó khăn nhưng lại có thì giờ nhàn rỗi hơn để thử tài thách trí với Nàng Thơ. Nhưng nay, đời sống càng văn minh, kinh tế càng phát triển, thì lớn bé già trẻ đều bận rộn tất bật, ngay cả các ông nội bà ngoại cũng chẳng còn thời gian và tâm trí để hú hí với Nàng Thơ nên trò chơi trí tuệ thanh cao này cũng bị hạn chế.

Để họa một bài thơ Đường như chúng ta đã biết có 2 cách:

Thứ nhất, thông thường người ta đi thẳng vào nội dung đề tài, hoặc phản bác, hoặc đồng tình và bổ sung thêm ý mình.

Thứ hai, cũng có người chưa có ý gì để đáp họa vào nội dung đề tài thì cũng có thể mượn 5 vần thơ để đưa ra một bài thơ với một đề tài khác, thí dụ người ta tả mùa hè thì mình tả mùa đông… Như thế gọi là “họa nguyên vận” (không họa ý).

* Có m ộ t quy ướ c (tuy không nhất thiết bắt buộc) là bài họa không được sử dụng từ áp vận tức là chữ thứ 6 trong câu vần.Thí dụ: “lênh đênh” thì không được lấy chữ “lênh”, “mông mênh” thì không được dùng chữ “mênh”, “mỹ miều” thì không được dùng chữ “mỹ”,… Những vần oái oăm này đôi khi chỉ là sự tình cờ của tác giả, nhưng nhiều người muốn họa ý bài thơ cũng rất ngán vì khó tìm được trong tiếng Việt các từ “đênh”, “mênh”, “miều”, nên các vần như thế được gọi là tử vận. Tuy vậy nhiều người sành sỏi chơi Xướng Họa vẫn tìm ra cách họa thoát được những tử vận này một cách dễ dàng, có khi còn đẹp hơn.

Sau đây để mở đầu cho trang Thơ Xướng Họa, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ đáp họa đã được các nhà thơ hưởng ứng gửi về. Xin Quý Vị tiếp tục gửi đến các bài Thơ Xướng Họa để CLB Sách Xưa và Nay có được một trang Thơ Xương Họa phong phú, một sân chơi bổ ích cho người cao tuổi và cũng là một bài tập “thể dục trí não” chống lại bệnh Alzeimer khá phổ biến ở những người già!

Bài xướng

Hương Xuân

Phảng phất hương xuân buổi xế chiều

Nghe hồn ngây ngất dáng xuân yêu!

Chợt mơ đông tới cành sương đọng

Lại thấy xuân về hoa nắng thêu

Dấu ấn thời gian – màu khắc khoải

Niềm đau dĩ vãng – nét yêu kiều

Dòng đời cuộn sóng vào không sắc

Đâu bức tranh xuân vẻ mỹ miều?!

Thùy Dương

 

Bài họa

Hương Xuân

Neo nhổ buồm giương gió thuận chiều

Thuyền thơ lướt nhẹ bến hương yêu

Cành xuân lá biếc mầm xanh nhú

Ngực áo tim hồng chỉ thắm thêu

Bỗng thấy cô đơn sầu vạn cổ

Chợt nghe ngây ngất dáng thiên kiều

Mặc cho muôn sự vào hư ảo

Còn lại Nàng Thơ mãi mỹ miều!

Nhà Thơ Hoài Ân

Chủ Nhiệm Nhóm Thơ HƯƠNG XUÂN


Họa bài

Hương Xuân

Hương Xuân thơm ngát cảnh trời chiều

Xúc cảm tâm hồn dạ mến yêu

Thánh thót âm thanh châu ngọc hát

Rỡ ràng vần điệu gấm hoa thêu

Văn nhân tuấn tú tình lai láng

Nữ sĩ thanh tao vẻ diễm kiều

Trong trướng ai đưa lời thỉnh họa

Gieo vần tạo hiểm (!) mỹ thêm miều!

THANH HUY


Bài Xướng

Vào Hè

Ai xui cuốn lịch gọi vào hè?

Khao khát ta thèm một điệu ve!

Chỉ thấy xe rồ ầm tiếng máy

Đâu rồi cuốc nhặt rộn hàng tre?

Buồn trông dãy phố mưa tầm tã

Chợt nhớ bờ ao bướm xập xòe

Kỷ niệm ấu thơ bừng sống lại

Sáo diều vi vút vọng hồn quê…

THÙY DƯƠNG

 

Bài Họa

Vào hè

Vừa tiễn Xuân đi, vội đến Hè.

Đã nghe rộn rã nhạc đàn ve!

Sân trường đỏ thắm hoa cành phượng

Lối xóm xanh rờn mấy khóm tre

Giậu cúc ngạt ngào hương nhụy tỏa

Sen hồ mơn mởn cánh hoa xòe

Đâu đây giọng cuốc kêu vào Hạ

Bỗng thấy tâm hồn chạnh nhớ quê!

NS TỐ PHƯƠNG

 

Bài xướng

Tình Xuân Muôn Thuở

Xuân lại về đây với thế gian

Hoa xuân đua nở, nụ chưa tàn

Cành non mơn mởn khoe mầm biếc

Nắng sớm miên man trải ánh vàng

Xuân thắm lòng người, vui đất nước

Xuân tràn dải đất, đẹp giang san

Tình Xuân muôn thuở không phai nhạt

Xóa hết sầu đau lặng tiếng than!

THÙY DƯƠNG

 

Bài họa

Hương Xưa Còn Đọng!

“Hương Xưa” còn đọng với thời gian

Tắm ánh dương xuân sắc chẳng tàn

Lan huệ xinh tươi in vẻ ngọc

Cúc mai rực rỡ điểm hoa vàng

Bốn phương hòa nhập cùng non nước

Ba cõi sum vầy khắp hải san

Muôn thuở tình Xuân còn gắn bó

Vui chung thế sự dứt sầu than.

NS TỐ PHƯƠNG

 

Bài xướng

Nhớ Vườn Thơ Cũ

Bấy lâu im vắng bóng vườn thơ

Trách bạn tri âm luống hững hờ!

Vách cũ trống trơ, màu quạnh quẽ

Nền xưa vắng vẻ, nét hoang sơ

Cạn dòng lá thắm, hồn thao thức

Dứt hướng chim xanh, dạ thẫn thờ

Hỡi khách yêu thơ hằng ngóng đợi

Hữu tình xin lại nối đường tơ! …

THÙY DƯƠNG

 

Bài họa

Nhớ Vườn Thơ Cũ

Thơ thẩn ... thơ tìm đến bạn thơ

Thôi đừng hờn dỗi những duyên hờ

Trăng mò đáy biển, thời son trẻ

Bút nén vần thơ, nét thảo sơ

Lá thắm gởi theo hồn cựu mộng

Tình xanh nỡ phụ khách tôn thờ

Trà dâng trước án mời tri kỷ

Cạn chén tình ta trong tiếng tơ.

Nhà Thơ HOÀNG HẠC

 


Gặp Cô


Giữa thành phố mang tên vàng của Bác

Nắng bình minh rực rỡ gọi niềm vui

Lòng bâng khuâng nỗi sung sướng ngậm ngùi

Sau mười chín năm dài con gặp lại


Đôi mặt sáng, nụ cười hiền êm ái

Tóc pha sương, giọng nói ấm niềm tin

Dáng nghiêng nghiêng soi bóng nắng lung linh

Cô vẫn thế - như ngày con nhỏ dại


Con muốn nói bao nỗi niềm mong đợi

Muốn được cô ấp ủ giữa vòng tay

Ôm chầm cô như lúc tuổi mười hai

Để được khóc, được dỗ dành ve vuốt


Con xúc động nghẹn ngào rưng nước mắt

Mười chín năm đằng đẵng ngỡ chiêm bao

Con bàng hoàng, bao kỷ niệm xôn xao

Chợt sống lại – ngày vui qua vội quá


Con gượng dậy sau mỗi lần vấp ngã

Được vững vàng đầy nghị lực hăng say

Nhớ ngàn lời dạy bảo thuở thơ ngây

Con nguyện giữ làm hành trang cuộc sống


Con ghi khắc lời cô, đầy ước vọng

Vun đắp cuộc đời đến tận ngàn sau

Dù thời gian tàn phá mộng ban đầu

Dù cuộc sống bể dâu đầy thác lũ


Cô khắc đậm trong con lời nhắn nhủ

Lời khuyên lơn âu yếm ngọt ca dao

Nụ cười hiền, ánh mắt sáng như sao

Lòng can đảm vượt qua bao chướng ngại


Như lý tưởng rạng ngời soi sáng mãi

Đường tương lai vạn dặm ngút ngàn xa

Con nhớ hoài lời dạy bảo thiết tha

Của cô giáo ngày xưa con đã học


Cô là mẹ, là khuôn vàng thước ngọc

Là trăng sao hiền dịu xóa đêm đen

Là mặt trời tỏa nắng ấm triền miên

Là chân lý đưa đường con tiến bước.


NGÀN PHƯƠNG


Nghịch lý ứng xử

Bắt được chim, đốt nỏ

Bắt được thỏ, giết chó

Bắt được cá, quăng câu

Qua cầu rồi, rút ván

Hoạn nạn thì cùng chia

Vinh quang không cùng hưởng.

LÊ MINH CHỬ

TÌNH ĐỒNG NGHIỆP


Các bạn đồng nghiệp ơi!

Mỗi người ở một nơi,

Mỗi người một tính nết,

Hiểu nhau, chuyện trò vui như tết


Mỗi người làm một việc,

Thương nhau như ruột thịt,

Cùng chung một mục đích,

Làm sao hiệu quả đạt cao nhất.


Ta hiểu thấu hoàn cảnh của nhau

Một con ngựa đau, là cả tàu không ăn cỏ.

Tôi xin nói nhỏ

Bạn đáng yêu quá đi thôi!

Tôi yêu quý đồng nghiệp của tôi.

LÊ MINH CHỬ

EM VỀ


Em về tôi gởi lời yêu

Yêu trường Võ Tánh mỗi chiều bước ra

Đường về qua cầu Hà-Ra

Cù lao xóm Bóng gần nhà của tôi


Em về tôi gởi lời yêu

Yêu cơm phạn điếm1 chuyện nhiều vu vơ

Trường xưa bạn cũ mộng mơ

Hỏi em có biết trường giờ ra sao


Em về tôi gởi lời yêu

Yêu bãi cát mịn bóng chiều hoàng hôn

Chở trăng lên bóng vỗ cồn

Qua cầu xóm Bóng đầu thôn lên đèn


Em về tôi gởi lời yêu

Yêu Hòn Chồng đẹp dễ xiêu lòng người

Vòm trời biển nước xanh tươi

Câu thơ đục đá tiếng cười trao duyên


Em về tôi gởi lời thương

Thương thầy Bùi Luận nhớ đường Gráph phơi2

Ngày chủ nhật thả rong chơi

Tỉ tê ở rạp lúc ngồi hàng dương


Em về tôi gởi lời thương

Tiễn chân lối rẽ con đường ra ga

Chuyến tàu chuyển bánh khuất xa

Trên sân còn sót mình ta cột đèn


TRẦN VĂN HỮU

Ghi chú:

  1. Phạn điếm (Auberge): “hàng cơm”

“Auberge de la Jeunesse”: Quán trọ thanh niên

  1. Thầy Bùi Luận, anh của Bùi Giáng, dạy Pháp văn và Toán

Đường Graffeuil rồi đổi tên đường Độc Lập, hiện nay là đường Thống Nhất.


Sen HỒ TÂY


Nước Hồ Tây long lanh như mắt em

Hương sen bay ngập ngừng, man mác,

Lá sen non dập dờn mặt nước

Sao sóng hồ lay động thế em ơi?


Những bông sen như đuốc cháy ngời

Cứ thấp thoáng trên nền nhung xanh biếc

Anh muốn nói hơn một lời tha thiết:

Em là bông sen đỏ sáng trời mây!


Chẳng nói được gì, ngây ngất như say,

Anh nghe rõ tiếng tim mình đập mạnh.

Sao Hôm lên trên trời xanh sóng sánh,

Tiễn em về, hương sen bâng khuâng bay…


Hà Nội, 05.1971

VŨ ĐÌNH HUY

WESTERN LAKE LOTUS


The Western lake water is sparkling like your eyes

Lotus’ scent flew hesitantly, immensely

Green lotus leaves were wavering on the water surface

Why the lake waves were so stirring, of Dearest?


Lotus flowers were like glaring lighted torches

That appeared and disappeared on the velvety bluish sky

I wish to say more than a keen word:

You are the reddish lotus, enlightening the sky and clouds.


Unable to say anything, and getting into ecstasy like being drunk

I heard clearly my heart that beat strongly

The Evening star rose on the shaky blue sky

Seeing you off, the lotus scent dazedly flew…


Hà Nội, 05.1971

VŨ ĐÌNH HUY

Translated by VŨ ANH TUẤN


* Đây là bản dịch của ca khúc “Giã biệt Trường Yêu”


Mình Ơi… Mình À”

Mình Ơi… Mình À

“Mình với ta tuy hai mà một

Ta với mình tuy một mà hai”

Nhưng mình có tật nói dai

Nên chi ta cứ cãi hoài không thôi

Ta mình “hai đứa” một đôi

Lâu lâu giận dỗi mỗi nơi một người

Làm lành “hai đứa” lại cười

Xáp vào lại hoá hai người một đôi

Ngọt ngào cất tiếng “Mình ơi!”

Trên đời đẹp nhất là tôi với mình

Đôi khi có chuyện bất bình

Cãi nhau tôi lại với mình giận nhau

Nhưng mà giận chẳng được lâu

Giận nhau hôm trước hôm sau lại hoà

Nhìn mình tôi bật cười xoà

Nhìn tôi mình lại lăn sà vào tôi

Chúng mình như đũa có đôi

Có đôi để gọi “mình ơi, mình à!”

Bây giờ như cặp khỉ già

Nhưng mà vẫn cứ “mình à, mình ơi!”

Khi nào thấy vắng bóng tôi

Thì mình lại gọi: “Mình ơi, mình à”

Khi nào tôi thấy vắng bà

Thì tôi lại gọi: “mình à, mình ơi!”

Gọi nhau cho trọn cuộc đời ...

Tú Lắc

2010/07/27

Vè Thủy Trình

TỪ HUẾ ĐẾN SÀI GÒN

Ghe bầu các lái đi buôn

Đêm khuya ngồi buồn, kể chuyện ngâm nga

Bắt từ Gia Định kể ra

Anh em thuận hòa ngoài Huế kể vô

Trên thời ngói lợp tòa đô

Dưới sông thủy cát ra vô dập dìu

Trên thời vua Thuấn, vua Nghiêu

Ngoài dân, trong triều tòa chính sửa sang

Trên thời ngói lợp tòa vàng

Dưới dân buôn bán nghênh ngang chật bờ

Này đoạn các lái trở vô

Thuận An là chốn thuyền đô ra vào

Vát ra một đỗi khơi cao

Ta sẽ lần vào thì tới Cửa Ông

Nay đà giáp phủ Thuận Phong

Hòn Am, Cửa Kiếng nằm trong thay là

Nới lèo ráng bánh trở ra

Khỏi mũi Châu Mới thì ta lần vào

Ngó lên núi Ải rất cao

Ta sẽ lần vào Hồ Chuối, Hang Dơi

Ghe vô củi nước nghỉ ngơi

Hòn Hành nằm đó là nơi Cửa Hàn

Cửa Hàn còn ở trong xa

Ngoài mũi Sơn Trà lại có Hòn Nghê

Vũng Nồm, Vũng Bấc dựa kề

Mỹ Khê làng mới làm nghề lưới dăng

Ngó về Non Nước thẳng băng

Có chùa thờ Phật, Phật bằng linh thiêng

Lao Chàm nay đã gần miền

Hòn Lá, Hòn Lụi nằm liền Hòn Tai

Năm hòn nằm đó không sai

Hòn Khô, Hòn Dài lố nhố thêm vui

Ngó về Cửa Đợi thương ôi

Hòn Nồm nằm đó mồ côi một mình

Tam Ấp, Xà Bứa có rạn trời sinh

Bàn Thang, Cửa Lỡ liên kinh An Hòa

Sa Cần, Châu Ở ao xa

Ngoài mũi Cây Quít thiệt là Tổng Binh

Lâm Châm, cỏ ngựa trời sinh

Làng Gành, Mỹ Giảng ăn quanh Vũng Tàu

Nới lèo, ráng lái mau mau

Châu Me, Lò Rượu sóng xa Hòn Nhàn

Vát mặt xem thấy Bàng Thang

Ngoài thời lao Ré nằm ngang Sa Kỳ

Quảng Ngãi, Trà Khúc núi chi?

Có hòn Thiên Ấn dấu ghi để đời

Hòn Sụp ta sẽ buông khơi

Trong vịnh, ngoài vời, núi đất mênh mang

Buồm giăng ba cánh sẵn sàng

Anh em chúng bạn nhiều đàng tư lương

Mỹ Á, Cửa Cạn, Hàng Thương

Chạy hết Bãi trường xích thố băng băng

Vát ra khỏi mũi Sa Hoàng

Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa

Hèn chi lời thốt thuở xưa

Nam thanh nữ tú đã vừa con ngươi

Gặp nhau chưa nói đã cười

Kìa mũi Từ Phú là nơi nhiều ghè

Non xanh nước biếc chỉnh ghê

Bãi Hường, Gành Trọc dựa kề Lộ Giao

Ngó ra thấy Lố Khô Cao

Ta sẽ đi vào cửa cạn Hà Ra

Bàn Thang, Gành Mác bao xa

Trống Kinh, Hòn Đụn thiệt là Lố Ông

Ngó vô thấy mũi Di Rồng

Hòa Lan, Nước Ngọt ăn vòng Hòn Khô

Trực nhìn Suối Bún, Vũng Tô

Ông Ầm nằm đó lớn to vô hồi

Thương cha nhớ mẹ bùi ngùi

Hòn núi Kẻ Thử có người bồng con

Nhớ lời thề nước hẹn non

Bồng con tạc đá ghi son để đời

Vũng Nồm, Vũng Bấc buông khơi

Trong vịnh ngoài vời, Hòn Cỏ, Hòn Cân

Nam lò Eo Vượt rần rần

San Hô, Mũi Mác ăn lần Hòn Mai

Cửa Giá có hòn án ngoài

Các lái thường ngày hay gọi lao xanh

Vũng Mú, trong vịnh ngoài gành

Cù Mông, Vũng Trích ăn quanh bãi liền

Gành bà ai khéo đặt tên

Sơn Dương, Gành Mõm nối liền Vũng La

Bắt từ Vũng Lấm bương qua

Xuân Đài, Mũi Yến chạy qua Sông Cầu

Mái Nhà, Cát Xối liền nhau

Sơn thủy sắc màu tợ gấm kim quy

Ngó vô mây nước cực kỳ

Trong thì có mả, ngoài thì có lao

Giữa kinh có một Hòn Trào

Hòn Yến, Hòn Mác ăn vào Ma Liên

Hòn Chùa, Hòn Dứa nằm riêng

Chớp Chài nằm đó ăn liền Bãi Dinh

Ngó vô thấy tháp xinh xinh

Nới lèo, ráng lái Bãi Dinh dặn dài

Tuy Hòa cách chẳng bao dai

Qua khỏi nơi này tới mũi Trà Nông

Hòn Khô đá chất chập chùng

Thông trong có vịnh, giữa dòng có kinh

Mũi Nạy có Đá Bia xinh

Tạc để lưu truyền nối nghiệp Hùng Vương

Vũng Rô núi tấn bốn phương

Mịt mờ sơn thủy như sương tựa đồ

Bịt bùng chỉ một đường vô

Dầu nồm, dầu bấc không xô phía nào

Hòn Nưa không thấp không cao

Ta sẽ đi vào Bãi Võ sóng ngang

Hòn Gầm sóng vỗ đá vang

Chạy khỏi Cát Thắm lại sang Đồi Mồi

Anh em thề thốt than ôi

Chạy khỏi Đồi Mồi tới đầm Ba Gia

Ngó vô bãi cát Trường Sa

Có mũi Đăng Lưới, không nhà thôn dân

Xa Cừ nay đã hầu gần

Lần qua Bãi Giếng lánh thân Trâu Nằm

Nam lò Hòn Khói tăm tăm

Cứt Chim, Hòn Bạc, Cây Sung, Chà Là

Nha Trang, Đất Chụt bao xa

Kẻ vô mua đệm, người ra mua chằng

Gặp nhau chào hỏi lăng xăng

Xùng xình Bãi Miễu, phăng phăng lướt vào

Nhìn ra Nội, Ngoại sóng xao

Vát mũi chạy vào Bãi Dài, Con Nghê

Chụt đèn ngó xuống chỉnh ghê

Ngó về Hòn Tý dựa kề Cam Linh

Mò O, Dỏ Tó rất xinh

Lại thêm Đá Vách dựa kề Vũng Găng

Vũng Găng, Đá Vách tựa thành

Hai bên núi tấn vây quanh như buồng

Mặc dầu thuyền đậu bán buôn

Nào ai đình trú ở luôn mặc lòng

Túi thơ bầu rượu dong chơi

Buồm giương ba cánh nhắm vời chạy ra

Nam mù mù, Hòn Chông, Bãi Lúa

Khỏi Ma Văn ới tới Phan Rang

Vũng Tròn lai láng nguồn cơn

Trông xa thăm thẳm là rừng Mũi Dinh

Qua Mũi Dinh cho liền Chín Vại

Tắt mặt, bẻ lái đi ra

Nhắm chừng Bãi Lưới băng qua

Hướng Tây chỉ mũi, lái đà gác đông

An Hòa lẳng lặng muôn phần

Bãi Tiên đã khỏi, Khu Ông lại gần

Lao Cao, Cà Ná là đây

Lòng Sông, Mũi Chọ thẳng ngay La Gàn

Ngó vô thuyền đậu nghênh ngang

Gành Son, Trại Lưới tiếng vang làng nghề

Cửa Duồng nay đã gần kề

Lạch kia Phan Rí ghe nghề xôn xao

Nhắm chừng Mũi Nhỏ băng qua

Vũng Môn, Đá Dựng đã xa Hòn Hường

Hòng Nghề, Quang Thí dựa nương

Hòn Rơm, Mũi Né là đường vô ra

Ghe thuyền tụ tập gần xa

Phú Hài, Phan Thiết ấy là trạm trung

Hỡi ai đốn củi Gành Thông

Sơn Lâm một gánh chất chồng một vai

Kê Gà nay đã đến nơi

Anh em làm lễ một hồi cho qua

Nới lèo, quay lái trở ra

Hòn Lang, Cửa Cạn ấy là Tam Tâm

Sóng ào ào, buồm giương ba cánh

Chạy một hồi tỏ rạng La Gì

Hòn Bà, Rạn Gõ một khi

Ngoài khơi Rạn Đập, trong ni Rạn Hồ

Buồm giương ba cánh chạy vô

Hòn Bà, Hóc Kiểm quanh co Hồ Chàm

Kim ngân lễ vật cúng dường

Lâm râm khấn nguyện lòng thường chớ quên

Bãi Giống chạy thẳng Xích Ram

Lưới Rê qua khỏi, Rạn Cam nằm ngoài

Ngòi Ba Lũy sóng rền Cửa Cạn

Vát một hồi tỏ rạng Thùy Vân

Ngoài Kỳ Vân trong liền Giếng Bộng

Vát một hồi lồng lộng ra khơi

Ba non chót vót cao vời

Muốn cho khỏi rạn phải lơi ra ngoài

Vũng Tàu kia đã đến rồi

Trình đôn, rồi lại thẳng nơi Sài Gòn

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

BĐ st


NHỮNG NGƯỜI GIÀ

LES VIEUX

của Nhà văn hào Pháp ALPHONSE DAUDET

(Bạn ạ, bạn phải giúp đỡ tôi một phen. Bạn hãy đóng cửa nhà máy bột của bạn một ngày và đi ngay lập tức đến Eyguières… Eyguières là một thị trấn lớn, cách nhà bạn ba hoặc bốn dặm đường – một cuộc du ngoạn mà. Đến nơi, bạn hỏi thăm tu viện Dục Anh. Ngôi nhà đầu tiên kế bên tu viện là một cái nhà nhỏ thấp có cánh cửa nâu, với mảnh vườn nhỏ ở phía sau. Bạn vào khỏi cần gõ cửa – cửa luôn mở rộng – bạn cứ bước vào và la to: “Xin chào các cụ, tôi là bạn của Maurice đây…”. Rồi bạn sẽ thấy hai cụ già, ô! hai cụ già lắm, chìa tay ra mừng bạn từ trong ghế bành, và bạn cũng nhơn danh tôi mà ôm chầm các cụ với tất cả tấm lòng cũng như các cụ là của bạn vậy. Kế đó, là vào câu chuyện, các cụ sẽ nói cho bạn nghe về tôi, chỉ riêng về tôi thôi. Các cụ sẽ kể cho bạn nghe cả ngàn chuyện vớ vẩn mà bạn chú ý nghe, không cười… Bạn sẽ không cười nhé!... Đó là ông bà của tôi. Hai nhân vật mà tôi tôn trọng suốt cả đời, chưa hề gặp tôi một lần nào, kể từ mười năm qua… Mười năm thì dài quá. Nhưng mà, làm sao đây? Paris đang giữ chân tôi. Còn hai cụ thì quá già rồi, nếu có đi thăm tôi, ắt phải gẫy gánh giữa đường. May phước thay!, bạn có ở đó, ông chủ lò bột thân mến ạ!, và hai cụ già tội nghiệp này, trong khi ôm ấp bạn, cũng tưởng đã ôm ấp được tôi một chút nào đó… Tôi đã thường kể cho hai cụ nghe về chúng ta, và về tình bạn bè thân thiết mà…).

Quỷ thần cho cái tình bạn bè thân thiết!... Quả đúng là buổi sáng hôm nay đẹp trời, nhưng không có lý do nào xứng đáng để chạy rong trên đường: quá nhiều gió và quá nhiều nắng.

Trong khi cái thơ rầy rà nầy đến, tôi đã chọn một nơi trú ẩn giữa hai khối đá và tôi định ở đó suốt ngày, như một con thằn lằn, để tắm nắng, vừa nghe thông rừng ca hát… Rốt cuộc, thì phải làm gì đây?... Tôi đành đóng cửa nhà máy bột lại và dấu cái chìa khóa ở bẹt cửa vừa cầu nhầu…

Thế là tôi lên đường với cây gậy và tẩu thuốc hút.

Tôi tới Eyguières vào khoảng hai giờ. Làng mạc thì vắng vẻ, mọi người đều ra đồng làm việc. Trong những tàng cây trước sân đầy trắng bụi, mấy con ve sầu kêu inh ỏi. Rõ ràng là có con lừa đang phơi nắng trên quảng trường công sở, và chim bồ câu bay quanh giếng nước của nhà thờ, nhưng mà không có ai để chỉ bảo cho tôi nhà trẻ mồ côi. Cũng may, có một bà tiên già thình lình hiện ra, đang ngồi quay tơ ở xó cửa, tôi nói cho bà biết điều tôi muốn tìm. Vì bà tiên nầy có đầy quyền lực, nên bà chỉ cần giơ cái suốt chỉ lên, là tu viện Dục Anh hiện ra trước mặt tôi một cách thần kỳ. Đó là một ngôi nhà lớn đen ảm đạm, rất tự hào để trình bày trên cánh cửa to vòng cung, một thập tự giá bằng đá sứ đỏ với dòng chữ La Tinh chung quanh. Bên cạnh cái nhà nầy, tôi thấy có một gian nhà khác nhỏ hơn: cửa nâu, vườn nhỏ phía sau… Tôi nhận ra ngay thôi, và tôi bước vào mà không cần gõ cửa.

Tôi sẽ nhớ mãi suốt đời cái hành lang dài mát mẻ và yên tịnh, bờ tường màu hồng, mảnh vườn nhỏ phía sau ẩn hiện qua tấm màn màu nhạt… Cuối dãy hành lang, bên trái, qua cánh cửa hé mở, người ta nghe tiếng tích tắc của cái đồng hồ to và một giọng trẻ con, nhưng mà trẻ con của học đường, đang đọc ngập ngừng từng chữ: Thế… rồi… thánh… I… Rê… Nê… la… to… tôi… là… lúa… của… Thượng… Đế… tôi… phải… được… nghiền… nát… bởi… hàm… răng… của… những… con… thú… vật… nầy… Tôi rón rén đến cái cửa đó và nhìn vào.

Trong cái ánh sáng yếu ớt của gian phòng nhỏ yên tịnh, một ông lão mặt hồng hào, da nhăn đến tận ngón tay, đang nằm ngủ trong cái ghế bành, miệng há hốc, hai tay trên đùi. Dưới chân ông, một bé gái mặc áo xanh – trẻ mồ côi – đang đọc: Đời sống của thánh Irénée trong một quyển sách còn lớn hơn nó. Bài tập đọc mầu nhiệm nầy ảnh hưởng cho cả nhà. Cụ già ngủ trong ghế bành, đám ruồi bu trên trần nhà, con chim sáo nằm trong lồng, đằng kia cửa sổ, cái đồng hồ to trên tường kêu: tích tắc, tích tắc. Chỉ có ánh sáng nắng chiếu thẳng từ cửa rọi vào là còn tỉnh táo nhảy múa… Giữa sự ngủ quên toàn bộ, đứa bé tiếp tục đọc với vẻ mặt đầy nghiêm túc: Liền… đó… hai… con… sư… tử… nhảy… đến… và… vồ… lấy... Đó là lúc tôi bước vào… Con sư tử của thánh Irénée có thật sự nhảy vào cũng không tạo ra một sự sợ hãi hơn tôi. Quả là một biến cố thật sự!. Con bé buông tiếng la, quyển sách rớt xuống đất, con chim sáo nhảy nhót, đàn ruồi bay, đồng hồ đánh chuông, ông lão giật mình ngồi dậy, tất cả đều hốt hoảng, và luôn cả tôi cũng cảm thấy bối rối. Tôi dừng chân ở ngạch cửa và nói to:

- Kính chào cụ, con là bạn của Maurice đây.

Ô!, quả thật, nếu bạn trông thấy cụ già tội nghiệp; nếu bạn trông thấy cụ già, hai tay chìa thẳng ra để bắt tay tôi, để ôm chầm lấy tôi vừa nói:

- Ôi! Chúa ôi! Chúa ôi!

Tất cả nếp nhăn trên gương mặt cụ đều cười lên. Mặt cụ thì đỏ ửng, cụ lấp bấp:

- Chào cháu! Chào cháu!

Thế rồi, cụ quay ra phía sau và gọi:

- Bà Mamette ơi!

Cánh cửa mở và một bóng hiện ra, đó là bà Mamette. Không còn ai xinh hơn bà cụ, với cái nón trệt, áo nhà dòng, khăn cầm tay làm sang theo kiểu xưa… Có lẽ bà Mamette đã đau khổ nhiều trong cuộc sống nên trông bà còn nhăn nheo hơn ông. Bà cũng có một bé gái mồ côi mặc áo xanh theo sát bên như là cận vệ, và cứ xem hai người già được che chở bởi hai đứa bé gái mồ côi, mà người ta không thể tưởng tượng đuợc một cách nào khác mủi lòng hơn.

Vừa bước vào, bà Mamette cúi chào thì tiếng nói của ông cụ ngắt ngang cái chào làm hai:

- Đây là bạn của Maurice.

Và liền theo đó, cụ bà rung lên, mặt trở nên đỏ còn hơn ông cụ; cái khăn rơi mất tự bao giờ… Những người già chỉ còn vài giọt máu trong huyết quản, và chỉ cần có một cảm xúc nhỏ nhặt nào cũng khiến cho nó dồn tất cả lên mặt…

- Mau, mau, đem cái ghế lại – Bà lão sai đứa bé gái.

- Mở cửa sổ ra… Ông lão bảo bà.

Và mỗi người nắm một tay kéo tôi đến tận cửa sổ đang mở toác để nhìn tôi cho rõ.

Người ta mang ghế đến và tôi ngồi trên một ghế xếp, ở giữa hai cụ, hai đứa bé gái áo xanh đứng phía sau chúng tôi, và cuộc hỏi thăm bắt đầu:

- Nó có mạnh khỏe không? Nó đang làm gì vậy? Tại sao nó không về? Nó có được vui vẻ không?...

Và bô lô bô la như vậy có cả tiếng đồng hồ…

Còn riêng tôi, thì tôi ráng trả lời được chừng nào hay chừng nấy, về những điều gì mà tôi biết về bạn tôi, và bịa chuyện một cách trắng trợn những điều gì mà tôi không biết. Tôi phải thú thật rằng tôi chưa bao giờ để ý đến cửa sổ mở hay đóng, hoặc là vách phòng của bạn tôi dán giấy màu gì.

- Màu giấy của phòng anh ấy à? Màu xanh, thưa bà, màu xanh tươi, với bông hoa treo đầy…

- Thật thế à? - Bà lão thốt lên buồn bã và day qua bên chồng bà nói tiếp: - Nó là đứa trẻ ngoan ngoãn.

- Ô vâng!, nó là đứa trẻ ngoan ngoãn!... Ông lão đồ lại vui vẻ.

Và, trong suốt thời gian tôi nói chuyện thì giữa các cụ có những cái gật đầu khoái trá, những cái nheo mắt cảm động, những nụ cười tế nhị, những dáng vẻ hài lòng, hoặc là ông cụ còn xích lại gần tôi để bảo: - Cháu hãy nói to lên, tai bà cứng lắm…

Còn về bên bà cụ thì:

- Nói to lên một chút đi cháu, ông nghe kém lắm…

Thế rồi, tôi lên giọng nói, và cả hai cám ơn tôi bằng nụ cười; và trong những nụ cười khô héo ấy, luôn nghiêng về phía tôi, cố tìm tận trong mắt tôi hình ảnh của Mamette, đứa cháu cưng của hai cụ. Còn tôi, tôi rất cảm động để gợi lại hình ảnh đó, gần như mơ hồ cũng như tôi nhìn thấy bạn tôi cười xa xôi trong sương mờ vậy…

Thình lình, ông cụ đứng phắt dậy từ ghế ngồi:

- Nhưng mà, tôi nghĩ, bà Mamette ạ!, cháu nó chưa ăn cơm!

- Chưa ăn cơm!... Chúa ơi!

Và bà Mamette cũng hốt hoảng, hai tay giơ lên trời…

Tôi cứ nghĩ là hai cụ đang nói đến bạn Maurice, nên tôi định trả lời là đứa trẻ ngoan đó không bao giờ ăn cơm quá ngọ. Nhưng không phải, đúng là người ta đang lo lắng cho tôi; và phải biết sẽ có thể xảy ra một vụ lộn xộn như thế nào nếu tôi thú thật là tôi đang đói…

- Mau đem cái nắp bàn ra đây, bé áo xanh. Cái bàn đặt ở giữa phòng, cái khăn bàn lễ, mấy cái đĩa bông. Đừng cười các con, hãy làm nhanh lên.

Tôi tin chắc là mọi người làm nhanh, vì trong thời gian làm bể ba cái đĩa là bữa ăn dọn xong.

- Bữa cơm ngon lành, bà Mamette vừa nói vừa dẫn tôi đến bàn… Chỉ duy, cháu sẽ dùng một mình. Chúng ta đã ăn hồi sáng rồi.

Người già tội nghiệp nầy!, giờ nào người ta mời thì họ cũng đã ăn sáng rồi.

Bữa ăn ngon lành của bà Mamette gồm có một ly sữa, những quả chà là và một cái bánh ngọt với một tô gì như canh. Đó là thức ăn dùng để nuôi bà và các thành viên gia đình trong tuần! Và chỉ một mình tôi, tôi đã làm dứt điểm tất cả các món ăn dự trữ nầy!...

Thế là biết bao nhiêu sự phẫn nộ bao trùm lên bàn ăn!. Bởi vì, hai đứa bé áo xanh đang thì thầm bên nhau vừa thúc cùi chỏ cho nhau, và ở đàng kia, trong cái lồng, con sáo có vẻ như đang nói: - Ơ!, cái ông nầy, ông ăn hết ổ bánh ngọt của người ta rồi!

Tôi ăn tất cả, thật ra, gần như không chú ý, vì bận nhìn chung quanh tôi, cái phòng sáng sủa và yên tịnh mà nơi đây loang ra cái hương vị của những vật cổ xưa… Nhất là hai cái giường nhỏ mà tôi không thể rời mắt. Hai cái giường nầy giống như hai cái nôi. Tôi phác họa rằng: cứ vào buổi sáng, ba giờ đổ, người ta còn quấn trong chăn, lúc đó là giờ những người già thức giấc…

- Bà còn ngủ hả, bà Mamette?

- Không, tôi đã thức rồi, ông.

- Có phải Maurice là trẻ ngoan không?

- Ô!, vâng, nó là trẻ ngoan.

Và tôi cứ tưởng tượng như thể suốt cuộc nói chuyện, không ngoài chú ý đấn hai cái giường đặt cạnh nhau…

Trong lúc nầy thì một bi kịch khiếp đảm đang diễn ra ở góc phòng đầu kia trước một tủ đứng. vấn đề là phải lên trên kia, ở tầng chót để lấy một hũ sêri gì đó, để dành cho Maurice và bây giờ các cụ muốn đem xuống để mở ra đãi tôi. Mặc dầu có lời năn nỉ của bà cụ, ông cụ nhất quyết đi lấy một mình; đứng trên cái ghế, trong sự lo lắng của bà vợ, ông cụ vói lên… Bạn hãy nhìn rõ cái khung cảnh nầy, ông lão run run trườn lên, trong khi hai đứa bé áo xanh giữ cái ghế, bà Mamette giơ hai tay lên, thở hào hển phía sau, trong mùi hương cam của ngăn tủ mở đậm đà…

Sau cùng, qua nhiều cố gắng, người ta cũng đem được hũ mứt ngon xuống.

Ông cụ múc ra một chén đầy vừa thủ thỉ bên tai tôi một cách sành điệu:

- Maurice rất thích món mứt sêri nầy. Cháu sẽ hân hạnh được nếm một món ngon lành, do bà xã của qua làm đó…

Vâng! Bà xã của cụ làm nên bánh mứt, nhưng mà bà xã của cụ quên chao đường… Bạn muốn gì đây!... Người ta thường lẵm cẵm lúc về già… Mứt sêri của bà ghê thật!, bà cụ ơi!. Nhưng mà điều nầy không ngăn cản được, tôi ăn cho bằng hết, không nhăn mặt tý nào.

Bữa ăn chấm dứt, tôi đứng lên từ giã gia chủ. Ông bà còn muốn giữ tôi lại một lát để nói chuyện về đứa trẻ ngoan ấy, nhưng ngày đã xuống, nhà thì xa, phải về thôi…

Ông cụ cũng đứng dậy:

- Bà Mamette ạ, bà đem cái áo ra cho tôi!..., tôi muốn đưa tiễn cháu nó đến công trường.

Điều chắc chắn là trong thâm tâm bà Mamette cũng thấy là nên tiễn chân tôi ra công trường vì trời đang mát mẻ. Chỉ duy lúc bà mặc áo tay dài, cài nút xa cừ cho ông, một cái áo đẹp hiệu Ý, bà nói nhỏ:

- Ông đừng về trễ quá nhé!

Và cụ ông với vẻ tinh ranh:

- Hê! Hê!, tôi không biết, có thể…

Như vậy là ông bà nhìn nhau cười, và hai đứa bé áo xanh cũng cười khi thấy họ cười; trong góc chuồng con sáo cũng cười theo cách riêng của nó… Giữa chúng tôi, hương vị của sêri đã làm cho tất cả phải phần nào ngất ngây say…

Hoàng hôn đã xuống, lúc chúng tôi ước chân ra, ông cụ và tôi. Con bé áo xanh theo sau, cách khoảng, để dẫn ông về, mà ông không trông thấy. Ông cụ thì luôn hãnh diện đi trong vòng tay của tôi, như một người đàn ông khỏe mạnh.

Bà Mamette thì tươi tỉnh hẳn mà nhìn thấy như vậy từ ngạch cửa. Bà cụ có cái gật đầu bằng lòng vừa nhìn chúng tôi như thầm bảo:

- Dầu sao, cũng đáng thương cho ông nhà tôi… Ông còn đi đứng khỏe mà!...

Dịch thuật: THANH CHÂU


Phụ bản III



BẠN TÔI XIV

hay là

Vài Dòng về Những Người Bán Sách Cũ

và Những Khu Bán Sách Cũ Ngày Trước

Bạn tôi lúc này đã thật sự nghỉ không làm gì nữa, vì anh cho rằng những đóng góp của anh đã quá đủ để kể công với Mẹ Âu Cơ. Anh là người không tham lam, và anh tối kỵ những kẻ đã đạt được một vị trí rất cao ở một lãnh vực nào đó, mà vẫn còn muốn tỏ ra mình là người đa tài, nên đành phải gian manh thuê người vẽ hộ và làm nhạc hộ vân vân và vân vân rồi… ký tên mình! Bạn tôi cũng rất ít thiện cảm với những vị lúc này thích khoe tiếng Tây, bạ viết cái gì cũng chua một câu hoặc một từ tiếng Pháp đi kèm. Khổ một nỗi là câu thì sai văn phạm, mà từ thì sai chính tả! Hình như ngay lúc này đang có trào lưu “khoe Tây học”, chả là Anh học lúc này quá phổ biến, quá đại chúng rồi, nên chư vị đó quay lại khoe Tây học! Điều đó buồn cho người Việt chúng ta bao nhiêu, thì lại đáng vui cho ngoại nhân bấy nhiêu, vì họ được dịp cười xả láng mỗi khi bắt gặp những điều kỳ diệu như vậy. Đúng ra, nếu những con người đó giỏi Tây học thật, thì không người này biết cũng có người khác biết, cần quái gì phải lê văn khoe! Hơn nữa, ước gì những kẻ đó hiểu được rằng giỏi Tây học, Hán học, hay gì gì học đi nữa thì cũng chẳng có nghĩa lý gì, chỉ có giỏi Ta học mới đáng khoe, đáng kể, đáng tôn trọng…

Sáng nay anh ghé tôi và rủ tôi đi câu. Tôi thì cũng rỗi không kém gì anh, nếu không muốn nói là còn rỗi hơn anh, nên tôi đồng ý (chứ không thèm nói OK) liền! Một giờ đồng hồ sau, hai chúng tôi đã có mặt ở Khu Câu Cá Cà Mau ở ngay chân cầu Rạch Chiếc Q.2. Khác với lúc trước có thể ngồi câu cả buổi, lần này mới sau hơn một tiếng, cả hai chúng tôi đã thấy mệt nên ngưng câu, trở vào ngồi nghỉ và uống cà phê. Tôi hỏi anh: “Về chăng?”. Anh bảo tôi: “Không! Tôi đã dặn ở nhà là xế trưa mới về và đừng chờ cơm, vậy ta cứ ở đây hưởng khí trời trong mát!”.

Mỗi khi có cơ hội ở bên anh lâu lâu như hôm nay, tôi thường hỏi anh về một đề tài nào mà tôi muốn biết, vì bạn tôi biết khá nhiều, và nhớ khá dai. Biết anh là người chơi sách và đang giữ cả ngàn cuốn sách Pháp hồi thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ 20. Tôi muốn hỏi anh về những người bán sách cũ từ thời trước tới ngay lúc này, vì thoáng một cái cũng đã đúng một nửa thế kỷ, và hai, ba thế hệ người bán sách cũ rồi!

Với ánh mắt mơ màng như thoáng nhớ về dĩ vãng, anh bảo tôi: “Được, Tuấn muốn nghe thì mình kể, nhưng chuyện được chuyện chăng thôi đấy nhé! Mình không bảo đảm là nhớ đúng hết mọi chuyện đó! Và anh bắt đầu kể:

“Sau ngày vào Nam, người bán sách cũ đầu tiên mà tôi gặp, và cũng là người bán sách cũ kỳ cựu nhất, là ông Nguyễn văn Thực, ông có một cái quán trên đường Lê Lợi (lúc đó mang tên tây là đường Bonard) đối diện với Nhà Sách Khai Trí ở số 62; ông Thực dáng người nhỏ nhắn, tính tình hòa nhã, vui vẻ, mỗi khi nói chuyện với ai thường hơi ngước mắt lên và cười cười. Tôi gặp ông và hai người trở nên thân thiết với nhau khá nhanh, mỗi khi có gì thuộc loại tôi thích tìm, ông liền cất riêng để dành cho tôi, ông chỉ có một người cháu gái giúp ông trong việc bán sách, và tôi không được biết gì hơn về gia đình ông. Cách quán của ông Thực vài căn là quán của ông Tư Chà, mà ngày nay con cháu cả mấy anh em vẫn còn nối nghiệp ở đường Trần Nhân Tôn, và người mà tôi giao thiệp nhiều nhất và khá thân là cháu Minh Em. Tôi không thân với ông Tư Chà và không mua được của ông nhiều sách bằng của cháu Minh Em, con ông. Xa hơn tí nữa, ở chỗ quẹo trái sang đường Công Lý (tên tây là De Gaulle) là một cái quán của một người tự xưng là có liên quan tới chuyện viết lách, nhưng tôi chưa hề được thấy một tác phẩm nào của ông ta vì không thân với ông ấy lắm, cái quán của ông này mang tên là quán Văn Chương. Kế ngay quán Văn Chương và ở sát ngay cổng chính của Bộ Công Chánh là quán sách của 2 anh em Tánh và Sang. Tôi không giao thiệp gì với 2 người này vì sách họ kinh doanh phần lớn là sách mới nên tôi không thích lắm. Cách quán của 2 anh em Tánh và Sang là quán của Bà Ký, là bà cụ thân sinh của một Hiệu Trưởng một trường Đại Học hiện nay, và bà Ký cũng mới qua đời mấy năm trước. Cách quán bà Ký một quán là quán của ông bạn thân thiết nhất của tôi, ông Trần Công Liễu, một cựu công chức ở Bộ Công Chánh đã nghỉ hưu, ông Liễu có một đàn em phụ giúp công việc nay vẫn còn tiếp tục nghề bán sách và làm sách và đã thành công, trở thành giàu có, và hiện ở ngay cạnh nhà tôi. Ông Liễu còn có một người vợ bé kém ông trên 20 tuổi, cũng phụ ông trông nom cửa hàng sách. Ông qua đời trên 10 năm về trước và có một người con nối nghiệp ông được vài năm rồi bỏ nghề luôn. Quan hệ giữa tôi và ông Liễu khá mật thiết, tôi mua được của ông khá nhiều sách quý mà ông ưu ái dành bán cho tôi. Sau ngày Giải Phóng, chợ sách cũ ngang hông Bộ Công Chánh có được một vài người bán sách cũ đặc biệt như nhà giáo Nguyễn Văn Y, tác giả cuốn Nhà Giáo và một cuốn sách về Kiều mà tôi quên mất tên, và Dịch giả Nguyễn Minh Hoàng, nhưng những vị này cũng chỉ bán trong một thời gian ngắn rồi thôi.

Nghe bạn tôi kể tới đây, tôi ngắt lời anh rồi hỏi: “Anh có kỷ niệm gì đặc biệt với chợ sách ngang hông Bộ Công Chánh không?”. “Có, có một kỷ niệm mà tôi nhớ mãi”, và anh kể: “Đó là một buổi sáng Chủ Nhật, không hiểu sao buổi sáng hôm đó tôi lại nổi hứng cho tài xế mang xe đi rửa (hồi đó tôi xài một cái Renault 10 của Pháp), và vì đi rửa xe nên khi tôi ra đến chợ sách thì đã gần 9 giờ rưỡi sáng. Vừa ra tới nơi, tôi trông thấy ông cụ Sển ngồi chễm chệ trên một xe xích lô chở đầy sách cả trước lẫn sau, và ngay đằng sau chiếc xích lô chở cụ và sách, là một cái xích lô khác trên có một cô gái, cũng chở đầy sách cả phía trước lẫn phía sau, và tôi nhận ra cô gái là cháu bà chủ tiệm sách ở phía bên kia đường. Hỏi ra mới biết là bà ta mua được kho sách bán ve chai của Tu Viện Béthania ở Chí Hòa thì phải, và ông cụ Sển ra trước nên vồ được 2 xe xích lô sách phần lớn là sách của những năm 1860, 1870. Té ra, gặp được sách là phải có cơ duyên, mọi Chủ Nhật khác, nếu không đi rửa xe, thì 7 giờ rưỡi là tôi đã có mặt, sức mấy mà tới lượt cụ Sển. Thế nhưng, khi tôi hỏi bà chủ tiệm là mang ra hết cả rồi à, thì bà bảo: “Không! Mới độ 1/3”. Thế là tôi bảo bà giao tiệm sách cho người nhà trông và theo tôi ra xe về nhà bà, để rồi sáng hôm đó tôi cũng lựa được cho tôi trên 100 cuốn vừa tiếng Pháp vừa tiếng Việt”.

Rồi anh kể tiếp: “Ít lâu sau, chợ sách ngang hông Bộ Công Chánh được chuyển về hẻm Cá Hấp, ngay sau đường Trần Hưng Đạo, cũng vẫn những người cũ, có thêm một người mới nghe đâu là một giáo sư Đại Học, nhưng tôi không chú tâm tới nhân vật này lắm vì sách của anh ta không hấp dẫn gì cho lắm, và tôi có tiếp xúc với anh ta một hai lần, thì thấy trình độ ngoại ngữ của anh ta rất giới hạn. Lúc ở hẻm Cá Hấp này cũng là lúc rất vui, vì sạp nọ kế tiếp sạp kia và mọi người đều có vẻ hòa thuận với nhau, tuy nhiên số sách hiếm và quý cũng giảm hẳn so với lúc ở ngang hông Bộ Công Chánh.

Sau đó, khoảng hơn một năm sau thì chợ sách ở hẻm Cá Hấp cũng bị giải thể và những người bán sách cũ tản mác đi nhiều nơi chỉ tụ tập lại nhiều nhất ở đường Trần Nhân Tôn, và một số trên đường Trần Huy Liệu Phú Nhuận cho tới ngày nay.

Tóm lại tôi chỉ nhớ lại được có vậy, nhưng Tuấn ạ, tất cả đều là những kỷ niệm đẹp vì thời đó giá cả sách tốt hơn bây giờ nhiều. Giờ đây giá sách trên trời dưới biển, và hễ cứ sách gì cũ độ 5, 6 chục năm hoặc là sách Anh-đô-chin-nơ (Indochine) là giá cao… mệt nghỉ.(*)

Ngay lúc này, tôi chỉ còn lại 3 người bán sách cũ thân thiết nhất: người thứ nhất là cô Soa, một cựu giáo viên mà tôi và cô ta đã quen nhau đúng nửa thế kỷ, và cô đã bán cho tôi, cũng như tôi đã mua của cô cơ man nào là sách báo, luôn luôn với những giá cả tuyệt vời. Ngoài ra cô còn được tôi phong là Ngân Hàng Đặc Trách Đổi Tiền vì cửa hàng của cô ở ngay trước cửa nhà tôi, và mỗi khi tôi cần xài một tờ 500.000 là tôi mang đổi cho cô, do đó cô có tên là Ngân Hàng Đặc Trách Đổi Tiền. Người thứ nhì là cô Thư, một người bán sách cũ kỳ cựu, mà vì một hiểu nhầm tai hại, tôi và cô đã không được mua bán sách cho nhau trong gần 20 năm trời; gần đây, nhờ ơn Trời, chúng tôi đã được trở lại mua bán vui vẻ với nhau, và tôi đã mua được của cô nhiều cuốn sách mà tôi cực kỳ ưa thích, ví dụ như cuốn tự điển các từ chữ Hán được La tinh hóa mà tôi rất cần dùng.

Trở lại việc giá cả sách cũ ngày nay rất cao, ngoại trừ nơi các nhà sách của hai cô bạn tôi vừa nói ở trên, ở nhiều chỗ khác những người bán sách cũ còn tính cả sự trượt giá của giá vàng và đồng tiền, để căn cứ vào đó mà tính giá sách khiến giá sách lên cao vòi vọi, khó đụng tới nổi.

Ngay đến anh bạn thân của tôi, ý tôi muốn nói người bán sách cũ thứ ba mà tôi thân, lúc này anh cũng hét giá cao, đến nỗi mỗi lần tôi chọn được cuốn nào đưa anh, đều phải bảo anh: “Này, ông ra phán quyết đi, mà phải đúng tình đúng tội đấy nhé!” . Tôi nói vậy vì mê sách cũng là một cái tội mà! Và chính nhờ căn dặn như vậy nên anh thường tuyên án vừa phải chịu được. Một hôm anh tuyên án quá nặng nên tôi đã đùa, nhưng cũng có độ 10% thật, khi làm tặng anh 2 câu thơ trường phái Thiên Cữu như sau:

“Khi xưa, xử có ân tình,

Bây giờ toàn xử tử hình mà thôi!”

Từ ngày được tặng 2 câu thơ trên, anh tuyên những án nhẹ hẳn…

Rời Khu Câu Cá Cà Mau, chúng tôi ghé một tiệm ăn, cùng dùng cơm trưa và ra về lúc gần 1 giờ trưa…

Vũ Anh Tuấn

(*) Anh-đô-chin-nơ là cách phát âm từ Indochine của phần lớn những người bán sách cũ 


NHỮNG SỐ 7 KỲ DIỆU 

Khi đản sanh Thái Tử bước 7 bước rồi dừng lại. Vậy con số 7 có ý nghĩa gì? Nếu nói theo kinh Đại Bát Nê Hoàn 3 nêu ý nghĩa tứ phương thất lộ như sau:


1. Lúc mới ra đời, Đức Phật đã đi 7 bước trên 7 đóa sen vàng.

Ý nghĩa số 7 trong Phật Giáo:

Bảy bước về phía đông biểu thị bậc đứng đầu dẫn đạo chúng sanh.

Bảy bước về phía nam là thị hiện vì chúng sanh làm phước điền vô thượng.

Bảy bước về phía tây là thị hiện thân sau cùng vĩnh viễn đoạn tận cái khổ sanh lão bịnh tử.

Bảy bước về phía Bắc là thị hiện đã hóa độ các loài hữu tình sanh tử.

Như vậy thuyết 7 bước, có nhiều kinh nói đến như sau:

Theo tư tưởng kinh Hoa Nghiêm toàn thể vũ trụ trên, dưới, trong, ngoài, phải, trái và chính giữa. Từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi tu di tất cả không ngoài con số 7 như:

Thất Đại: là địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức.

Thất thánh tài: là tín, tấn, giới, tàm quý, văn, xả, huệ.

Thất chúng: là tỳ kheo, tỳ kheo ni, thức xoa, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di.

Thất Phật: là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp và Phật Thích Ca.

Thất thánh quả: là Tư đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm , Ala hán, Duyên giác, Bồ Tát, Phật là quả vị tối cao.

Trong 37 phẩm trợ đạo chia làm 7 khoa là Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ Đề phần, Bát chánh đạo phần.

Con số 7 còn tượng trưng cho sự thành tựu sinh hóa cả vũ trụ không gian là đông,tây, nam, bắc; thời gian là quá khứ, hiện tại, vị lai.

Ngay cả trong sự sống chết của con người như lập đàn Dược Sư Thất Bảo để cầu an, hay tổ chức thất thất trai tuần để cầu siêu.

Vì thế con số 7 đã gắn liền ý nghĩa với sự hình thành và phát triển của nhân sinh và thế giới trong vũ trụ quan qua tầm nhìn Phật Giáo.

2. Có bảy “lỗ” trên đầu là:

2 mắt

2 lỗ mũi

2 lỗ tai

1 (lỗ) miệng

3. Chiến thắng lớn nhất trong trò quay số Slot Machine là 777 (đôi khi là 77777).

4. Bảy thiên thể (sao, hành tinh, vệ tinh,…) mà mắt thường có thể nhìn thấy trong Hệ Mặt Trời là (bắt đầu từ số 1 trên cùng, đi theo đường xiên phải xuống phía dưới):

Sun – Mặt Trời

Moon – Mặt Trăng

Mars – Sao Hỏa

Mercury – Sao Thủy

Jupiter – Sao Mộc

Venus – Sao Kim

Saturn – Sao Thổ

5. Bảy thiên thể này tương ứng với bảy ngày trong tuần là:

Sunday – Chủ nhật

Monday – Thứ hai

(Pháp) Mardi – Thứ ba

(Pháp) Mercredi – Thứ tư

(Pháp) Jeudi – Thứ năm

(Pháp) Vendredi – Thứ sáu

Saturday – Thứ bảy

6. Số 7 là một số nguyên tố (Prime number).

7. Tổng của 2 mặt đối nhau trên một quân xúc xắc chính cống là 7.

Nói cách khác, không có 2 mặt nào trong số 3 mặt mà chúng ta nhìn thấy trên 1 quân xúc xắc có tổng bằng 7.

8. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn Kim Dung là “Lộc đỉnh ký” (1972). Nhân vật chính tên là Vi Tiểu Bảo – một anh chàng bất tài, văn dốt vũ dát nhưng lại có đến tận… 7 cô vợ đẹp như tiên. Bảy người vợ đó là:

Song Nhi

Phương Di

Tô Thuyên

Tăng Nhu

A Kha

Tiểu quận chúa Mộc Kiếm Bình

Kiến Ninh công chúa

9. Bảy chú lùn trong truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” làm việc ở mỏ kim cương và có tên tiếng Anh là:

Dopey (lơ mơ, thẫn thờ)

Bashful (rụt rè, xấu hổ)

Sneezy (hắt hơi)

Sleepy (ngái ngủ)

Happy (vui vẻ)

Grumpy (gắt gỏng, cục cằn)

Doc (thầy thuốc)

10. Có 7 ”nhánh” trên vương miện của tượng Nữ thần Tự do.

11. Bạn không bao giờ gập đôi được một mảnh giấy bất kỳ quá 7 lần.

12. Nước tinh khiết nhận giá trị là 7 (trung tính) trên thang đo độ pH.


13. Cả thế giới đã lên “cơn sốt số 7″ vào thứ 7 ngày mùng 7 tháng 7 năm 2007. Hôm đó, 7 kỳ quan của thế giới mới được công bố tại Lisbon, Bồ Đào Nha; chương trình hòa nhạc “Live Earth” diễn ra tại 7 châu lục cũng như hàng chục ngàn cặp tình nhân tổ chức hôn lễ với những tiêu chuẩn “hoàn hảo” như 7 phù dâu, 7 phù rể, bánh gâteau 7 tầng, hoa 7 loại, tiệc 7 món, vv…

14. Một số điện thoại địa phương có 7 chữ số.

15. Ánh sáng trắng – Cầu vồng: gồm 7 sắc

1- Đỏ

2- Cam

3- Vàng

4- Lục

5- Lam

6- Chàm

7- Tím

16. Âm nhạc có 7 nốt:

Đồ

Mi

Pha

Sol

La

Si

17. Trong cuốn sách “7 thói quen của người thành đạt” (7 habits of Highly Effective People) của Stephen R. Covey - một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thế giới, như tiêu đề, gồm 7 thói quen.

Thay đổi từ trong ra ngoài

Luôn chủ động

Bắt đầu bằng định hướng tương lai

Việc quan trọng làm trước

Lợi người – lợi ta

Hiểu rồi được hiểu

Cùng hiệp đồng

18. Bí số của James Bond lừng danh là 007.

19. Bảy điều lạ ở Thụy S ĩ :

Có nước Thụy Sĩ mà không có tiếng Thụy Sĩ. Ngôn Ngữ chính của nước này là Đức, Ý, Pháp. Người dân của nước này là do người dân của 3 nước Đức, Ý, Pháp hợp thành. Nhiệm kỳ của nguyên thủ nhà nước và người đứng đầu nhà nước chỉ có 1 năm. Thụy Sĩ tuy là nước trung lập vĩnh cửu nhưng có lực lượng quân đội rất quy củ. Đây là một loại chính sách trung lập vũ trang. Thụy Sĩ có diện tích rất nhỏ, tài nguyên khan hiếm nhưng thu nhập ngoại tệ khá nhiều, mức sống của người dân khá cao.

Tuổi đến trường của học sinh không đồng nhất, thời gian khai giảng cũng không giống nhau, chế độ giáo dục và nội dung giảng dạy trong nhà trường của từng bang cũng khác nhau.

Thụy Sĩ không gia nhập Liên Hợp Quốc nhưng tổng bộ của Liên hợp quốc lại được đặt ở Genève (Thụy Sĩ). Ngoài ra, tổng bộ của Hội chữ thập đỏ quốc tế và tổ chức lao động quốc tế cũng được đặt tại đây.

20. Bảy thứ quý báu (Thất Bảo):

Vàng bạc

Ngọc

Hổ Phách

Mã Não

Xà Cừ

San Hô

Lưu Ly

21. Có 7 vị chính:

Chua

Cay

Mặn

Ngọt

Đắng

Chát

Nồng

22. Có 7 ngành nghệ thuật:

Hội họa

Điêu khắc

Chạm trổ

Kiến trúc

Sân khấu

Âm nhạc

Điện ảnh

23. Số 7 kỳ diệu trong phép nhân

và chia phép chia 1/7 = 0,142857

142857 * 1 = 142857

142857 * 2 = 285714

142857 * 3 = 428571

142857 * 4 = 571428­

142857 * 5 = 714285

142857 * 6 = 857142

Khi ta nhân 142857 với 7, kết quả là:

142857 * 7 = 999999

24. Phép khai căn bậc 7 kỳ diệu:


25. Có 32 quân trên bàn cờ tướng, gồm 7 loại quân khác nhau là:

Tướng

Tượng

Xe

Pháo

Trốt

26. Bảy ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng (Ursa Major) tạo thành mảng sao Bắc Đẩu (Big Dipper), còn được gọi là Bắc Đẩu thất tinh. 7 ngôi sao đó là:

Dubhe – Sao Tham Lang

Merak – Sao Cự Môn

Phecda – Sao Lộc Tồn

Megrez – Sao Văn Khúc

Alioth – Sao Liêm Trinh

Mizar – Sao Vũ Khúc

Alkaid – Sao Phá Quân


27. Nữ tác giả người Anh Joanne Kathleen Rowling đã trở thành 1 trong những người giàu có nhất thế giới với bộ truyện lừng danh Harry Potter. Bộ truyện gồm 7 cuốn là:

Harry Potter and the Philosopher’s Stone

– Harry Potter và Hòn đá phù thủy.

Harry Potter and the Chamber of Secrets

– Harry Potter và Phòng chứa bí mật.

Harry Potter and the Prisoner of Azkaban

– Harry Potter và Tên tù ngục Azkaban.

Harry Potter and the Goblet of Fire

– Harry Potter và Chiếc cốc lửa.

Harry Potter and the Order of the Phoenix

– Harry Potter và Hội phượng hoàng.

Harry Potter and the Half-Blood Prince

– Harry Potter và Hoàng tử lai.

Harry Potter and the Deathly Hallows

– Harry Potter và các Tử thần tích.


Số 7 được coi là con số có ma lực mạnh mẽ nhất trong truyện và được lặp lại nhiều lần. Nhân vật nam chủ chốt của truyện là Harry James Potter, sinh ngày 31 tháng 7. Ginny là đứa con thứ 7 trong gia đình Weasley (con gái út). Chương trình học tại Học viện Hogwarts kéo dài trong 7 năm. Chúa tể hắc ám Voldemort chia tâm hồn mình ra làm 7 phần và gửi vào 7 chiếc Trường Sinh Linh Giá vv… và vv…

28. Có 7 vị thần mang đến may mắn cho con người trong nền văn hóa Nhật Bản. Họ được gọi là Shichifukujin, thường được miêu tả, phác họa với vẻ ngoài khá ngộ nghĩnh, ngồi trên chiếc thuyền Takarabune chở đầy kho báu và bảo bối.

Thất Phúc Thần gồm có:

Daikoku: thần của thương nghiệp và của cải, mùa màng; là cặp bài trùng với thần Ebisu. Thần Daikoku thích Phật-Pháp-Tăng và ăn uống, có thể mang đến may mắn và biến điều ước thành sự thật; hay cầm một cái bao và chiếc vồ nhỏ bằng gỗ.

Bishamon: thần bảo vệ Phật giáo và hòa bình; ban phát của cải và may mắn cho người nghèo hoặc những người xứng đáng. Thần là người mặc quân phục màu xanh lá và cầm mâu trong hình.

Benten: vị thần nữ duy nhất. Bà là thần của kiến thức, tài biện luận, âm nhạc và cái đẹp.

Fukurokuju: thần Phúc-Lộc-Thọ, là vị thần của những điều may mắn, tiền tài, trí tuệ, công danh và sức khỏe. Thần đứng thứ 3 trong hình vẽ, đội mũ văn nhân, cầm gậy.

Jurojin: phiên âm Hán-Việt là “Thọ lão nhân”, thần của sức khỏe, sự trường sinh và trí tuệ. Thần được vẽ với cái đầu rất dài, râu dài bạc phơ, cầm trượng dài, trên trượng có gắn bí kíp trí khôn nhân loại, đặc biệt có phần nói về cách sống lâu.

Ebisu: thần phù hộ người đi biển và nhà nông. Bạn có thể thấy Ebisu là vị thần đầu tiên đội mũ đỏ, cầm cần câu và ôm cá trong hình.

Hotei: thần của tiền tài, phước lộc và sự thịnh vượng. Ông là một vị thần mập mạp, hay cầm quạt tre (hay lá chuối gì đó ), thường được người Việt Nam gọi là “Phật cười”.


29. Bảy công trình kiến trúc và điêu khắc được người xưa cho là vĩ đại nhất hợp lại thành danh sách “Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại”, gồm có:

Đại kim tự tháp Giza (Ai Cập) - kỳ quan duy nhất trong danh sách còn tồn tại đến ngày nay.

Vườn treo Babylon (Iraq)

Tượng thần Zeus ở Olympia (Hy Lạp)

Đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ)

Lăng mộ Mausolus ở Halicarnassus (Thổ Nhĩ Kỳ)

Tượng thần mặt trời Helios ở Rhodes (Hy Lạp)

Hải đăng Alexandria (Ai Cập)


30. Quidditch là một môn thể thao hư cấu dành riêng cho giới phù thủy, do nữ nhà văn người Anh J.K. Rowling sáng tạo ra cho bộ truyện Harry Potter của bà. Một đội Quidditch có 7 cầu thủ, gồm:

3 chasers (truy thủ)

1 keeper (thủ quân)

2 beaters (tấn thủ)

1 seeker (tầm thủ)

Harry Potter là một seeker, có nhiệm vụ đuổi bắt trái bóng vàng Snitch để kết thúc trận đấu (và chiến thắng, dĩ nhiên!).

31. Bức tranh vui dưới đây minh họa 7 giai đoạn tiến hóa của con người.


32. Bà Sofia A. Tolstaya từng copy bản thảo cuốn tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa bình” của chồng mình là tiểu thuyết gia người Nga Leo Tolstoy những 7 lần, mà lại là copy bằng cách… chép tay.

33. Nếu bạn biết rằng trong tiếng Thụy Điển: 7 = sju

10 = tio

100 = hundra

1000 = tusen

thì bạn có viết được số 7777 bằng chữ không ?

Quá đơn giản, chỉ việc viết gộp các thành phần của nó lại là xong. Tức là:

7777 = 7000 + 700 + 70 + 7 = sjutusensjuhundrasjuttiosju

34. Thế giới có thể được phân chia thành nhiều nhất 7 lục địa: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Âu, Á, Phi, Úc, Nam Cực.


Bs Nguyễn Lân Đính st

MARYLAND

HÃNH DIỆN VỚI TRẠI DAVID

VÀ THÀNH PHỐ BALTIMORE

THÀNH PHỐ BALTIMORE :

Được đặt theo tên Nam tước Baltimore, người thành lập thuộc địa này, sau là Tiểu bang Maryland (MD). Là thành phố lớn nhất của MD, Baltimore là Thành phố tương đương Hạt (County-equivalent City).

Trong thành phố này có Siêu thị Hàn Quốc, ở đây chuyên bán hàng và thực phẩm mang từ chính Hàn Quốc sang. Người Việt cũng hay đi mua sắm tại ngôi chợ này, mỗi khi thèm ăn món Á châu, vì chợ Việt phải đến Philadelphia, Pennsylvania hoặc Siêu thị Eden, Virginia mới có và hai ngôi chợ Việt này nằm ở khá xa.

BALTIMORE CÓ BỆNH VIỆN JOHNS HOPKINS SỐ 1 HOA KỲ:

Theo US. News & World Report, bệnh viện này đứng đầu tại Hoa Kỳ từ năm 1991 – 2011 và mới đây vào ngày 17-7-2012 vẫn là bệnh viện số 1 về các chuyên khoa: - Tai mũi họng – Lão khoa – Thần kinh – Tâm lý và – Thấp khớp. Tên bệnh viện JohnS HopkinS khó phát âm vì có hai chữ S, nên rất nhiều người ghi lầm là John Hopkins. Tên Johns là dòng họ của đại điền chủ Richard Johns với 4.000 acre đất ở Hạt Calvert, Maryland, có con gái là Magaret Johns kết hôn với Gerald Hopkins năm 1700 sinh ra con trai là Johns Hopkins (giữ nguyên tên con gái của mẹ là Johns), sau ông thành lập trường đại học Y khoa Johns Hopkins – một trong các trường Y khoa nổi tiếng ở Bờ Đông nước Mỹ - và bệnh viện Johns Hopkins chữa bệnh cho mọi bệnh nhân, bất kể là da trắng hay da màu. Chính vì thế, mới lưu danh với tế bào HeLa đặc biệt.

BALTIMORE nổi tiếng với Tế bào HeLa – một cái chết trở thành Bất tử:

Thành phố Baltimore ngày 29-1-1951 vào một ngày trời mưa. Vợ chồng da đen David Lacks và Henrietta Lacks, trên chiếc xe Buick cũ kỹ, đang vượt 30km để đến bệnh viện Johns Hopkins thuộc Thành phố, vì chỉ có bệnh viện này mới nhận các bệnh nhân da đen vào những năm 1950 của thế kỷ 20. Từ hơn một năm nay, Henrietta than với họ hàng là hình như cô có “một cái nơ trong bụng”, thế rồi cô sinh đứa con thứ 5, dù chưa tới 30 tuổi. “Cái nơ trong bụng” vẫn làm cô đau âm ỉ.

Khi khám trong bệnh viện, bác sĩ Howard Jones cho cô biết: cổ tử cung của cô có một khối u Ung thư. Với tất cả những phương tiện y khoa hiện đại nhất lúc bấy giờ, nhưng các bác sĩ cuối cùng đành bó tay trước số phận nghiệt ngã. Henrietta qua đời ngày 4-10-1951 sau một cơn đau khủng khiếp, khi vừa kỷ niệm sinh nhật lần thứ 31 của mình.

Sau 61 năm kể từ ngày mất, Henrietta Lacks vẫn có mặt trên thế gian này, trong những ống nghiệm của hàng ngàn phòng thí nghiệm khắp thế giới.

Vài ngày sau khi phát hiện khối u trong cổ tử cung, cô phải trải qua một cuộc phẫu thuật. Cô không biết rằng các bác sĩ đã trích vài Tế bào Ung thư trong tử cung của cô để giao cho bác sĩ George Gey, chủ nhiệm phòng Phân tích Y khoa. Vào đầu những năm 1950, rất nhiều nhà khoa học đã thử cấy các Tế bào của người trong ống nghiệm (cấy ngoài cơ thể). Mấy chục năm trước đó, nhà phẫu thuật người Pháp Alexis Carrel đã thành công trong việc cấy những tế bào tim của Gà giò và nuôi sống tế bào này trong ống nghiệm. Nhưng cho đến thời gian đó, chưa có tế bào nào của con người sống trong ống nghiệm (ngoài cơ thể) quá vài ngày. Thật là ngạc nhiên, Tế bào u Ung thư của Henrietta sống được vài ngày, rồi vài tuần. Kỳ lạ hơn nữa nó có một sức sống mãnh liệt khó có thể tưởng tượng. Cứ mỗi 24 giờ, số lượng của chúng tăng gấp đôi và phòng thí nghiệm của George Gey chẳng mấy chốc đã chứa hàng triệu Tế bào của Henrietta. Bác sĩ Gey dặn cô phụ tá Mary Kubicek rằng: “các Tế bào đó có thể chết bất cứ lúc nào”, nhưng lạ thay: Tế bào của Henrietta đã thực sự bất tử. Sau đó, bác sĩ Gey chuyển giao cho vài cộng sự những phát hiện của mình. Thế là một cuộc chuyển giao dây chuyền bắt đầu. Mọi phòng thí nghiệm y khoa đều xin mẫu Tế bào của Henrietta Lacks và từ đó dòng Tế bào ung thư của Henrietta Lacks được đặt tên là Tế bào HeLa.

Bác sĩ Gey sẵn sàng cung cấp miễn phí dòng Tế bào này, nên có thể nói: những Tế bào HeLa đã đi khắp nước Mỹ, trước khi chinh phục thế giới, khi thì trong túi áo sơ mi của các phi công, khi thì trong túi vắt qua lưng con lừa xuyên qua núi non ở Chile, và đến năm 1960 còn du hành vào vũ trụ, trước khi Liên Xô và Mỹ phóng những phi thuyền có người vào không gian.

Chỉ vài tháng sau khi Henrietta mất, Tế bào của cô đã cứu được nhiều người. Trong thập niên 1940-50 của thế kỷ 20, bệnh sốt Bại liệt gây ra nhiều tổn thất cho trẻ em, hàng trăm ngàn trẻ em khắp thế giới bị liệt tứ chi và có nguy cơ tử vong. Riêng ở Mỹ, có đến 19.000 ca sốt bại liệt vào năm 1952. Tháng 2 năm đó, Jonas Salk, nhà sinh học ở Đại học Pittsburgh, PA, loan báo ông đã sáng chế vaccin chống bệnh sốt Bại liệt. Nhưng để thử nghiệm hiệu quả của nó, phải tiêm cho những người tình nguyện rồi kiểm tra xem cơ thể họ có sản sinh kháng thể chống bệnh bại liệt không. Các nhà nghiên cứu phải để vài giọt serum của họ tiếp xúc với virus và những tế bào cấy. Nếu vaccin hiệu nghiệm, serum của những người tình nguyện được miễn dịch sẽ bảo vệ các tế bào. Trong trường hợp ngược lại, serum sẽ bị nhiễm trùng bởi virus. Trước hết, phải có hàng triệu tế bào cấy và những Tế bào HeLa có sẵn thật thích hợp với cuộc thí nghiệm. Có sức đề kháng mạnh và luôn có sẵn, các Tế bào HeLa đồng thời cũng nhạy cảm với virus bệnh bại liệt. Sau này, các Tế bào HeLa cũng tỏ ra rất hữu ích trong việc thử nghiệm vaccin ngừa bệnh SARS. Hai năm sau thành công của cuộc thử nghiệm, bệnh Bại liệt đã giảm 90% ở Mỹ. Căn bệnh này được xem như hoàn toàn bị khống chế vào năm 1979, năm năm sau, Pháp cũng khống chế hẳn bệnh Bại liệt – như một minh chứng cho giá trị của Ngân hàng Tế bào HeLa.

Nhưng đó chỉ mới là bước đầu. Tế bào HeLa là tế bào ung thư nhưng vẫn giữ được rất nhiều tính chất của tế bào bình thường. Giống như tế bào bình thường, chúng sản sinh các protein, trao đổi và điều tiết protein và tỏ ra rất nhạy cảm với sự nhiễm trùng. Chúng tái sinh nhanh hơn các tế bào bình thường, nên nhanh chóng trở thành công cụ ưa chuộng của các nhà sinh học. Về sau, họ đã cấy thêm nhiều dòng tế bào khác, nhưng Tế bào HeLa vẫn là sự lựa chọn tối ưu. Đã có tới 60.000 công trình nghiên cứu y học về Tế bào HeLa.

Nhờ các Tế bào HeLa, các nhà y học đã nghiên cứu bệnh mụn giộp (herpes), bệnh sởi, bệnh quai bị và cả bệnh AIDS, và cũng nhờ Tế bào HeLa, người ta phát hiện ra rằng ung thư Cổ tử cung – căn bệnh đã giết chết Henrietta – do virus có tên papillomavirus gây ra. Từ đó, một vaccin ngừa ung thư Cổ tử cung đã được sáng chế. Với Tế bào HeLa, các nhà sinh học đã biết cách cô lập những loại tế bào khác và sản xuất được những bản sao hoàn hảo. Những bước tiến đó cho phép làm đông lạnh phôi, phát triển sự thụ tinh trong ống nghiệm hay sự sinh sản vô tính. Bằng cách đảo ngược do nhầm lẫn một chất hóa học trên những Tế bào HeLa, một nhà di truyền học ở Texas đã quan sát được Nhiễm sắc thể của người và đếm từng cái một, mở ra con đường Chẩn đoán nhiều bệnh về Nhiễm sắc thể.

Điều bí mật của tính chất Bất tử của Tế bào HeLa :

Những tế bào bình thường, dù được cấy trong ống nghiệm hay trong cơ thể con người, chỉ có thể tự phân chia một số lần nhất định. Cứ sau mỗi lần tự phân chia, đầu mút của mỗi nhiễm sắc thể, gọi là telome, lại ngắn đi một ít. Khi các telome của nhiễm sắc thể biến mất, tế bào sẽ ngưng phân chia rồi chết. Quá trình Lão hóa của tế bào là nguyên nhân Lão hóa của con người. Chúng ta càng già thì telome càng ngắn, và đó là cách mà chúng ta đi đến ngày Kết thúc sự sống. Nhưng trong những Tế bào HeLa, và trong những tế bào ung thư nói chung, một enzyme gọi là telomerase đã khôi phục lại telome. Nhờ có enzyme được phát hiện năm 1984 mà những tế bào Ung thư không chết. Trong những Tế bào HeLa, hoạt động của telomerase không thể dừng lại được.

Vào ngày 1.8.2011, Henrietta tròn 91 tuổi. Nếu làm thống kê đầy đủ, những Tế bào của Henrietta cấy từ 60 năm nay cân nặng 50 triệu tấn và nếu sắp hàng dài, chúng có thể nối được 3 vòng trái đất.

TRẠI DAVID: NƠI NGHỈ MÁT CỦA TỔNG THỐNG MỸ.

Đây là khu nhà ẩn dật, nghỉ dưỡng của các vị Tổng thống. Trại David tọa lạc ở công viên núi Catoctin, trên mũi núi Blue Ridge Mountains ở hạt Frederic, tiểu bang MD, chỉ đi một giờ xe là đến thủ đô Washington nơi sinh sống và làm việc hàng ngày của Tổng thống tại Nhà Trắng.

Đã 50 năm nay, khi Tổng thống muốn có đời sống riêng tư, nghỉ dưỡng tránh xa công việc căng thẳng tại Thủ đô, Tổng thống thường về đây nghỉ ngơi tại nơi yên tĩnh, biệt lập, với không khí núi rừng mát mẻ của vùng đồi núi của trại David.

Trại Mùa Hè của Tổng Thống:

Trại Nghỉ Hè này bắt đầu xây dựng vào năm 1935 ở Catoctin, gần Thurmont, MD. Ba năm sau đó, khu này được mở ra cho những quan chức chính phủ và gia đình nghỉ dưỡng.

Khi Hoa Kỳ tham gia Thế Chiến II, các bảo vệ của Tổng thống Roosevelt đề nghị ông về sinh sống ở một nơi thuận tiện, gần Washington, DC để đủ tránh áp lực chính trị ở Thủ đô. Đồng thời, du thuyền của Tổng thống, USS Potomac, cũng cần được bảo vệ an ninh nên ông đã chọn vùng núi Catoctin này. Ông xây dựng trại ở đây cũng như trại Nghỉ Đông ở Warm Spring, Georgia. Trại Nghỉ Hè được đặt tên là trại USS Shangri-La (tên một cảnh trong truyện Lost Horizon của James Hilton, chỉ một thiên đường ẩn dật, tưởng tượng).

- Gia đình Tổng thống Truman không đến ở đây vì cho là quá buồn tẻ.

- Tổng thống Eisenhower đã đổi tên là trại David nhằm để tưởng nhớ cháu trai ông là David Eisenhower.

- Tổng thống Kennedy và gia đình thường tới đây tận hưởng thú cưỡi ngựa và nhiều trò giải trí khác.

- Gia đình Reagan tới trại David nhiều lần hơn các Tổng thống khác.

- Tổng thống Bush (cha) năm 1992 tổ chức đám cưới cho con gái Dorothy “Doro” kết hôn Bobby Koch ở trại David, đây là đám cưới đầu tiên ở đây. Bush (con) cũng hay đến nghỉ tại trại David.

Nhiều Tổng thống Mỹ chiêu đãi các vị lãnh đạo quốc gia và thượng khách ở trại David, như: thủ tướng Churchill của Anh, cuộc nói chuyện về hòa bình Trung Đông năm 1978, và mới đây nhất là tổng thống Obama chiêu đãi thủ tướng Anh Cameron và thủ tướng Đức Merkel ở trại David, cả ba vị cùng xem trận chung kết giải UEFA champion giữa đội Anh và Đức, với kết quả đội Anh thắng Đức vào giữa năm 2012, thủ tướng Anh vui mừng, nữ thủ tướng Đức hơi buồn, trong lúc đó tổng thống Mỹ giữ yên lặng…

TÓM TẮT

Maryland tuy là một tiểu bang khá nhỏ: - đã nhường đất để xây Thủ đô Washington - là một trong 13 tiểu bang nguyên thủy - được nền y khoa thế giới ghi ơn với Tế bào HeLa bất tử - có trại David nơi nghỉ dưỡng của các Tổng thống Mỹ

Và riêng đối với người viết thì thú vị biết bao vì được tái ngộ cùng con gái vào mùa Thu với khung cảnh cuối thu ở Bờ đông Hoa Kỳ, cảnh lá vàng ngả sang màu hơi đỏ, rồi đỏ với nhiều mầu đậm, nhạt dễ thương – Mùa Thu với lá vàng, lá đỏ đẹp rực rỡ nhất; nắng vàng rót mật, những vệt màu như nét vẽ của bức tranh phong cảnh; sắc màu rực rỡ của rừng cây vàng, đỏ như là níu kéo cuối cùng của thiên nhiên trước khi mùa Đông lạnh giá đang đến.

Kỷ niệm thú vị nhất là trong thời gian đoàn tụ cùng con gái tại Maryland, là người viết đã hân hạnh được tận hưởng một ngày cuối thu - đầu đông có Tuyết Rơi, duy nhất vào ngày 29-10-2011, khi buổi sáng vừa ngủ dậy, mở mắt ra, mọi người đều thấy tuyết phủ trắng xóa trên mặt cỏ trước nhà và xa xa trắng xóa trên mọi xe hơi, đồ vật và trên các mái nhà. Tuyết thì đẹp thật, nhất là đối với du khách lần đầu chứng kiến tuyết từ Việt Nam sang thăm, nhưng ngay sau đó, con gái và con rể người viết phải mang cuốc chim ra để cào tuyết phủ đầy trên xe trước khi chở mọi người lên đường ngắm cảnh tuyết rơi trên đường phố thoai thoải lên xuống trong thị trấn Bel Air (hạt Harford, MD).

Mùa đông châu Mỹ, khi cỏ cây mang một màu trắng buồn bã của sương tuyết, con người dễ rơi vào tâm trạng trầm uất của những ngày năm cùng tháng tận. Thế nhưng, trên đất nước chúng ta cũng thế, cũng trong những ngày giá rét của miền Bắc, miền Trung, bỗng thoắt một cái, nói như Mãn Giác Thiền sư:

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai…

Những cành hoa yếu mềm đó mang một thông điệp lớn cho con người, đó là sức sống vẫn ẩn nhẫn đợi chờ. Kỳ diệu thay, sức sống của thiên nhiên. Đến phút cuối cùng, khi nó thể hiện, ta mới thầm kinh ngạc và biết kinh sợ…

Và thật may mắn được Ngắm Tuyết, vì ngay hôm sau tuyết biến mất cho tới ngày lễ Halloween 31-10, rồi tới trung tuần tháng 11 cũng không thấy tuyết cho tới ngày trở về quê hương. Đây là lần đầu người viết cùng con gái và gia đình được hưởng không khí linh thiêng của ngày Halloween trên đất Mỹ, với các cháu bé mũm mĩm, mặt trắng, má hồng với áo quần sặc sỡ, mặc hóa trang đủ loại người: hiệp sĩ, công chúa, phù thủy, dracula… trông thật là ngộ nghĩnh, các cháu rủ nhau đi từng nhà và nói lớn “Treat or Trick”, nếu nhà nào không mở cửa, ra cho các cháu bánh, kẹo chocolat… thì sẽ bị phá phách… hàng xóm sẽ coi thường; nên trước ngày lễ, con gái người viết đã treo đèn trang trí và vài vòng hoa xinh xắn ngay trước cửa nhà, nhằm báo cho các trẻ em trong cư xá biết là chủ nhà đã sẵn sàng chào đón lễ Halloween truyền thống và chờ các cháu tới…

Tiểu bang Maryland – mang tên Hoàng hậu Henrietta Maria kiêu sa và xinh đẹp biết bao!

(Tham khảo: sách báo và trên Internet)

PHẠM VŨ

Làm Chủ Chính mình

Trong cuộc sống, khi bạn bị đau đớn, bị phê phán hay bị hạ nhục bởi hành động của kẻ khác, bạn sẽ phản ứng lại như thế nào?

Bạn mất bình tĩnh và trả thù một cách giận dữ hay nuốt hận mà giữ kín trong lòng?

Sau đó, bạn có thấy bực mình mỗi khi nghĩ về chuyện ấy và nó gây ảnh hưởng xấu đến tâm tính của bạn?

Nếu là một người bình thường thì rất khó kiểm soát tốt những cảm xúc dưới loại hoàn cảnh này.

Tuy nhiên, với một người tu tập tốt, người ấy sẽ có khả năng giáp mặt nỗi khổ cực một cách ung dung và xử sự với sự bình tĩnh lớn trước cơn khủng hoảng. Có một câu truyện như thế này:

Một ngày, khi Phật Thích Ca đi qua một ngôi làng nọ, một số người đi ra gặp Đức Phật và nói những lời vô lễ và thậm chí có kẻ còn chửi thề. Phật Thích Ca đứng đó lặng lẽ lắng nghe, và sau đó Ngài nói: “Cám ơn các bạn đã đến gặp ta. Nhưng giờ ta phải tiếp tục lên đường bởi vì mọi người ở làng tiếp theo đang đợi. Nhưng khi ta trở lại ngày mai, ta sẽ có nhiều thời gian hơn. Nếu các bạn có nhiều thứ hơn để nói, xin đến lần nữa”.

Những người này không thể tin vào tai của mình nữa. Chuyện gì xảy ra với người này thế nhỉ?

Một trong số những kẻ đó hỏi Đức Phật: “Ông có nghe bọn tôi nói gì không? Bọn tôi nói ông chẳng là cái thá gì cả, thế mà ông không phản ứng gì à?”

Đức Phật trả lời: “Nếu những gì các ngươi muốn chỉ là xem thái độ của ta, thì các người đã đến quá trễ rồi.

Nếu là 10 năm trước thì có lẽ ta sẽ phản ứng lại. Còn 10 năm trở lại đây thì ta đã không còn bị kẻ khác điều khiển nữa rồi.

Ta không còn là nô lệ mà là chủ nhân của chính ta. Ta có thể làm những gì mình muốn, chứ không hành động dựa trên cảm xúc”.

Tôi có nghe kể một câu truyện thế này:

Có một anh chàng luôn mua báo tại duy nhất một sạp báo.

Dù người bán báo luôn giữ bộ mặt lạnh lùng và thiếu thân thiện, anh này luôn lịch sự nói “cám ơn” với ông kia.

Một ngày kia, khi một đồng nghiệp anh ta đã nhìn thấy thế và hỏi: “Ông ta vẫn luôn bán hàng với bộ mặt đó à?”

- Đúng.

- Tại sao bạn vẫn đối xử với ông ta lịch sự như vậy?

Anh này trả lời: “Tại sao tôi phải để cho ông ta quyết định hành động của tôi chứ?”

Thật chí lý! Tại sao chúng ta lại cho phép kẻ khác gây ảnh hưởng đến những hành động và cảm xúc của chúng ta?

Chúng ta không thể cấm kẻ khác đối đầu với mình, nhưng chúng ta có thể kiểm soát những cảm xúc của riêng mình và không để bị họ ảnh hưởng.

Tất nhiên, nó yêu cầu một quá trình tu luyện để đạt được điều này.

Chúng ta hãy bắt đầu từ việc thay đổi nội tâm mình để có để có thể kiểm soát được mọi hành vi trong mọi hoàn cảnh.

Hoàng Chúc st


Phụ Bản IV

Đi

ăn

tim


Đi ăn tiệm là một điều thú vị phải không các bạn? Người ta nấu nướng mọi thứ cho bạn, dọn lên trên bàn cho bạn thưởng thức... và rồi sau đó còn dọn dẹp, rửa chén cho bạn nữa chứ... Đã thì thôi... Tất cả những điều bạn phải làm chỉ là nhai, nuốt và sau cùng là trả tiền. Nhưng thưa các bạn... những điều tôi vừa kể trên đã cuốn theo chiều gió hết rồi... và đây là câu chuyện của tôi...

Một chiều cuối tuần nọ, sau khi lãnh lương, tôi bèn quyết định một cách hạnh phúc là thay vì nấu ăn ở nhà như thường lệ, tôi sẽ rủ cô bạn gái đi ăn tiệm. Xin thưa với các bạn đó là lần đầu tiên tôi đi ăn tiệm. Khi tôi đến tiệm ăn thì trời ơi... tôi có cái cảm tưởng như là đang lạc vào bát quái trận đồ của Hoàng Dược Sư trên Đào Hoa Đảo. Người hầu bàn, ăn mặc còn sang trọng hơn tôi nũa, chào đón tôi:

- Xin chào quý khách, 2 người phải không ạ?

Tôi hãnh diện đáp:

- Vâng, 2 người.

Anh ta hỏi tiếp:

- Hút thuốc hay không hút thuốc?

Tôi trả lời ra vẻ như không bao giờ hút thuốc:

- Không, tôi không hút thuốc.

Người hầu bàn tiếp tục hỏi:

- Ngài thích ngồi ở khu vực trong nhà hay ngoài trời?

Tôi trả lời như là mình có một quyết định đúng đắn:

- Tôi thích ngồi ở trong hơn là ra ngoài.

Anh ta phụ họa:

- Đúng đấy, thưa ngài.

Và hỏi tiếp:

- Ngài thích ngồi ở phòng ăn chính, ở bao lơn có mái che hay là trong khu nhà kiếng chan hòa ánh nắng của chúng tôi.

Đến đây thì tôi hơi lúng túng:

- Hmm... để coi...

Anh ta đề nghị:

- Tôi có thể sắp cho Ngài ngồi ở khu nhà kiếng với phong cảnh tuyệt vời.

Tôi hưởng ứng và đi theo anh ta:

- Tôi nghĩ anh nói đúng đấy.

Anh ta lại hỏi tiếp:

- Bây giờ Ngài thích nhìn ra sân golf hay muốn nhìn cảnh mặt trời lặn trên bờ hồ hay là cảnh núi non hùng vĩ?

Tôi nghĩ thầm là lần này hãy để nó chọn phứt đi cho xong, đỡ phải lúng túng:

- Chỗ nào anh thấy đẹp là được rồi!"

Thật ra anh ta đặt chúng tôi ngồi hướng về sân golf hay bờ hồ hay núi non gì đó tôi cũng cóc biết vì lúc đó trời đã tối bên ngoài.

Lúc sau, một người hầu bàn khác trẻ hơn, cũng ăn mặc bảnh hơn tôi, đến bàn tôi và nói:

- Kính chào quý khách. Tôi là Paul. Chiều nay tôi sẽ phục vụ quý khách. Quý khách có muốn ngồi ngắm cảnh thêm vài phút trước khi đặt món ăn hay không?

Tôi nói ngay:

- Không, tôi đang đói lắm. Tôi là dân lao động. Mang lên cho tôi một dĩa thịt bò với rau và khoai tây nướng."

Anh ta hỏi thêm:

- Ngài muốn dùng thêm súp hay rau trộn?"

Tôi đáp ngay: "Rau"

Anh ta cứ hỏi:

- Chúng tôi có rau xanh nhiều loại, củ dền đỏ, cà chua... Ngài có thích trộn với tôm không?

Tôi xẳng giọng:

- Rau xanh thôi, OK?

Anh ta đáp:

- Vâng thưa Ngài. Có dầu giấm không?

Tôi không muốn kéo dài cuộc khẩu cung này nữa:

- Bất cứ cái gì cũng được."

Anh ta cứ nói:

- Chúng tôi có dầu giấm kem Ý, phó mát xanh, giấm chua Pháp...

Tôi cướp lời:

- Đem bất kỳ thứ nào làm tôi ngạc nhiên là được..."

Anh ta vẫn đứng đó:

Dầu giấm kem Ý là loại đặc biệt của chúng tôi. Như thế có được không thưa Ngài?"

Tôi cộc lốc: "Ừ"

Anh lại hỏi:

- Còn khoai tây thì sao..."

Tôi thừa biết cái gì sắp xảy ra nên không muốn anh ta đứng lải nhải nữa:

- Tôi chỉ muốn khoai tây nướng mà thôi, hiểu chưa? Không có cái giống gì kèm theo nữa hết.

Anh ta cứ hỏi: "Không bơ, Không kem chua à?"

Tôi gằn giọng: "Không."

Anh ta vẫn hỏi: "Không để hành luôn à?"

Tôi hết chịu nỗi nên phải quát lên:

- Không. Anh không hiểu tôi nói gì à? Tôi không muốn cái gì với khoai tây hết. Cứ mang ra cho tôi khoai tây nướng với thịt bò là được rồi."

Anh ta lại chỉa mũi dùi sang thịt bò:

- Ngài muốn 200 gram, 250 gram hay 350 gram thưa Ngài?

Tôi trả lời cho có: "Bao nhiêu cũng được."

- Ngài muốn tái, tái vừa vừa, vừa, vừa chín hay chín hẳn thưa Ngài?"

Tôi không thể nào chịu được nữa:

- Ê... Tao nổi cơn rồi đấy nhé...

Anh ta vẫn không tha tôi:

- Ngài thích cải xanh, bắp hay cà rốt chung với thịt bò?

Như giọt nước làm tràn ly nóng giận, tôi ném khăn ăn xuống đất, đứng phắt lên, xắn tay áo, xông vào anh ta và giở giọng võ biền:

- Ê... Mày muốn ra ngoài sân chơi tay đôi không, thằng dai như đỉa kia?

Trời ơi, đến nước này mà anh ta cũng không thể không hỏi ý kiến tôi:

- Vâng, thưa Ngài. Ngài thích ở bãi đậu xe, ngoài đường nhỏ hay đường lớn đối diện với nhà hàng, thưa Ngài?

Tôi nói: "Tao thích ngay tại đây...", và đấm anh ta một cái. Anh ta né rồi phản công bằng một cú móc tay trái vào hàm tôi... Các bạn thân mến, đó là lần đầu tiên trong cái đêm nghiệt ngã đó anh ta đã không hỏi tôi thích bị đấm ở đâu... Tôi choáng váng ngã xuống ghế trong khi các người khác tới kéo anh hầu bàn đó ra.

Tôi có cảm giác ai đó nới lỏng cà vạt tôi ra, mở nút áo cổ và vả nhẹ vào mặt tôi... Khi tôi hoàn tỉnh, tôi thấy trước mặt tôi là gương mặt lo âu của viên phụ trách các tên hầu bàn đêm đó... Ông ta xin lỗi ráo riết và đề nghị mua nước uống cho tôi, gọi y tá hay bất cứ cái gì tôi muốn...

Tôi lúng túng nói:

- Không, không... đừng gọi ai đến hết... cho tôi ly nước là được rồi...

- Vâng thưa Ngài, có ngay, ông ta hớn hở đáp lại sự đòi hỏi quá dễ thực hiện của tôi.

Và ông ta tiếp:

- Ngài thích nước suối nhập cảng, nước soda, nước chanh hay nước lọc?

MĐ st


Vài điều thú vị

VỀ DƯA LEO


Tài liệu về quả Dưa leo này đã được đăng tải trên tờ The New York Times, một tờ báo thường giới thiệu những phương pháp khá sáng tạo và lạ lùng, để giải quyết những vấn đề thông thường. Sau đây là những khám phá thú vị về quả Dưa leo.

1/ Dưa leo chứa rất nhiều loại sinh tố mà chúng ta cần mỗi ngày như Vit. B1, B2, B3, B5, B6, Calcium, Iron, Magnesium, Phosphorus, Potassium, and Zinc.

2/ Khi cảm thấy mệt mỏi vào buổi trưa, quý vị hãy để qua một bên các loại thức uống có cà phê, và hãy chọn lấy một quả dưa leo. Dưa leo có các loại Vitamin B, và Carbohydrates, có khả năng làm quý vị hưng phấn trở lại được vài giờ đồng hồ.

3/ Khi chiếc gương trong phòng tắm bị mờ đi vì hơi nước, quý vị hãy dùng một lát dưa leo, thoa dọc theo gương, chỉ trong chốc lát, gương sẽ trong lại và tỏa ra một mùi thơm tựa như quý vị đang ở trong phòng tắm hơi.

4/ Khi loài ấu trùng và ốc sên đang hủy hoại những luống cây ngoài vườn nhà, quý vị hãy đặt vài lát dưa leo vào trong một lon đồ hộp nhỏ, vườn của quý vị sẽ không còn những loài sâu hay ốc sên phá hoại trong suốt vài tháng trời. Lý do là vì những hóa chất trong dưa leo phản ứng với chất nhôm của lon đồ hộp, sẽ tỏa ra một mùi hương mà con người không thể cảm nhận được, nhưng lại khiến cho các loài côn trùng khiếp sợ và bỏ chạy khỏi vườn.

5/ Quý vị đang muốn tìm một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất để loại trừ những tế bào mỡ trên da (cellulite) trước khi vào hay bước ra khỏi hồ tắm? Hãy thoa một hay hai lát dưa leo trên những vùng da quý vị muốn. Các hóa chất thực vật sẽ khiến cho lớp collagen trên da trở nên săn chắc và do đó, khiến cho cellulite trên da khó nhìn thấy. Cách này cũng tác dụng rất tốt trên các nếp nhăn nữa.

6/ Quý vị muốn tránh cảm giác choáng váng hay nhức đầu dữ dội sau khi uống rượu chăng? Hãy ăn vài lát dưa leo trước khi đi ngủ. Khi thức dậy, quý vị sẽ thấy tỉnh táo và hết nhức đầu. Dưa leo chứa một lượng đường vừa đủ, các loại vitamin B, và các chất điện giải để tái bổ sung những tinh chất sinh tố cần thiết mà cơ thể đã bị mất đi, hầu tái lập sự cân bằng, xua tan cảm giác choáng váng hay nhức đầu.

7/ Quí vị muốn tránh một bữa ăn trưa, hay ăn tối thịnh soạn chăng? Dưa leo đã được dùng hàng thế kỷ nay, ngay cả bởi những người giăng bẫy thú rừng, các nhà buôn, các nhà khai phá Âu châu khi muốn có một bữa ăn nhanh, họ đã ăn dưa leo để không còn cảm giác đói bụng nữa.

8/ Quý vị sắp có một cuộc họp quan trọng, hay một cuộc phỏng vấn tìm việc làm, nhưng lại không đủ thời gian để đánh bóng đôi giầy của mình. Hãy thoa một lát dưa leo tươi lên giầy, hóa chất của dưa leo sẽ khiến giầy bóng lên, tuy không thật hoàn hảo nhưng cũng có tác dụng chống thấm nước.

9/ Trong nhà quý vị không có loại dầu chống rỉ sét WD 40, nhưng lại đang cần loại trừ tiếng kẽo kẹt từ bản lề của cửa ra vào. Hãy dùng một lát dưa leo chùi chung quanh bản lề đó, cửa sẽ không còn tiếng kẽo kẹt nữa.

10/ Quá căng thẳng nhưng lại không có thời gian để massage hay ghé vào spa, quý vị hãy cắt hết một quả dưa leo, cho vào một bình nước sôi, rồi hé mở nắp đậy, để cho hơi nóng thoát ra ngoài. Các hóa chất và dưỡng chất từ dưa leo sẽ tác dụng với nước sôi và tỏa ra một làn hương làm dịu đi sự căng thẳng, và tạo ra một cảm giác rất thoải mái.

11/ Quý vị vừa xong một bữa ăn trưa với các đồng nghiệp, và chợt nhớ mình không có chewing gum hay kẹo the. Hãy cắt một lát dưa leo, rồi đặt sát vòm miệng trên chỉ độ 30 giây thôi, hơi thở sẽ thơm tho như ý muốn, vì các hóa chất thực vật của dưa leo sẽ tiêu diệt các loại vi trùng, vốn là nguyên nhân gây nên bệnh hôi miệng.

12/ Quý vị muốn lau chùi muỗng nĩa, sinks, hay các đồ dùng kim loại không rỉ sét? Hãy dùng một lát dưa leo lau chùi các vật dụng trên, không chỉ làm mất đi những vết lu mờ lâu năm và làm sáng bóng trở lại, mà còn không để lại các vết sọc, và cũng không làm hư hại ngón tay cũng như móng tay của quý vị vì việc lau chùi nữa.

13/ Quý vị đang viết bút mực và bị lỗi khi viết. Hãy lấy lớp vỏ dưa leo, và nhẹ nhàng tẩy vết mực muốn tẩy. Cũng rất công hiệu khi tẩy vết bút chì, và những vết mực mầu trang trí mà các trẻ em vẽ lung tung trên tường.

Đây là những phương cách hiệu quả và an toàn, giải quyết được những vấn đề hàng ngày. Quý vị hãy áp dụng và giới thiệu cho những người quen biết của mình nhé.

Bs Nguyễn Lân Đính st

Góc bể chân trời

ĐÀM LAN

- Anh Tú ơi! Có ai hỏi anh này.

Tiếng cô em gái lanh lảnh, khiến tôi phải rời ngay bàn viết mà đi ra. Không nhiều thắc mắc xem vị khách đến bất ngờ vào giữa chiều này là ai, bởi chuyện tôi có bạn ghé thăm bất chừng này không phải là chuyện hiếm. Có thể đó là một người đã từng chung cạn chung đầy ở bất kỳ một quán nhỏ ven đường nào đó, hoặc cũng có thể là một người còn đọng nguyên vẻ phờ phạc, bụi bặm sau một chặng đường dài, mà cũng có thể là một ai đó chưa một lần gặp, nhưng chỉ cần tự xưng danh là sẽ vỡ ra một tràng cười vui vẻ và cái bắt tay thân thiện như đã từng là bạn thâm căn cố đế tự bao giờ rồi vậy. Chuyện tôi tiếp bạn bất kỳ không là chuyện lạ, nên trong nhà tôi lúc nào cũng có sẵn một bình rượu thuốc và một ít thức nhắm khô như mực, cá, đậu phụng rang, đôi khi còn có cả một hũ gân bò ngâm xì dầu, một món nhậu khoái khẩu mà cô vợ yêu quý của tôi tự tay làm cho. Chỉ cần dăm phút loay hoay, là tôi đã có ngay một mâm tàm tạm để đãi khách, sau đó thì nhờ vào đôi tay khéo léo của vợ tôi hoặc cô em gái hay phụng phịu làm cao, đợi tôi phải vài ba câu năn nỉ kèm theo một sự hứa hẹn hấp dẫn nào đấy rồi mới chịu miễn cưỡng vào bếp. Nhiều khi cũng thấy ngài ngại và thương cho cái tất tả của vợ, nào phải năm thì mười họa gì cho cam, một tuần thì hết già nửa phải đóng vai bà chủ nhà hiếu khách, phải lọ lem dầu mỡ nhưng lại phải tỏ ra hoan hỉ tươi cười với khách để giữ thể diện cho chồng. Tôi biết lắm là những suy nghĩ trong các nàng khi gặp phải những tình huống không mấy thích thú ấy. Trước tiên là dở công dở việc để ù té ra chợ, cũng may là chợ cũng gần nhà, nếu may hơn thì cũng là lúc có sẵn một vài thứ trong tủ lạnh, sau đó là củi lửa, là mâm bát, rồi sau đó là dọn rửa, là thở ra một hơi dài. Phụ nữ thường dễ yên phận với cuộc sống gia đình, nhu cầu của họ về giao tiếp có hạn hẹp hơn đàn ông, họ có thể cả một tuần chỉ có chồng con gia đình cùng các loại linh tinh lẩm cẩm trong nhà vẫn chẳng có gì đáng phàn nàn cả. Nhưng đàn ông thì không thế, đàn ông sống với bên ngoài nhiều hơn gia đình, có thể dăm bẩy ngày vắng vợ là chuyện bình thường, nhưng dăm bảy ngày mà không gặp gỡ, không cà phê hay gầy độ một đôi lần thì thật không bình thường. Đừng nghĩ chỉ có phụ nữ mới biết “nhiều chuyện”, đàn ông cũng nhiều chuyện chẳng kém đâu, phụ nữ có những mối bận tâm và những phức tạp của phụ nữ thì đàn ông cũng có những bân tâm và phức tạp của đàn ông, mà những bận tâm và phức tạp ấy chỉ có thể nhỏ to hay trút xả với bạn bè. Nên phải nói rằng: Không có bạn là một tai họa khủng khiếp với mỗi người chứ chẳng chơi. Đôi khi để tránh cho vợ những vất vả ấy, tôi kéo bạn ra một cái quán bình dân nào đó, nói là bình dân, nhưng giá cả thì đôi khi cũng chẳng bình dân chút nào, với mức lương không cao, cộng thêm dăm cái nhuận bút, giỏi lắm chỉ vài lần đi quán là toi. Lại ở quán không xuề xòa thoải mái như ở nhà, ồn ào, ngồi lâu không tiện, chả nhẽ chỉ một dĩa mồi với vài xị mà chiếm chỗ của người ta đến nửa ngày sao. Quán hàng thì phải chìu khách, nên chẳng ai dám nặng nhẹ gì, nhưng tự mình phải biết chứ. Thêm một lý do nữa là tôi không chỉ có những người bạn tại chỗ, mà bạn ngoại tỉnh cũng rất nhiều. Làm anh văn nghệ, đi đến đâu là giao lưu bạn bè đến đó. Thôi thì trong Nam ngoài Bắc, chỉ cần chỗ nào đã đặt chân đến là chỗ đó có bạn. Giờ lại thêm thế giới mạng, ngồi một chỗ cũng có thể kết bạn trên toàn cầu. Không phải bạn một cách xô bồ, lộn xộn đâu nhé, bạn hợp ý hẳn hoi, nói không phải khoe chứ, nếu thích, tôi chỉ cần một cái xách tay là có thể ngao du khắp nước Việt Nam này. Cái thú nhiều bạn là ở chỗ ấy, chẳng cần nhà cao cửa rộng, chẳng cần mâm cỗ đề huề, một quán cóc vỉa hè, một ổ bánh chia hai là cũng đủ. Thế nên chuyện bạn tìm đến nhà cả đã gặp lẫn chưa gặp vốn là chuyện tất nhiên vậy. Vì thế thôi thì cô vợ đảm cùng cô em gái yêu quý đành phải chấp nhận cái tính quảng giao và hoan hỉ với mọi người của tôi thôi.

Đấy, cô em đã lườm nguýt rồi đấy, miệng thì la lanh lảnh nhưng bụng thì đang tìm cách chuồn, vợ tôi lại vừa đi đấy lại chạy quanh đâu rồi? Tôi nháy mắt cùng cái cười nhờ vả với cô em rồi đi nhanh ra cửa xem gương mặt nào đang cho tôi cái vinh hạnh được diện kiến kia. Hiện ra trước mắt tôi đầu tiên là một hàm râu rậm, rất rậm, kiểu râu đặc trưng của người vùng núi, ở thành phố quen “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”, với một bộ râu thế này hẳn sẽ dễ dàng trở thành một tâm điểm giữa đám đông, kế đến là đôi mắt, một đôi mắt đang cười, đang chờ đợi một điểm nhấn trong bộ nhớ của tôi. Quen, rất quen, đã từng gặp, đã từng có một ấn tượng gì đấy, chẳng lẽ…

- A! Anh Thỏn.

Cả hai cùng vỡ ra tiếng cười ngập tràn niềm vui hội ngộ, cùng lao vào đôi tay to rộng của nhau, cùng xiết, cùng vỗ bồm bộp vào lưng. Trời ơi trời. Cô em gái há hốc khi chứng kiến niềm vui hết hạn độ của ông anh, cô nghĩ đây hẳn là một người thật đặc biệt với ông anh quý hóa của mình đây. Thế này thì tránh sao khỏi một cuộc túy lúy càn khôn (theo cái giọng văn chương nửa mùa của ông anh đấy mà) lo chuẩn bị tinh thần khua dao động thớt đi là vừa.

- Ôi trời, ôi trời, thế bỏ bò bỏ dê, bỏ gà bỏ vịt cho ai mà làm một chuyến hạ san đột ngột vậy hả anh Thỏn?

Sau cảm xúc vồ vập, tôi mới rời khỏi vòng ôm của anh, để nhìn gương mặt gân guốc với làn da sạm nắng, với đôi mắt đen hay háy lúc nào cũng như biết cười. Anh cũng cười hiền lành và vẫn đầy nét hớn hở:

- Hỏi thăm mãi mới tìm được đến đây đó, cứ tưởng…

- Thế sao anh không gọi điện, em ra bến xe đón thì đỡ vất vả không?

- Tôi có biết số điện thoại của cậu đâu. Địa chỉ cũng không?

- Ôi, thế địa chỉ hồi ấy em ghi cho anh đâu?

- Lúc đi vội quá, thế là quên mất.

- Rồi làm sao mà anh tìm được?

- Có khó gì, đến hội văn học nghệ thuật hỏi là ra thôi mà. Nhưng mà nhà cậu ở trong hẻm quanh co thế này, nên xe ôm quành đi quành lại mấy lượt mới tìm được, tôi cứ lo cậu mà không nhận ra chắc tối này trải áo nằm hè đường quá.

- Không nhận ra anh thì còn gì là thằng em này nữa chứ.

- Ơ, hai anh em không vào nhà mà cứ đứng mãi ngoài cửa vậy sao?

Tiếng vợ tôi vang lên phía sau làm tôi giật mình, vội vã:

- Vào đi anh Thỏn, đấy gặp anh mừng quá quên cả mọi chuyện. Em à, đây là anh Thỏn, ở tận ngoài Hà Giang cơ đấy.

- Có phải là anh mà hồi đó cho anh cả một súc thịt sấy đó không?

- Ừ ừ , đúng rồi đấy, anh xem vợ em nhớ dai chưa?

Vợ tôi đon đả:

- Anh vào nhà rồi ra rửa mặt cho mát đã ạ. Chắc đi đường dài thế anh cũng mệt lắm phải không?

- Vào được đến đây là hết thấy mệt rồi cô ạ.

Lần này thì không đợi tôi phải òn ỉ gì, vợ tôi đã le te xách cái giỏ đi ra ngoài và cô em gái thì đã lúi húi trong bếp. Chả là khoảng bảy năm về trước, trong một lần đi dự trại viết ở Hà Nội, chúng tôi rủ nhau độ bốn năm người vọt lên Sa Pa chơi cho biết. Thế rồi có người quen trên đó đưa luôn sang Hà Giang, ừ thì đi, mấy khi có dịp, một chuyến mà đi được nhiều nơi cũng như đi buôn một vốn mà được nhiều lãi vậy. Huống nữa là dân văn nghệ khát đi như khát nước, gặp dịp đi thì không có lý gì lại bỏ qua. Lên đến đấy, chúng tôi được những người anh em tiếp đãi rất nhiệt tình, anh Thỏn đây tuy không là dân viết lách, nhưng anh rất quý những anh em văn nghệ, lại rất thông thạo vùng đất, anh là người dân tộc Tày, lấy vợ Kinh, lại giao tiếp với người Kinh nhiều nên gần như Kinh hóa đi rồi, nhưng cái bản chất chân thật, thẳng thừng mà tốt bụng thì không hóa được, tôi may mắn được ngồi xe máy của anh trong những lúc đi thăm thú các nơi. Dọc đường, anh kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện vui, liên quan đến con người và cuộc sống nơi vùng cao này. Những cuộc đi mang tính dã chiến và tùy nghi luôn là những cuộc vui đầy hứng thú và khó quên nhất. Không bị gô vào những hình thức thông thường của cách tiếp đãi qua công văn, nên tình cảm của con người được hình thành và cảm nhận một cách trọn vẹn. Chỉ hai ngày ngắn ngủi, thế mà khi dời chân, ai cũng lưu luyến thật sự. Riêng tôi, vốn luôn coi trọng tình cảm, luôn yêu quý những tấm lòng bè bạn, lại càng khó quên khi trở về nhấm nhá miếng thịt sấy nướng ngọt lừ và thơm nức mũi, một thứ thực phẩm đặc trưng của người vùng cao, nhìn thì quắt queo thế, nhưng bao nhiêu vị ngọt lậm cả vào trong, ăn bao nhiêu cũng không thấy chán, vợ tôi cũng nhớ mãi hương vị ấy, cộng thêm những gì tôi kể lại sau chuyến đi, nên mặc nhiên cũng có sẵn một cảm tình với một người chưa biết mặt.

Không e dè, không ngần ngại, không dò xét, không cả đắn đo. Đó là đặc tính của anh em gần xa trong giới văn nghệ. Cái bắt tay thật chặt, những ly rượu chuyền tay, những câu chuyện đủ thứ đề tài không dứt, là những điều đem lại ý nghĩa đẹp đẽ nhất của chữ “tình”. Để rồi khi xa nhau vẫn nhớ hoài, để rồi có bất kỳ gặp lại nhau lại vỡ bờ một con sóng cảm xúc. Tôi cho đó là một sự ưu đãi của duyên mệnh. Để cho con người dễ sống gần nhau hơn, cho dù cũng có những trường hợp đáng buồn vì sự lợi dụng sự ưu đãi cho một mục đích cá nhân nào đó, nhưng không nhiều để đến nỗi làm biến thái đi cái tính đặc trưng này. Và tôi vẫn được hưởng những niềm vui đầy phấn khích với những bạn bè.

Ra anh Thỏn có được thông tin về một người thân đã thất lạc từ rất lâu, đang cư trú tại một nơi của mảnh đất Tây Nguyên này. Sau một đêm hàn huyên bên chén rượu nồng ấm, sáng nay tôi cùng anh đi tìm đến nơi cư trú của người ấy. Vốn vùng nông thôn là nhà không số, đường không tên, chỉ chung chung thôn, xã. Vậy mà rồi chúng tôi cũng lần ra được đến nơi. Bất ngờ khi nhận ra đó là một người bạn khi xưa học cùng lớp. Trời ơi trời. Vui đơn vui kép. Chẳng hề tin vào những mơ hồ nhảm nhí bao giờ, nhưng có lẽ đúng tôi là cái số có bạn có bè. Đi đến đâu không hề định trước thế mà vẫn được vui được cười, uống rượu với bạn thấy ly rượu sao mà ngon, có đôi khi buồn buồn uống một mình, cũng rượu đấy mà nghe nhạt nhẽo, chan chán thế nào ấy, thì vẫn là câu “rượu ngon phải có bạn hiền” đấy mà. Một số người bảo tôi sao trẻ lâu, có lẽ là do thế này đây. Bỗng thấy tội nghiệp cho những ai hoặc vì cá tính quá khô khan, khắc kỷ, hoặc vì lắm sợ nhiều lo những là mưu kế gạt lừa, chẳng dám bắt tay ai một cách thân tình vô tư lự. Ngồi vào một cuộc vui thì ý nghĩ đầu tiên là xem mình được những gì, mất những gì, thấy ai đến gọi cửa, lại lo ngay ngáy chuyện mượn vay, nhờ vả. Lúc cơn kia nước nọ chạy cuống lên chỗ này chỗ khác, xong việc rồi nhà không qua cửa không tới. Tôi ghét nhất cái lối sống như thế, con người không phải là con người đúng nghĩa, mà chỉ thuần là một cái máy đo đếm. Họ cứ nghĩ như thế mới là khôn, vì không ai lừa họ được một cắc, vì những gì họ bỏ ra sẽ không bao giờ vô ích, nhưng họ có biết đâu, họ đã đánh mất một phần đời phong phú, đẹp đẽ của sự chan hòa thân ái, đành rằng giao du rộng cũng có những khi mình bị trở thành ngốc nghếch, vì trong vạn mớ thể nào chẳng có đục có trong, vừa sơ khởi dễ gì nhận ra bản chất, ít nhất phải trải qua một vài sự vụ, một vài va vấp, mới có thể hiểu được đối tượng mình giao du thuộc típ người nào, nhưng cho dù có thế thì đến lúc ấy nghĩ lại cũng đâu đã muộn, cho dù có trầy da tróc vảy thì cũng là chuyện đương nhiên ở đời. Mà cái lẽ sống trên đời này vẫn luôn công bằng lắm, ta mất cái này ắt sẽ được bù trừ bằng cái khác, bạn bè cũng vậy, cũng có thể rồi một lúc nào đó ta sẽ mất đi một người mà ta từng coi là bạn, thì ta sẽ lại nhận ra một tình bạn thật sự ở một người khác. Nếu cứ đòi hỏi sự tuyệt đối thì chẳng bao giờ ta có dịp thẩm nghiệm được những hay dở trong đời sống muôn màu này cả. Ta gặp được người bạn hay ngay, thì là cái duyên cái phúc của ta, gặp người bạn dở, ta cũng coi đó là một cách hiểu thêm chính mình, và cũng là để ta sống tốt với cuộc đời thêm chút nữa. Cuộc sống đa chiều, con người đa nhân cách, ai có được nhiều bè bạn, sẽ có được nhiều cơ hội để nhận diện được sự đa chiều của kích cỡ, và cũng có thể coi như đó là một sự giàu có vậy.

Rồi cũng đến lúc tôi tiễn anh Thỏn ra về, một ít đặc sản Tây Nguyên làm quà, và một lúc ôm nhau, cái ôm khi từ biệt khác hẳn cái ôm khi gặp gỡ, cứ nấn nuối không muốn buông, vì biết buông ra là người xa biệt, buông ra là sẽ rồi phải đến mấy mấy thời gian nữa mới có khi gặp lại, mà biết đâu chừng bao tháng tháng năm năm nữa cũng chưa chắc có ngày gặp lại nhau. Thế nhưng rồi cũng đến lúc phải buông, đàn ông không cho phép mình có nhiều thời gian cho sự bi lụy, dù tình cảm trong lòng có dạt dào đến mấy thì ngoài mặt cũng phải tỏ ra tỉnh táo, thần thái thì tĩnh tại, duy chỉ có ánh nhìn trong mắt thì không thể ẩn nấp dưới một vẻ chủ động khác được. Bốn bàn tay úp vào nhau, hơi nóng cùng những đường gân bó chặt. Chén rượu ấm nồng đêm qua như còn tê đầu lưỡi, hai đôi chân gác lên nhau và những lời rủ rỉ như còn thầm thỉ bên tai. Chuyện nhà, chuyện mình, chuyện đời, chuyện không đầu không cuối, ngốn hẳn một đêm dài mà vẫn chưa trọn một tâm tư. Anh về đi anh Thỏn. Về lại với những thân quen trong cuộc sống hàng ngày, thi thoảng nhớ về nhau nghe lòng dậy lên chút niềm vui ấm áp. Chẳng cho nhau được nhiều, chỉ một chút tình thân hữu ái, để rồi dẫu góc bể chân trời, vạn dặm xa xôi, vẫn thấy mình thật gần, thật gần nhau lắm.

ĐÀM LAN


|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
 54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
 59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
 69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
 74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
 84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
 89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
|  54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
|  59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
|  69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
|  74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
|  84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
|  89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
Netadong.com thiết kế