Hiện có 4 người xem / 1289919 lần xem
         info@sachvatranh.com       84 (0) 1 222 929 703        

VÀI CHI TIẾT VỀ KỲ HỌP NGÀY 11/02/2012

CỦA CÂU LẠC BỘ SÁCH XƯA VÀ NAY

Như thường lệ Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã mở đầu phiên họp bằng cách giới thiệu với các thành viên 2 cuốn sách, một cuốn được xuất bản 57 năm trước và một cuốn mới được xuất bản 7 năm trước. Cuốn sách tương đối cũ, được in 75 năm trước, khổ 15x22 cm và chỉ vỏn vẹn có 23 trang mang tựa đề là DÂN TỘC TÍNH của tác giả Nguyễn Đăng Thục (1909-1999) là một nhà giáo nổi tiếng, đồng thời là một nhà nghiên cứu triết học và văn học Việt Nam. Cụ Thục đã có một thời gian du học ở Pháp. Cuốn sách rất mỏng vì nó chỉ chứa đựng nguyên văn một bài diễn văn về đề tài Dân Tộc Tính mà cụ Thục đã đọc ngày 9-3-1955 tại rạp Norodom (rạp hát nhỏ ở trên đường hình như là Lê Duẩn, mà ngày nay dùng làm nơi quay kết quả xổ số). Đây là một bài diễn văn rất lý thú, trong đó có một đoạn cụ Thục đánh giá Truyện Kiều là đã được đề cao để giữ lấy quốc hồn, quốc túy. Đây cũng là lý do khiến người viết giữ vì anh ta chơi sưu tập Kiều, cái gì dính líu tới nàngchàng giữ liền. Nhưng lý do chính khiến Dịch giả Vũ Anh Tuấn giới thiệu cuốn sách này là vì ông thấy trong CLB Sách Xưa và Nay đã có rất nhiều thành viên như bà Tâm Nguyện, ông Dương, ông Vương Liêm đã từng có nhiều cuộc nói chuyện về nhiều đề tài khác nhau, và thay vì để lời nói theo gió bay đi, tại sao lại không in ra như tập sách này để lưu truyền hậu thế? Cuốn sách thứ nhì được xuất bản 7 năm trước vào năm 2005 là bản dịch duy nhất dịch từ Việt sang Pháp văn mà Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã dịch cho Đặc Khu Vũng Tàu – Côn Đảo do nhà xuất bản Văn Nghệ in.

Sau phần giới thiệu sách Dịch giả Vũ Anh Tuấn đã cáo lỗi xin về sớm để đi dự lễ giỗ cụ Á Nam Trần Tuấn Khải ở Thủ Đức và ông đã nhờ bà Tâm Nguyện ghi lại hộ diễn biến cuộc họp như dưới đây:

Tiếp lời Dịch giả Vũ Anh Tuấn, nhà thơ Thiếu Khanh phát biểu: Lẽ ra ông cùng đi dự Hội thơ với Dịch giả Vũ Anh Tuấn nhưng vì lý do sức khỏe ông Tuấn không đi được, nên ông cùng đi với nhà thơ Lâm Quang Mỹ, ông này vừa là nhà thơ vừa là một nhà Khoa Học. Do năm 2.000 nhà Thơ Thiếu Khanh đã tham dự Hội thơ Quốc Tế, đã làm quen với một số Nhà văn, Nhà Thơ, nên lần này gặp lại rất vui.

Lần trước, vì số người tham dự có đến gần 200 người, nên ban Tổ Chức lấy hết Khách sạn Hồ Tây cho các khách mời. Lần này thì số người tham dự chỉ vào khoảng 40 người cộng với vài mươi nghệ nhân từ khắp nơi đổ về, nên bố trí cho ở nhiều nơi khác nhau, không tập trung như lần trước.

Điểm đặc biệt nhà thơ Thiếu Khanh lưu ý là Hà Nội có rất ít hàng ăn, không giống ở miền Nam, bước ra đường là thấy hàng ăn bày la liệt khắp nơi.

Các nhà thơ tập trung tại Hà Nội, sau đó được đưa xuống Quảng Ninh. Tại đây, khi bắt đầu Hội Thơ thì toàn thể các Nhà Thơ tụ họp lại làm lễ chào cờ, sau đó đưa ra Núi Bài Thơ để làm lễ Dâng Hương. Khu Vực này trước kia nhà dân chiếm ngụ, che khuất Bài Thơ, nhưng nay đã di dời, lộ ra Bài Thơ viết bằng Chữ Hán. Tại đây, các nhà thơ viết thơ rồi cột vào bóng, thả cho bay lên gọi là thả Thơ. Sau đó, các nhà thơ trong nước và nước bạn đọc Tham Luận và đọc Thơ.

Theo Nhà Thơ Thiếu Khanh, những nhà thơ nước ngoài tham dự có lẽ chưa hẳn là các nhà thơ xuất sắc của nước bạn. Ông thú nhận dù cố lắng nghe, nhưng không cảm nhận được nhiều, có lẽ chỉ nghe thoáng qua nên không kịp nắm bắt nội dung, và cũng cố ý xem các nhà thơ nước ngoài có ngâm thơ như ta không, nhưng hình như ai cũng đọc, không ai ngâm cả. Các MC có đọc bản dịch các bài thơ, và cho rằng đã bỏ ra 3 đến 4 giờ để dịch một bài thơ, nhưng nhà thơ Thiếu Khanh cho rằng bản thân ông cũng là một nhà thơ và cũng có dịch thơ, nhưng thời gian ông dùng để dịch một bài thơ lâu hơn nhiều, vì phải cân nhắc từng từ, dịch nhanh quá e không nắm bắt hết ý mà tác giả muốn diễn đạt.

Những buổi đọc thơ kéo dài đến 12 giờ liên tục trong những ngày hội thơ. Không phải ai cũng được lên đọc tham luận hay đọc thơ, nên sau đó các nhà thơ ngồi với nhau và đọc thơ cho nhau nghe, có khi đến l, 2 giờ sáng mới đi ngủ.

Thời điểm Quảng Ninh mở Hội thơ thì cũng có Chợ Đêm diễn ra, nhưng điểm lạ là có rất nhiều gian hàng mà gian hàng nào cũng chỉ bày bán một loại sản phẩm giống như nhau.

Hết mấy ngày Hội Thơ ở Quảng Ninh thì Đoàn trở về Hà Nội, có ghé thăm Làng Gốm Bát Tràng, và cũng thấy cả làng Gốm chỉ bán độc có Gốm, ngoài ra không bày bán thứ gì khác. Đi ngang qua Hội LIM thấy có người, xe cộ đông đúc.

Ở Hà Nội, quanh Văn Miếu thấy có các Ông Đồ cho chữ. Các Nhà thơ lần lượt đọc thơ. Theo Nhà Thơ Thiếu Khanh, thơ mới bây giờ năng động, đi sát cuộc sống và có phần khó hiểu. Ông tự nhận thơ mình thuộc loại cổ xưa, có vẻ lạc lõng so với thế hệ thơ mới bây giờ.

Tiếp lời nhà thơ Thiếu Khanh, GS Nguyễn Văn Sâm phát biểu là ông rất thích CLB chúng ta. Lần nào về ông cũng ưu tiên dành thì giờ để đi họp với anh em. Ông đề nghị là nên bớt đi các bài sưu tầm, chỉ tập trung vào bài vở do các thành viên tự sáng tác. Ông cho biết có tấm ảnh của Nguyễn Văn Vĩnh chụp chung với Nguyễn Nhược Pháp lúc còn bé. Thành viên nào thích thì ông sẽ in ra. Đồng thời ông giới thiệu quyển sách mới nhất của ông là một tác phẩm của vùng Bình Định, nói về một nhân vật xuất thân từ lớp hàn vi được người miền Trung rất yêu thích. Bản chữ Nôm ông được Ô. Tường là một người chơi sách ở Cai Lậy tặng cho và ông đã bỏ ra 2 năm để phiên âm và in ra như một sự tự hào về bảo tồn văn hóa cổ của một Thành Viên Câu Lạc Bộ rất nặng lòng với sách.

Sau đó Ô. Trần văn Hữu lên ngâm một bài thơ của Tản Đà rất hay. Tiếp theo là phần phát biểu về Thơ của nhà thơ Lê Minh Chử. Theo ông, có nhiều người làm thơ, tự xưng là nhà thơ, thậm chí có cả danh hiệu hẳn hòi, nhưng hữu danh, vô thực. Vấn đề là thơ có đọng lại trong lòng người thưởng thức hay không. Sau đó, ông hát tặng một bản nhạc do ông sáng tác về Đường Hoa, Hoa Xuân và Người Saigon.

Tiếp theo, Ô. Dương đề nghị mỗi kỳ tác giả có bài nên nói thêm về những gì chưa đề cập hết trong bài. Ông nói về học chữ Hán ở Trường Pétrus Ký ngày trước và hình ảnh cổng trường uy nghi với hai câu đối :

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây âu khoa học yếu minh tâm

Sau 75 đã bị đục, thay vào hai câu:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công

Bây giờ hai câu này cũng bị đục còn trơ cột trống không.

Bác Chử phát biểu cách ông học chữ Hán bằng cách đặt thành thơ cho dễ đọc, dễ nhớ. Tiếp theo là GS Nguyễn Văn Sâm nhắc về người Thầy dạy chữ Hán của Trường Pétrus Ký mà ông đã từng học ở đó là Cụ Ưng Thiều, và nói qua về Chàng Lía.

Buổi họp kết thúc lúc ll giờ kém 15.


Vũ Thư Hữu – Tâm Nguyện

VÀI LỜI VỀ MỘT CUỐN SÁCH

ĐÃ Ở BÊN TÔI TRONG SUỐT 59 NĂM QUA,

TRÊN MỘT NỬA THẾ KỶ

Đó chính là cuốn: “Chuyến đi vòng quanh nước Pháp của hai đứa trẻ” (Le tour de la France par deux enfants) của G. BRUNO, một nữ tác giả tên thật là Augustine Fouillee (1833-1923), và nữ tác giả này đã thật sự thành công khi cuốn sách của bà được các độc giả thời đó đón nhận một cách siêu nồng nhiệt. Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1877, đến năm 1900, số lượng được bán ra lên tới 6 triệu cuốn, tới năm 1914 thì là 7 triệu cuốn. Đây chính là một trong những cuốn sách hiếm hoi mà tôi mang theo được khi rời miền Bắc năm 1954 để theo gia đình vào Nam. Ngày ra đi, cha tôi đã đành phải để lại hai tủ sách to đùng trên 1000 cuốn toàn sách quý cho một ông chú tôi ở Hải Phòng. Năm 1998 ông chú đó qua đời, nhưng hai tủ sách thì lại đã “qua đời” từ năm 1958 theo lời mấy người em con ông chú tôi kể lại. Đó cũng là lý do khiến tôi đặc biệt yêu quý cuốn sách này. Trong 59 năm trời (tính tới hôm nay) nó luôn ở bên tôi, tôi đã đọc đi đọc lại cả chục lần và gần như thuộc lòng nhiều đoạn cực kỳ lý thú và hấp dẫn rất nặng tính giáo dục.

Cuốn sách này đã được sử dụng như một cuốn sách tập đọc bởi Bộ Quốc Gia Giáo Dục Pháp cho mãi tới năm 1950, và được gọi là “Cuốn sách đỏ nhỏ của Nền Đệ Tam Cộng Hòa” (Petit livre rouge de la Troisième Republique). Sách này dày 527 trang, được chia làm 127 chương. Nội dung cuốn sách kể chuyện 2 anh em Andre và Julien Volden, sau cái chết của người cha, và sau khi miền Lorraine bị sát nhập vào nước Phổ (nước Đức xưa), đã đi thật nhiều nơi quanh nước Pháp để tìm người mẹ và người chú. Trong khi đi, hai anh em đã gặp đủ loại tình huống, đủ loại nhân vật và đã học hỏi được đủ loại kiến thức như địa dư, lịch sử nông nghiệp, tiểu công nghệ vv… để rồi khi kết thúc chuyến đi, chúng đã trưởng thành và lập được một nông trại rất tuyệt vời mà chúng đặt tên là “Cái Truông lớn” (La Grande lande).

Cuốn sách được trang trí bằng 200 minh họa (illustrations) vẽ bằng bút sắt cực đẹp. Đặc biệt nhất là ngoài cốt truyện cực kỳ hấp dẫn, mỗi đoạn đều có ngay ở dưới những ghi chú giải nghĩa, giải thích tất cả mọi từ, mọi điểm lạ về lịch sử, địa dư, nông nghiệp, khoa học, tiểu sử danh nhân vv… Thực là tuyệt vời, vì khi đọc cuốn sách này người đọc tiếp thu được cơ man là kiến thức, vô cùng cần thiết trong cuộc sống.

Tôi đã đọc cuốn này nhiều lần, nhưng mỗi khi đọc lại, lại thấy độ hấp dẫn của nó chỉ có tăng chứ không hề giảm, và lại là người ham đọc từ bé, tôi thường xuyên cảm thấy rằng quả là biển học vô bến bờ, càng đọc càng thấy còn khối điều mình… hơi bị chưa biết!

 



Trích Hồi ký 60 năm chơi sách, Chương VI

VŨ ANH TUẤN

TƯỞNG NHỚ TRƯNG VƯƠNG

QUA BÀI HÁT “ĐÊM MÊ LINH

Nhân ngày Giỗ Hai Bà Trưng, mùng 6-2 âm lịch, chúng ta cùng nhau tưởng nhớ về Hai vị Anh thư đầu tiên trong lịch sử Tiên Rồng, qua bài hát “Đêm Mê Linh” của nhạc sĩ Văn Giảng, lời của Võ Phương Tùng:

- Canh dài, ta ngồi trong rừng cây vang âm hờn thiên thu.

- Trời vắng, hồn lắng tiếng sơn hà trong gió hú.

- Ai thấy chăng xưa hùng cường? Ai thấy chăng nay xiềng cùng, Đằng đằng nặng hận thù?

- Ai đắp non sông trường tồn? Ai kết liên dân tài hùng, Xua tan giặc Đông Hán, xua tan giặc xâm lấn?

Thời Thượng cổ, nước ta có tên là Lạc Việt, một xứ trong Bách Việt. Tiếng “Lạc” có nguồn gốc từ chim Lạc (là giống chim ăn tôm, cá, to con, mỏ dài, chân cao, sải cánh rộng, cùng họ với giang, sếu, cò, có thói quen di trú và có tiếng kêu cạc, lạc, nay gọi là Hạc. Chim Lạc cũng được khắc trên Trống đồng nổi tiếng Ngọc Lũ) do người xưa đã theo đường di trú của chim Lạc mà đến lập nghiệp tại nơi này. Ngoài ra, người Trung Hoa xưa quen gọi nước ta là Giao Chỉ, do khi Hạ Vũ lên ngôi vương Trung Hoa vào thế kỷ XXII TCN có cử các đoàn khảo sát mọi nơi và khi đi qua vùng Lĩnh Nam, thấy nhiều đầm lầy, có giống Giao long hung dữ, bèn đặt tên đất này là Giao Chỉ. Sau là tên một bộ thời Hùng Vương, rồi lại được nhà Hán dùng để đặt tên một quận nước ta thời Bắc thuộc.

Năm 34 Hán đế là Quang Vũ cử Tô Định sang thay Tích Quang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người rất gian tham. Y ra sức vơ vét tài sản, tăng thuế khóa, khống chế, đè nén các Lạc tướng và con cháu họ, khiến cho cả giới quý tộc cũ và nhân dân đều oán hận bọn quan đô hộ.

Khi ấy Trưng Trắc, Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Đất Mê Linh là đất bản bộ cũ của các Vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng, trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Sơn Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Nhà Hán ban đầu đặt cả châu trị, quận trị và đô úy trị Giao Chỉ ở Mê Linh, vừa cai quản toàn vùng Nam Việt và Âu Lạc cũ, vừa trực tiếp khống chế “Đất Tổ” của người Việt. Sang thời Đông Hán quận trị mới dời xuống Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh. (Nhà Đông Hán ra đời sau nhà Tây Hán, và trước thời Tam quốc ở Trung Hoa gồm Tây Thục, Bắc Ngụy và Đông Ngô).

- Ta cùng, chung lòng mong ngày vang danh thơm dòng oai linh

- Thề quyết, rèn chí quét quân thù đang cướp nước.

- Ta cháu con dân Việt hùng, nơi Mê Linh ta trùng phùng, Đồng lòng nguyền vẫy vùng

- Ta chiến binh đang thề nguyền, Quanh ánh thiêng nung lòng bền

- Gian nguy càng hăng chí, Xung phong chờ đến ngày!

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA CON TRAI, CON GÁI LẠC TƯỚNG

Chính sách cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán đã thôi thúc Thi Sách, Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dậy chống lại. Nhưng chẳng may việc bị bại lộ, Tô Định đã giết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định không những không làm dập tắt được ý chí đấu tranh của Trưng Trắc, mà trái lại càng làm cho ngọn lửa căm thù bốc cao.

Tháng 3 năm 40, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực của sông Hát (làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Tây) với mục đích đền nợ nước, trả thù nhà. Sách Thiên Nam Ngữ Lục chép về lời thề của Trưng Trắc trước quân sĩ, khẳng định lý do khởi nghĩa:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẹn vẹn sở ‘công lênh’ này”

(Công lênh: công sức bỏ vào việc gì)

Hai Bà thông đạt giấy tờ đến các vị Lạc hầu, Lạc tướng, Bố chính khắp các huyện đất nước Âu Lạc cũ thuộc quận Giao Chỉ, Hợp Phố, Cửu Chân, Nhật Nam, hẹn cùng nhau nổi dậy khôi phục nền độc lập nước nhà. Những người yêu nước khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa ở cửa sông Hát. Đây là chỗ gặp nhau của hai dòng sông lớn là sông Hồng và sông Đáy (nước sông rất trong nên ta có thế nhìn xuống tận đáy, chảy qua Đôn Thư, Hà Tây), thời kỳ đầu Công nguyên, cửa sông Hát còn nằm ở phía trước cửa đền Hát Môn hiện nay. Nơi này là đầu mối của các đường giao thông nối liền Mê Linh và Châu Diên, nằm trong vùng quê của cả Trưng Trắc và Thi Sách. Nơi đây tuy ở vị trí trung tâm, nhưng lại có đầy đủ điều kiện để xây dựng một căn cứ khởi nghĩa. Thiên Nam Ngữ Lục mô tả: “Hát Môn có thể dụng binh. Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”. Hai Bà Trưng đã phát động khởi nghĩa và mở Hội Thề ở đây. Rồi từ cửa sông Hát, đại quân kéo xuống đánh chiếm Đô úy trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Vĩnh Phúc), tiến công thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và từ đó tiến đánh thành Luy Lâu, là dinh của Thái thú Tô Định. Bản thân y hoảng sợ phải bỏ hết của cải, giấy tờ ấn tín tháo chạy về nước.

Theo gương dân Lạc Việt, các dân Nam Hải, Tượng Ngô và Uất Lâm cũng có nhiều nơi nổi dậy chống nhà Hán, vì thế, hiện nay ở Lưỡng Quảng còn có những đền thờ Bà Trưng thì việc này tất phải có thật. Chỉ trong một thời gian ngắn, ngọn cờ chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã tập hợp được 65 huyện thành – nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước ta hồi đó. Nền độc lập lại được phục hồi sau hơn 200 năm chìm đắm dưới ách đô hộ của nhà Hán, Trưng Trắc được suy tôn làm Vua (sử cũ gọi là Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh – quê hương của Hai Bà Trưng và Thi Sách.

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.

Cần phải nói lại cho rõ là chỉ có bà Trưng Trắc mới xưng làm vua mà thôi, niên hiệu là Trưng Nữ Vương. Bà em Trưng Nhị chỉ nhận mình là Bình Khôi Công chúa, lúc nào cũng ở bên giúp đỡ bà chị, chứ không phải Hai Bà cùng làm vua.

- Ai vì nước? Ai thề ước? Ta xung phong, nguyện dâng thân hiên ngang, nguyện đấu tranh xua tan quân Đông Hán!

- Ai trung thành? Ai liều mình? Thề hy sinh, thề tung hoành hiên ngang, thề kiên trung chiến đấu, thề chiến thắng!

- Canh dài, ta ngồi mơ ngày đi xông pha giành non sông

- Ngời chói, bừng sáng ánh tươi hồng hăng chí nóng.

- Quanh ánh thiêng reo bùng bùng, Ta nắm tay ca trầm hùng, hẹn ngày rạng Lạc Hồng.

- Mơ xuất quân đi rập ràng, mơ quét tan quân bạo tàn, Xua tan giặc Đông Hán, xua tan giặc xâm lấn!

TÊN HỌ THẬT CỦA TRƯNG TRẮC, TRƯNG NHỊ VÀ THI SÁCH

Theo Lĩnh Nam Chích Quái, họ của Hai Bà là Lạc, bà chị tên Trắc, bà em tên là Nhị. Còn theo truyền thuyết dân gian, Thần tích miếu Mèn và đình Nam Nguyễn (Ba Vì) thì thân mẫu Hai Bà Trưng là cháu ngoại vua Hùng, người làng Nam Nguyễn. Bà góa chồng sớm nên phải một mình nuôi dạy hai con gái. Truyền thuyết còn kể rằng quê thân phụ của Hai Bà Trưng là làng Hạ Lôi (Mê Linh). Gia đình bố mẹ của Hai Bà Trưng chuyên nghề dâu tằm, cho nên mới đặt tên con theo các loại kén (kén tốt nhất, kén dày gọi là kén chắc, là trứng chắc, tức Trưng Chắc; còn kén loại hai, kén mỏng, là kén nhì, là trứng nhì, tức Trưng Nhì; còn loại ba là thứ xấu). Người xưa viết chữ Hán, do tiếng Hán Việt không có chữ “chắc” và chữ “nhì” là tiếng Nôm, nên viết là Trưng Trắc và Trưng Nhị, có dấu cá bên. Có thể là qua tam sao thất bản, dấu cá bên đã bị bỏ đi. Đến khi phiên âm ra chữ Quốc ngữ, người dịch trước đã viết là Trắc và Nhị, rồi người sau cứ theo thế.

Tên húy của chồng bà Chắc là Đặng Thi. Thi là tên chứ không phải là họ. Tiếng “sách” là chữ viết sau chữ “thi” trong câu văn, điều này được nhiều học giả thừa nhận. Các bản sử Quốc ngữ chép là Thi Sách, tuy có bản chú thích thêm ông có họ Đặng. Nhưng ngày nay ta đã quen gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị, Thi Sách thì cũng đã thành Tên mới rồi, có thể gọi các nhân vật lịch sử ấy như thế cũng được. Quê của Hai Bà Trưng có thể ở khu vực bên bờ sông Hồng, đoạn từ Hạ Lôi lên đến khu vực chùa Mía.

- Trưng Trắc là con của Lạc tướng Mê Linh vùng Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay, giỏi võ nghệ, lấy chồng là Thi Sách con trai của Lạc tướng Châu Diên (Sơn Tây, Hà Tây - sách Việt Nam Sử lược chép là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên). Việc hai gia đình có thế lực lớn của hai vùng quan trọng nhất nước ta lúc đó, làm thông gia với nhau khiến cho thanh thế của họ càng thêm mạnh.

MÃ VIỆN PHỤC THÙ - HAI BÀ TRƯNG THUA TRẬN

Nghe tin Trưng Trắc xưng vương, năm 41 vua Quang Vũ nhà Hán cử đệ nhất danh tướng lúc bấy giờ là Mã Viện tổng chỉ huy đem 2 vạn quân cùng 2000 thuyền xe chia làm hai cánh, theo hai đường thủy bộ sang phục thù. Trưng Vương đã chủ động tổ chức lực lượng đánh địch ngay tại vùng địa đầu Tổ quốc (khu vực cửa sông Bạch Đằng), rồi sau đó lui về ghìm giữ địch ở Lãng Bạc (Gia Lương, Bắc Ninh). Cầm cự không nổi, Trưng Vương buộc phải bỏ Lãng Bạc, rút quân về cố thủ ở Cổ Loa, rồi rút về Hạ Lôi. Tháng 3 năm 43, Mã Viện đem toàn lực tiến đánh quân ta tại cửa sông Hát, Hai Bà cùng các nữ tướng Lê Chân, Hoàng Thiều Hoa, Nguyễn Đào Nương… đều anh dũng bỏ mình tại trận. Nhiều bộ Quốc sử chép: Hai Bà thế bức, gieo mình xuống sông Hát Giang tự tận.

(Trong khi Bắc sử chép Hai Bà chết vinh dự tại trận là đáng tin hơn cả, vì Hai Bà không thể tự tận mà bỏ mặc binh tướng. Người nước ta xưa có quan niệm sai lầm cho thế là sự không hay nên sử gia viết khác đi, các bộ sử đều viết không rõ ràng về việc này:

- Sách Việt Điện U Linh chép Hai Bà thế cô, phải nhảy xuống sông tự tận.

- Đại Việt sử ký Toàn thư chép không rõ ràng, chỉ nói quân chạy tan cả, thế cô, đều thua chết.

- Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ viết Hai Bà mất tích sau thua trận.

- Thần tích xã Hạ Lôi, Phúc Yên nói Hai Bà bay lên trời, đây chỉ là một cách nói Hai Bà đã chết, dân xã này vào Đền thờ Hai Bà kiêng màu đỏ (màu máu).

Ngày 6-2 âm lịch hàng năm chúng ta kỷ niệm ngày Hai Bà tuẫn tiết tại sông Hát.

- Bình định xong xứ ta, Mã Viện bắt hết thảy các quý tộc và người có chút uy thế chính trị gồm hơn ba trăm người, cho đưa cả sang tỉnh Hồ Nam, không còn liên lạc gì với đồng bào ta. Chỉ có một số rất ít các quý tộc đào tẩu vào rừng sâu cùng với các quý tộc Thái, Mường trong rừng sâu xa xăm là thoát nạn.

- Mã Viện cho dựng cột đồng ở biên giới nước ta và Trung Hoa để ghi công ‘chinh Nam’ của mình, trên có khắc sáu chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gãy thì dân Giao Chỉ bị giết hết). - Có lời truyền tụng rằng người nước ta qua đấy thường lấy đất đá chất vào, lâu ngày thành gò đống, do sợ cột đồng gãy. – Thuyết khác nói chính người Hoa đã lấp cột đồng ấy đi, để lấn đất biên giới. – Đại Việt Sử Ký Toàn thư chép “Cột đồng được đặt ở động Cổ Lâu thuộc Khâm Châu” – Việt Sử Thông Giám Cương Mục lại chép là động Cổ Sâm, được học giả Đào Duy Anh cho là đúng hơn. Chuyện cột đồng của Mã Viện thuộc về truyền thuyết, có người cho là không chắc có thật. Nếu có thật thì cột đồng dựng ở biên giới bộ Giao Chỉ bấy giới thì phải là phía bắc Hợp Phố, đất cũ Âu Việt nhà Thục, nay thuộc Quảng Đông, Trung Hoa.

- Cũng về sự tích “Cột đồng của Mã Viện”, vào năm 1304, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi được nhà Trần cử đi sứ sang Trung Hoa. Quan tiếp sứ thấy Mạc Đĩnh Chi người bé nhỏ, đen đủi, nên có ý khinh thường mới ra một câu đối:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

(Cột đồng đến nay rêu xanh phủ)

Mượn tích ngạo mạn của Mã Viện thuở nào, viên quan tiếp sứ có ý mỉa mai rằng Đất nước ta đã suy kém từ lâu đời. Nhưng, viên quan này đã bị Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đối lại một câu rất đích đáng:

Đằng Giang tự cổ huyết do hồng

(Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)

Một bên nhắc chuyện xâm lược, một bên nêu chuyện chống xâm lăng. Hành vi cướp nước thể hiện qua tích “Cột đồng Mã Viện” thì đã bị rêu xanh phủ, còn sự tích “đuổi giặc Nguyên của Trần Hưng Đạo và quân dân ta thời Trần” thì nước sông Bạch Đằng như vẫn còn đỏ máu của chúng. Đối đáp nhưng cũng là đã cho quân giặc biết tay, mặc dù vẫn hết sức nhã nhặn, văn chương.

Tuy nhiên, nếu không có chiến công lừng lẫy của Trần Hưng Đạo – Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi dù có tài giỏi bao nhiêu cũng không thể nghĩ ra được một vế đối tài tình như vậy.

Cũng từ đó, Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã cúng đôi câu đối nổi tiếng ở Đền Kiếp Bạc (Hải Dương) thờ Trần Hưng Đạo như sau:

Vạn Xuân hữu sơn giai Kiếm khí

Lục Đầu vô thủy bất Thu thanh

(Vạn Kiếp núi sông hơi kiếm tỏa

Lục Đầu sông nước tiếng thu reo)

Đôi câu đối dẫn ngắn gọn, cô đọng, nhưng đã thể hiện được khí phách oai hùng của dân tộc trong trận chiến thắng quân Nguyên xâm lược.

TÓM TẮT

Dù có nhiều giả thuyết về tên họ thật của Hai Bà cũng như sự kiện Hai Bà trầm mình tuẫn tiết hay là chiến đấu cùng quân sĩ đến hơi thở cuối cùng, thì ngày nay Trưng Vương vẫn đời đời được ghi nhớ về công lao của Hai vị anh thư đầu tiên với tên gọi là Trưng Trắc, Trưng Nhị và phu tướng của Bà chị là Thi Sách, cùng với việc Hai Bà tự tận ờ dòng sông Hát - mãi mãi tượng trưng cho tinh thần anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của Phụ nữ nước ta nói riêng, và của Dân tộc Việt Nam nói chung vậy.


(Tham khảo: Các sách Lịch Sử Việt Nam và Bài hát Cộng đồng, Thành Đoàn TpHCM, 1991)

                                                                                                                PHẠM VŨ

Viết cho NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

8-3

Các vị Nữ Anh Hùng dân tộc trên thế giới

THÙY DƯƠNG

Xưa nay trong lịch sử nhân loại, nói đến các vị nữ anh hùng dân tộc quả là quá hiếm hoi! Thế nhưng, riêng ở Việt Nam ta đã có hai vị: Bà Triệu và Bà Trưng, chưa kể Bà Trưng gồm hai chị em sinh đôi Trưng Trắc và Trưng Nhị. Còn trên thế giới chỉ mới nghe nói đến một người, đó là Jeanne d’Arc, nữ anh hùng của nước Pháp.

So sánh về tầm vóc chiến công, rõ ràng là Trưng Nữ Vương hơn hẳn Jeanne d’Arc. Thế nhưng có lẽ thế giới ít biết đến Trưng Nữ Vương hơn Jeanne d’Arc. Tại sao vậy? Nhiều người cho rằng vì sự nghiệp và chiến công lừng lẫy của Trưng Nữ Vương chưa được phổ biến bằng ngoại ngữ nhiều, nhất là tiếng Anh, tiếng Pháp, trong khi Jeanne d’Arc được nước Pháp phổ biến rộng rãi ở châu Âu và các nước trong khối Quốc Tế Pháp ngữ dễ dàng hơn.

Nay ta hãy thử so sánh hai chiến công của Trưng Nữ Vương và Jeanne d’Arc qua một số nét cơ bản.

Về Trưng Nữ Vương thì người Việt Nam chúng ta từ lớn bé già trẻ ai cũng đã thuộc lòng từ cấp một, chỉ trừ một số người không được cắp sách đến trường, nên chỉ xin nói đến Jeanne d’Arc với vài nét cơ bản tóm lược như sau:

Jeanne d’Arc ( 1412-1431 ) là con của một gia đình nông dân Pháp. Lớn lên, nàng là một thiếu nữ thông minh dũng cảm, đầy nhiệt huyết và rất ngoan đạo. Jeanne d’Arc đã nghe được tiếng gọi thiêng của đấng tối cao… Bấy giờ nước Pháp đang bị quân Anh xâm lược rất tàn bạo. Nàng đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng, tự học hỏi rèn luyện cho mình những kiến thức binh bị rồi quyết tâm xin ra đầu quân để cứu nước. Lúc đầu, các tướng lãnh không đồng ý nhưng nàng tìm gặp cho được nhà Vua và đã thuyết phục được Vua để cho nàng cầm đầu một đạo quân nhỏ đi chinh phạt một số vùng bị giặc chiếm đóng. Sau vài chiến thắng nho nhỏ, Jeanne quyết tâm tiến lên giải phóng Paris, nhưng ngay từ lúc đầu nàng đã bị thương nhẹ trong một cuộc tấn công của địch rồi bị chính nhà Vua ngăn cản không cho tiếp tục. Kế đó nàng bị nhiều người phản đối kể cả những đồng hương của mình, và nhất là bị Tòa Thánh kết tội là hành động của nàng đã phản lại điều luật của Giáo Hội. Sa cơ thất thế, nàng bị bọn phản bội đem bán cho quân Anh rồi bị thiêu sống trên giàn hỏa. Trước cái chết bi thảm, nàng vẫn tự hào hãnh diện về việc làm của mình và nói to cho mọi người biết: “Chúng ta đang thiêu sống một vị Thánh!”.

Dù sao lịch sử nước Pháp vẫn tôn vinh Jeanne d’Arc là một nữ anh hùng dân tộc. Nhưng phải đến đầu TK20,năm 1909 Jeanne d’Arc mới được Công Giáo tôn vinh là Nữ Thánh “Sainte Jeanne d’Arc”. Ngày lễ thánh hằng năm của nàng được quy định vào ngày chủ nhật thứ nhì của tháng 5 (theo tự điển Larousse Illus l ré).

So sánh chiến công của nữ anh hùng Jeanne d’Arc và Trưng Nữ Vương.

Lòng quả cảm yêu nước và chiến công của Jeanne d’Arc quả đã xứng đáng là nữ anh hùng dân tộc. Cũng như Trưng Nữ Vương, có chiến thắng rồi có thất bại chua cay. Nhưng ở đây thắng bại cũng có điểm khác nhau.

Những điểm khác nhau là:

1. Về lực lượng, nước Pháp thời đó so với nước Anh không kém bao nhiêu. Cuộc chiến mới chỉ là cuộc xâm lăng chưa kết thúc. Còn nước ta là một nước nhỏ bé thời đó (TK1) chỉ gồm Bắc Việt và vài tỉnh Bắc Trung Việt, đang bị đô hộ từ nhiều năm bởi một đế quốc lớn là nhà Hán.

2. Jeanne d’Arc tự đầu quân tham gia cuộc chiến dưới quyền chỉ huy của nhà Vua và các tướng lãnh và chỉ chiến thắng được vài trận nhỏ. Còn Trưng Nữ Vương tự đứng lên chiêu tập binh mã và khởi nghĩa, mang lại chiến thắng toàn diện, quét sạch quân đô hộ ra khỏi đất nước, giành lại độc lập tự do cho toàn dân, làm vua trị vì được ba năm. Khi thất bại vì bị nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang đánh, Hai Bà đã tự trầm mình trên dòng sông Hát, không để cho kẻ thù làm ô nhục tấm thân cao quý của mình.

Thử hỏi còn vị nữ anh hùng nào trên thế giới sánh kịp Trưng Nữ Vương của dân tộc Việt Nam?

KỶ NIỆM 95 NĂM

THÀNH LẬP TRƯỜNG TRƯNG VƯƠNG

(1917-2012)

Ngày Chủ nhật 26-2-2012 vừa qua, nhằm ngày 5-2 Nhâm Thìn, Hội Cựu Giáo Sư và Cựu Nữ Sinh Trưng Vương đã tổ chức Lễ hội Truyền Thống Trưng Vương tại trường Trưng Vương số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm Q1, Tp. Hồ Chí Minh.

Theo chương trình, buổi lễ khai mạc lúc 16 giờ và sẽ kết thúc lúc 19 giờ, nhưng vì phần Lễ Nghi, Hoạt Cảnh và Văn Nghệ quá hoành tráng và hấp dẫn khiến cho buổi lễ kéo dài đến quá 20 giờ. Nhiều người còn chưa muốn dời chân, còn ở lại chụp ảnh cho đến 20 giờ 30 mới rời khỏi.

Quan khách và chủ nhân ngồi kín cả sân trường bao gồm cả các trường bạn, dâu rể Trưng Vương, kể cả một số “rể hụt”!

Chỉ tiếc rằng số cựu nữ sinh Đồng Khánh Hà Nội (tiền thân của Trưng Vương) nhiều vị đã xấp xỉ tuổi 90, năm nay có vẻ thưa thớt hơn, thiếu hẳn những vở kịch dí dỏm như mấy năm trước, đặc biệt như vở chàng học sinh trường “Bưởi” (Chu Văn An) trong tà áo the đen, theo tán sát cô nữ sinh Đồng Khánh mà các diễn viên đều là các Cụ Bà ở tuổi cổ lai hy!


Ước mong Lễ Hội Truyền Thống Trưng Vương sẽ ngày càng phong phú, hoành tráng hơn để đầu Xuân các con cháu của hai bà (và dâu rể) sẽ hội tụ về đông đủ hơn.


THÙY DƯƠNG



Phụ Bản I

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

– Cuộc kháng chiến nhân dân

chống ngoại xâm phương Bắc

lần thứ hai của dân tộc Việt

Theo nhiều nguồn sử liệu cổ, người Việt (dân tộc Kinh) phát tích ở vùng đất cổ trên sông Hoàng Hà (Trung Quốc nay) phía Tây, còn Hán tộc có nguồn gốc ở vùng Sơn Tây trên sông Hoàng Hà phía Đông. Theo cố nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc (qua đời sau ngày miền Nam được giải phóng năm 1975), với bộ sách dày gần 900 trang có tên “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” – một công trình nghiên cứu khoa học công phu có sức thuyết phục, đã cho thấy “với hơn hai trăm biểu đối chiếu sọ và ngôn ngữ Việt – Mã và nhiều khám phá mới về thời thượng cổ sử 5000 năm của dân tộc Việt Nam”, đã chứng minh như trên. Sau đó, Hán tộc bắt đầu bành trướng sang phía Tây và vượt sông Hoàng Hà. Người Việt phải chạy trước xuống vùng Kinh Cức (Khu vực Hồ Bắc, Hồ Nam phía Nam sông Hoàng Hà). Người Hán gọi tổ tiên ta là Kinh man (người Kinh man di).

Cuộc di cư lánh nạn đầu tiên đó được nhà sử học Trần Trọng Kim chép về Họ Hồng Bàng, trong đó Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ và sự tích Lạc Long Quân – Âu Cơ xảy ra ở khu vực hồ Động Đình và núi Ngũ Lĩnh (miền Trung nước Trung Quốc nay) (Việt Nam Sử lược, NXB VH-TT 1999, trang 23).

Theo Sổ tay Báo cáo viên năm 2005 của Ban TT-VH Trung ương, thời đại Hùng Vương với 18 đời vua được tính từ Kinh Dương Vương húy Lộc Tục có 86 năm (2879-2794 trước CN) và kết thúc là Hùng Duệ Vương húy Huệ Lang gồm nhiều đời trị vì 150 (408-258 Tr CN) (trang 140).

Như vậy, trong thời gian cuối quá trình dựng nước và giữ nước, 18 đời Hùng Vương, nước Văn Lang định cư trong khu vực Bắc Bộ ngày nay, có thể hiểu là cuộc thiên cư vĩ đại của dân tộc Kinh từ Bắc chí Nam trên một địa bàn rộng lớn (thuộc lãnh thổ Trung Hoa ngày nay) trong thời gian dài 2.581 năm (tương đương với thời gian từ thế kỷ thứ 1 sau CN tới ngày nay). “Từ khi định cư ở đồng bằng Bắc Bộ, người Việt Nam đã có tục nhuộm răng ăn trầu, tục xăm mình theo hình con cá sấu, tục thờ cúng tổ tiên và sùng bái anh hùng, giàu ý thức cộng đồng, giàu tinh thần đoàn kết, thực tế trong suy nghĩa và hành động, tự hào về nguồn gốc con rồng cháu tiên…” (Sổ tay trang 161).

Tới năm 218 tr. CN, trong khi người Việt đã rời khỏi địa bàn sinh tụ cổ, Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Trung Quốc (tiêu diệt 6 nước nhỏ thời Chiến quốc bao gồm nhiều dân tộc làm chủ đất Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy và Tần) tiếp tục thực hiện chính sách bành trướng nước lớn đã sai Đồ Thư chỉ huy 50 vạn quân chia làm 5 đạo tiến xuống phía Nam chiếm vùng Lĩnh Nam thuộc Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc nay) và từ Tây Giang, họ đã tiến vào Văn Lang sau thời vua Hùng. Người Tây Ân và Lạc Việt đã chiến đấu ngoan cường mặc dù không có thủ lĩnh. Sự đoàn kết của hai dân tộc này đã chiến thắng quân Tần và giết chết Đồ Thư. Cuộc kháng chiến du kích đầu tiên của dân Việt kéo dài từ 214 đến 208 Tr. CN.

Kế tục nhà nước Văn Lang (thủ đô là Phong Châu - Bạch Hạc tỉnh Vĩnh Phú, nơi có đền thờ Vua Hùng) là Âu Lạc do Thục Phán lãnh đạo xưng là An Dương Vương (kinh đô mới là Cổ Loa, nay thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội) bị Triệu Đà nước Nam Việt ở vùng Quảng Châu – Trung Quốc ngày nay dùng kế “kết thông gia” qua mối tình Trọng Thủy (con trai Triệu Đà) – Mỵ Châu (con gái An Dương Vương) để đánh chiếm thành Cổ Loa, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Nước ta bị phương Bắc đô hộ lần đầu. Nhà Tây Hán thay thế nhà Tần tiếp tục đánh chiếm Nam Việt, trong đó có nước ta. Sau Tây Hán là Đông Hán tiếp tục cai trị nước ta với tên gọi là Giao Chỉ (25-220 sau CN).

Nhà Hán đã áp dụng chính sách cai trị quá khắc nghiệt, trong đó Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc người Việt quá tàn bạo được mô tả là người bạo ngược, chính trị tàn ác nên người Giao Chỉ đã có lòng oán giận lắm dẫn đến xảy ra nhiều cuộc phản kháng. Vợ chồng Thi Sách – Trưng Trắc đề ra kế hoạch đấu tranh hòa bình với Tô Định nên Thi Sách bị sát hại vào năm Canh Tý 40. Trưng Trắc là con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh làng Hạ Lôi thuộc Sơn Tây, phía nam sông Hồng, sông Hát (chớ không phải Hạ Lôi huyện Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc - nay là thành phố Hà Nội) ở phía bắc sông Hồng, cùng với em là Trưng Nhị tập hợp nhân dân phất cờ khởi nghĩa tiến đánh trị sở của Thái Thú khiến Tô Định chạy trốn về quận Nam Hải (Quảng Đông Trung Quốc ngày nay).

Lúc ấy, những quận Cửu Chân (Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An) và Hợp Phố (Quảng Châu – Trung Quốc) đều nổi lên theo về với Hai Bà Trưng. Chẳng bao lâu, hai Bà hạ được 65 thành trì, tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh, là chỗ quê nhà (VNSL, trang 49).

Năm Tân Sửu 41, vua Quang Vũ nhà Đông Hán sai tướng Mã Viện đem quân theo đường bộ phá rừng đào núi tới Quỷ môn quan (cửa ải phía nam) thuộc Chi Lăng ngày nay bị quân Hai Bà ngăn chặn từ đây. (Xem lại bài Thi hào Nguyễn Du với bài thơ Quỷ môn quan đã đăng trên Sổ tay này). Mãi ba năm sau, quân Đông Hán mới tới khu vực Long Biên (Hà Nội ngày nay). Quân Hai Bà lui về căn cứ khởi nghĩa lúc đầu là huyện Mê Linh (Sơn Tây) nhưng quân yếu thế cô nên thua trận, phải nhảy xuống sông Hát (nơi tiếp giáp của sông Đà và sông Hồng) mà hy sinh. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng hai năm Quý Mão (43).

Có thể nói đây là cuộc khởi nghĩa lần đầu tiên của nữ giới chống ngoại xâm trong lịch sử nước ta và là cuộc kháng chiến lần thứ hai của dân tộc Việt Nam chống các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược. Đây là cuộc khởi nghĩa đáng tự hào chính đáng của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, xét trong hoàn cảnh lúc ấy, dân ta kiên cường chống trả một nước lớn (đang làm chủ cả một đất nước rộng lớn như Trung Quốc ngày nay, có thế lực hùng mạnh cả một khu vực châu Á mà sau này đô hộ nước ta cả ngàn năm và tiếp tục xâm lấn nhiều thời kỳ nữa cho tới ngày nay, chiếm đóng Hoàng Sa là một bằng chứng lịch sử hiện đại). Chính cuộc quật khởi này đã làm gương cho hàng ngàn cuộc nổi dậy khác để giành độc lập, tự chủ và thống nhất đất nước.

Tuy ngày nay không còn dấu vết nhưng sử sách đã từng ghi rằng tướng Mã Viện sau khi đánh thắng Hai Bà, trước khi rút quân về nước để lại bộ máy cai trị tàn bạo và dựng cột đồng ghi dòng chữ quá ác độc: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Họ thi hành chính sách đô hộ quá tàn nhẫn theo bốn điều:

1-Di dời toàn bộ dân cư huyện Mê Linh ở vùng Sơn Tây phía Nam sông Hồng lên phía Bắc sông Hồng mà ngày nay có huyện Mê Linh ở Vĩnh Phúc nhằm cai trị quản lý thuận lợi.

2-Sát hại tất cả quân lính thua trận.

3- Bắt một số viên chức và tướng lĩnh chỉ huy các đạo quân của Hai Bà đưa về quản thúc ở Liễu Châu, khu vực phía nam hồ Động Đình thuộc tỉnh Quý Châu.

4-Để lại một số quân cho lấy vợ lập nghiệp ở Giao Chỉ gọi là Mã lưu với âm mưu đồng hóa người Việt.

Từ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cho tới nay, Việt Nam luôn bị các triều đại phương Bắc tìm cách đánh chiếm và cai trị. Ngay cả khi hai nước hai dân tộc cùng có Đảng Cộng sản lãnh đạo nhưng họa ngoại xâm vẫn không tránh khỏi. Cuộc chiến tranh Việt - Trung năm 1979 là một điển hình và Hoàng Sa hiện nay là một thực tế. Biển Đông nước ta vẫn còn bị lấn chiếm bằng đường lưỡi bò. Họa ngoại xâm của phương Bắc bất kỳ thời nào vẫn còn là hiểm họa đối với nhân dân Việt Nam.

Nhà nước ta đã kết hợp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà với ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 hàng năm để biểu thị truyền thống đấu tranh bất khuất của phụ nữ Việt Nam với phụ nữ trên thế giới chống chủ nghĩa tư bản từ năm 1910 đòi quyền dân chủ dân sinh và bình đẳng trong xã hội. Sau đó, quyền bình đẳng nữ giới là ngọn cờ đầu cho các cuộc đấu tranh của dân tộc bị áp bức giành độc lập, giải phóng đất nước trong phong trào công nhân lao động quốc tế mà vai trò của phụ nữ ngày càng được tôn trọng, đề cao trong xã hội hiện nay.

Vương Liêm

Thiếu Khanh

TƯỜNG TRÌNH VỀ LIÊN HOAN THƠ

CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG LẦN I

Liên Hoan Thơ Châu Á Thái Bình Dương lần I do Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (VN), Hội Nhà Văn VN và Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh Quảng Ninh phối hợp tổ chức tại Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh và Hà Nội từ ngày 1/2 đến ngày 7/2/2012. Liên hoan có sự tham dự của 81 khách nước ngoài đến từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ, và 40 khách mời trong nước.

Dịch giả Vũ Anh Tuấn và người viết, có vinh dự có tên trong số khách mời chính thức. Nhưng đến ngày lấy vé máy bay thì các dự báo thời tiết về đợt “rét đậm rét hại” sẽ xẩy ra tại Hà Nội và Quảng Ninh trong thời gian đó khiến dịch giả Vũ Anh Tuấn lo ngại. Do tình trạng sức khỏe cộng với lời cảnh báo của bác sĩ riêng nên dịch giả Vũ Anh Tuấn đã quyết định không đi Hà Nội lần này. (Trước đây, vì bận chuyện riêng, dịch giả Vũ Anh Tuấn cũng lỡ chuyến đi tham dự Hội nghị Quốc tế Quảng bá Văn học VN tại Hà Nội vào đầu năm 2010).

Theo chương trình của Ban tổ chức (BTC), tất cả khách mời được đón tiếp tại Khách sạn Grand Hạ Long và Khách sạn Công Đoàn tại thành phố Hạ Long vào ngày 1/2/2012. Đến cuối buổi chiều ngày hôm nay hầu như tất cả khách mời của Festival Thơ này đều nhận phòng xong và tập trung ăn tối tại phòng ăn khách sạn. Các khách sạn này nằm ngay trên bờ biển nhìn ra Vịnh Hạ Long rất thơ mộng, nhưng do trời có mưa bụi nhẹ và khá lạnh nên buổi tối đường phố ở khu vực này khá vắng – kể cả chợ đêm Hạ Long cách đó vài trăm mét chỉ có lưa thưa ít khách du lịch người Trung Quốc. Khu vực chợ đêm khá rộng, đèn sáng trưng, hầu như chỉ bán đồ lưu niệm cho du khách, nhưng khá vắng vẻ, không có sự nhộn nhịp như những khu phố buôn bán ở Tp. HCM. Có lẽ do trời lạnh khiến du khách không hào hứng dạo phố ban đêm.

Festival Thơ chính thức bắt đầu vào ngày hôm sau, 2/2/2012, với lễ kéo cờ được cử hành vào lúc 9 giờ sáng tại khuôn viên của sân trước Khách sạn Grand Hạ Long. Cờ do nhà thơ, họa sĩ kiêm nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo thiết kế, với một chữ “thơ” nằm đè trên hình một con chim hạc (lấy mẫu từ mặt trống đồng) nằm giữa một vòng tròn kết bằng quốc kỳ nhiều nước. Tất cả cụm hình này được đặt nằm giữa một nền màu xanh biển, và dưới hai dòng chữ:

LIÊN HOAN THƠ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG LẦN THỨ I

The First Asia – Pacific Poetry Festival

Đó cũng là lá cờ biểu tượng cho Ngày Thơ VN (không có hai dòng chữ trên).

Sau lễ kéo cờ, tất cả lên xe ra núi Bài Thơ để làm Lễ Dâng Hương.


Lá cờ của Liên hoan thơ

Núi Bài Thơ, trước đây có tên là Truyền Đăng Sơn hoặc gọi nôm na là Núi Rọi Đèn, là một ngọn núi đá vôi cao 201 mét nằm ở trung tâm Tp. Hạ Long, ngay trên bờ biển Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, một trong những núi cao nhất vùng biển Cửa Lục. Sở dĩ núi có tên Núi Bài Thơ, vì trên một mặt đá dưới chân núi ở mặt phía Nam có khắc một bài thơ của vua Lê Thánh Tông mà tương truyền vào tháng 2 năm 1468, nhân một dịp đi kinh lý vùng Đông Bắc, nhà vua cảm hứng trước cảnh đẹp kỳ ảo của Vịnh Hạ Long đã làm một bài thơ và cho khắc vào vách núi. Từ đó núi có tên là núi Đề Thơ, về sau được gọi là núi Bài Thơ. Điều may mắn, như một phép lạ, là sau gần sáu thế kỷ, bài thơ khắc trên vách núi vẫn còn nguyên vẹn, trong khi tượng đá thiên nhiên hình nàng Tô Thị ở vùng núi Lạng Sơn đã bị nung vôi. Nói phép lạ may mắn là vì trước đó nhà cửa dân cư bao bọc chung quanh ba mặt núi, sát vào tận vách núi có khắc bài thơ. (Tất cả khu dân cư mặt này đã được giải tỏa trước đó. Dấu vết giải tỏa còn rất mới.)


Lễ Dâng Hương

Lễ Dâng Hương trước bài thơ của Vua Lê Thánh Tông được tổ chức khá long trọng, với tiết mục dâng hương, các màn trình diễn các làn điệu âm nhạc ca múa cổ truyền của các nghệ nhân địa phương, múa rồng, và cuối cùng là “thả thơ”. Thả thơ là thả lên không trung những quả bóng bay đủ màu sắc mang theo các dải lụa màu trên đó có viết những câu thơ của tiền nhân và của các thi sĩ nổi tiếng viết về Vịnh Hạ Long. Những vần thơ tuyệt cú nhanh chóng bay vút lên không, lẩn khuất vào làn sương mù trên bờ biển quanh chân núi.

Buổi chiều cùng ngày dành cho Hội thảo “Thơ ca vì một châu Á – Thái Bình Dương hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển” tại hội trường khách sạn Grand Hạ Long. Các đại biểu trong và ngoài nước đọc tham luận. Buổi tối dự chiêu đãi của UBND Tỉnh Quảng Ninh và Hội Văn Học Nghệ Thuật Quảng Ninh tại phòng tiệc khách sạn.

Buổi sáng ngày 3/2/2012, tất cả những người tham dự Liên hoan Thơ được dự một chuyến tham quan Vịnh Hạ Long trên những chiếc du thuyền bằng gỗ của thành phố Hạ Long phục vụ du lịch. Trong chuyến tham quan lần này các du thuyền chỉ dạo quanh trên vịnh, cho du khách được tận mắt chiêm ngưỡng các quang cảnh kỳ ảo của một thắng cảnh thiên nhiên hàng đầu của VN được xếp vào hàng kỳ quan thiên nhiên của thế giới. (Lần trước, trong kỳ Hội nghị quốc tế Giới thiệu Văn học VN vào năm 2010, ngoài Vịnh Hạ Long, khách tham dự hội nghị còn được tham quan các Động Thiên Cung và hang Sửng sốt trên bờ vịnh).


(Ảnh: Hòn Trống Mái trên Vịnh Hạ Long mù sương. Hình ảnh Hòn Trống Mái này cũng là biểu tượng trên chiếc huy hiệu trên áo của các thành viên tham dự Liên hoan Thơ)

Buổi tối cùng ngày dành cho đêm Thơ quốc tế. Các đại biểu trong nước và quốc tế lần lượt trình bày các thi phẩm của mình, được các dịch giả kiêm MC dịch ra tiếng Anh hoặc tiếng Việt tương ứng, cho tất cả các thành viên tham dự được thưởng thức qua các “tai nghe” không dây (wireless headphone). Đặc biệt trong dịp này, nhà thơ Lâm Quang Mỹ đã “hát” thơ của mình, thay vì cách đọc thơ bình thường của mọi người. Đó là một cách trình bày thơ rất độc đáo và mới lạ. Lâm Quang Mỹ là bút hiệu của một tiến sĩ vật lý làm việc tại Viện Hàn Lâm khoa học Ba Lan và đã nghỉ hưu. Anh là người Nghệ An, nhưng cùng gia đình sống tại Ba Lan từ nhiều chục năm qua. Lâm Quang Mỹ đã xuất bản nhiều tác phẩm Thơ tại Ba Lan bằng tiếng Anh và tiếng Ba Lan, trong đó có “Tuyển Tập Thơ Việt Nam Từ Thế kỷ 11 đến Thế Kỷ 19” được giới văn học Ba Lan chọn là “Sách của Năm 2011”. Lâm Quang Mỹ nhận được nhiều giải thưởng văn học ở Ba Lan, và đã có 2027 lần “hát thơ” khắp nước Ba Lan, rất được thính giả yêu thơ ở Ba Lan hâm mộ. Anh là hội viên Hội Nhà Văn Ba Lan cũng vừa là hội viên hội Nhà văn VN. Đêm thơ hào hứng kéo dài đến tận sau 12 giờ khuya!

Buổi sáng ngày Thứ Bảy, 4/2/2012, tất cả thành viên tham dự Liên hoan Thơ phải dậy thật sớm, từ 6 giờ sáng, để ăn sáng và chuẩn bị lên xe rời khách sạn lúc 8 giờ. Theo chương trình, đoàn khách sẽ tham quan Làng Gốm cổ Bát Tràng và ăn trưa tại đây trước khi trở về Hà Nội. Trên đường đến Bát Tràng, đoàn xe đi ngang qua Hội Lim ở Bắc Ninh nhưng không ghé lại. Từ xa đã thấy một không khí hội hè quy tụ rất đông người, và rất nhiều xe cộ - rất nhiều xe con sang trọng – của người từ xa đến xem hội. Nghe nói có đến hai ngàn rưỡi nghệ nhân dân gian tham gia hát Quan họ trong Hội Lim lần này. Có lẽ đó là một kỷ lục. Nhưng không biết con số đó có chính xác không.

Làng Gốm cổ Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Sản phẩm gốm Bát Tràng nổi tiếng khắp nước từ lâu đời. Làng có 700 năm lịch sử chế tác đồ gốm. Khách đến đây dễ có cảm giác choáng ngộp với đồ gốm sứ. Hầu như tất cả nhà mặt tiền phố là các gian hàng thênh thang trưng bày đầy ắp sản phẩm gốm, từ những món nhỏ nhặt tầm thường đến những sản phẩm cao cấp nhất. Toàn bộ gốm là gốm, đến nỗi tôi không biết người ta mua sắm những thứ khác cần dùng cho cuộc sống hàng ngày ở đâu! Nhiều nhà trưng bày những cặp lọ sứ khổng lồ có lẽ cao không dưới hai mét! Bữa cơm trưa ở đây nhà hàng đãi một món “rượu thuốc” thật ngon (tôi có hỏi nhưng quên mất tên rượu) đựng trong những chiếc bình gốm hình quả bầu xinh xắn. Sau bữa ăn, nhiều cốc rượu vang còn nguyên, nhưng mọi bình rượu hình quả bầu đều nhẹ hều.

Về đến Hà Nội vào lúc 4 giờ rưỡi chiều, một sự cố ngoài dự liệu đã xảy ra với nhà thơ Lâm Quang Mỹ và tôi: Chúng tôi không có phòng khách sạn! Số là hôm từ Tp. HCM ra, thay vì gọi taxi về Hà Nội và đi thẳng đến Trung Tâm Văn Hóa Hội Nhà Văn tại Đường Âu Cơ, Quảng An, Quận Tây Hồ là nơi hai chúng tôi được chờ đón để đăng ký phòng khách sạn, tôi đã nán lại phi trường Nội Bài một tiếng đồng hồ chờ vợ chồng nhà thơ Lâm Quang Mỹ từ Nghệ An ra, và cùng về tại apartment của một trong các con gái của anh ở Yên Hòa Quận Cầu Giấy (con gái anh, tốt nghiệp từ Sorbonne, đang sống cùng chồng ở nước ngoài nên apartment mới mua để không). Với sự quý trọng chồng và truyền thống hiếu khách của một phụ nữ Việt Nam, cộng với phong cách lịch sự rất thanh nhã của người từng sống lâu năm trong một xã hội Tây phương, chị Kim Phúc, “the other half” của nhà thơ Lâm Quang Mỹ đã dành cho tôi sự tiếp đón niềm nở rất cảm động. Tôi quen Lâm Quang Mỹ trong Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học VN tại Hà Nội hai năm trước. Sau Hội nghị, Mỹ trở về Ba Lan; chúng tôi thường xuyên điện thoại nói chuyện với nhau. (chủ yếu là Mỹ gọi: anh ấy sợ tôi gọi ra nước ngoài tốn nhiều tiền!). Mỹ được mời về nước tham dự Liên hoan Thơ này, nên ngay từ khi còn ở Ba Lan, anh đã quyết định chúng tôi sẽ cùng đi chung với nhau. Và hai chúng tôi đã ở cùng phòng khách sạn với nhau từ Quảng Ninh về đến Hà Nội – từ đầu đến cuối Liên hoan Thơ.


(Ảnh: Trong Hội Thảo Thơ. Từ trái qua:

nhà thơ Lâm Quang Mỹ - tác giả, và nhà biên khảo về Thơ Lê Xuân Đức.)

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn VN,
đọc diễn văn khai mạc Dạ hội Thơ

Do “tách riêng” như thế, chúng tôi đã không đăng ký khách sạn ở Hà Nội. Rồi hôm xuống Quảng Ninh, ngày 1/2, thay vì đi với đoàn Hội Nhà văn VN, Lâm Quang Mỹ và tôi cùng nhà văn Quân Đội Đinh Quang Tốn đi xe riêng của nhà thơ tiến sĩ Vĩnh Quang Lê, Tổng Biên tập báo Nhân Đạo và Đời Sống. Chính vì chuyện “đi lẻ” này mà khi từ Quảng Ninh trở về Hà Nội, Lâm Quang Mỹ và tôi đã không có sẵn phòng đăng ký trước như những người khác! Hai anh em được BTC bố trí ở tạm tại Nhà Khách Nguyễn Đình Chiểu gần hội Nhà văn, nhưng rất xa Khu Biệt thự Tây Hồ, là nơi phục vụ ăn uống cho tất cả thành viên tham dự Liên hoan Thơ. Tôi và Mỹ thành ra lạc lõng. Sau khi tắm rửa xong, hai anh em tự tìm chỗ ăn tối ngoài phố trước khi vào Văn Miếu – Quốc Tử Giám tham dự Dạ Hội Thơ.

Ở Hà Nội không có cảnh hàng quán ăn uống dày đặc cả thành phố như ở Tp. HCM. Nhà hàng quán ăn ở Hà Nội rất thưa thớt. Mà Mỹ lại chỉ ăn cá, không ăn bất cứ loại thịt nào. Ngoài món chả cá Lã Vọng nổi tiếng ra, có lẽ khắp thành phố thủ đô không có nơi nào có quán ăn loại… canh chua cá lóc, cá bông lau, cá kho tộ vân vân dễ kiếm như trong Nam. Mà dù có các nhà hàng như thế, thì một là cả hai chúng tôi còn lạ lẫm không quen (Mỹ ở nước ngoài hơn 40 năm!). Hai là chúng tôi cũng không có thì giờ nhẩn nha thưởng thức. Chúng tôi phải tìm chỗ ăn “cơm bụi” thật nhanh để còn đi dự đêm Thơ! Kết quả là tối hôm đó, và cả sáng hôm sau, riêng nhà thơ hội viên hội nhà văn hai nước, chỉ ngồi nhai bánh mỳ không và nhìn tôi ăn!

Dạ Hội Thơ tại Văn Miếu được tổ chức khá hào hứng. Ngoài việc các nhà thơ trong và ngoài nước đọc lại cho người yêu thơ ở Thủ đô nghe những bài thơ của mình đã được đọc ở Quảng Ninh, còn có nhiều màn phụ diễn khá hấp dẫn.

Nhận thấy ở nhà khách Nguyễn Đình Chiểu không được thuận tiện: máy lạnh không có chế độ sưởi, sau khi ớ Văn Miếu về, hai chúng tôi thông báo với BTC và được hướng dẫn chuyển đến Nhà Khách Thanh Niên trên đường Hồ Xuân Hương. Ở đây phòng rộng rãi thoải mái hơn, nhưng máy lạnh cũng chỉ có chức năng làm lạnh không thôi. Mà như thế là thừa, vì ngoài trời cũng đã đủ lạnh rồi. Nhà thơ Lâm Quang Mỹ, một người từ một xứ lạnh Đông Âu về Hà Nội đêm đó đã không ngủ được vì… lạnh, trong khi tôi trùm mền ngủ thẳng một mạch tới sáng không chiêm bao! Nếu các máy điều hòa nhiệt độ trong apartment ở Yên Hòa và trong khách sạn ở Quảng Ninh đều có chế độ sưởi khá ấm áp thì các máy lạnh ở đây chỉ có chế độ lạnh chớ không có sưởi nóng. Bên ngoài có lẽ nhiệt độ dưới 20 độ C. Máy điều hòa trong phòng được chỉnh 27 độ, nhưng nó cứ… tà tà chạy quạt ở khoảng 20 độ C, như trong một “bình thông nhau” với không khí bên ngoài! Mỹ không quen với tình huống như vậy, nên thấy lạnh quá, dù cái mền dày và nặng… muốn ngộp thở.

Rất may, trưa hôm sau, sau khi dự khai mạc Ngày Thơ Việt Nam Lần thứ X, cũng tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chúng tôi được đưa về “nhập lại vào dòng chảy chung” với các nhà thơ khác. Sau khi đoàn nghệ sĩ dân gian của Tỉnh Hòa Bình ra về sau các tiết mục trình diễn cồng chiêng rất ấn tượng trong buổi sáng khai mạc Ngày Thơ VN, chúng tôi check in vào các phòng trống của họ để lại. Lâm Quang Mỹ không còn phải ăn bánh mỳ: chúng tôi lại được phục vụ ăn ở chu đáo. Chỉ có điều nhà thơ Lâm Quang Mỹ có thêm hai đêm khó ngủ vì máy lạnh ở đây cũng không có chế độ sưởi. Chỉ vì muốn tôi có bạn mà Mỹ ở lại với tôi cho vui, thay vì về apartment của mình vào buổi tối như một số nhà thơ khác ở Hà Nội.

Ngày Thơ VN lần X được tổ chức tại Văn Miếu Quốc Tử Giám vào sáng mồng 5/2/2012, rơi đúng vào ngày Rằm Nguyên tiêu. Từ sáng sớm nhiều người dân thủ đô và du khách đã dập dìu và liên tục đổ vào khu Văn Miếu. Người vào xem rất đông. Năm nay BTC chỉ mời 10 tỉnh quanh Thủ đô tham dự sự kiện này với các gian hàng bày bán sách báo, và giới thiệu các đặc sản của địa phương mình. Tôi la cà xem các “ông đồ nho” với mực tàu giấy đỏ lom khom “cho chữ” theo yêu cầu của khách hàng; và tôi thử lân la nhấm nháp trà Thái Nguyên được pha chế tại chỗ phục vụ khách miễn phí, dù tôi vốn không uống trà. Đặc biệt người uống trà miễn phí còn nhận được lời cám ơn rất cảm động từ người tặng.


(Ảnh: Một trong các “quầy” trà Thái Nguyên phục vụ miễn phí

cho khách tham quan Ngày Thơ VN tại Văn Miếu)

Tại đây, qua giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi được gặp lần đầu tiên nhà báo Xuân Ba người mà mới trước đó vừa có một bài viết trên tờ Tiền Phong Chủ Nhật Xuân Nhâm Thìn về cuộc hội ngộ tình cờ của nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo và tôi vào năm 2010, sau 37 năm chúng tôi “biết” nhau trong tình văn nghệ. Tôi cũng được gặp lại nhà thơ nữ người Mường Bùi Tuyết Mai mà trước đây tôi có dịp giới thiệu tập thơ Binh Boong của chị; bài viết được phổ biến trên nhiều trang mạng.

Ngày Thơ VN lần X cũng có tiết mục thả thơ.


(Ảnh: Tác giả và các cháu thiếu nữ đang chuẩn bị “thả thơ” tại Văn Miếu)

Do việc đổi chỗ ở, chúng tôi nghe thông tin không rõ, nên chiều hôm đó, cùng một số nhà thơ khác, chúng tôi đã lỡ chuyến xe của BTC đưa đi dự buổi tiếp đón Chủ Tịch Nước đến thăm.

Buổi sáng ngày tiếp theo, 6/2/2012, ngày cuối cùng của Festival Thơ, tất cả được BTC đưa đi thăm thắng tích Chùa Thầy ở Sài Sơn, cách Hà Nội khoảng 20 cây số. Trước kia Sài Sơn thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Tên núi Sài Sơn trong câu thơ “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn / Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng” trong bài thơ Đôi Mắt Người Sơn Tây nổi tiếng của thi sĩ Quang Dũng chính là núi mang nhiều truyền thuyết lịch sử này đây. Trước năm 1965, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Sơn Tây. Núi còn có tên là Núi Phật Tích hay Núi Thầy vì là nơi ngày xưa Thầy (tức Pháp sư Từ Đạo Hạnh) tu hành, đắc đạo và “hóa”. Chùa thờ Thầy ở Núi Thầy nên gọi là chùa Thầy. Chùa Thầy là một cụm kiến trúc cổ bám vào chân Núi Thầy, gồm nhiều chùa liền nhau. Phần chùa chính ở phía trên gồm ba chùa tuần tự liền kề nhau từ thấp lên cao, là Chùa Hạ, Chùa Trung và Chùa Thượng. Cụm ba chùa này gọi là chùa Cao do Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng.

Bên dưới Chùa Cao là Chùa Thiên Phước (Thiên Phước Tự). Trong quần thể Chùa Thầy còn có các thánh tích nổi tiếng như Hang Phật Tích hay Hang Thánh Hóa (nơi tương truyền pháp sư Từ Đạo hạnh thoát xác để đầu thai làm con Sùng Hiền hầu và trở thành vua Lý Thần Tông), Hang Bụt Mọc, Hang Cắc Cớ, Hang Gió, Hang Bò, Chùa Bối Am, hay chùa Một mái, vv…


Một trong hai chiếc cầu độc đáo - Nhật Nguyệt tiên kiều - tại Chùa Thầy

Các chùa xây dựng chủ yếu bằng gỗ (có hai cây cột chính ở chùa Thượng bằng loại gỗ quý ngọc am rất lớn; tôi vòng tay ôm thử chỉ được hơn một nửa vòng thân cột; mỗi cây đòn tay trên mái nhà có đường kính có lẽ phải từ 20 - 25cm!)

Chùa Thầy thờ Phật như mọi ngôi chùa khác trong cả nước, nhưng cũng là nơi thờ pháp sư Từ Đạo Hạnh với ba kiếp sống của ông: kiếp tu hành, kiếp hóa thân thành vua Lý Thần Tông, và kiếp đắc đạo thành Phật. Chùa Thầy là một danh thắng quốc gia với rất nhiều thứ đáng chiêm ngưỡng.

Đoàn tham quan có buổi giao lưu thơ với các thi nhân trong câu lạc bộ Thơ tại địa phương và dùng cơm chay tại Chùa Long Đẩu, nằm dưới chân núi Long Đẩu đối diện với Chùa Thầy. Khi đoàn lên xe về, mỗi người trên xe được Câu lạc bộ Thơ địa phương tặng một tập thơ thật dày và một cuốn sách ảnh Non Nước Chùa Thầy do Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội xuất bản, in ấn rất đẹp. Các thành viên trong đoàn được yêu cầu ký tên lưu niệm trong một cuốn sổ lưu niệm của Chùa Long Đẩu, nhưng rất tiếc đã không có đủ thì giờ cho tất cả mọi người cùng ký. Cá nhân người viết chân thành xin lỗi về sự thiếu sót rất thất thố này.


Giao lưu tại Chùa Long Đẩu Tự, dưới chân núi Long Đẩu,

đối diện với chùa Thầy

Đoàn trở về Hà Nội trong ngày. Buổi tối tất cả các thành viên dự Liên hoan Thơ được mời dự buổi chiêu đãi của các Bộ Văn Hóa – Thông tin, Bộ Tài nguyên và Môi Trường, và Bộ Giao thông Vận tải phối hợp, tại Khách sạn 5 sao Daewoo, Hà Nội. Đây cũng là buổi tiệc chia tay, vì ngày mai, 7/2/2012, tất cả khách mời sẽ lần lượt rời Hà Nội, ở đâu về đó.

10 giờ sáng ngày 7/2/2012, tôi được BTC cho xe đưa ra phi trường Nội Bài. Lâm Quang Mỹ HHH. cũng đưa tôi ra phi trường, để sau đó, khi trở về Hà Nội, chiếc xe này sẽ đưa anh về Yên Hòa, quận Cầu Giấy. BTC thật hết sức chu đáo.

Nhân đây, tôi chân thành cám ơn Ban Tổ Chức Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương lần I đã cho tôi vinh dự được tham dự một sự kiện văn hóa quan trọng có tầm mức quốc tế. Và, ngoài một sự cố nho nhỏ ngoài ý muốn chung, tôi đã được dành cho mọi tiện nghi rất chu đáo trong suốt một tuần lễ tham dự Festival này.

Một lời cám ơn riêng xin chân thành gởi đến dịch giả Hoàng Thúy Toàn, các nhà văn Đỗ Hàn, Chánh văn phòng Hội Nhà văn VN, Nguyễn Thanh Hoà văn phòng Hội Nhà Văn VN, và nhà thơ Lê Quang Sinh, giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Hội Nhà Văn VN, và nhiều bạn nhà thơ khác nữa, kể không hết. Tôi sẽ luôn ghi nhớ những kỷ niệm vui sướng được gặp lại các bạn trong tình thân ái ấm áp rất cảm động và những sự hỗ trợ các bạn dành cho trong suốt thời gian tôi được hân hạnh tham dự Liên hoan Thơ ở Quảng Ninh và Hà Nội.

TỪ TU THIỀN ĐẾN TU PHẬT (tt)

CÔNG ÁN THỨ BA

NGÓN TAY CỦA CÂU CHI

* Công Án:

Hoà Thượng Câu Chi hễ có ai tham hỏi, chỉ giơ một ngón tay lên. Có chú tiểu, hễ ai hỏi Sư dạy pháp yếu nào, cũng giơ ngón tay lên. Sư nghe được bèn lấy dao chặt đứt ngón tay chú tiểu. Chú đau đớn la khóc mà chạy. Sư bèn gọi lại, chú vừa quay đầu thì Sư lại giơ ngón tay lên. Chú tiểu bỗng lĩnh ngộ.

Khi sắp tịch, Sư nói với tăng chúng rằng:

- Ta thụ được của Thiên Long chỉ một ngón Thiền mà cả đời dùng không hết.

Nói xong Sư tịch.

Lời giải:

Bài này Ngài Vô Môn đã hạ được một câu đúng đắn: "Chỗ ngộ của Câu Chi cũng như của chú tiểu không phải ở ngón tay". Nhưng ngộ cái gì? Ngộ như thế nào thì người đọc tự tìm hiểu lấy, Ngài cũng không giải ra được!

Không biết ngón tay của Thầy có đăng ký độc quyền nhãn hiệu hay không? Nhưng phải chăng vì việc truyền đạo mơ hồ nên "Thầy sao, trò vậy", đâu có ngôn ngữ mà học, mà bắt chước?!. Ngày trước, Thầy của Hòa Thượng Câu Chi là Hòa Thượng Thiên Long cũng chỉ “đưa ngón tay lên”, đâu có dạy thêm câu nào?!. Bây giờ Ngài Câu Chi cũng “đưa ngón tay lên” y hệt như Thầy của Ngài, có khác chút gì đâu?! Rõ ràng chú tiểu thấy: khi có người hỏi, thì Thầy không nói gì hơn là giơ một ngón tay lên, thì chú cũng theo đó mà làm thôi. Vệc đó có gì quá đáng đâu mà phải chặt ngón tay chú ta? Học trò đang học với mình, sao không dạy, không giải thích mọi điều cho rõ ràng để nó đừng hiểu lầm mà bắt chước mình?

Tưởng tượng cảnh người Thầy đằng đằng nộ khí, vác dao đi lùng sục chú tiểu, ví bắt cho được để chặt ngón tay, và cảnh chú Tiểu la khóc chạy trốn sao không khác gì cảnh tượng của giới giang hồ dạy nhau! Còn gì là không khí tĩnh lặng, thanh tịnh của Thiền Môn!

Chú tiểu sau khi bị cụt ngón tay, khi nhìn thấy Thầy đưa ngón tay lên bỗng lĩnh ngộ điều chi? Ngộ rằng mình không được quyền bắt chuớc Thầy? Ngộ rằng mình đã cụt ngón tay, từ đây không còn đưa lên được nữa? Hay là ngộ pháp nào trong Phật Pháp? Chắc chú có Tham tới bao lâu cũng không thể hiểu rằng ngón tay của Thầy khác với ngón tay của mình thế nào?

Theo đề mà đoán thì chắc chú tiểu khó mà lĩnh ngộ Phật Pháp được! Trong chính Kinh Phật giải thích đi, giải thích lại mãi mà các Đệ tử còn hiểu không ra. Các Thiền Sư lại ẩn dấu, bắt học trò tự đoán, không khác nào ra bài toán mà không cho đáp số. Chả trách ai muốn giải thế nào thì giải. Đúng hay sai do hợp ý thầy hay không mà thôi!

Ngón tay của Thầy là "Ngón Thiền, cả đời Thầy dùng cũng không hết". Có ai hỏi cũng cứ thế mà đưa lên! Còn ngón tay của đệ tử thì lại bị chặt, lấy gì mai mốt kế thừa?! Người sau có Tham mãi chắc cũng không thể hiểu nổi vì sao!

Hỡi ôi:

Tưởng chốn Thiền môn thanh tịnh lắm,

Hương trầm, Kinh, kệ, quyện không gian,

Ngờ đâu dao gậy khua loang loáng

Tiếng tiếng khóc, tiếng la cũng rộn ràng!

CÔNG ÁN THỨ TƯ

TÊN HỒ KHÔNG RÂU

* Công Án:

Ngài Hoặc Am nói:

- Sao tên Hồ ở Tây Thiên không có râu?

Lời giải:

Tu hành không lo khởi nghi tình về Phật Pháp, về những điều cần hiểu, cần hành trong Đạo, lại đi thắc mắc chuyện người khác có râu hay chẳng có râu !

- Nếu tên Hồ đó có râu thì chẳng lẽ mình mau chứng đắc, mau thoát Sinh Tử?

- Nếu tên Hồ đó không râu thì cản trở gì mình trong việc tham học?

Rõ ràng đề tài này hoàn toàn: "Ngoại quang phản chiếu", không dính líu gì vấn vấn đề Sinh Tử, Vô Thường, Đạo Hạnh, Nhân Quả mà người tu cần quán sát, hành trì. Nếu cho đến nay vẫn tiếp tục mang ra làm Công Án cho người sau Tham học thì rất tội cho các Thiền Sinh nếu họ cùng nhau lao vào Tham!

Tưởng tượng cả một lớp thiền sinh ngồi ngẩn ngơ tìm xem "tại sao tên Hồ không có râu"? Đặt giả thiết "tên Hồ đó có râu" thì điều gì sẽ xảy ra? mà tiếc giùm cho áo cơm của thí chủ. Tiếc giùm thời gian như bóng câu. Cuộc đời là Vô Thường. Tấm "Nhân Thân nan đắc" ngày đang đi vào hư hoại, không thể tồn tại mãi để chờ người tu giật mình!

Kết luận: Thay vì Tham công án này, thì giờ đó nếu thầy trò bỏ ra để đi cày, để trồng lúa, rau, có lẽ có lợi cho cuộc sống tu hành, và thí chủ cũng đỡ chút gánh nặng hơn!

CÔNG ÁN THỨ NĂM

HƯƠNG NGHIÊM LEO CÂY

* Công Án:

Hòa Thượng Hương Nghiêm nói:

- Như người trên cành cây, miệng cắn vào cành, tay chân lơ lửng. Dưới cây có người hỏi Ý Tây Lai, không đáp thì phụ câu hỏi, còn đáp lại thì bỏ thân mất mạng. Vậy phải đối đãi làm sao?

Lời giải:

Việc tu hành của mình, Phật dạy: "Phải xem như lửa đang đốt tóc, cháy áo" để mà tập trung trí, lực mà làm cho tinh tấn. Người đang chơ vơ giữa cành cây, chỉ trông chờ vào cái miệng đang cắn vào cành cây để giữ cho khỏi rớt xuống tan xương, nát thịt, thì cớ gì phải há ra bàn chuyện Tây Lai làm chi? Ý đi truyền Pháp của Tổ Đạt Ma đã được ghi rõ trong câu Kệ, đâu có gì bí mật mà phải Tham cho mất thì giờ?:

"Ta cốt sang Trung thổ.

Truyền Pháp cứu mê tình!"

Vậy mà câu này cho tới hiện giờ cũng có nhiều vị Thầy tiếp tục bảo đệ tử «cố gắng mà Tham». Chẳng hiểu để ngộ ra điều gì có liên quan đến sinh tử, Vô Thường của Đạo Phật hay không?!

Việc của Tổ, Ý của Tổ thì Ngài đã làm xong. Còn điều quan trọng của chính người tu: Ý mình sẽ đi đâu? Làm gì? Học gì? Làm như thế nào? Sao không tìm để hiểu, để thực hiện? Chuyện mình chết sống gần kề không hay, lại toan mở miệng để bàn việc người! Chỉ sợ phụ người đã nêu câu hỏi, còn mạng sống của chính mình lại không quan tâm!

Kết luận:

Có lẽ Hoà Thượng thấy cả đám mải lo tham quán chuyện người nên phải nhắc khẽ như thế, may ra họ suy nghĩ rồi giật mình, lo quay lại mà "hồi quang phản chiếu" chăng?! Còn nếu cứ tiếp tục Tham Công Án này thì xin đọc hai câu Kệ đã trích dẫn cho đỡ phí thì giờ vô ích.

CÔNG ÁN THỨ SÁU

PHẬT CẦM HOA

* Công Án:

Thế Tôn xưa tại pháp hội núi Linh Sơn, cầm cành hoa giơ lên trước chúng. Bấy giờ mọi người đều làm thinh, chỉ có Ngài Ca Diếp rạng mặt mỉm cười. Phật dạy:

- Ta có nhãn tạng chính pháp, diệu tâm Niết Bàn, tướng thực không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập thành văn tự, truyền riêng ngoài giáo này trao cho Ông Ma Ha Ca Diếp.

Lời Giải :

Ngài Ma Ha Ca Diếp là Đại đệ tử của Đức Thích Ca theo học với Phật từ những ngày đầu mới nhóm tăng chúng. Bao nhiêu Pháp Ngài đã thuộc. Bao nhiêu lý nghĩa, thiền định, trí tuệ, giáo pháp của Phật… đều đã tinh thông. Ngài là một trong những vị mà trong mỗi phần đầu Kinh, khi nhóm họp đồ chúng để giảng pháp ta thường thấy mô tả là: «Đã chứng được Năm phần Pháp Thân», tức là Giới, Định, Huệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến đã đầy đủ.

Như thế, thật ra chẳng cần mỉm cười thì trình độ của Ngài CA DIẾP cũng đã được khẳng định, Ngài nở nụ cười lúc đó, vì đã nắm rõ ý nghĩa mà Phật muốn nói: Phật cầm cành hoa Sen đưa lên, để nêu lên ý nghĩa Đạo Giải Thoát của Ngài. Loài Hoa sen, sống trong bùn mà vẫn nở hoa thanh khiết, không bị bùn làm cho ô nhiễm. Chính vì vậy mà Hoa Sen được dùng làm biểu tượng của Đạo Phật. Ví thế, người tu hành theo Đạo Phật là để được như giống như Hoa Sen, là tuy sinh ra và lớn lên trong phiền não, vẫn tiếp tục sống ở đó mà không bị phiền não làm cho ô nhiễm, gọi là được Giải Thoát. Chẳng phải là Tây Phương Cực Lạc, Đông Phương tịnh Quốc đầy dẫy Bảy báu, hay các Quả vị, các cõi… mà Phật vẫn dùng đó làm phương tiện để dụ con người ham thích, vọng về đó mà sống tốt đẹp hơn và bớt đeo bám cảnh trần để bớt khổ. Phật biết Ngài Ca Diếp Giới, Hạnh, Trí, Đức đã đầy đủ, nên trước chúng hội tuyên bố trao Y, Bát cho Ngài để thay mình cầm nắm Chánh Pháp, thống lãnh đồ chúng và hướng dẫn cho lớp người sau.

Những kẻ hậu học ngày nay chỉ mong tu tắt, tới cao! Đạo chẳng muốn học. Đức chẳng muốn tu. Chỉ chầm chầm rình mò để mong được truyền Y Bát, cầm đầu tăng chúng. Họ cứ tưởng rằng Chánh Pháp được truyền bởi những việc làm vu vơ. Tưởng rằng Ngài Ca Diếp được truyền Y nhờ cái Cười đó, nên cho Nụ Cười đó là: «Đốn Giáo», là "Bất lập văn tự", "Giáo ngoại biệt truyền"! Thậm chí thấy Thần Hội bị đánh mấy gậy khi gặp Lục Tổ đối đáp, cũng cho đó là con đường dạy tắt, học tắt, để sáng chế ra pháp môn "Đả thiền, đả thất". Ai hỏi gì cũng quát, cũng đánh! Họ không đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, để thấy rằng sau khi bị đánh đó, Thần Hội phải tiếp tục theo hầu Lục Tổ đến mười mấy năm mới có Pháp. Lúc Lục Tổ thông báo sẽ ra đi mới được "thần sắc tự nhiên, không động". Sau khi Lục Tổ tịch 16 năm mới mở ra giảng dạy. Đâu phải bị đánh ba gậy là đã kiến tánh, mở ra dạy đạo ngay!

Trong Phật Pháp không bao giờ có những chuyện ngẫu nhiên được truyền Y Bát. Thậm chí như Ngài A Nan, thuộc pháp «như nước trong bình đổ ra, không sót một giọt» mà còn không được truyền, vì chưa đủ Đức, đủ Hạnh. Người Tu Phật vì thấy cuộc đời là Bể Khổ, muốn nương Phật Pháp để giải Khổ. Theo Đạo Phật, sở dĩ con người phải Khổ là vì cái Vọng Tâm, tức cái Tâm Mê Lầm. Các tướng hữu vi không thật mà cho đó là thật, rồi bám lấy, cho nên phải Khổ. Vì vậy, Giáo Pháp của Đạo Phật giải thích để người tu hiểu chỗ lầm chấp của Cái Tâm, rồi SỬA hay Hóa Giải nó, để nó không còn dính mắc với các tướng hữu vi thì sẽ được Giải Thoát.

Người thật tâm tu, tốt hơn hết, thay vì thắc mắc về Y, Bát, tìm xem tại sao Ngài Ca Diếp lại cười, cười như thế nào mà lại được truyền Y? Như lời Ngài Vô Môn bình: «Giả sử cả đám cười thì Y Bát đủ đâu để truyền»? Thế nào là "Giáo ngoại biệt truyền"? Toàn là những câu hỏi vô ích, không liên quan gì đến công việc tu hành! Thay vào đó, tại sao ta không thắc mắc xem tại sao mình cần Tu? Tu để được gì ? Muốn được cần phải làm gì? Cần xả những gì? Cần Hành những gì? Có phải có lợi cho đường tu hơn không?

Kết luận:

Ngũ Tổ đã nói rõ: Y Bát chỉ là vật để làm tin. Quan trọng hơn cả là việc tu sửa của chính mình. Chưa biết người trước tu gì? Tu thế nào để được Truyền Y? Thay vì nghiên cứu con đường tu hành lại cứ chằm chằm nghiên cứu cái CƯỜI của Ngài Ca Diếp, mơ có ngày nắm được để lĩnh hội "Giáo ngoại biệt truyền", cầm đầu tăng chúng, nắm giềng mối đạo, thay người trước để rao giảng Đạo… Thì quả là óc tưởng tượng lợi, danh của những người này đối với con đường tu phong phú thật.

CÔNG ÁN THỨ BẢY

TRIỆU CHÂU RỬA BÁT

* Công Án:

Một ông Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:

- Tôi mới vào Chùa, xin Ngài dạy cho.

Sư hỏi:

- Ăn cháo chưa ?

Ông đáp:

- Ăn cháo rồi.

Sư nói:

- Rửa bát đi.

Ông Tăng liền ngộ.

Lời giải:

Không ngờ cái Ngộ của nhà Thiền lại quá đơn giản đến như vậy! Nếu chỉ ăn cháo, rửa bát mà ngộ thì hẳn ngày nay con số Phật Thánh đã nhiều hơn cát sông Hằng!

Chẳng lẽ cứ vô Chùa ăn cháo, rửa bát thì ngộ! Trong Chùa ngày nào chẳng ăn cháo, chẳng rửa bát, vậy thì đến nay đã được bao nhiêu người ngộ? Cái Ngộ đó là ngộ gì và khác với phàm phu ăn cháo, rửa bát chỗ nào không thấy Ngài Vô Môn giải thích thêm?! Hay ý Ngài muốn nói rằng cứ những việc tầm thường, đơn giản mà làm rồi cũng sẽ Ngộ?

Tưởng tượng sau đó ông Tăng nọ mang cái Ngộ của mình ra phổ biến. Lại mở ra dạy cứ ăn cháo, rửa bát, thì Phật Pháp chẳng hoá ra tầm thường, chẳng còn ý nghĩa gì để phải Xuất Gia, thọ trì đọc tụng Kinh điển, tu hành chi nữa!

Kết luận:

Nếu đó là Công Án cần soi thì oan cho chùa chiền, oan cho Đạo Phật quá!

(còn tiếp)

Tâm Nguyện

CÓ MỘT CUỐN SÁCH NHƯ THẾ ĐÓ

I. DẪN NHẬP

1. Thế giới sách

Từ thời thượng cổ tới nay, thế giới có biết bao nhiêu là sách, không ai, không cơ quan nào có thể thống kê được. Các sách được sao chép, in ấn, phát hành và đã có mặt trong các tủ sách lớn nhỏ của cá nhân hay gia đình. Với những cộng đồng lớn như quốc gia, thành phố, vùng, miền, các cơ quan… thì sách được tập trung nơi các thư viện, từ thư viện cổ rất thời danh như thư viện Alexandria của cái nôi văn hóa Ai Cập (trước công nguyên), cho đến thư viện lớn nhất thế giới hiện nay là thư viện Quốc hội Mỹ, với hàng triệu đầu sách đủ loại. Trong các ngành của bậc đại học có hẳn một ngành về thủ thư, chuyên đào tạo những người làm công tác thư viện, cả đời tiếp cận sách vở.

Nói về sự phong phú của sách, dù kỹ thuật in ấn chưa được phát minh, [mãi giữa thế kỷ 15, Gutenberg – người Đức (1400 – 1468), mới phát minh ra máy in công nghiệp], thánh Gioan Tông Đồ của Chúa Giêsu vào thế kỷ I đã kết thúc sách Tin Mừng thứ Tư của ngài như sau : "Còn nhiều việc khác Chúa Giêsu đã làm mà nếu ghi chép lại tỉ mỉ từng việc một, thì tôi nghĩ thế giới này không đủ chỗ để chứa hết các sách phải viết ra" (Tin Mừng theo thánh Gioan, đoạn 21 câu 25). Trong thời bùng nổ thông tin, vi tính hiện nay và trong tương lai, sách điện tử đã ra đời, rất gọn nhẹ và vô cùng phong phú, đến nỗi mỗi cá nhân có thể sắm cho mình hàng chục, hàng trăm thư viện lớn, có sống đến trăm nghìn tuổi đọc cũng chưa hết sách.

2. Ảnh hưởng của sách

"Sách là bạn, sách là thầy, sách là người hướng đạo", người ta thường nói về sách như thế - và đối với một số "mọt sách", thì sách còn là một cơn "cám dỗ" không thể cưỡng lại được. Rất nhiều bạn đọc đã thú nhận những lần lén đem sách truyện vào lớp học, lén đọc cả khi thầy cô giảng bài, có bạn quên cả ăn, cả ngủ, khi vớ được một cuốn sách hay. Người viết nhớ lại thời tiểu thuyết kiếm hiệp của tác giả Kim Dung chưa được in thành cuốn, mà đăng từng kỳ trên các báo, bạn đọc nôn nao chờ tới sáng hôm sau để mua báo, hôm nào mà vì lý do này nọ nhà báo tạm gác một kỳ, thì ôi thôi bà con bực bội, tiếc xót …

Sách gần gũi, thân thương như vậy nên chắc chắn có ảnh hưởng lớn trong quá trình hình thành nhân cách của bạn đọc. Tục ngữ Việt Nam có câu "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài", tiếp cận hay sống trong môi trường văn hóa nào thì sẽ hình thành nhân cách theo những nét văn hóa đó mà sách tốt chính là văn hóa phi vật thể. Người ta cũng nói: "Anh cho tôi biết anh đọc sách nào, tôi sẽ cho anh biết anh là ai". Như vậy thì không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của sách trên người đọc. Có điều đáng tiếc là không phải tất cả các sách đều đúng đắn, chính xác và tốt lành cả. Bên cạnh những sách tốt, luôn luôn có mặt những sách xấu xa, lệch lạc mà chúng ta gọi chung là những tác phẩm đồi trụy. Giống như câu chuyện dụ ngôn về lúa và cỏ lùng trong Thánh Kinh Tân Ước: "Chúa Giêsu lại dạy một dụ ngôn khác mà rằng: Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình, nhưng lúc mọi người ngủ thì có kẻ thù đến gieo cỏ lùng lẫn với lúa rồi đi. Khi lúa lớn và trổ bông thì cỏ lùng cũng xuất hiện…" (Tin Mừng theo thánh Mátthêu, đoạn 13 câu 24-26).

Tình trạng "vàng thau lẫn lộn" của thị trường sách là điều khó tránh khỏi, vì "bá nhân bá tánh", mỗi tác giả có những hiểu biết khác nhau, có những cảm nhận khác nhau, có những chủ trương khác nhau, tất cả những cái đó đều được thể hiện trên những tác phẩm họ phổ biến: "văn tức là người". Một điều đáng nói nữa là kẻ viết ra một đàng, người áp dụng nó lại vận dụng vào lối khác dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng ngoài ý muốn của người viết, và tất cả các sách viết ra để phổ biến thì chắc chắn có ảnh hưởng nhất định trên người đọc. Ai biết "gạn đục khơi trong" thì sẽ thành người tốt, còn ai để cho những tư tưởng lệch lạc, xấu xa cuốn hút, thì sẽ trở thành người xấu. Adolf Hitler (1889-1945), Quốc trưởng Đức Quốc Xã, đã chịu ảnh hưởng sâu đậm từ thuyết siêu nhân của triết gia Friedrich Nietzsche (1844-1900), nên đã gây ra thế chiến thứ II vô cùng khốc liệt (67 triệu người chết, hàng trăm triệu người bị thương tật, cơ sở vật chất bị tàn phá không thể tính nổi…).

Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực như trên, thì cũng có muôn vàn bằng chứng về ảnh hưởng tích cực từ một cuốn sách. Ignatiô Loyola là một thí dụ điển hình: Ông là một sĩ quan thuộc giới quý tộc Tây Ban Nha thời trung cổ (thế kỷ 16) – Trong một trận chiến với quân Pháp, ông bị thương nặng, phải nằm viện. Để giết thời gian, ông sai cận vệ về lấy sách cho ông đọc, tên cận vệ đã đem cho ông cuốn "La Vie de Jésus", ông đã đọc đi đọc lại, bởi vì ông bị cuốn hút bởi nhân vật Jésus Christ – cuối cùng khi xuất viện, ông đã bỏ binh nghiệp, đi tu làm môn đệ Chúa Giêsu và sáng lập Dòng Tên (Jesuites), đi truyền giáo khắp thế giới.

Chúng ta cũng không thể không nhắc tới những cuốn sách làm đảo lộn thế giới. Một loạt Harry Potter của nhà văn nữ 46 tuổi, người nước Anh – J.K. Rowling, đã khiến hàng triệu thanh thiếu niên trên thế giới thất điên bát đảo, có những bạn trẻ thức dậy từ 3, 4 giờ sáng tới địa điểm phát hành, xếp hàng từ tinh mơ, chờ 5, 7 tiếng đồng hồ để sở hữu 1 cuốn Harry Potter mới phát hành.

Báo Thánh Niên ngày 26/2/2012 đưa tin, bà J.K. Rowling sắp ra mắt tác phẩm mới, bà nói: "… như món quà đáp lại thành công của Harry Potter đã mang lại cho tôi" (Đ.T theo Reuters – Báo Thánh niên 26/2/2012). Lùi xa hơn một chút, vào cuối thế kỷ 19, bùng nổ trái "bom thuyết Tiến Hóa", manh nha từ tác phẩm "La Philosophia Zoologique – (1809)" của Jean Baptista La Marck (Pháp, 1744-1829), và được đẩy mạnh bởi "tên lửa" Charles Robert Darwin (Anh, 1809-1829), với tác phẩm "đình đám" De L'Origine des espèces par voie de Sélection naturelle" (1859) – (On the Origin of species). Dư chấn của những tác phẩm này vẫn còn tới ngày nay. Karl Marx, triết gia, chính trị gia Đức (1818-1883) với tác phẩm "Đinh": Le Capital (1867).

Hậu quả hiển nhiên của những tác phẩm trên là thế giới bị phân cực đối lập nhau: duy tâm và duy vật, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản như chúng ta thấy hiện nay.

Chúng ta chiêm nghiệm những cuốn sách có ảnh hưởng lớn hơn, rộng rãi hơn, xa xưa nữa và sức bền chắc chắn sẽ lâu dài hơn nữa – đó là những bộ sách làm cơ sở, căn bản cho những tôn giáo lớn trên thế giới :

- Bộ Đạo Đức Kinh của Lão giáo.

- Bộ Tam Tạng của Phật giáo.

- Bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh của Khổng giáo.

- Bộ Veda của Ấn giáo.

- Bộ Koran của Hồi giáo.

- Và bộ Thánh Kinh của Công giáo cũng như của Do Thái giáo, Chính Thống giáo, Anh giáo và các hệ Tin Lành giáo.

Xin minh định trước là đối với những tác phẩm trên, người viết chỉ ghi nhận dưới khía cạnh hiện tượng xã hội và văn hóa, còn việc nhận định, lượng giá thì khách quan thuộc thẩm quyền của các vị lãnh đạo tối cao các tôn giáo, hoặc chính tác giả hay những nhà phê bình uyên bác và uy tín, chủ quan là do đức tin, lý trí phân biện sắc bén, lương tâm ngay thẳng, trong sáng và cảm nhận của mỗi người, không thể có sự áp đặt dù trên phương diện tư tưởng thuần túy.


Tân Bình, ngày 01 tháng 03 năm 2012

Lm. Nguyễn Hữu Triết 



Phụ Bản II

BẠN BÈ QUANH TA


Tôi có anh bạn thân từ thời còn là sinh viên đại học Bách khoa Hà Nội. Xa nhau ba, bốn mươi năm chúng tôi vẫn dò hỏi tin nhau. Nhưng cơ duyên chưa đến nên vẫn chưa gặp được nhau. Năm 2005 dịp may bất ngờ đã đến; thông qua anh bạn cùng tổ người Hà Nội vào chơi, tôi biết địa chỉ và hẹn gặp anh ấy. Không ngờ cả hai đều ở Sài Gòn mà bấy lâu nay không biết. Gặp nhau bọn mình mừng lắm, bây giờ ở gần tha hồ tâm sự, tán gẫu và ngẫm cái sự đời… Anh bảo là lớp vẫn nhắc tới ông nhưng không biết ở đâu, nay về Sài Gòn rồi thì tham gia gặp mặt cho vui.

Hàng năm cứ vào gần ngày 20/11, các lớp thuộc K11 chế tạo máy lại tổ chức buổi thày trò gặp mặt. Điểm danh cuối năm xem ai còn ai đi; tình hình gia đình thế nào? cuộc sống ra sao?... Thời gian trôi đi nhanh thật, mới ngày nào còn là những nam thanh nữ tú mà nay nhiều người đã lên chức ông nội, bà ngoại rồi. Tóc anh chị nào còn xanh thường là nhuộm còn thì đã hoa râm hoặc bạc trắng.

Lý do bây giờ mới gặp lại bạn bè, đơn giản là vì sau khi ra trường tôi về một nhà máy cơ khí tỉnh. Công tác được một thời gian ngắn tôi nhập ngũ vào quân đội và bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc chiến vĩ đại của dân tộc. Hết ở rừng núi Tây nguyên lại xuống vùng sông Mao, sông Lũy Thuận Hải. Sau đó chuyển về Quân khu 5, rồi cuối năm 1979 đầu năm 1980 tiếp tục qua Căm-pu-chia giúp bạn chống nạn diệt chủng. Vượt qua những cuộc chiến ác liệt may mà sống sót trở về, bây giờ bắt liên lạc được với các bạn thì mừng vô cùng. Tôi vui vì nhiều bạn tiến bộ, giữa lúc mình ở ranh giới của sự sống và cái chết nhiều bạn ở hậu phương có cơ hội đi đây đi đó hết trong nước lại nước ngoài nâng cao trình độ, có bạn được về cơ quan bộ, về trường nâng cao được học vị, cấp bậc, phát huy được cái đã học. nhưng nhìn tổng quát, trong bối cảnh chung lớp người chúng tôi cũng không được may mắn lắm.

Thấm thoắt mà đã mấy chục năm rồi. Những cô, cậu thư sinh ngây thơ, trong sáng, sống theo lý tưởng…. Nhiều cậu còn chưa biết yêu là gì nay gặp lại, hình dáng bề ngoài thay đổi nhiều nên người nhớ người quên, nhận không ra hoặc không nhớ tên. Ở trong và xung quanh Sài Gòn này, cả khoa tập trung mà cũng chỉ có mấy chục người. Trưởng ban tổ chức thường mời gặp mặt tại một nhà hàng nào đó ăn tiệc, giao lưu và kết thúc thì tặng mỗi người một gói quà nhỏ là cuốn lịch chúc mừng năm mới.

Lẽ ra trong những buổi gặp nhau hiếm hoi này bạn bè đồng học và thầy trò hoan hỉ với nhau sau bao ngày xa cách. Nhớ lại bao chuyện vui buồn thời trai trẻ, như vậy mới tìm lại được những tình cảm chân thành, cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành ấy là một niềm vui lớn của tuổi già. Thế mà cũng có những anh bạn cứ tưởng mình là người thành đạt nhất, giỏi giang nhất hay là người hạnh phúc nhất nên làm bộ làm tịch tạo hình ảnh cho các bạn chú ý hơn; đó là tư cách của một con người tỏ ra tự phụ, đối nhân xử thế giả tạo và những lời lẽ tự tán dương mình, khiến cho các bạn khác thiếu thiện cảm, chán ghét.

Anh bạn tôi sinh hoạt với lớp đã lâu năm nên biết rõ, có những anh bạn mang tiếng là đi bộ đội nhưng chẳng ra chiến trường bao giờ mà cứ lên cấp lên chức đều đều, khiến cho người ta phải băn khoăn xem cái lý do sự tiến bộ nhanh đó thực sự là gì? Có anh còn tiếc của ghen tị với các anh khác là chỉ được phân cho cái nhà ở Hà Nội; rồi vào thành phố Hồ Chí Minh này họ chỉ chia cho một cái nền nhà. Nhiều người cũng như anh ta còn chiếm được mấy căn nhà ở vị trí đẹp vv… Trình độ học thức của mấy ông bạn này thế nào mọi người đã rõ, còn trình độ nhận thức bây giờ, chỉ cần trao đổi với nhau một chút là rõ tầm tư duy ra sao. Người ta thường nói “thùng rỗng kêu to”.

Tôi vừa buồn lại vừa ngạc nhiên vì chả lẽ các bạn không thấy một thực tế: ở ta có tình trạng kẻ có năng lực thì không có quyền, kẻ biết thì không được nói, kẻ nói thì không biết hay sao? Đánh giá lẫn lộn, cái hay thì bảo dở, cái dở lại bảo là hay, làm sai lệch hết chuẩn.

Như gãi đúng chỗ ngứa các anh bạn tôi mỗi người một câu:

– Những cậu có máu làm quan, chỉ cố leo lên cho được cái ghế lãnh đạo cao với “nghệ thuật phấn đấu” là lấy lòng tất cả, nịnh tuốt, bợ đỡ…

– Theo chủ nghĩa bày đàn, bè phái, nhóm ích lợi, đạp lên đầu bạn mà tiến.

– Im lặng là vàng, né tránh những vấn đề nhạy cảm.

– Theo chủ nghĩa Mao-ít “Ngươi không động đến ta, thì ta không động đến ngươi”. “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

– Đúng đấy – tôi thừa nhận – chắc hẳn là có lý do gì chứ?

– Chỉ vì danh lợi, muốn kiếm chác cái gì như một chỗ dựa, một chỗ có tiền hay suất đi nước ngoài vv…

– Chẳng qua cũng chỉ là một tên nô lệ mới thôi. Tự biến mình thành tù nhân trong chiếc ngục vô hình. Một khi đã làm quan, muốn có ghế và giữ ghế thì tất phải sợ cấp trên, sợ dân chủ,… sợ đủ thứ, đơn giản là vì áp lực tâm lý: sợ mất.

– Người ta nói – tôi xen vào – hạnh phúc lớn nhất của con người là tự do, tự chủ. “Mỗi lời, mỗi việc không tự chủ/ Để cho người dắt tựa trâu bò” (Hồ Chí Minh). Vậy anh ta làm thế thì kết quả sẽ gặt hái được cái gì nhỉ. Tất nhiên sẽ được cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc.

– Anh ta không biết rằng con người dù tài giỏi đến đâu cũng phải hiểu cái giá của mình thế nào trong con mắt người đời chứ - anh bạn tôi triết lý.

Tôi hào hứng đọc tiếp mấy câu thơ:

“Chim có thể chọn cây

còn cây kia làm sao có thể chọn chim được

Không có gì quý hơn độc lập và tự do

Vua có lệnh của Vua còn ta có ý ta.”

Cuộc đời trớ trêu thay, không phải cứ sống tốt thì sẽ có hạnh phúc. Nhiều người tốt sống có nhân cách, có trình độ mà nhiều khi bị thua thiệt, nghèo túng và chết sớm, còn bọn mặt người dạ thú cứ sống nhơn nhơn. Chả thế mà ông Nguyễn Tuân đã nói: “Sao những người tử tế thì chết mà mấy thằng đểu giả, mất dạy thì cứ sống mãi”.

Về nghỉ hưu rồi mà vẫn còn sống trong ảo mộng của danh lợi. Địa vị, cấp bậc đã thuộc về quá khứ. Cái người ta cho anh được thì người ta cũng có thể lấy đi được. nếu trước đây anh sống không tốt, thì bây giờ nhân viên cũ nó cũng tránh không gặp hoặc nhổ nước bọt không thèm chào. Bài học nhãn tiền còn đây: có kẻ trước quyền cao chức trọng ỷ thế làm càn, khi chết đi người ta thường gửi tặng nơi mộ ông ta không phải những bó hoa tươi thắm mà là những bọc phân; người nhà tủi hổ quá phải bí mật di dời hài cốt đi nơi khác. Ngày xưa, ngay cả những “bạo chúa” khi chết đi còn bị người đời sau đào mộ đổ đi. Chắc mấy ông bạn chưa được nghe câu này: Con xe còn trong bàn cờ thì tung hoành ngang dọc, nhưng khi đã ra khỏi bàn cờ rồi thì chỉ là một mẩu gỗ mà thôi.

Lại nói tới mấy anh khoe mẽ lương cao, mà không biết rằng bây giờ nhiều người làm ở các công ty cổ phần hay nước ngoài lương hưu của họ còn cao hơn nhiều. Hơn nữa anh bạn có hiểu tại sao anh lại nhận lương không? Chỉ có đi làm thuê, đánh mướn… thì mới nhận tiền công mà người ta gọi là lương, còn các ông chủ có khoe lương bao giờ…

Nghĩ lắm lúc cũng tội cho mấy “chú gà công nghiệp”. Thời kinh tế thị trường, ông chủ đã “mở cửa” rồi mà còn không dám nhảy ra. Có chú lợi dụng cơ chế kiếm được cũng mập, nhưng khi ông chủ khó khăn, đói tranh nhau ăn, có khi vặt lông nhau chảy máu ra và vô tình đã đẩy vào tình thế nguy hiểm vì cứ chỗ nào có máu, các con khác lại thi nhau nhằm vào đó mổ moi thịt ăn. Ôi! Thật khủng khiếp, nếu ông chủ không phát hiện sớm, tách ra dưỡng thương thì sẽ bị đồng loại moi thịt cho đến chết. Xét về cội nguồn thì tổ tiên chúng vốn biết tự bới kiếm mồi, thậm chí còn kiếm giỏi nữa. Nhưng nay cam tâm hay vì hoàn cảnh phải sống trong cái lồng “bao cấp” nên dần dần quên mất khả năng bới kiếm mồi. Những con có ý chí mạnh mẽ đã mạnh dạn nhảy ra khỏi chuồng, nhưng lúc này tuổi đã cao khó chuyển đổi nên gặp khó khăn. Những con nào tinh ranh lợi dụng lúc tranh tối, tranh sáng của thời “đổi mới” thì phất lên nhanh chóng. Kinh tế thị trường nó có quy luật của nó, đâu phân biệt anh ở trường phái nào? Trước đây anh là gì? Cứ làm đúng thì tồn tại và phát triển; còn làm dở, làm sai thì nghèo hay phá sản, nên mới có nhiều cái chết bi hài.

Bạn ạ:

Sống ở đời mỗi người một chí

Và niềm vui ta cũng chẳng giống nhau

Khập khiễng so sánh làm chi nhỉ

Mỗi con người đều ẩn dấu nỗi buồn đau…

Vì vậy hãy là chính mình và tự tỏa sáng. Bọn cơ hội hay bọn “lưu manh hóa” cho là khôn ngoan dựa vào hào quang từ bên ngoài để tự hào, tự dối mình, dối người và bị người dối. Bọn họ có biết đâu khi ánh hào quang bên ngoài kia tắt thì họ cũng tối đen như tiền đồ của chị Dậu thôi.

Các bạn ơi! Chúng ta đều bước sang giới hạn của tuổi già. Tất cả rồi sẽ ra đi, chỉ là người trước người sau hay nay người mai ta và ngày đó cũng chẳng còn bao lâu nữa số bạn họp mặt sẽ giảm dần. Mọi người đều thấy, ở đời này có lẽ khó có chuyện công bằng, nhưng may thay tạo hóa đã giúp cho tất cả đều có quyền bình đẳng được hưởng đó là cái chết. Bất kể là vua quan hay thường dân, bất kể kẻ giàu sang hay nghèo hèn đều phải ra đi. Lúc đó danh lợi chẳng ai mang theo được cái gì. Phàm cái gì là vật chất đều không tồn tại vĩnh cửu, chỉ có những thứ phi vật chất thì không sợ chết. Những thứ thuộc về trí tuệ, tinh thần thực sự có giá trị thì còn lại. Chẳng thế mà những tư tuởng có từ mây ngàn năm trước nay vẫn tồn tại và phát triển. Nhà thơ Xuân Diệu đã nói: “Cái chết không diệt được cái gì là phi vật chất, chẳng phải là thơ sao?”

Nên chăng, chúng ta đến với nhau vì tình bạn, kỷ niệm một thời tuổi trẻ đẹp nhất của đời người. Đã từng học tập, chung sống bên nhau bao năm trời, ai thế nào thì mọi người đều rõ, chứ thói khoe mẽ chỉ làm cho người đời coi khinh, xa lánh. Mình là gì mà phải cao đạo và cũng chẳng cần cao đạo, đời cho hưởng cái gì thì hưởng cái đó.

Quả nhiên những anh bạn hay khoe mẽ ấy, các bạn đều không muốn nhắc đến nữa hoặc có nhắc tới thì cũng có một lời nhận xét chẳng đẹp tí nào vì chẳng tìm thấy những yếu tố ngoạn mục nào ở anh ta cả.

Trải qua bao nỗi thăng trầm, chúng ta tồn tại vững vàng giữa thời cuộc quay cuồng. Cuộc đời bạn dù không có một kỳ tích gì hay bước ngoặc lớn lao nào nhưng bạn sống nhân bản, nhân văn, nhân hậu, nhân nghiã, nhân đức, nhân từ… sống ngay thẳng mẫu mực, đối với bạn bè chí cốt chí tình. Cuộc sống trong sạch, khiêm tốn của bạn sẽ làm bạn tỏa sáng, là tấm gương cho con cháu và mãi mãi gây một ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè. Chắc chắn khi bước sang thế giới Thượng Đế cũng chẳng cần biết anh tích được bao nhiêu bằng cấp, có địa vị, cấp bậc gì… mà sẽ hỏi là ta đã làm được những điều thiện gì đóng góp cho đời này. Người cho sẽ thấy được niềm vui của mình được san sẻ, người nhận thấy đỡ buồn tủi vì không còn đơn độc, mở lòng đón nhận những bàn tay ấm áp đang chìa ra để thêm tin tưởng phấn đấu vươn lên. Phút chốc những con người bình thường như bỗng lung linh tỏa sáng. Cuộc sống thanh thản như Tản Đà, nhưng ai bảo là sống vô nghĩa:

Bạc tiền gió thoảng, thơ đầy túi

Danh lợi bèo trôi, rượu nặng nai”

Người ta nói sáu mươi tuổi thì tính năm, bảy mươi tuổi thì tính tháng, tám mươi tuổi thì tính ngày. Giờ đây tôi chỉ muốn chúng ta khỏe mạnh sống lâu để xem sự thế sẽ ra sao?

LÊ MINH CHỬ

Tình Bạn

Bốn biển năm châu cũng một nhà

Trọng tình bằng hữu chốn gần xa

Vần thơ thi phú trao tin nhạn

Đạo lý kinh luân gởi thiếp quà

Tâm sự tri âm đầy chén ngọc

Ngôn từ tri kỷ trổ lời hoa

Hương trà men tửu thêm tha thiết

Kết nghĩa văn chương xướng họa ca

                                  THANH CHÂU

Thanh thản

Giàu nghèo há để bận tâm mà

Đạo nghĩa vun bồi mãi thiết tha

Sớm tối rau dưa ngon cũng thể…

Tháng ngày tương mắm, bổ như là…

Vần vui cánh mở hồn thanh thản

Câu đẹp mầm ươm ý đậm đà

Giao thiệp bạn bè luôn quý trọng

Để lưu mai hậu chút hương hoa

XUÂN VÂN

Làm thơ là để

làm thinh

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Hồn thơ
         màu tím hoa sim ngút ngàn

Một lần

        lỡ chuyến sang ngang

Một đời hiu quạnh

dở dang u hoài

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Ý thơ:
        Nửa mảnh trăng liềm đơn côi

Câu ca
        buốt lạnh bờ môi

Đường đời vạn nẻo
        bồi hồi xót xa

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Dặm dài bóng lẻ
        im lìm dáng xưa

Bơ vơ
        nhặt chút hương thừa

Ướp trang nhật ký
        cho vừa nhớ thương

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Dõi trông biền biệt
        cánh chim cuối rừng

Ngăn dòng nước mắt
         rưng rưng

Vàng thu lá đổ
         ngập ngừng ước mơ

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Khát khao vơi cạn
        nỗi niềm quạnh hiu

Đáng trân trọng biết bao nhiêu

Một bờ vai ấm
        tình yêu chân thành

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Ta khô nước mắt

         đắm chìm vực sâu

Tương lai

         biết sẽ về đâu

Làm sao bôi xóa nét sầu thiên thu

Lệ lòng chảy ngược vào tim

Giữa hoàng hôn thẩn thơ tìm bình minh

Tiếc thương

           buồn tủi một mình

Làm thơ là để làm thinh trọn đời

                                NGÀN PHƯƠNG


Ước vọng mong manh

Ước gì tan loãng vào nhau

Như mây với gió

           dạt dào tình yêu

Như trời thu với bóng chiều

Như hoàng hôn

            tiếng sáo diều xôn xao

Ước gì tan loãng vào nhau

Như dòng máu đỏ

             rạt rào trong tim

Như mùa xuân với tiếng chim

Như thi nhân

             với vạn niềm thương đau

Ước gì tan loãng vào nhau

Như vành môi

             với ngọt ngào nụ hôn

Như hương thơ với tâm hồn

Như dòng suối chảy

             về nguồn thanh tao

Ước gì tan loãng vào nhau

Như làn sóng bạc

             hòa vào biển xanh

Nhựa non nuôi lá trên cành

Như cây với nắng

             như mình với ta

                        NGÀN PHƯƠNG


Hoa Gạo

Đời anh đã mấy lần lau nước mắt

Cho những người thiếu nữ lúc chia ly,

Trái tim anh bấy nhiêu lần đau thắt,

Sao lần này tim chực vỡ tan đi?

Đừng khóc nữa, em ơi, đừng khóc nữa!

Khổ mình anh hơn khổ cả ba người,

Anh ấy đã về từ trong khói lửa,

Dẫu kẻ thù cướp mất một con ngươi.

Đừng khóc nữa, em ơi, đừng khóc nữa!

Đành xa nhau – Hoa gạo rụng bên đường,

Như tim anh vỡ rơi từng mảnh nhỏ

Vẫn bập bùng cháy đỏ lửa yêu thương!

                                          Hà Nội, 8-1976

                                          VŨ ĐÌNH HUY


KAPOK FLOWERS

In my life I’d several times wiped tears

For the young beauties when we parted

My heart had many times felt gripping pains

But why this time it seems like broken to pieces?


Don’t cry anymore, don’t cry anymore, dearest!

Let me suffer alone, as it’s better than all three of us have to suffer

He had come back from the war

Although one of his pupils has been taken by the enemies.


Don’t cry anymore, don’t cry anymore, dearest!

We must resign ourselves to part, kapok flowers fell on the roadside

Like my heart broken to tiny pieces

That still flickeringly blaze with a red fire of love!

Translated by VŨ ANH TUẤN


LUẬN TỘI


Anh sao luôn lỗi hẹn

Rất nhiều lần không đến

Để em mãi đợi mong

Làm em chết cả lòng


Bảy giờ đến mười hai

Thời gian chầm chậm trôi

Em hết đứng lại ngồi

Lòng em tan nát quá!


Anh có hiểu tình em

“Chân thành và nồng thắm

Sôi nổi và bao dung”

Chỉ để dành riêng anh


Tội anh đã quá nặng

Mở phiên tòa xử ngay

Đêm đen làm nhân chứng

Trăng sao làm luật sư


Anh – em tình nồng thắm

Chân thành nên kết thân

Dìu nhau trong gian khó

Xoa dịu nỗi niềm đau


Anh – em là hình bóng

Không nghĩa gì cuộc sống

Nếu phải thiếu vắng nhau

Anh có hiểu chăng nào?


Đêm về khuya êm sao

Công tố chưa luận tội

Luật sư chưa bào chữa

Mà bản án đã tuyên


Thổn thức trong cõi lòng

Gió rì rào bên tai

Trăng sao thì thầm bảo

“Nhốt anh vào… tim em”


                         XUÂN VÂN


      Đời không dung

      người hào kiệt

    

Ngày rỗi nằm khoèo xem tiểu thuyết

Kiều Phong ngộ sát ả A Châu

Hỡi ơi đời chẳng dung hào kiệt

Càng lắm tài hoa chóng bạc đầu


Ta đâu muốn cao như ngọn núi

Suốt đời bịa đặt những tình nhân

Rừng sâu ngày tháng đi lầm lũi

Nhớ thương hờ cho đỡ mỏi chân


Lòng người hẹp như chữ o nhỏ mọn

Nên không dung nổi một chân tài

Em từ chối cùng ta mưu việc lớn

Đời chỉ dùng ta một chú cai


Làm đứa thất phu mang áo giấy

Hồ đồ nhập bọn với nhân gian

Em chả yêu ta

                Ta biết vậy

Tâm hồn hào kiệt vốn cô đơn


Ta vẫn sống nồng nàn và hào sảng

Mắt em không chứa hết bóng ta đâu

Dù thơ ta có chút gì lãng mạn

Không giúp em khuây khỏa một cơn sầu


Thời loạn

          Người Làm Thơ trở thành tên tiểu tốt

Lời hay ho không đủ để đời tin

Em vẫn nghĩ ta điên rồ dại dột

Sống lạ lùng bên cạnh đời em


Buổi chiều hành quân về

             uống la-ve trong quán

Súng vất dưới chân

              mũ sắt dưới bàn

Lắc cục đá trong ly

              mỉm cười khinh mạn

Đời đang hắt hủi một thi nhân


Người chẳng yêu ta 

              cũng không chống đối

Chỉ làm ngơ như cây cỏ vô tình

Ơi hỡi Kiều Phong

               Ngươi đừng chết vội

Ngươi có A Châu

               Ta chỉ một mình!

Thiếu Khanh

(1967)


CHUYỆN HỌC HÀNH THUỞ ẤY

(Phần 2)

Dương Lêh

Cả đám chúng tôi tự nhiên bị bắt học môn chữ Hán và phải chịu đựng cho đến hết năm đệ lục (lớp 7 bây giờ) tuy vậy cũng cảm thấy có phần tiến bộ. Chúng tôi không phải học và làm văn bằng chữ Hán, chỉ nhìn mặt chữ và đọc sao cho lưu loát bằng tiếng Hán Việt. Gần cuối năm đệ lục thầy bắt chúng tôi học cách dịch thuật trực tiếp. Thầy gọi hai đứa lên đứng hai bên buya-rô của Thầy. Một đứa cầm một quyển vở trong đó chép truyện Tam Quốc Chí bằng chữ Hán, ở đưới mỗi dòng có chua bằng tiếng Hán Việt. Đứa cầm vở đọc từng câu: “Kim Tào Tháo khu chúng nam xâm…” đứa kia nhìn lên nóc nhà dịch rành rọt: “Hiện nay Táo Tháo đem binh xâm chiếm miền Nam...” Đứa cầm vở đọc tiếp: “Tướng quân chi ý nhược hà?”, đứa kia tiếp tục nhìn lên nóc nhà: “Ý kiến tướng quân ra làm sao?”. Thầy khen “được lắm, về chỗ” rồi chỉ ngay lớp trưởng, đang giữ sổ ghi điểm: “mười tám điểm”. Lớp trưởng, người Nam kỳ nhưng lại thích bắt chước giọng Huế của thầy hỏi: “Thưa thầy cho thằng mô?” thầy 10đáp: “thằng dịch” rồi tiếp: “thằng đọc cho năm điểm, không làm chi cả!”. Hai đứa trở về chỗ, một cười một mếu.

Khi lên đến năm đệ tứ chúng tôi được học với thầy Tạ Ký, dạy môn Việt Văn. Thầy là người Quảng Nam, trẻ tuổi đẹp trai có giọng nói sang sảng lôi cuốn. Có lần thầy rời bục giảng bước xuống gần bàn học sinh, một đứa trong lớp hỏi: “Thưa thầy người ta nói ‘Học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành’, có đúng không?” Thầy cảm thấy bị đứa học trò châm chọc, nói theo ngôn ngữ hồi đó là chọc quê. Thầy thấy hơi bị nhột, mặt đỏ hồng như con gái, quay lại chỉ tay vào anh học trò vừa rồi, bằng giọng Quảng Nam chính cống: “Câu đó ‘sưa’, phải đọc lựa như ri ‘học trò xứ Quảng roa thi, cô gứa Huế thấy chăn đi không đành”(1). Cả lớp cười ầm lên. Anh học trò kia nói tiếp: “A, tại vì học trò xứ Quảng ngày xưa đẹp trai”. Thầy nói liền: “Chứ răng!”.

Một hôm thầy dạy bài thơ “Than nghèo” của Nguyễn Công Trứ, trong đó có câu “giang hồ bạn lữ câu tan hợp”, thầy hỏi: “bạn lữ, vì sao chữ lữ có dấu ngã”. Cả lớp im phăng phắc, tôi thì mù tịt, đứa này ngó đứa kia rồi lắc đầu le lưỡi. Đột nhiên ở dãy bàn bên trái, sát cửa sổ, một cánh tay rón rén giơ lên. Nhìn lại chúng tôi thấy đó là thằng Bôm. Anh chàng này rất nhanh nhẹn và là chân sút rất mạnh của đội bóng lớp chúng tôi, chuyên môn đứng hàng ba ở giữa, hồi đó gọi là demi-centre, banh tới chân, nó sút một cái banh bay qua gần tới khung thành bên kia. Chúng tôi chú ý xem nó trả lời câu hỏi của thầy: “Thưa thầy, vì chữ ‘lữ’ đứng bên cạnh chữ bạn có dấu nặng nên mang dấu ngã”, chúng tôi thấy câu trả lời này không ổn rồi và hồi hộp chờ kết quả. Thầy cho ngồi xuống: “tầm bậy tầm bạ, cái này không phải là kép lấp láy, ai biết?”. Cả lớp lại im lặng. Một lát sau có một cánh tay rụt rè giơ lên. Đó là thằng Chín, nhỏ con ốm yếu thuộc đội bóng hạng B của lớp. Nó từ từ đứng lên trả lời, giọng nhẹ như hơi thở có lẽ nó sợ trật: “Thưa thầy, ‘lữ’ là chữ Hán Việt, bắt đầu bằng chữ ‘l’ nên có dấu ngã”. Chúng tôi nhìn thầy, đợi thầy nạt nó vì nói trật. Đột nhiên thấy hỏi tiếp: “chỉ có chữ ‘l’ thôi sao?”. Chín trả lời:

- Dạ còn các chữ ‘m’, ‘n’, ‘d’, ‘v’.

Thầy quay lên bục, tới bàn lấy sổ điểm ra: “Hai mươi điểm!”

Cả lớp thở một cái ‘khì’ rồi xuýt xoa “đã quá!” còn thằng Chín thì khoái quá úp mặt xuống bàn cho đỡ thẹn. Trong lớp hồi trước tới giờ chưa có đứa nào được điểm lớn nhờ một câu trả lời ngắn ngủi như thằng Chín. Đâu đó ở cuối lớp có thằng nói: “Học trò ruột của thầy Ưng Thiều mà không giỏi sao được”. Chúng tôi sực nhớ ra thằng Chín là con gà cưng của thầy Ưng Thiều. Hồi năm đệ thất và đệ lục, thầy Thiều thường hay sai nó đi xuống văn phòng lấy phấn viết bảng, sổ sách hoặc về nhà thầy lấy hộp trà Ô Long vô cho thầy pha uống. Cả lớp chúng tôi không nhớ thầy dạy cái câu này từ hồi nào mà cả lớp quên hết trơn, chỉ còn mình thằng Chín nhớ được. Nó được điểm tốt xứng đáng quá đi chứ.

Thầy Tạ Ký thường đọc truyện cho chúng tôi nghe. Mỗi lần thầy cất tiếng đọc cả lớp im lặng như tờ, những thằng già chuyện nhất trong lớp cũng phải chịu ngậm cái miệng lại, trợn mắt cố nuốt lấy từng câu văn trong truyện. Có lần thầy đọc cho nghe truyện Thần Hổ của TCHYA, cả lớp không ai bảo ai tự nhiên ngồi dồn cục lại, chừa hai đầu bàn trống lỏng vì sợ… ma trành. Thầy cũng có lối kể chuyện hết sức hấp dẫn. Khi chuẩn bị học tới Truyện Kiều. Thầy kể trước cho nghe cốt truyện từ đầu đến cuối. Cả lớp chúng tôi lúc bấy giờ mới biết Truyện Kiều là gì. Trong khi thầy thao thao bất tuyệt kể từng hồi, từng đoạn hấp dẫn, chúng tôi há hốc im lặng ngồi nghe, thần kinh khi thì căng thẳng khi thì thư giãn theo từng lời kể của thầy. Cả lớp chúng tôi thấy máu nóng xông lên hừng hực khi thấy Hoạn Thư nổi ghen, cho cái đám Khuyển Ưng bắt Thúy Kiều về rồi cho ra hầu đàn trước mặt Thúc Sinh và Hoạn Thư đang ngồi nhậu nhẹt. Sau đó Hoạn Thư cho Thúy Kiều ra ở tại Quan Âm Các lo việc chép kinh. Một hôm vì nhớ Thúy Kiều quá, chịu không nổi, Thúc Sinh liều mạng lén Hoạn Thư lò dò ra Quan Âm Các để tâm sự với Thúy Kiều. Hai người mừng mừng tủi tủi, vừa khóc vừa kể lể nỗi niềm tâm sự sau bao ngày xa cách vì bà chằng Hoạn Thư. Ngay lúc đó Hoạn Thư từ ngoài cửa bước vô… Thầy vừa kể đến đó bỗng nhiên ở dãy bàn gần cửa sổ có tiếng đập bàn một cái rầm và tiếp theo là tiếng la của thằng Hảo: “đuuuuuuu!..” rồi im bặt. Cả lớp cười ầm lên, thầy cũng bật cười lớn, mặt đỏ bừng. Hóa ra thằng Hảo bị kích động khi câu chuyện lên đến cao trào, nó chịu hết nổi định phun ra một tiếng chửi thề nhưng sực nhớ là đang ngồi trong lớp nên phải ngưng lại liền.

Hồi năm đệ lục, chúng tôi học môn Việt Văn với thầy Khánh, sáng láng, không cao lắm, và cũng không xì-po lắm nhưng thầy có giọng Huế rặc mà lại êm như ru. Lần đầu tiên chúng tôi thấy một người đàn ông Huế mà có giọng nói êm đềm như vậy. Một thằng siêu quậy ở cuối lớp, giờ ra chơi nói: “ tao mà là con gái, tao bỏ nhà theo ổng liền”. Bài kim văn đầu tiên thầy dạy chúng tôi là bài “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh. Trước hết thầy đọc cho chúng tôi nghe toàn bài văn:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Giọng của thầy du dương trầm bổng hấp dẫn lôi cuốn từng đứa chúng tôi trong buổi trưa đầy nắng nóng. Không đứa nào muốn nói chuyện riêng tư. Chúng tôi lắng nghe, lắng nghe và rồi… ngủ gục.

Đến câu cuối cùng thầy gằn giọng: “Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.” chúng tôi mới hoàn hồn dụi mắt lia lịa sửa lại thế ngồi để nghe thầy giảng tiếp. Trước mặt tôi một thằng vẫn còn mê say giấc điệp. Thằng này có tướng ngủ rất xấu. Lúc đó tôi chưa biết coi tướng số nhưng cũng thấy được cái kiểu cách ngủ của nó giống con chó đang kê đầu trên cái ngạch của vừa ngủ vừa… giữ nhà. Thầy chọi cục phấn trúng ngay đầu nó và thằng bên cạnh giựt cùi chỏ vào lưng, nó chờn vờn ngồi dậy, hai con mắt đỏ chạch, giơ tay chùi nước bọt trên khóe miệng, sửa lại tư thế ngồi.

Ở bàn đầu có thằng Sáu, trong lớp đặt cho nó cái biết danh là Sáu Xù vì tóc của nó lúc nào cũng như dựng ngược lên, người miền Nam phát âm Sáu thành Sáo, u thành o như chim sáo, con cào cào..

Một hôm thầy giảng một bài ca dao, thầy cũng đọc trước hết bài nhưng tôi chỉ còn nhớ được dăm ba câu:

Tùng!Tùng!Tùng !

Ðánh ba tiếng trống,

Sắp quân cho chỉnh.

Phượng hoàng thống lĩnh,

Bạch hạc hiệp đồng,

Bên phải thì công

Bên trái thì sếu.

Giang cao ngất nghểu,

Ði trước tiên phong,

Cái mỏ bồ nông.

Ði sau tiếp hậu

Sáo đen sáo sậu.

….

Sau đó thầy kể lại bằng văn xuôi nội dung bài ca dao vừa đọc, thầy nói: “Đây là cuộc hành quân của loài chim. Trước tiên là một hồi trống lệnh rồi phượng hoàng, chúa tể của loài chim thống lĩnh có bạch hạc hộ tống, hữu tướng quân là công, dĩ nhiên là công đực mới oai phong với cái đuôi xòe hình cánh quạt màu sắc rực rỡ, tả tướng quân là sếu, rồi có bồ nông tiếp ứng, có cả sáo đen, sáo sậu, và….

- Sáu Xù.

Cả lớp giật mình và rồi phá ra cười khi nghe thằng Bôm nối tiếp câu nói của thầy bằng tên một con sáo khác cùng âm điệu với cái tên của thằng Sáu Xù.

Ở dãy bàn phía cửa ra vào có thằng Khai, hồi nhỏ bị bệnh đậu mùa nên trên mặt nó còn lấm tấm những vết sẹo. Dáng người dong dỏng cao, tướng đi ẻo lả như con gái, cách nói chuyện cũng giống con gái cho nên trong lớp đặt cho nó cái tên “Mẹ Khai”. Mẹ Khai chơi thân với thằng Sáu Xù, gọi Sáu Xù bằng anh xưng em ngọt xớt. Giờ ra chơi nó hỏi thằng Bôm: “Sao mầy chọc ghẹo anh Sáu tao hoài vậy? Cho mày đi chỗ khác chơi à nha”. Thằng Bôm ngó ngay mặt thằng Khai làm điệu như một nghệ sĩ cải lương: “Mẹ, mẹ nỡ lòng nào đoạn tuyệt chẳng có nhìn con..ơ ..ơ.” rồi quay lưng bỏ chạy khi thằng Khai làm bộ giơ chiếc giày sandale lên hăm dọa: “coi chừng mẹ nghe con!”

(còn tiếp)

Dương Lêh

(1) Ở đây người viết chỉ muốn kể lại đúng như lời vị giáo viên nói lúc đó chứ không có ý muốn nhại tiếng để châm biếm.



Phụ Bản III

NĂM RỒNG NÓI CHUYỆN RỒNG

Rồng là con vật chỉ có trong chuyện thần thoại do trí tưởng tượng của con người đã vẽ ra để tượng trưng cho sức mạnh với vóc dáng dũng mãnh, hai mắt to tròn sáng như hai bóng đèn điện, trên đầu lại có sừng, mũi to và dài, mồm rộng ra đến mang tai, hai hàm răng nhọn chơm chởm lại có hai nanh, mép có râu dài đầu những râu kết thành chấm tròn. Mình Rồng dài uốn khúc có vẩy lóng lánh, trên sống lưng lại có kỳ chạy dài từ đầu cho đến đuôi. Rồng có bốn chân, mỗi chân đều có bốn ngón với móng nhọn. Hình vẽ Rồng hoặc hình tượng Rồng chỉ để trang trí cho những nơi chốn quyền uy như cung đình hoặc những nơi thờ phụng như đình thần, miếu vũ để tăng vẻ uy nghiêm về tâm linh, và như để tạo sự khác biệt với đời sống dân gian, các triều đại vua chúa nước ta đã buộc người thợ vẽ phải vẽ hình Rồng có năm móng ở chốn cung đình. Và cũng do những nét mô tả đặc biệt dễ gợi nên tâm linh nên Rồng đã một thời đi vào huyền thoại trong lịch sử nước ta. Vào cuối đời nhà Tiền Lê (980 – 1009) Lê Long Đỉnh là một ông vua rất tàn ác, bạo ngược, hoang dâm vô độ đến nỗi các buổi chầu phải nằm mà thị triều, cho nên cũng có tên gọi là Lê Ngọa Triều. Lê Long Đỉnh làm vua được 4 năm thì mất con còn nhỏ nên triều thần có ông Đào Cam Mộc(1) cùng với Thiền Sư Vạn Hạnh(2) mới nhân dịp tôn Lý Công Uẩn(3) đang giữ chức Điện Tiền chỉ huy sứ lên làm vua, khởi nghiệp cho nhà Lý - Lý Công Uẩn lên ngôi lấy niên hiệu là Thuận Thiên năm thứ nhất (1010). Nhận thấy đất Hoa Lư (Ninh Bình) nơi cố đô từ thời nhà Đinh là một nơi chật hẹp và cũng theo đề nghị của Sư Vạn Hạnh nên vua Thái Tổ nhà Lý đã cho dời đô ra thành Đại La – tức là Hà Nội bây giờ; nhân lấy cớ có điềm Rồng Vàng bay lên khi tới thành Đại La nên vua Lý mới đổi thành Đại La thành Thăng Long thành cho đến ngày nay. Đến đời nhà Nguyễn kinh đô nước ta được dời về Phú Xuân tức Huế bây giờ. Lại cũng câu chuyện Rồng khá lý thú – nhân dịp sửa sang trùng tu lại cung điện, triều đình Huế đã cho tuyển những thợ vẽ khéo tay nhất của đất thần kinh để vào vẽ trang trí trong cung, việc phải làm là vẽ hình Rồng năm ngón trên trần nhà phòng khánh tiết. Tay thợ vẽ được coi là khéo tay nhất đám được chọn, ban đầu anh ta bắt ghế cao để đứng lên vẽ, nhưng vẽ trên trần nhà thì phải ngẩng cổ lâu, nên mỏi không chịu nổi. Anh ta mới đóng một con ngựa gỗ cao và nằm ngửa trên đó, dùng hai ngón chân kẹp cái cọ để vẽ bằng chân, cũng có ý phô diễn tài nghệ, đặc biệt cho các bạn đồng nghiệp xem. Thật rủi cho anh ta khi đó nhân lúc nhà vua ghé xuống thăm công trình sửa chữa và bắt gặp anh ta đang vẽ Rồng trên trần nhà bằng chân, vua hỏi: Tại sao lại vẽ bằng chân? Anh thợ vẽ tâu: Bẩm hoàng thượng vì vẽ bằng tay đứng cao nên mỏi, nét vẽ không được tinh tế, nên phải dùng chân để vẽ. Vua hơi phật ý và phán: Nếu có một đứa nào thứ hai vẽ khéo như mi thì ta chém đầu mi ngay.

Hình tượng Rồng cũng thường được thấy chạm nổi trên các cột trong đình làng và trước sân đình, trên bình phong luôn luôn có chạm hình Rồng là một trong Tứ Linh gọi là Long + Lân + Qui + Phụng. Rồng được xem là biểu tượng của uy quyền, người xưa đã đưa hình ảnh Rồng vào những nơi tôn nghiêm nằm tại cung điện của triều đình, trên những cây cột lớn cỡ hai người ôm không hết đều có chạm nổi hình Rồng. Áo long bào của vua có thêu hình Rồng, ghế vua ngồi hai tay vịn có chạm Rồng gọi là long ỷ, và một khi được vào chầu vua, còn gọi là gặp mặt Rồng, để bái yết long nhan. Danh từ Rồng cũng lại đôi khi được gọi để đề cao con người có tài năng nhưng chưa gặp vận may, anh ta như con Rồng nằm chờ thời. Hình ảnh Rồng thường được vẽ ra tung hoành giữa đám mây nên thành ngữ cũng có câu để chỉ những người gặp cơ hội: như Rồng gặp mây. Hình ảnh Rồng đầy vẻ uy dũng lại chuyên xuất hiện nương theo mây để tung hoành trên không trung, tưởng như không có con vật nào ở mặt đất có thể địch lại, nên đã được chọn làm linh vật đặt trên nóc những nơi thờ tự để bảo vệ thần linh. Xưa nay việc sao chép các văn tự có những lỗi lầm so với bản gốc, thường được gọi là “tam sao thất bổn” thì đối với việc xây đắp hình Rồng trên nóc các nơi thờ tự ngày nay cũng vấp phải những lỗi lầm sai với kiểu dáng truyền thống. Có khá nhiều nơi hình dạng cặp Rồng đúng ra là phải quay đầu vào nhau, ở giữa là một trái châu – Sự tích “Lưỡng long tranh châu” hay còn gọi là “Lưỡng long châu nguyệt” vì trái châu tròn giống như mặt trăng – do truyện Phong Thần trong lịch sử Trung Hoa về đời nhà Thương (1783 – 1135 trước Tây lịch) có kể lại việc đấu pháp thuật giữa hai vị Chưởng giáo, một bên là Ngươn Thủy Thiên Tôn, người cai quản thiên đình của Ngọc Hoàng Thượng Đế với các vị tiên, một bên là Hải Triều Thánh Nhơn đứng đầu các loài cầm thú do tu luyện lâu năm thành người cũng có quyền phép cao siêu đáng kể. Khi hai vị giáo chủ đấu tranh để tranh tài cao thấp, thì Hải Triều Thánh Nhơn bèn tung bửu bối của mình là trái châu lên không định đánh xuống đầu ông Ngươn Thủy – thấy vậy ông Ngươn Thủy bèn tung cặp gậy của mình lên không trung hóa thành hai con Rồng để đỡ trái châu và trong cuộc đấu phép này ông Ngươn Thủy đã thắng cuộc – Hình ảnh hai con Rồng châu đầu lại đỡ trái châu thường được gọi là “Lưỡng long tranh châu” cũng xuất phát từ đó. Nhưng cũng có sự việc trong thực tế xảy ra để ngày nay ta thấy trên nóc một vài nơi thờ tự có cặp Rồng thay vì quay đầu vào nhau để đỡ trái châu thì lại quay đầu ra ngoài, đuôi hướng về trái châu. Vào năm 1862, lúc Nam bộ nước ta bị xâm lấn chiếm ba tỉnh miền Đông, sau đó cảng Sài Gòn đã được chính quyền mở rộng, trong khu vực có một đình làng bị giải tỏa để xây lại ở một nơi cũng gần đó, ở vùng mà bây giờ gọi là Bến Nhà Rồng. Vị quản đốc công trình xây cất lúc bấy giờ là một người ngoại quốc khi thấy toán thợ xây lại ngôi đình có cặp Rồng đắp theo kiểu truyền thống “Lưỡng long tranh châu” mới bảo rằng: con Rồng là vật chuyên sống trên không trung, thường hay uốn khúc tung mây lướt gió đi muôn phương, chứ sao lại quay đầu vào nhau như để tranh giành quả bóng, và ông ta buộc toán thợ xây đắp phải làm theo ý mình cho hai con Rồng quay đầu ra ngoài và một số nơi đã biến hóa theo kiểu sai với sự tích Rồng theo truyền thuyết sống trên không trung, nhưng đôi khi lòng đất cũng là nơi ẩn thân của Rồng. Khoa phong thủy cũng thường chỉ dẫn cho công trình xây cất là không nên đào xới nhiều về một hướng nào đó vì sợ đứt “long mạch”. Trong chế độ cũ, thầy địa lý cũng từng mách bảo khu đất phía trước Dinh Độc Lập (tên cũ) có long mạch mà đầu Rồng thì nằm ngay ở sân dinh, còn đuôi ở tận Hồ Con Rùa, cho nên thời đó dinh Tổng Thống cũng được gọi là Phủ Đầu Rồng.

Qua những đặc tính về Rồng như đã kể trên cho đến thời đại này, người Việt chúng ta hầu hết đã dùng dương lịch để phân định thời gian trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng bên cạnh đó cũng vin vào âm lịch để lý số tốt xấu cho cuộc đời, nên các bà mẹ Việt Nam rất nhiều bà ước mong được sinh con trai trong năm Rồng là con vật biểu tượng thứ năm trong “thập nhị chi” gọi nôm na là 12 con giáp đi đôi với chữ Nhâm trong thập can cho rằng “nam Nhâm” “nữ Quý” là tuổi tốt. Ngày nay trong khi dạo chơi phố tại Tp. HCM hoặc những nơi nào khác, cho dù tình cờ hay cố ý nhìn thấy trên nóc một nơi thờ tự nào đó có đắp vẽ hình tượng cặp Rồng thì không mấy ai không có trong đầu ấn tượng chiều nào đúng, chiều nào sai về hướng quay của Rồng.

PPT ghi

Chú thích:

(1) Đào Cam Mộc: công thần nhà Hậu Lý, có công cùng với Sư Vạn Hạnh tôn phù Lý Công Uẩn lên ngôi nên sau khi lên ngôi vua Thái Tổ nhà Lý đã phong cho ông chức Nghĩa Tín hầu và gả con gái lớn là An Quốc Công chúa cho.

(2) Sư Vạn Hạnh: Cao tăng đời Lý, quê ở Cổ Pháp, thuộc phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh (Bắc phần). Thiền Sư Vạn Hạnh xuất gia năm 20 tuổi tinh thâm cả ba nền học: Thích, Nho, Lão rất giỏi về sấm ngữ và độn số. Vua Lê Đại Hành và vua Lý Thái Tổ lúc còn nhỏ được thụ giáo với Sư Vạn Hạnh và thường tham khảo Thiền sư về việc nước.

(3) Lý Công Uẩn: tức Thái Tổ nhà Hậu Lý – Nhà Hậu Lý truyền được 9 đời, trải dài 215 năm, đến đời thứ 9 là Lý Chiêu Hoàng, nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh để lập ra nhà Trần.

Hiện nay tại Tp. HCM có các đường:

· Lý Thái Tổ thuộc quận 10

· Sư Vạn Hạnh thuộc quận 10 (cạnh chợ An Đông)

· Đường Đào Cam Mộc thuộc quận 8

* Nhà Tiền Lý có niên đại 544 – 602 do Lý Bôn cũng gọi là Lý Bí mở nghiệp, sau khi thắng được quân xâm lược nhà Lương (Trung Hoa) lên làm vua, lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.

* Nhà Hậu Lý có niên đại 1010 – 1225

CẢM NHẬN LẦN ĐẦU ĐẾN NƯỚC MỸ


Trước hết, phải thú nhận là từ rất lâu tôi đã nghe nói nhiều về Nước Mỹ qua phim ảnh, báo chí vv… Được biết đó là một trong những nước giàu, đẹp nhất hành tinh với những trường Đại Học hàng đầu thế giới, phim trường Hollywood vĩ đại, sòng bạc Las Vegas, cầu Golden Gate vv... nhưng chưa bao giờ tôi mơ được một lần đặt chân đến đó, bởi một điều dễ hiểu: Muốn đến nước Mỹ phải có 2 điều kiện, già và giàu, mà tôi chỉ đáp ứng được có điều kiện đầu tiên! Nhưng đột nhiên năm rồi, sau khi mẹ tôi mất, em gái tôi sống ở Mỹ rủ tôi sang thăm Mỹ một chuyến cho biết, và sẽ “bao trọn gói”. Lần đầu tôi đã từ chối, một phần vì tiếng Mỹ học từ cách đây 40 năm nay đã rơi rớt hết. Hai là cũng lười phải xách valy di chuyển tới lui, lại nghe nói phải ngồi trên máy bay suốt mười mấy tiếng nên cũng không mấy mặn mà. Cho đến lúc thằng cháu ngoại của tôi phỏng vấn du học Mỹ đậu, thì em tôi viện cớ kêu: “sẵn đưa cháu ngoại đi rồi du lịch luôn”, và “qua Mỹ cho biết nhà cửa, sinh hoạt của gia đình em”. Cộng thêm con gái tôi cũng đi đưa con nó, nên tôi xiêu lòng, nộp đơn xin phỏng vấn, và được chấp thuận cho đi Mỹ.

Khi bên này đã đồng ý đi, chưa biết phỏng vấn có đậu hay không, thì bên Mỹ cháu gái tôi đã lên kế hoạch để đưa đám “hai lúa” bên này đi chơi vài nơi cho biết thú chơi của người dân sống ở Mỹ.

Lần đầu tiên trong đời tôi mới bước lên máy bay, và đi thẳng một chuyến dài cả nửa vòng trái đất. Khi máy bay trên đường qua Mỹ, trên cao rất lạnh so với tôi, cho nên tôi vừa mặc áo lạnh, vừa đắp mền của hãng máy bay cung cấp, vừa đội mũ, vừa quấn khăn len... chỉ chừa có 2 con mắt. Thằng cháu ngoại tôi nhận xét: “Ngoại giống xác ướp Ai Cập quá”! Thây kệ, giống cái gì cũng được, miễn đỡ lạnh là được rồi. Cuối cùng thì chiều hôm sau chúng tôi cũng đến phi trường San Francisco.

Ba bà cháu lớ ngớ, kéo valy đến quầy làm thủ tục nhập cảnh. Nhân viên Hải Quan hỏi tôi: Bà đến nước Mỹ lần đầu phải không? Làm gì? Bao lâu? rồi chỉ con và cháu tôi hỏi có phải đi chung cả gia đình không? Tôi đáp phải. Thế là anh ta gọi mấy người bạn Hải Quan kia, báo: “Tất cả họ cùng một gia đình”. Tưởng sao, hóa ra chúng tôi bị gạn lại, đi ra sau cùng để Hải Quan soi tất cả hành lý. Chắc họ sợ lần đầu đi không biết luật lệ sẽ vi phạm. Bà cháu tôi là những người cuối cùng rời sân bay nên bên ngoài cháu tôi và bạn đi đón chờ sốt cả ruột.

Chúng tôi phụ chất hành lý lên xe. Cháu tôi cho xe chạy một vòng cho biết và mua ít món ăn để ăn đường, sợ chúng tôi bị đói, vì lúc đó cũng đã hơn 5 giờ chiều bên đó, xong lái xe thẳng về Sacramento. Vợ chồng em tôi đã chờ sẵn ở nhà với nồi Bún Bò to đùng, nóng hổi. Kể ra thì cũng không quá mệt, vì trên máy bay chúng tôi cũng có ngủ được. Nhất là đường bay từ Đài Loan sang Mỹ gặp hai đêm liên tiếp, hé cửa sổ máy bay nhìn ra lúc nào cũng thấy trời tối thui, nên chỉ biết ráng mà ngủ, không đọc sách gì được.

Xe chạy về Sacramento có đi ngang khu Fairfield mà ngày xửa ngày xưa trong English For Today, bài In a small Town có đề cập đến. Sáng hôm sau, em tôi đi làm thì tôi bắt đầu theo chồng nó đi Siêu thị cho biết. Nhà em tôi ở gần Siêu Thị Vĩnh Phát và A&A nên em rể tôi thường đi chợ ở đó. Cũng nên nói thêm là em rể tôi mổ tim, không còn khả năng lao động, được nghỉ hưu sớm và lãnh tiền bịnh, nên rảnh rang chở tôi đi cả ngày. Nó đưa tôi đi xem khu nhà nghèo để so sánh sự khác biệt, với khu nhà giàu, và cho biết, ở Mỹ dù khu nhà nghèo thì nhà vẫn quay mặt ra đường, không có nhà trong hẻm.

Trên đường đến Siêu Thị, tôi ngạc nhiên thấy những bảng hiệu hàng ăn, Phở, Bún Bò bằng tiếng Việt khắp nơi. Trong Siêu Thị, các món hàng cũng đề tên toàn bằng tiếng Việt: Khoai lang, cà tím, bắp cải, dừa khô vv..., và có rất nhiều các mặt hàng đến từ Việt Nam như bánh tráng, bún khô, mấm nêm, mắm ruốc, khô sặc, bánh phồng tôm, nước mắm, củ sắn, đậu xanh, đậu phộng. Rau sống thì xanh tươi roi rói nhìn rất hấp dẫn: đủ thứ rau nào là rau muống, giá, bắp chuối, bấp cải, húng cây, dấp cá, cải bẹ xanh, cải bẹ trắng, mồng tơi, bí đỏ, bí xanh, hành, hẹ, sả vv... Cá thì có mực, cá lóc, cá rô, tép, cá chạch, cá hồi. Rau, cá thì mắc. Thịt bò, thịt heo, thịt gà đầy dẫy, thậm chí thịt gà xem ra có phần rẻ hơn ở Việt Nam! Gạo thì có đủ, từ gạo tẻ, gạo nếp cho tới gạo đỏ đều có. Nói chung là dư sức để nấu những bữa cơm thuần Việt. Nhân viên đứng bán thì nói tiếng Việt và tiếng Tàu, tiếng Anh. Có lần tôi mua một vài món, khi đưa phiếu tính tiền, tôi hỏi How much, nhưng có lẽ người tính tiền nhận ra tôi là người Việt nên trả lời là 4đ70 xu. Có điều là tôi không biết tiền lẻ, nên đưa luôn 1 nắm cho cậu ta tự chọn cho đủ số!

Hình như không thấy bóng dáng một người Mỹ nào trong Siêu Thị người Việt. Chỉ có người Tàu và một số người mà nghe giọng nói thì thấy đa phần giọng miền Trung và Miền Bắc.

Nghỉ ngơi hai hôm, cháu tôi cùng với mấy đứa bạn đưa chúng tôi đi cắm trại ở vùng Sierra bang Nevada. Bọn trẻ chất đồ lên 2 xe để chuẩn bị cho chuyến cắm trại khá đầy đủ: nào là mền, áo lạnh, lều, nệm hơi, gối, lò ga, nồi, chén, đũa, ghế xếp, than, củi, thùng đá. Thịt thì có thịt gà, thịt bò đã ướp sẵn để nướng. Còn có một thùng nước Phở và bánh phở, rau xanh đầy đủ. Chúng nó đã quen với những việc này nên sắp xếp cột ràng đâu đó gọn gàng. Ngang qua siêu thị bọn trẻ còn mua theo 1 thùng sò và một số bắp trái tươi để nướng ăn buổi tối.

Đường đi khá xa, nên mọi người đi xe hơi đều mang theo Bản đồ định vị, (GPS) rất tiện lợi. Chỉ cần ghi nơi muốn đến, máy sẽ hướng dẫn, báo cho biết sắp đến ngã tư, tới đó quẹo trái hay phải, khỏi sợ lạc đường. Dọc đường chúng tôi ghé tham quan và chụp ảnh lưu niệm tại một ngôi chùa Miên với một tượng Phật nằm rất to và những pho tượng đặc trưng của người Miên. Màu sắc lộng lẫy, nổi bật, trong khuôn viên chùa rộng mênh mông. Sau đó chúng tôi ghé dùng bữa tại một nhà hàng Nhật, rồi đi tiếp. Khi đến nơi cắm trại thì bọn trẻ cho xe chạy vòng vòng để tìm lô có đánh số mà chúng đã đặt trước rồi dừng xe và cho mọi thứ đồ xuống để cắm trại.

Nơi cắm trại là một rừng thông cây to, cao chừng hơn 15m. Mỗi lô có 1 khoảng đất trống, trong đó có l cái bàn dài, có băng hai bên để khách cắm trại ngồi dùng bữa. Một cái lò to để đốt than và củi bằng gang, có cái vỉ lớn để nướng và 1 tủ bằng gỗ để đựng thức ăn phòng ngừa gấu ra ăn vụng.

Mỗi người góp một tay. Người lấy đồ ăn cho vô tủ. Người bỏ bếp ga, than, củi xuống bắt đầu đốt lên. Kẻ lo bơm nệm hơi và kiếm chỗ đóng cọc, giăng lều. Lúc đến khoảng 5 giờ thì mặt trời còn sáng, không thấy lạnh, nhưng mặt trời vừa sụp lặn là cái lạnh ập đến một cách bất ngờ! Tôi lôi áo lạnh ra để mặc thêm không kịp, run lập cập, vừa mặc, vừa phải chạy lại gần cái lò bọn trẻ vừa đốt than lên chuẩn bị hâm thức ăn, kéo ghế ngồi sát bên cho ấm.

Chúng tôi xơi sạch một nồi phở gà to đùng nấu sẵn chở theo. Trời lạnh mà tô phở nóng hổi, kèm với rau xanh, hành, ớt, giá, chanh, tương, đầy đủ trong cảnh gió bắt đầu lao xao trên những cành thông thấy ấm áp lạ. Mùa hè ở Mỹ mà nơi đây thời tiết giống như mùa Đông ở Đà Lạt. Đó là lý do khiến nhiều người chọn nơi đây để cắm trại.

Dọn dẹp, rửa chén bát dưới vòi nước lạnh ngắt gần đó, xong cả bọn kéo lại ngồi quanh bếp, dụm củi lại cho cháy to lên. Một bên để than. Những quả bắp được kê trên bếp than, nóng hổi, vừa thổi vừa cạp rất thú vị. Theo lời bọn trẻ, đêm đó có sao băng, nhìn lên trời sẽ thấy. Nhưng tôi lạnh quá, chui vô lều, kéo chăn đăp kín bưng mà vẫn thấy lạnh. Sờ vào vách lều thấy ướt rượt và lạnh như sờ cục nước đá! Hỏi tụi nhỏ bao nhiêu độ thì nó nói khoảng 10o. Trời đất! Lần đầu tiên đến Mỹ để được hóng… lạnh ngoài trời! Tôi thầm nghĩ, nhà cửa ấm áp không ở, bọn trẻ lại khoái kéo nhau ra rừng, ra bụi để ngủ! Kể cũng lạ. Mà phải ngủ không mất tiền đâu. Mỗi đêm như vậy tốn cả mấy chục đô và phải đặt trước cả mấy tháng, nếu không thì không có chỗ. Nhưng đâu phải chỉ có tụi tôi. Quanh đó rất nhiều gia đình cũng ở đầy. Người lớn, con nít, kể cả chó cũng được dắt theo. Có nhà sang còn kéo theo mobile-home để chui vào đó ngủ cho đủ tiện nghi. Lạ một điều là trên núi như vậy mà nhà tắm, restroom công cộng vẫn sạch sẽ, nước nóng cả ngày đêm.

Tôi chịu lạnh không quen nên suốt đêm nghẹt mũi, không ngủ được, trông cho sáng ra để đòi về. Nhưng tụi nhỏ dụ ở lại một đêm nữa thôi, sáng ngày mai sẽ đi Lac Tahoe bơi thuyền rồi về sòng bạc Reno cho biết. Một phần đang đi chơi với nhiều người, lại bắt em rể tôi phải làm tài xế lái xe để đưa tôi về một mình làm phiền mọi người, mà đồ đạc thì lỉnh kỉnh, một xe chở không hết. Thế là tôi đành chịu trận, ở lại. Nhưng đêm sau không dám ngủ lều nữa, mà chui vô sau xe van, trải nệm ngủ, quay kiếng lên chỉ chừa một chút khe nhỏ cho khỏi ngộp. Ba bà cháu nằm như cá hấp, người này trở mình là người kia thức luôn. Nhưng ít ra cũng đỡ lạnh hơn nằm ngoài lều. Sáng ra lạnh toát, đeo găng, mang vớ, trùm đầu mà nói chuyện thở ra khói, giống như trong phim Hàn Quốc. Mọi người lúi húi đốt than, pha cà phê rồi làm thức ăn sáng. Xong xuôi, dọn dẹp, chất đồ trở lên xe rồi chạy lên Lac Tahoe.

Ở đó nhiều người đã tới trước, nên muốn thuê thuyền cũng phải chờ đến lượt. Đám trẻ thì thuê thuyền tự chèo tay. Ba bà cháu tôi thì được em rể tôi thuê một thuyền máy rồi tự lái chạy vòng quanh trên hồ. Nước trong xanh. Nhà nghỉ của những người giàu thấp thoáng sau những hàng thông mà chúng ta thường thấy trong phim. Hồ mà cũng có sóng nhưng không lớn. Trước lúc lên thuyền mọi người đều bắt buộc phải mặc áo phao nên chúng tôi cũng yên tâm phần nào.

Trên đường về, bọn trẻ định ăn tôm hùm, nhưng mua phiếu rồi, đến lượt thì vì có mang theo hai con chó nên bị từ chối không cho vô. Thế là đành trả vé, đi ăn đồ Mỹ. Tiệm ăn hơi giống một quán Bar với trần thấp, tường vẽ màu sắc rực rỡ, đỏ, vàng cam. Phía gần quầy, trên tường vẽ tên và giá của thức ăn. Khách đến cứ nhìn và gọi món mình thích rồi tìm bàn ngồi, lúc sau thức ăn được dọn lên. Giá mỗi đĩa từ 9-15 đô.

Chúng tôi ghé vô sòng bạc Reno, Người quản lý thấy cháu tôi còn trẻ quá, tới hỏi tuổi rồi đòi xem ID card. Em tôi nói đỡ là nó đã 20 tuổi, nhưng quên giấy ở nhà, không đánh bài, chỉ xin đứng coi thôi. Nhưng họ vẫn cương quyết mời lên lầu, không được đứng ở đó dù chỉ xem! Tôi, con gái và em rể tôi hùn nhau mỗi người 20usd để thử thời vận cho vui. Đầu tiên là em rể tôi. Nó đặt mấy cây thua đủ mấy cây. Cách thức đánh bài cũng lạ. Bên cái mở ngửa 1 lá. Nếu thấy cái có 1 là ách thì tay con có thể mua bảo hiểm để dù nhà cái có xì thì cũng khỏi thua. Thằng em rể tôi rành vụ đánh bài lắm, vì nó là “cổ đông chuyên góp vốn mà không hoàn trả” của nhiều sòng bạc từ lúc sang Mỹ đến giờ! Đi làm rồi ky cóp, dành dụm bao nhiêu, rảnh là mang nộp cho sòng bạc rồi về mới ngủ yên!

Đến lượt tôi cũng chẳng tốt gì hơn. Trúng được 1, 2 cây, nhồi vô là thua! Luật đánh bài xì dách ở Mỹ không giống ở ta. Nếu tay con rút bị “hoắc”, tức là hơn 21 nút, thì phải tự bỏ bài ra cho nhà cái ăn, không được úp lại.

Chúng tôi đổi tay, người thua lại tránh ra để người mới vô đặt tiền đánh tiếp coi có hên hơn không. Anh chàng người Mỹ ngồi đánh kế bên thấy tụi tôi hết người này đến người kia ngồi vô đánh bài, lấy làm lạ hỏi: “Bộ tụi bây thay phiên nhau đánh hả?” Tôi nói: “tụi tao mới học chơi”. Người quản lý thấy có mấy khách lạ bèn tiến tới hỏi thăm đủ thứ. Hỏi “sao cô kia (con gái tôi) không đánh? Bộ nó thua hết tiền rồi sao?” Khi em tôi trả lời là “nó không biết đánh bài” thì ông ta hỏi : “sao mày không dạy nó?” Rồi ông ta dụ, “chủ nhật tới mày chở tụi nó tới đây nữa nghe. Bây giờ mày muốn ăn miễn phí không, tao cho mày mấy phiếu?” Em tôi từ chối và bọn tôi thấy chỉ có thua và thua. Thấy khó mà gỡ lại được nên chúng tôi không thèm đánh nữa.

Đêm đó cả bọn nghỉ lại ở khách sạn Double Trees ở San José để ngày mai đi shopping ở đó. Sáng ra đến ăn ở một khu của người Việt, bán toàn thức ăn Việt. Ở đó thấy có hàng Thạch Chè Hiển Khánh, Bún Mắm, Bún Bò, Chả giò, Bánh cuốn, Bì cuốn, Phở, Cơm Tấm, Nước Mía... không khác gì ở Saigon, có điều giá thấp nhất cũng là 7, 8 đô cho l tô.

Chúng tôi đi shopping ở những cửa hàng có ghi bảng giảm giá mà mua ở đó, nếu về thấy không thích có thể đổi lại ở gần nhà. Điểm đặc biệt của quần áo, bánh, kẹo ở Mỹ là nếu mua về mà không thích hay sau đó thử không vừa thì trong vòng 1 tháng có quyền mang trở lại cửa hàng đổi lấy tiền lại, với điều kiện là còn giữ hóa đơn và đừng làm mất bảng giá đã được đính vô món hàng. Người bán không hề phàn nàn tiếng nào, cũng chẳng săm soi món hàng bị mang trả, lẳng lặng lấy cái bảng giá, áp vô máy rồi tổng cộng lại, trả tiền mặt cho khách. So với VN ta, vừa ra khỏi cửa, quay vô xin đổi là bị mắng vuốt mặt không kịp!

Bọn trẻ đưa chúng tôi đến tham quan và chụp ảnh ở Vườn Nhật. Nơi đây cây cối, đá, cầu, ao nước… đều được xếp đặt rất nghệ thuật theo đúng kiểu Nhật. Bữa đó chúng tôi thấy có hai cặp cô dâu chú rể và bạn bè vô chụp ảnh, và cả một cô bé người Mễ cùng bạn tới chụp hình. Hình như là lễ tuổi Teen của cô ta. Rời Vườn Nhật, chúng tôi đến tham quan Palace of Fine Art. Thời tiết rất lạnh, gió nhiều, mây thì âm u như muốn mưa. Tôi phải mặc thêm áo lạnh nữa mới chịu nổi.

Dạo quanh và chụp vài tấm ảnh ở đó, xong, chúng tôi sang qua cầu Golden Gate. Ở đây rất lạnh và gió thổi rất mạnh. Khách tham quan, chụp ảnh khá đông. Chúng tôi cũng chụp vài kiểu rồi quay vội ra xe, vì lạnh mà cũng vì ở đó không được đậu xe quá 30 phút. Quá giờ là cảnh sát lại ghi giấy biên phạt.

Trở về nhà thì thú vui của tôi là cuối tuần đi yard sale. Em rể tôi lái xe chở tôi theo bảng hướng dẫn để đến những nhà bày la liệt hàng đã sử dụng, có nơi đề là moving sale, bán đủ thứ đồ dùng trong gia đình: từ quần, áo đến sách vở, nồi niêu, soong, chảo. Tôi cũng mua được mấy món cho vui: Một cái đồng hồ để bàn có hình mấy em bé thật dễ thương chỉ có 2 đô - Một đèn ngủ bằng gốm 7 đô - 1 cái đồng hồ Seiko nữ xưa màu vàng, dây da 6 đô.

Tôi cũng thích đi tới một chợ bán đồ cũ của Mỹ. Ngoài những thứ đã để sẵn. Cứ chốc chốc ở bên trong đẩy ra 1 xe trên đó đủ thứ đồ: nào radio cassette, nào loa, giày, bóp, điện thoại cũ, túi xách, thú nhồi bông... Mạnh ai nấy chụp cái mình thích, gom cả lại rồi mang lại quầy cân. Giá 1 lb là 50 cents. Khách Việt có, Mỹ đen, trắng, Mễ cũng có. Nghe nói có người cũng mua về bán lại. Đi chợ đồ cũ cũng là thú vui của những người về hưu. Đi xem để giết thì giờ. Rồi thì chợ đồ cũ ở một nơi khác. Ở đó chỉ bán ngày Chủ Nhật. Người bán thuê 1 cái bàn độ 1x2m bày hàng trên đó để bán với giá 20 đô 1 ngày. Tôi thấy bày đủ thứ: Đồng hồ, la bàn, tiền xưa, đá mã não, thạch anh, huy chương, nhẫn hột đá màu, nhẫn bạc, dây chuyền, nước hoa xài dở dang đủ các hiệu.

Lật bật mà đã đến ngày đi du lịch bằng Tàu đã đăng ký trước đó mấy tuần. Tàu tên là Carnival Paradise, có đến 12 tầng. Có sức chứa đến mấy ngàn du khách. Nghe nói số người phục vụ bằng nửa lượng khách. Chúng tôi đi máy bay từ San Francisco tới Los Angeles rồi từ đó kêu Taxi xuống Long Beach để lên tàu lúc 12 giờ trưa. Nhận thẻ, vô phòng xong, chúng tôi lên lầu 10 để lấy cơm ăn. Trên đó có mấy quầy thức ăn tự chọn. Mỗi người lấy mâm, dĩa, muỗng nĩa, xếp hàng tự lấy thức ăn cho mình rồi kiếm bàn trống ngồi ăn. Trái cây tráng miệng cũng có nhiều thứ. Nước uống thì có nước ngọt, cà phê, sữa tươi. Kem tươi cứ lấy ly hay bánh ống rồi đến nơi bình chứa mở vòi ra mà lấy bao nhiêu tùy thích.

Tàu chạy êm ru. Trên tàu không hề thấy lúc lắc, ly nước để trên bàn không hề chao. Phòng hai giường, nhỏ, nhưng đầy đủ tiện nghi: nhà tắm, tủ áo, hộp sắt để đựng tiền. Có 1 tivi và 1 bàn nhỏ. Phòng được dọn ngày 2 lần, drap, áo gối lúc nào cũng thẳng tưng. Khăn tắm còn được cuộn kiểu con voi, con thỏ rất đẹp. Mỗi người được nhận thẻ để mở đóng cửa và một thẻ có ghi số giờ và số bàn để dùng cơm buổi chiều trong nhà hàng trên tàu có thực đơn để khách chọn lựa. Đến giờ ăn, vô bàn là có người phục vụ chờ ghi nhận món ăn, sau đó mang tới. Trong một buổi ăn, có một cô gái mặc đồ cướp biển tới kề dao trên cổ từng thực khách để nhiếp ảnh gia chụp hình. Chiều hôm sau ảnh được bày dọc hành lang gần phòng ăn. Khách nào muốn lấy thì trả tiền. Không lấy cũng chẳng sao. Nhưng biết giá khá cao, đến 15 hay 20 đô cho 1 ảnh, phần ảnh cũng không đẹp, nên chúng tôi không lấy.

Phương tiện lên xuống bằng thang máy, mỗi tầng đều có hai dãy thang máy giống hệt như ở các khách sạn trên bờ. Tầng nào cũng bố trí giống nhau, nếu không nhớ số dãy được đánh đấu bằng 24 chữ cái thì rất dễ lạc. Trên tàu có những cửa hàng bán đồ lưu niệm, giày, dép, quần áo, mỹ phẩm, nữ trang, rượu, thuốc lá. Có phòng để khiêu vũ, có dàn nhạc với đàn piano và violon để ở giữa sảnh. Nhiều khách đứng chung quanh để thưởng thức.

Lần trước em tôi đi thì tàu ghé vịnh Mexico, nhưng lần này không ghé mà bày sòng bạc để dụ khách có máu đỏ đen.trên tàu. Chúng tôi lại hùn nhau mỗi người 20 đô để thử đánh roulette. Mỗi khách đổi l số phỉnh có màu khác nhau để khỏi lộn. Giá trị nhỏ nhất là 5 đô. Mỗi lần đặt ít nhất là 5 đô.

Lần đầu tiên trong đời tôi mới trông thấy bàn roulette. Lúc đầu, em tôi đánh, trúng được mấy ván. Có tay kế bên, có vẻ là người Tàu, thua tơi bời, thấy em tôi trúng nên cứ đợi em tôi đặt đâu thì theo đó. Không hiểu có phải vì lây cái xui của hắn ta hay không mà từ lúc bị hắn đặt theo, em tôi cũng thua luôn. Bọn tôi lại nghỉ sau khi thua hết tiền ăn cộng thêm một phần vốn! Rõ ràng là họ không ăn gian. Người nhà cái quay cái bàn, xong rồi quăng hột xí ngầu nghịch chiều với cái vòng xoay của bàn. Hột xí ngầu nhảy tưng tưng trong vòng quay, rồi từ từ chậm và dừng lại ở con số nào đó. Điều lạ là người đánh 1 thì trúng 2. Có đến mấy cửa ăn, nhưng không hiểu tại sao lúc nào cũng bị thua, rất ít khi ăn! Về phòng chúng tôi phục lăn một thanh niên Mỹ, còn trẻ. Không biết đứng canh sau lưng bọn tôi từ bao giờ mà đặt ngay một phát 100 đô. Anh ta trúng, lập tức đổi lại thành tiền mặt, biếu cho người chia bài 5 đô rồi biến khỏi sòng! Không biết nhỡ thua thì anh ta có đánh tiếp hay không. Nhưng đủ bản lĩnh để dừng ngay khi ăn được một chút của người chơi bài cũng không dễ. Có lẽ nhà cái sợ nhất những con bạc tỉnh táo như thế. Em tôi kể, chồng nó có lần kêu đưa 500 đô để đi thử thời vận, thua hết thì thôi. Nó bận gì đó nên kêu chồng đi vô trước. Chưa tới nửa giờ sau, chồng nó gọi, báo cho biết là đã ăn được 1.800 đô. Vậy mà chỉ vài phút sau nó tới là đã trả cả vốn lẫn lời cho chủ sòng, không còn 1 xu, tiu nghỉu ra về!

Bên cạnh sòng chúng tôi chơi có hai vợ chồng da đen đen, có lẽ người Mễ, mỗi người đánh 1 sòng. Đầu tiên thấy mỗi người có 1 cọc tiền phỉnh. Có lẽ chưa đầy nửa tiếng sau, nghe họ hỏi dealer có đổi tiền thẻ hay không? Rồi nghe trả lời là cứ 1.000 thì lấy được 800 tiền mặt! Không hiểu vợ chồng đó khi du lịch về sẽ trả nợ trong bao lâu!

Mới ăn cơm Tây có 2 ngày mà tôi và con gái thèm cơm Việt Nam nên bỏ xuất ăn trong nhà hàng để xuống ăn ở quày tự chọn, và mừng quá khi thấy có cơm trắng. Chọn ít rau và món gì đó có màu giống thịt kho, chúng tôi ăn ngon lành. Bữa khác thì chọn mì, rau, hải sản rồi mang tới cho đầu bếp xào tại chỗ. Tàu sắp đặt 4 đầu bếp với 4 cái chảo lớn, khách cứ chọn rồi lần lượt, tới phiên họ sẽ xào nóng hổi cho. Ăn xong, nếu thích thì bước ra ngoài có ban nhạc sống biểu diễn phục vụ. Buổi chiều cuối là bữa ăn đặc biệt, nhà hàng chiêu đãi món tôm hùm. Mỗi người được 1 con. Tối cuối cùng thì thuyền trưởng mời mọi người dự buỗi khiêu vũ, có sự xuất hiện của ông ta. Mọi người ai tham dự thì ăn mặc lịch sự. Chúng tôi không thích nên đi vòng vòng ngắm cảnh đêm, nhưng gió ở biển lạnh quá nên chẳng mấy chốc lại phải quay vội vô phòng.

Gần sáng nghe máy tàu chạy kêu lớn và tiếng xích thả neo thì biết tàu đang cập bến. Mọi người được yêu cầu rời khỏi tàu trước 10 giờ. Chúng tôi gom hành lý, kéo lên phòng số 8 để lên bờ. Mọi người cũng phải làm thủ tục y như lúc nhập cảnh Mỹ. Cũng hỏi có mang thịt, rau rươi, thuốc lá không? rồi cũng xem pass-port và soi vân tay rồi lên bờ. Chúng tôi đi Taxi về chợ Phước Lộc Thọ và đi loanh quanh ở đó, vì máy bay đến 3 giờ chiều mới bay.

Từ trước tôi chỉ thấy chợ này trong băng Hải ngoại, nay mới được nhìn được tận mắt. Trước chợ có hình của 3 ông Phước, Lộc, Thọ to tướng bằng đá màu trắng. Quanh chợ cũng là hàng ăn uống của người Việt, cũng bán các thức ăn của ta. Chúng tôi gọi 1 đĩa bánh bèo và 1 đĩa ốc len xào nước cốt dừa. Dĩa ốc giá 5 đô chắc được cỡ 20 con. Kể ra thì người Việt công phu thật. Mang được con ốc sang tận Mỹ ắt là cả một kỳ công. Nước Mía cũng 4 đô 1 ly, nhưng không đậm đà như ở Việt Nam, uống mà xót cả ruột, vì ở Việt Nam chỉ có 4 ngàn, mà sang Mỹ giá tăng lên đến 20 lần! Hột vịt lộn xào me cũng 4 đô. Con vịt có lẽ ngày mai sẽ chui ra nên lông phủ đầy mình. Không ăn thì tiếc tiền, mà ăn thì thấy ớn quá. Xào me mà không thấy vị me, chỉ nghe vị cary!

Chợ bán quần áo nhập từ Việt Nam. Hàng may sẵn, hàng thêu. Có cả áo dài cho trẻ con. Trên lầu có nhiều hàng bán Vàng. Giờ chúng tôi đến thì chưa mở cửa. Chợ cũng khá vắng. Người đi lưa thưa. Có một ông đồ ngồi viết chữ Thư Pháp, nhưng không có khách. Trước chợ có mấy bàn cờ tướng, có mấy người Việt hơi cao tuổi ngồi đánh với nhau cười nói rất thoải mái như ở nhà! Trước chợ có mấy cái mùng to và cao, màu mắm tôm nhạt, chứa cả một cái bàn với nhiều người ngồi, trên có ghi là hàng BÚN BÒ hiệu gì thì không nhớ. Có lẽ sợ mùi mắm tôm quyến rũ ruồi nhặng nên chui vô mùng ăn cho bảo đảm an toàn, vệ sinh.

Người bạn của con tôi lái xe đến đưa cả bọn đi ăn cơm Việt Nam ở một cửa hàng của người Việt bán, mà theo người này, quán này bán ngon nên người Việt ăn rất đông. Chúng tôi gọi cơm với canh chua, cá chiên, rau muống xào tỏi. Sau đó chúng tôi lên phi trường, chờ máy bay để quay về San Francisco.

Mới đó mà đã tới ngày quay về Việt Nam. Chuyến đi chỉ có 1 tháng, nhưng cũng đọng lại trong tôi khá nhiều kỷ niệm. Trước hết là chuyện gian lận tiền của cô thu ngân siêu thị A&A. Em rể tôi mua hàng hết hơn 40 đô. Đưa cho cô thu ngân 3 tờ giấy 20 đô. Cô ta cất gọn vô hộc xong chỉ thối cho đủ 50 đô. Em tôi phản đối, nói là đưa cho cô ta 3 tờ giấy 20 đô. Cô ta thì bảo có 50 đồng thôi. Em tôi yêu cầu kiểm tiền, thì cô ta nói sáng đến giờ bán hơn 180 đô. Cô ta mang hết tiền ra đếm, nhưng số tiền thối lúc nãy hơn 7 đô thì cô ta để riêng một chỗ, không đếm tới. Em tôi yêu cầu lấy ra đếm và đếm cả tiền lẻ trong hộc thì thấy cộng chung tất cả dư hơn con số 60 đô em tôi đã đưa. Cô ta lúc đó chấp nhận thối tiền cho đủ 60 đô. Nhưng khi em tôi ra xe thì cô ta lại chạy ra, nói là sở dĩ dư là vì tiền thối lại gì đó. Em tôi yêu cầu mời quản lý về để mở camera xem lại. Chuyện lằng nhằng đến độ em tôi tức, yêu cầu mời Police tới giải quyết. Lúc đó tay quản lý mới sorry, xin lỗi em tôi, đề nghị bỏ qua. Nhiều người nói siêu thị này đã có thời bị tẩy chay cũng vì lối tính tiền gian dối, mất một thời gian dài khách hàng mới quay lại.

Ngoài ra, điều mà tôi và chắc ai đặt chân đến nước Mỹ cũng đều ghi nhận: Đường sá rất sạch, không có lấy một miếng rác, và không thấy bóng dáng một công nhân vệ sinh nào. Không khí thì quá trong lành, không thấy chút bụi! Ngay cả trong chợ hay trên đường thì restroom cũng rất sạch sẽ. Con người thì rất lịch sự, dù ở siêu thị hay bất cứ đâu cũng đều xếp hàng chờ lượt, không có cảnh chen lấn. Va chạm một chút là lập tức sorry! Nước Mỹ rất là non trẻ so với chúng ta có đến hơn 4.000 năm văn hiến, nhưng về phần giáo dục công dân chúng ta so lại thấy kém xa các mặt này! Thỉnh thoảng ở vài ngã tư cũng thấy có vài người đeo bảng homeless. Đàn ông có, đàn bà có. Nhưng họ lặng lẽ ngồi đó, không có cảnh chạy theo hay đeo bám người qua đường để níu kéo, xin xỏ như ta! Hàng xóm thì êm ru, không hề nghe tiếng ồn ào, mở nhạc hay to tiếng của nhà kế bên. Có khi sáng ra lấy xe gặp mặt nhau cũng chỉ Hi một tiếng rồi mạnh ai nấy đi. Có lẽ không có chuyện “bán anh em xa mua láng giềng gần” như ở nước ta, mà mạnh ai nấy sống, chẳng ai quan tâm đến ai. Mỗi nhà vợ chồng con cái sống với nhau mà thôi. Có điều trật tự, an ninh tối đa. Chỉ cần ồn ào là có cảnh sát xuất hiện. Bạo lực với vợ con, chỉ cần 1 cú phone là xe cảnh sát tới còng tay đưa đi nhốt ngay! Đó cũng là việc xã hội quan tâm binh vực phụ nữ và trẻ con yếu đuối làm cho chúng ta thêm thiện cảm ngoài những cái lạ, cái hay mà tôi vừa được chiêm ngưỡng.

Qua tới Mỹ mới thấy cuộc sống bên đó tất bật biết bao nhiêu. Em tôi, làm chủ một tiệm uốn tóc và nails, sáng dậy ăn sáng sơ sài, uống chút cà phê rồi bới cơm vô hộp, lái xe mấy chục cây số tới tiệm rồi ở đó tới 7 giờ rưỡi, có khi đến 8 giờ tối mới lái xe về. Đến nhà là lập tức cho đồ dùng ở tiệm vô máy giặt, sấy rồi nấu chút gì đó ăn, xong rồi bật tivi xem chút xíu rồi ngủ. Cuộc sống như thế lập đi lập lại suốt từ ngày nó qua Mỹ. Đâu có thì giờ mà đi tham quan hay vui chơi. Đi ra tiệm là có tiền, nên tiếc ngày công! Cả ngày ở tiệm ngồi, đứng mỏi cả chân rồi, nên về nhà chỉ muốn nằm nghỉ ngơi. Bởi vậy lúc trước nó nói mua bộ salon mấy ngàn đô mà 2 năm chưa ngồi một lần ai cũng không tin! Nước Mỹ cạnh tranh bình đẳng, ai có học thức, tài năng là được trọng dụng. Vì thế, cháu tôi cũng có thể được kể vào loại tuổi trẻ mà thành đạt sớm. Mới vô làm ở Công Ty Siemens có 2 năm đã lên tới chức manager là điều không phải dễ đối với cả người Mỹ. Nhưng nó cũng làm tối mặt tối mũi ở công ty, có khi tới 10 giờ đêm chưa về, vì phải làm cho xong việc chớ không phải 8 tiếng như nhân viên bình thường. Vậy mà thu xếp để đưa bà dì nhà quê đi tham quan được nhiều nơi như thế là quý lắm rồi. Nghe nói có nhiều người Việt Nam qua đó thăm bà con rồi thấy chán ngắt, vì không phải ai bên đó cũng có thì giờ, tiền bạc và ngôn ngữ đủ thông thạo để đi chơi cho biết chỗ nọ chỗ kia.

Qua đó cũng được biết tất cả mọi người đều thân thiết với Ông Bill. Ai cũng phải gặp gỡ, trao đổi hàng tháng với ông. Do vậy mà thất nghiệp là một chuyện hãi hùng cho nhiều người! Thuyền to, sóng lớn. Mua nhà cho lớn thì tiền góp càng cao. Rồi thì cày nhiều jobs để trả nợ. Vòng quay đó cuốn mọi người, vì ai cũng phải làm thế. Nhiều người Việt chúng ta không hiểu người thân ở Mỹ kiếm đồng tiền khó khăn như thế nào, nên chỉ biết than thở để xin giúp đỡ. Hay có dịp người nhà ở Mỹ về, cho tiền ít thì chê, so sánh với bà con của người nọ người kia, về Việt Nam xài tiền như rác! Có lẽ những người đó cũng cần tận mắt chứng kiến cuộc sống ở Mỹ để thấy ở đâu kiếm đồng tiền cũng không đơn giản, cũng phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt! Họ phải tính toán, dè sẻn từng xu. Quần áo thì chỉ mặc đồ giảm giá. Chỉ cần cây xăng này đổ giá thấp hơn cây xăng kia một chút là họ sẵn sàng chạy tới dù có xa hơn một chút! Cái khác chăng là đồng lương bên đó trả tương xứng với sức lao động, đủ để chi phí cho cuộc sống. Tiền để ăn uống thì không tốn kém nhiều nếu tự nấu lấy, và về già có được tiền già, bảo đảm không chết đói dù con cái có bỏ rơi.

Chúng ta rất hãnh diện vì có rất nhiều học sinh, sinh viên xuất sắc, những người phấn đấu giỏi, làm ăn thành công, đóng góp cho xã hội nơi đã cưu mang họ, làm vẻ vang cho cộng đồng người Việt, được chính phủ Mỹ tuyên dương. Bên cạnh đó cũng có một số người lợi dụng chính sách dễ dãi của Mỹ, khai man để được hưởng trợ cấp, mà lại đi xe BMW, hay Lexus, đeo hột xoàn... làm cho chính người Việt với nhau cũng coi thường! Em tôi kể nhiều năm trước có trường hợp hai vợ chồng chủ một tiệm vàng bị một người vô bắn chết tại tiệm. Khi FBI tới điều tra thì phát hiện hai người này ăn trợ cấp. Người đứng tên làm chủ tiệm là một công nhân làm việc ở chỗ khác! Phụ nữ ở Mỹ càng đẻ nhiều càng được hưởng tiền trợ cấp nhiều, khỏi phải đi làm việc, nên nhiều người nói: chỉ cần thấy một phụ nữ dắt lòng thòng hai ba đứa con thì chắc chắn sống bằng tiền trợ cấp. Điều đó cũng góp phần làm cho nhiều người Mỹ đánh giá không tốt về người Việt chúng ta. Nhưng làm sao để tất cả mọi người đều ý thức trách nhiệm và biết tự trọng được!

Thời gian ở quá ngắn. Môi trường tiếp xúc cũng hạn hẹp nên tôi cũng chỉ ghi nhận được có bấy nhiêu.

Tháng 2/2012

Tâm-Nguyện

Cảm nghĩ về một thành phố bình yên:

Trẻ đẹp nhưng già giặn

Tính từ mùa xuân năm Mậu Dần 1698 tới nay là mùa xuân năm Nhâm Thìn 2012, Sài Gòn nay là thành phố Hồ Chí Minh tròn 314 tuổi. Đây là thành phố thứ hai của nước ta, đứng sau thủ đô Hà Nội (Thăng Long – Hà Nội), thành phố có trên 1.000 tuổi. Nằm ở hai đầu Tổ quốc, cách nhau khoảng 1.700 cây số đường bộ, hai thành phố có tầm vóc như hai anh em nhưng một quá già, một lại quá trẻ, hơn nhau gấp ba lần tuổi thọ. Nhưng thành phố Hồ Chí Minh vẫn là thành phố trẻ tính từ sau ngày miền Nam được giải phóng và thống nhất đất nước (1975).

Nếu tính đúng và đủ, con cháu vua Hùng ngày nay – dòng giống Tiên - Rồng và Lạc Hồng có nguồn gốc phát tích từng vùng đất thuộc lưu vực sông Hoàng Hà và chiếm lĩnh vùng tả ngạn sông phía bắc khu Tây (có tên Tây Ninh) ngang hàng với Hán tộc chiếm cứ khu Đông đất hoàng thổ (có tên Sơn Đông). Sau đó, người Kinh man thiên cư xuống phía Nam làm chủ nước Xích Quỷ quanh khu vực hồ Động Đình ngày nay, nơi cai quản của Kinh Dương Vương – vị vua đầu tiên thuộc 18 đời Hùng Vương và đời vua Hùng Vương thứ 6 từng chiến đấu chống giặc Ân thành công do công lớn của anh hùng tuổi trẻ Phù Đổng Thiên Vương và tới đời vua Hùng Vương thứ 18 thì đã định cư lập quốc sau cùng ở Phong Châu – Bạch Hạc nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Từ đó đến nay có trên 4.000 năm.

Cách đây hơn 1.000 năm, kể từ triều đại nhà Lý (Lý Công Uẩn), vùng đất cổ của Đại Việt (miền Bắc Bộ) được mở rộng dần xuống phía Nam tới Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long do công khai phá và chinh phục của hai đồng họ Nguyễn (Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn) hình thành nên Việt Nam thống nhất từ Bắc chí Nam cho tới ngày nay, trong một tiến trình lịch sử Nam tiến lâu dài: năm 1069 tới Quảng Bình - Quảng Trị thời vua Lý Thánh Tông (do vua Chăm là Chế Củ dâng đất Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính), tới năm 1780, cha con Mạc Cửu sáp nhập đất Hà Tiên – Rạch Giá vào Việt Nam thời Nguyễn Ánh.

Thành phố Sài Gòn cũ (Ville de Saigon) nay là thành phố Hồ Chí Minh (Hochiminh City) đã có một quy mô khá lớn và được xây dựng theo hoạch định vững vàng trên nền đất cũ kiên cố của thành Bát Quái (hay Quy) và thành Gia Định (Phụng) mà trung tâm hai thành này là khu đất nhà thờ Đức Bà nằm cạnh Bưu Điện Sài Gòn và trường Quản lý nông nghiệp cạnh đài truyền hình thành phố. “Trong thực tế, Sài Gòn chỉ là thủ phủ của miền Nam đất mới, tuy sinh sau đẻ muộn nhưng Sài Gòn đã phát triển vượt bực cả về dân số lẫn kinh tế… Theo quan niệm của Tây phương, của Pháp và của Nguyễn Ánh (lên ngôi vua niên hiệu Gia Long năm 1802) thì năm 1790 mới là năm khai sinh Thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) vì năm ấy là năm xây thành Bát Quái lập Gia Định kinh”. (Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB TP HCM, năm 1987, trang 185).

Thành phố Sài Gòn xưa thuộc vùng đất thôn Mỹ Hội (nằm trong thành Bát Quái) bắt đầu từ mé kinh Cây Cám (vàm Bến Nghé – cột cờ Thủ ngữ) chạy đụng làng Tân Khai (Chợ Sỏi), ranh đất ăn giáp đường Trường Tiền (nay là đầu đường Võ Văn Kiệt) nơi có cầu Mống và ngân hàng quốc gia Việt Nam, nay là miệng đường hầm sông Sài Gòn. Chợ Bến Thành xưa nằm bên bờ kinh Lắp (nay là đường Nguyễn Huệ), đôi ba lần bị cháy nên được dời về vị trí chợ Bến Thành ngày nay. Đường Lê Lợi cũng là con rạch bị lắp cùng với kinh Lắp đường Nguyễn Huệ làm nên “Bồn Kèn” (nay là vòng xoay trước UBND thành phố). Theo cụ Vương Hồng Sển ở sách “Sàigòn năm xưa”, Bồn Kèn là nơi lính Pháp thời bị chiếm đóng mỗi buổi chiều thường ra đây thổi kèn tây biểu diễn vài bản nhạc cổ điển cho thiên hạ nghe để nói lên thuở thanh bình giả tạo của Ville de Saigon vào những năm 1900.

Đúng ngày 1/1/1900, nhà hát thành phố (còn được gọi là nhà hát Tây) vừa xây xong được tiếp đón đoàn nghệ thuật Pháp sang biểu diễn đầu tiên. Khu vực Bồn kèn và nhà hát Tây thời ấy thường vang lên tiếng nhạc cổ tạo nên một không khí vui nhộn xa hoa của “Hòn ngọc Viễn đông” nổi tiếng với phố xá đông người qua lại.

Ngày nay, vẫn khu vực này, vẫn với âm thanh ấy nhưng lại thuộc về thành phố Hồ Chí Minh của một miền Nam thống nhất với cả nước và cùng cả nước đi lên xây dựng một xã hội “văn minh, hiện đại”. Nơi đây, trên thềm nhà hát thành phố, cứ mỗi sáng chủ nhật, lại có một đoàn nghệ thuật ca múa nhạc trình diễn trước công chúng nội địa lẫn nước ngoài, đủ các loại nhạc cụ, đủ các nghệ sĩ tân cổ với giọng hát lời ca trẻ hòa lẫn tiếng nhạc trẻ, vui tươi và ấm cúng. Từ 8 giờ đến 9 giờ, đoàn nghệ thuật sôi nổi biểu diễn trên thềm nhà hát xưa trong phong cách nay và phía dưới sân rộng thoáng rất đông người tụ tập, dừng xe ghé vào để chăm chú nghe ca, nghe hát và nghe nhạc thoải mái. Phía trước lại có nhiều ghế để cho khách ngồi thưởng thức văn nghệ miễn phí. Tất cả nói lên không khí của một góc phố bình yên của thành phố anh hùng, trẻ trung nhưng già giặn đầy kinh nghiệm sống của một thời chiến đấu và hy sinh trong quá khứ “Quyết tử cho thành phố quyết sinh” và ngày nay “Thực hiện nếp sống văn minh – mỹ quan đô thị”

Sài Gòn đã qua rồi thời bị giặc Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm vào đầu xuân năm 1859 và ngày 5/6/1911 thanh niên làng Sen (Nghệ An) Nguyễn Tất Thành (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) xuống tàu rời cảng Nhà Rồng ra nước ngoài tìm đường cứu nước và thành công trở về tại Pắc Bó (Cao Bằng) cùng với Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945) đến những năm miền Nam “đi trước về sau” anh hùng đánh thắng giặc Pháp đuổi giặc Mỹ trong chiến dịch lịch sử mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Từ đó tới nay, thành phố Hồ Chí Minh đã cùng cả nước tiến lên xây dựng đẹp hơn mười lần ngày xưa. Vào cuối năm 2011 và đầu xuân năm 2012, thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu đã chuyển mình đổi mới một cách kỳ diệu làm nên hệ thống đại lộ Đông Tây mang tên con người miệt vườn miền Tây Nam Bộ của “ngày 23 ra đi, sơn hà nguy biến” Võ Văn Kiệt với đường hầm sông Sài Gòn hiện đại nối liền đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương bỏ qua thời ngày xửa ngày xưa cô lái đò chèo đò đưa khách từ Bến Ngự (bến Bạch Đằng) sang chợ Thủ Thiêm với câu hò nên thơ chỉ còn đọng lại trong ký ức:

Bắp non mà nướng lửa lò

Đố ai ve được cô đò Thủ Thiêm !

Buổi sáng bình yên của thành phố được thưởng thức văn nghệ trước thềm nhà hát, rồi đứng trên cầu Mống ngắm nhìn bao quát một vùng trời sông nước và hệ thống cầu đường hiện đại của đất Bến Nghé năm xưa mà ngày nay là khu nhà cao tầng xinh xắn của quận 1, chúng ta mới cảm nhận hết tình tự dân tộc Việt Nam thấm sâu vào tim óc là dường nào!

Còn nữa, thành phố bình yên lại hiện ra ở một góc công viên văn hóa Tao Đàn mà xưa là vườn Tao Đàn hay còn gọi là vườn Bờ Rô, cứ sáng sáng chiều chiều có biết bao nhiêu người cao tuổi, thanh niên trai trẻ hội tụ ra đây để tập dưỡng sinh, hoạt động văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí thoải mái trong không khí trong lành của cây cao bóng cả “lá phổi” của thành phố với gió mát êm đềm. Đó là “sân chim” cứ sáng nào khoảng 7 - 8 giờ có hàng chục lồng chim đủ loại đủ kiểu của những người thích thú chơi chim đem tới, lớp treo lủng lẳng trên cành cây, giàn cao, lớp bày ra trên mặt đất để cho chim thi nhau hót. Tiếng chim hót, reo vang cả một vùng, nghe sao lảnh lót, ngọt ngào, ấm áp và yêu đời khiến cho cả trăm người ngồi uống cà phê cảm thấy thú vị vô cùng. Thú chơi chim là nét đặc trưng của bộ môn văn hóa nghệ thuật của người thành phố hình thành từ nhiều năm nay, diễn ra ở nơi này nơi nọ trở thành một truyền thống đẹp đặc trưng của người phương Nam.

Thành phố lịch sử hơn 300 năm mà nay nghe chừng như còn quá trẻ, quá đẹp, quá bình yên và quá nhiều tình tự dân tộc của ngày nào “Từ thuở mang gươm đi cứu nước – Miền Nam thương nhớ đất Thăng Long” hay xa hơn nữa: “Thuở thanh bình ba trăm năm cũ”.

Vương Liêm







Phụ Bản IV

SÁCH NÔM QUÝ HIẾM

Ở VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

XUÂN DIỆN

Cư trần lạc đạo phú

Đây là bài phú chữ Nôm sớm nhất trong văn học viết Việt Nam, và là một tác phẩm văn học Phật giáo tiêu biểu trong văn học Lý – Trần, do Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng tác khi còn tại vị. Văn bản được chép trong sách Thiền Tông bản hạnh (bản khắc in năm Cảnh Hưng thứ 6 – 1745).

Chi nam ngọc âm giải nghĩa

Đây là cuốn từ điển Hán - Nôm cổ nhất của Việt Nam. Cuốn sách được soạn trong thế kỷ XVII và hiện chưa xác định được chính xác thời điểm ra đời. Sách giải thích 3.394 mục từ ngữ Hán ra tiếng Nôm, theo lối nói có vần, chủ yếu là thơ lục bát.

Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh

Đây là bản chữ Hán diễn Nôm, khắc in trước năm 1730, dựa trên một bản đã có trước đó (vào khoảng cuối thế kỷ XV). Cuốn sách này là tài liệu quan trọng và tin cậy để nghiên cứu về chữ Nôm và tiếng Việt thế kỷ XV về trước.

Thiên Nam ngữ lục

Diễn ca lịch sử Việt Nam xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XVII, viết bằng chữ Nôm, gồm 8.136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ và sấm ngữ bằng tiếng Hán và 2 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú. Thiên Nam ngữ lục là tác phẩm văn học lớn, báo hiệu sự phát triển rực rỡ của truyện Nôm ở thế kỷ XVIII, XIX.

Truyền kỳ mạn lục giải âm

Đây là dịch phẩm văn học đầu tiên từ chữ Hán sang tiếng Việt do Nguyễn Thế Nghi thực hiện. Truyền kỳ mạn lục (bản chữ Hán) là tác phẩm văn học do Nguyễn Dữ sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ XVI. Tác phẩm có nội dung hiện thực sâu sắc và giàu giá trị nhân đạo, về mặt nghệ thuật, đây là bước phát triển đột khởi trong quá trình lịch sử của văn xuôi tự sự chữ Hán Việt Nam. Tác phẩm đã trở thành đề tài được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.

Truyền kỳ mạn lục giải âm đã được các nhà nghiên cứu Hoàng Hồng Cẩm, Nguyễn Quang Hồng dịch sang tiếng Việt.

Truyện Kiều

Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát do Nguyễn Du (1766-1820), nhà thơ lớn, đại thi hào dân tộc sáng tác dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Là kiệt tác của nền văn học trung đại, Truyện Kiều đã trở thành di sản văn chương vô giá của Việt Nam. Về mặt văn bản học, bản Kiều có niên đại cổ nhất là bản khắc in năm 1866, hiện có duy nhất một bản lưu tại Nhà Lưu niệm thi hào Nguyễn Du ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Các bản có niên đại muộn hơn là các năm 1870, 1871, 1872 và các bản sau nữa. Nghiên cứu văn bản học Truyện Kiều là một đề tài ngày càng thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà Hán Nôm học nổi tiếng ở trong và ngoài nước.

Lục Vân Tiên

Tác phẩm văn học đầu tay của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), một nhà thơ lớn của Việt Nam. Lục Vân Tiên được xuất bản lần đầu bằng chữ Nôm vào năm 1865. Tác phẩm gồm 2.082 câu thơ lục bát, ca ngợi chính nghĩa, cái thiện và mơ ước một xã hội công bằng, có đạo lý.

Chinh phụ ngâm diễn ca

Một tác phẩm văn học xuất sắc trong dòng văn học chữ Nôm. Khúc ngâm này là bản dịch sang chữ Nôm một tác phẩm viết theo thể từ khúc bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn. Tác phẩm của Đặng Trần Côn đuợc rất nhiều người dịch sang chữ Nôm, mà hiện có 4 bản dịch có đề tên nguời dịch (Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn).

Cung oán ngâm

Là khúc ngâm lấy lời oán thán về thân phận của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, là một kiệt tác của nền văn học cổ điển Việt Nam, được xếp vào hàng đầu của thể loại khúc ngâm – một thể loại văn học riêng của văn học trung đại Việt Nam. Tác giả của khúc ngâm này là Ôn Như Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), một võ quan, một nghệ sỹ cung đình đa tài sống dưới thời Lê – Trịnh.

Phạm Tài – Ngọc Hoa

Truyện Nôm khuyết danh, viết theo thể lục bát, gồm 934 câu, xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII. Truyện ca ngợi mối tình chung thủy giữa đôi trai gái dù phải trải qua bao trắc trở, hiểm nguy vẫn tìm mọi cách vượt qua và cuối cùng họ đã được sống bên nhau.

Luật chuyển sang chữ Nôm

Theo ghi nhận của thư tịch cổ, bộ luật sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là bộ luật Hình thư, soạn dưới thời Lý. Về sau, còn có Luật Hồng Đức (đời Lê) và Luật Gia Long (đời Nguyễn). Việt Nam không có bộ luật nào viết bằng chữ Nôm, nhưng hiện có các cuốn sách là bản diễn Nôm một số bộ luật, nhằm mục đích phổ biến luật pháp trong dân chúng.

Ca nhạc: Ca trù, Ca Huế, và các lối hát cổ truyền Việt Nam

Thanh điệu tiếng Việt là nhân tố gốc của sự hình thành âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Âm nhạc cổ truyền Việt Nam lấy thanh điệu và thơ là nhân tố khởi đầu. Và trong kho tàng di sản Hán Nôm, các sách về âm nhạc cũng khá nhiều như 34 cuốn về ca trù, một số cuốn về ca Huế và các loại hình dân ca khác. Đây là các bản chép lời thơ của các lối hát nói trên.

BĐ (st)

SỐ LƯỢNG VÀ CHỦNG LOẠI

THƯ TỊCH HÁN NÔM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội hiện quản lý 5.038 đầu sách và khoảng 30.000 đơn vị tư liệu bao gồm các loại như phim ảnh, bản rập các bài văn khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, biển gỗ. Đó là chưa kể những sách Hán Nôm, Châu bản triều Nguyễn, địa bộ, sắc thần, bia đá, thơ, câu đối, hoành phi… hiện còn rải rác trong trong dân chúng, ở các cung điện, lăng tẩm, đình chùa, các thư viện và cơ quan lưu trữ khác ở trong nước, các thư viện ở nước ngoài.

Về chủng loại, trước kia Lê Quý Đôn, rồi Phan Huy Chú, do chịu ảnh hưởng cách phân loại theo tứ bộ là kinh, sử, tử, tập của thư tịch Trung Quốc đều chia thư tịch Hán Nôm ra làm 4 loại, sau đó học giả người Pháp là Emile Gaspardone cũng phân chia như vậy, nên không thấy được sự phong phú và đa dạng của di sản Hán Nôm. Trần Văn Giáp, trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, với vỏn vẹn 428 đầu sách được giới thiệu, đã chia sách Hán Nôm ra làm 8 loại: 1. Lịch sử (số 1-165), 2. Địa lý (số 166-202), 3. Kỹ thuật (số 203- 212), 4. Ngôn ngữ (số 213-226), 5. Văn học (số 227-377), 6. Tôn giáo (số 378-391), 7. Triết học (số 392-411), 8. Sách tổng hợp (số 412-428). Theo Trần Nghĩa và F. Gros, trong số 5.038 đầu sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, có khoảng:

2.500 tác phẩm liên quan tới văn học;

1.000 tác phẩm liên quan tới sử học;

600 tác phẩm liên quan tới tôn giáo;

450 tác phẩm liên quan tới văn hóa, giáo dục;

350 tác phẩm thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội;

300 tác phẩm thuộc các lĩnh vực y dược, vệ sinh;

300 tác phẩm thuộc về lĩnh vực địa lý;

250 tác phẩm thuộc về lĩnh vực pháp chế;

80 tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật;

70 tác phẩm thuộc lĩnh vực kinh tế;

60 tác phẩm thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ, văn tự;

50 tác phẩm thuộc lĩnh vực toán lý;

40 tác phẩm thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, và một số lượng ít hơn bàn về kiến trúc, nông nghiệp, tiểu thủ công, hoặc mang tính tổng hợp.

Đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm

Nghiên cứu Hán Nôm chính là nghiên cứu toàn bộ thư tịch ở trong nước và nước ngoài, và tất cả các sắc thần, hương uớc, bia đá, chuông đồng, khánh đá, thơ, câu đối, hoành phi, biển gỗ… bằng chữ Hán và chữ Nôm hiện còn ở các cung điện, đền đài, lăng tẩm, đình thần, miếu vũ.

BĐ (st)

Gậy ông đập lưng ông

Đối phó với những mánh khoé tiểu nhân thì chiêu lợi hại nhất là “gậy ông đập lưng ông”. Hãy xem các vĩ nhân đã hạ gục đối thủ mình như thế nào

Bernard Shaw

Bernard Shaw vốn gầy gò, khắc khổ, trông có phần “hom hem”. Trong một buổi họp mặt, có vị chính trị gia béo tốt, hồng hào, y phục sang trọng và trang sức rất đắt tiền tới gặp và trêu:

- Này ông, người nước ngoài nào mà nhìn thấy ông thì chắc họ sẽ nghĩ dân Anh phải chịu đói kém, khổ sở lắm!.

- Và rồi khi nhìn sang ông, họ hiểu ngay nguyên nhân của sự đói khổ đó là do đâu!

Albert Einstein

Albert Einstein nói về thuyết tương đối của mình, có một anh chàng hay nghi ngờ hỏi:

- Trí thông minh của người mạnh khỏe như tôi không thể chấp nhận những cái mà nó không nhìn thấy.

Einstein đứng yên lặng một lúc rồi trả lời:

- Được, điều đó có vẻ có lý lắm. Bây giờ ông đặt trí thông minh của mình lên bàn đây để tôi có thể tin rằng đó là sự thật.

Voltaire

Vua Phổ Frederic Đệ nhị mời Voltaire đến thăm cung điện. Rất nhiều quan trong triều đình thèm muốn sự ưu đãi này của vua Phổ đối với nhà văn. Một vị cận thần đặc biệt rất ghen tị với Voltaire đã viết trên cửa ra vào của nhà văn một dòng chữ rất to “Chó đểu”.

Voltaire đoán ngay kẻ muốn lăng mạ mình. Ngay lập tức, ông trở lại nhà gã cận thần nọ và nói rất lịch sự với gã:

- Thưa ngài, tôi xin lại thăm đáp lễ ngài. Tôi đã được đọc “Danh thiếp tên ngài” trên cửa nhà tôi. Tôi vô cùng tiếc là đã không ở nhà khi ngài đến thăm!

Winston Churchill

Winston Churchill vốn chẳng được phụ nữ Anh yêu mến. Có một bà nói thẳng với ông:

- Nếu tôi là vợ ông, tôi sẽ cho ông uống thuốc độc.

- Nếu tôi là chồng bà, tôi sẽ uống nó ngay

Hans Poelzig

Kiến trúc sư nổi tiếng Dresden (Đức) trong những năm 30 của thế kỷ trước là Hans Poelzig có tên trong Hội đồng thành phố nhưng ít khi tham dự những cuộc họp. Một hôm trong cuộc họp hội đồng có người phát biểu:

- Giáo sư Poelzig, ủy viên hội đồng nhân dân Thành phố rất ít khi có mặt trong các buổi họp.

Kiến trúc sư không khoan nhượng trả đũa ngay:

- Các ông sử dụng cái đầu hay cái đít của tôi?

Moritz Saphir

Một nhà thơ vốn ghét Moritz Saphir nên dè bỉu rằng:

- Thưa ngài Saphir, ngài viết chỉ vì tiền. Còn tôi viết vì danh dự!

Ông từ tốn đáp:

- Mỗi chúng ta viết cái mà chúng ta thiếu!

Đàm Lan

50 Lý Do Để Bạn Có Gia Đình


1. Khi bạn kết hôn, bạn sẽ có một cái cớ để ném tất cả những điều vớ vẩn qua một bên.

2. Bạn sẽ cố gắng duy trì cuộc sống hạnh phúc và nhận được những món quà bất ngờ từ người chồng/vợ của mình.

3. Nếu bạn mua một cái gì đó ngon, bạn có thêm một người để có thể cùng vui vẻ vừa ăn vừa nô đùa với nhau.

4. Bạn kết thúc công việc và gấp rút trở về nhà trong niềm hạnh phúc bởi ngôi nhà đã có thêm người thứ 2.

5. Bạn có thể làm việc trên những đóng góp, xây dựng ý kiến và lên kế hoạch… cùng nhau.

6. Bạn không còn phải xem phim và hát lẩm bẩm một mình ở nhà nữa.

7. Bạn đột nhiên có một cái cớ để di chuyển đến một nơi ở mới lớn hơn.

8. Bạn có một lý do để xây dựng cho mình chế độ ăn lành mạnh.

9. Bạn có lý do để qua đêm cùng chàng/nàng của bạn thay vì xem một bộ phim để tạo cảm giác ảo cho mình.

10. Bạn không còn phải nếm trải cay đắng, ngậm ngùi trong ngày Valentine nữa.

11. Gia đình của bạn sẽ lớn hơn.

12. Bạn sẽ có một người để có thể cùng đồng hành với mình trong mọi chuyến đi.

13. Bạn có một người nào đó để cùng khám phá thế giới.

14. Bạn sẽ có lý do để sự lộn xộn, bừa bãi trước đây của mình có được sự kiểm soát.

15. Bạn sẽ có một ai đó để chia sẻ về những giấc mơ và sự tưởng tượng của bạn.

16. Bạn có thể lắng nghe các vấn đề của nhau và cùng giúp đỡ lẫn nhau.

17. Bạn sẽ có thêm một người cùng đánh giá, xem xét mọi vấn đề trước khi bạn đưa ra quyết định cuối cùng.

18. Bạn sẽ có một người cùng thưởng thức thú vui, niềm đam mê âm nhạc của bạn.

19. Kết hôn đồng nghĩa với việc bạn sẽ có chiêu cực hay để chữa đau đầu bằng việc đạt cực khoái trong...

20. Nếu bạn kết hôn với một người có tôn giáo, bạn sẽ có những lợi ích thú vị từ tôn giáo đó.

21. Khi kết hôn, bạn sẽ có “hai mình” khi đi chơi với nhóm bạn bè của mình.

22. Đột nhiên, vào lúc nửa đêm bạn thèm một chiếc bánh pizza, bạn sẽ có người cùng chia sẻ sở thích kỳ quặc đó.

23. Bạn có thể uống bia với một người còn thân thiết và khác hơn so với bạn bè của bạn.

24. Bạn bè của bạn không phải là người duy nhất sẽ phải lắng nghe những than vãn của bạn nữa.

25. Bạn có một người nào đó để cùng đọc một cuốn sách hay và đưa ra những bình luận.

26. Bạn có một người nào đó sẽ níu giữ bạn lại nếu bạn đang rơi vào tình trạng bế tắc, khó khăn.

27. Bạn có thể học cách thỏa hiệp.

28. Bạn có thể học cách lắng nghe và hiểu biết.

29. Bạn có một cái cớ để viết thư tình và khiến người ấy loay hoay tìm kiếm.

30. Bạn sẽ có một người mà bạn có thể hôn cho đến khi mặt trời lặn và chờ đợi bình minh lên.

31. Bạn sẽ có một người để nói chuyện về quá khứ của bạn.

32. Bạn không còn phải ngủ một mình với chiếc gối ôm của bạn.

33. Bạn có cơ hội để dạy cho người nào đó những việc khác nhau.

34. Bạn không còn phải điền dòng chữ “độc thân” vào hồ sơ cá nhân của mình nữa.

35. Bạn nhận thấy có một người quan trọng hơn tất cả mọi lợi ích.

36. Bạn không cần phải đi ra ngoài và trả tiền cho dịch vụ massage nữa.

37. Đột nhiên, bạn có thể nhận được những cái ôm khá bất ngờ vào những lúc bạn cần.

38. Bạn không còn phải lo lắng về việc bị gọi là "ế”.

39. Bạn có lý do để nấu ăn thay cho việc suốt ngày ăn đồ hộp hoặc đồ đông lạnh.

40. Bạn luôn có một người để ăn mừng thành công với bạn.

41. Bạn có thêm một người mở đường cho những thành công đến với mình.

42. Bạn luôn có một người đứng bên cạnh trong thời điểm khó khăn.

43. Bạn sẽ được mua tặng một con thú cưng như một món quà bất bất ngờ dành cho bạn.

44. Bạn có một cái cớ để giữ cho vóc dáng của mình cân đối.

45. Người kết hôn thường hạnh phúc hơn những người bình thường.

46. Bạn không còn phải quá lăn tăn khi bước vào các cửa hàng dành cho người lớn.

47. Bạn có một người cùng tắm trong không gian lãng mạn có ánh sáng của một ngọn nến.

48. Bạn sẽ không còn phải lăn tăn đâu là vấn đề, giải pháp duy nhất.

49. Bạn không cần phải “đóng băng” mình bằng việc giữ quá nhiều điều bí mật nữa.

50. Bạn có thêm một người để chia sẻ việc chăm sóc cha mẹ mình.

Bs Nguyễn Lân Đính st

THANG THUỐC BỔ CỦA VUA GIA LONG

QUA MỘT TỜ CHÂU BẢN

PHAN THUẬN AN

Châu bản là những tờ văn kiện viết tay do các cơ quan nhà nước dâng lên cho vua duyệt khán và ghi chép ý kiến ngắn gọn của mình vào đó bằng mực đỏ (gọi là châu phê), rồi gửi trả lại cho các cơ quan cấp dưới để thi hành. Châu bản thuộc loại tư liệu gốc, tư liệu bậc một, rất quý báu và hữu ích đối với việc nghiên cứu về triều đại mà chúng được hình thành.

Cho đến năm 1945, triều Nguyễn đã tích trữ được khoảng 1 triệu trang châu bản thuộc các thời vua từ Gia Long (1802-1819) đến Bảo Đại (1926-1945).

Nhưng kể từ đó, trải qua bao cơn binh hỏa, phần lớn khối lượng tư liệu đồ sộ ấy đã bị thất thoát, hư hỏng. số còn lại, khoảng 1/5, với trên 600 tập, mỗi tập chừng 300 trang, thì phải lưu lạc từ Huế lên Đà Lạt năm 1964, từ Đà Lạt về Sài Gòn năm 1978, rồi từ Sài Gòn ra Hà Nột năm 1991.

Dưới đây, chúng tôi chỉ xin giới thiệu nội dung của một trong hàng trăm ngàn tờ châu bản nói trên. Tờ châu bản này liên quan đến thang thuốc bổ mà Thái Y Viên đã dâng lên cho vua Gia Long dùng.

Trong quyển “Mục Lục châu bản triều Nguyễn, tập thứ I, triều Gia Long”, được thực hiện tại Huế vào năm 1960, tờ châu bản ấy đã được tóm tắt bằng một câu như sau:

“Ngự y phó Viện Thái Y là Đoàn Văn Hòa tâu v/v án mạch và cắt đơn thuốc thất vị phương thang”.

Bản gốc của tờ châu bản này có 2 trang, gồm 279 chữ, trong đó có 21 chữ thủ bút của vua Gia Long. Lời châu phê của vua đã được viết với cỡ chữ lớn hơn và nét to hơn những dòng chữ khác.

Chúng tôi xin dịch nghĩa toàn văn của tờ châu bản như sau:

“Thần, Phó ngự y ở Thái Y Viện, tên là Hòa, Đoàn Văn Hòa, xin cúi đầu sát đất lạy trăm lạy, kính tâu:

Sau khi xem mạch hoàng thượng, chúng thần nghiệm thấy các mạch lục bộ đều hơi trầm và yếu, chỉ có mạch của thận (trái cật) là tương đối được. Ba mạch bên phải cũng hơi trầm và yếu. Nhưng, mạch của tỳ (lá lách) thì trở nên yên lành và hơi khá hơn là ngày mồng bốn vừa rồi.

Theo như chúng thần nghiệm thấy được, chúng thần kính dâng lên hoàng thượng thang thuốc thất vị có gia giảm, dùng vào buổi sáng và buổi chiều, để làm cho khí thận mạnh lên, và thang thuốc thọ tỳ có gia giảm, dùng trong ngày, để tăng sức cho tỳ.

Với tấm lòng đầy kính úy chân thành, chúng thần xin dâng tờ khải này lên hoàng thượng.

Thang thuốc thất vị có gia giảm, dùng vào buổi sáng và buổi chiều:

Thục địa 2 chỉ

Hoài sơn 3 chỉ

Du nhục 7 phân

Phục linh 5 phân

Nhục quế 3 phân

Ngũ vị 1 phân

Liên nhục 5 phân

Thố ty tử 3 phân

Nước một chén 5 phân, sắc còn 6 phân, dâng lên hoàng thượng dùng xa các bữa ăn (nghĩa là uống lúc bụng đói).

Thang thuốc thất vị có gia giảm, dùng trong ngày:

Sa sâm 2 chỉ

Bạch truật 1 chỉ 5 phân

Hoàng kỳ 1 chỉ

Hoài sơn 2 chỉ

Chích thảo chút ít

Toan tảo 3 phân

Viễn chí 2 phân

Bào khương 2 phân

Liên nhục 3 phân

Ô mai 2 quả

Thăng ma sao 1 phân

Nước một chén 5 phân, sắc còn 6 phân, dâng lên hoàng thượng dùng xa các bữa ăn.

(Lời châu phê của vua Gia Long): Đến ngày đông chí, khí dương (của trời đất) đã trở lại, chính nhờ thuốc này mà thu được công hiệu. Ta vui mừng khôn xiết.

Ngày mồng 6 tháng 11 năm Gia Long thứ 18.

Đề vào tờ khai này trong cùng ngày tháng ấy. Nội Hàn thần là Trần Công Tuân, kính tuân theo lệnh của hoàng thượng, đã đọc qua để biết.

Thần, Đoàn Văn Hòa, ký (và đóng dấu).

Trong tờ châu bản này, có đóng khá nhiều khuôn dấu của cơ quan và viên chức liên hệ, kể cả dấu giáp lai.

Nhận thấy tờ Châu bản trên đây thuộc loại tư liệu quý, chúng tôi xin giới thiệu vắn tắt như vậy để các nhà nghiên cứu có thể căn cứ một phần nào đó mà sử dụng vào những phương diện khác nhau ví như các nhà nghiên cứu y dược học. Và, nếu bạn đọc nào thấy thang thuốc bổ ngự y ấy thích hợp cho thể trạng của mình, thì đem toa đi mua về để sắc uống cho luôn.

Nhưng trong thời đại mà đất hoang bạc màu, chất lượng cây thuốc khi trồng cũng như khi thu hoạch chắc chắn không đủ chất như khi xưa nên chưa chắc đã hiệu nghiệm “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử”.

BĐ (st)

Những dấu chấm câu


Có một người chẳng may đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản.

Sau đó, không may, anh ta lại làm mất dấu chấm than. Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sụ thờ ơ đối với mọi chuyện.

Kế đó, anh ta đánh mất dấu chấm hỏi và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay trên mặt đất hay ngay trong nhà mình mà anh ta không biết, anh ta đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thiếu quan tâm với mọi điều.

Một vài tháng sau, anh ta đánh mất dấu hai chấm. Từ đó anh ta không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa. Anh ta đổ lỗi cho tất cả, trừ chính mình.

Cứ mất dần các dấu, cuối cùng anh ta chỉ còn lại dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.

Cứ như vậy, anh ta đi đến dấu chấm hết.

Thiếu những dấu chấm câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm câu trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.

Mong bạn hãy giữ gìn những dấu chấm câu của mình, bạn nhé!

MĐ st

Một cách xử sự


Mr.Thomas là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ cả.

Một hôm ông thấy vợ mình, bà Thomas sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John - một tá điền của ông - để mượn một cái bào rau củ. Sau khi người này đi khỏi, ông hỏi vợ:

- Anh không nghĩ rằng nhà ta lại không có một cái bào hay không đủ khả năng mua mà em lại sai người đi mượn cho thêm phiền phức như thế.

Bà Thomas từ tốn trả lời:

- Đây, anh xem, cái bào của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người ở vùng này đều yêu quý chúng ta vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm. Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Như vậy chuyện cái bào rau củ chỉ là cái cớ để anh và em đến gần với mọi người hơn mà thôi.

Hoàng Chúc st


MÊNH MÔNG CHIỀU VÀNG

Nằm về phía gần cuối con đường Nguyễn Công Trứ, quán cà phê có cái tên nghe thật êm đềm, hiền dịu “Yên Nhung”.

Chủ quán quả là người có óc mỹ thuật. Dựa vào cấu thể địa hình, quán được bài trí thật đặc biệt. Khuôn viên chính của quán như rơi vào giữa thung lũng xanh. Ngăn giữa đôi bờ là một con suối nhỏ, dòng chảy thoai thoải, đôi khúc uốn khéo, đủ để tại nên một âm thanh róc rách, rủ rỉ như một bản nhạc không lời. Con suối chia đôi hai sườn đồi. Tạm gọi Nam đồi và Bắc đồi. Phía Nam đồi, thẳng xếp từng hàng cây cà phê ngắt xanh, từ trên cao nhìn xuống, người ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến một đoàn quân đang rùng rùng ra trận. Vào mùa hoa trổ, thì dù ai khó tính đến đâu, cũng phải nghiêng mình đánh rơi mảnh hồn giữa rừng hoa phô sắc khoe hương, chao đùa với gió. Nhất là vào lúc những tia nắng đầu tiên trong ngày xuất hiện. Cả vườn hoa không khác gì những nàng tiên nữ đang nhởn nhơ xiêm áo vẫy lượn. Mùa quả chín thì khác, thư khách có thể an nhàn ngồi nhâm nhi từng giọt cà phê đậm đà đặc quánh nơi Bắc đồi, mà thỏa thuê tầm mắt chiêm ngưỡng bức tranh tuyệt bích của thiên nhiên. Bức tranh sống động ấy được phối màu một cách rất tài tình. Những chùm quả đỏ rực ôm tròn những cành nhánh, chập chờn giữa màu xanh của lá. Lấm chấm trong mảng đỏ xanh ấy là sắc trắng điểm của một vài nụ hoa dậy thì. Cả ba gam màu đều có sức mạnh tuyệt đối, nhưng khi được đan phối vào nhau thì chúng trở nên thật hài hòa, viên mỹ. Thiên nhiên quả là một họa sĩ đặc biệt tài hoa, tài hoa đến độ bất kỳ một bậc danh họa nào cũng phải buông lời cảm thán.

Phía Bắc đồi, đây mới là công trình đáng kể của người kiến tạo. Những dãy bàn được kê xếp theo lối bậc thang. Những mô hình “tổ ấm chim câu” được nhã ý ưu tiên vào những góc khuất lặng, đủ bảo đảm một thế gới riêng cho hai người. Xa xa hơn chút nữa là những chiếc bàn đôi, thanh thản dưới bóng dù hoặc mái lá che tầm tầm vừa không khuất người. Những chiếc bàn này chủ yếu được đặt ở những tầng dưới cùng, nơi đối diện với toàn cảnh đồi Nam. Khu vực này hầu như dành riêng cho những vị khách ưa xuất hồn đi mây về gió. Đa phần họ chỉ ngồi đấy ưu tư một mình, nếu có hai người thì cũng phải có chung một cảm sắc, âm thanh chất giọng gần như ít có cơ hội được góp mặt nơi đây. Nếu đi với một nhóm bạn đông hơn, thì sẽ có một số vị trí có mặt bàn hơi tròn, rộng, bằng đá nhẵn hay một gốc cây to cắt ngang, chung quanh là những chiếc ghê mây thon nhẹ. Loại bàn chung này được kê đặt ở hai tầng trên cùng, vừa có thể thả tầm mắt quá cảnh toàn phần, vừa tự nhiên trò chuyện mà không phải giật mình, e dè vì những tiếng nói cười vô tư của mình làm khuấy động không gian riêng của ai đó. Xen giữa các lối đi là đủ các loại hoa, cây cảnh, rất phong phú về cả màu sắc, kiểu dáng lẫn tầm độ.

Tôi thường đến quán vào lúc nắng chiều đã nhàn nhạt. Chỉ cần dựng xe xong, giơ tay chào cô chủ quán rồi đi về phía chỗ ngồi quen thuộc, là khoảng hai phút sau sẽ có một phin cà phê đang chậm rãi nhỏ từng giot đen sậm, thơm nồng. Gu cà phê của tôi thường được cô chủ quán chú ý hơn những người khác. Đó là lượng cà phê bọt phải nhiều hơn mức bình thường, sau khi chảy hết xuống ly, thì ly cà phê ấy lại ngâm vào nước sôi, vì thế, kèm theo phần cà phê của tôi là một chiếc bình thủy nhỏ. Không biết tôi có thuộc lọai quá cầu kỳ hay không? Nhưng quả thật là vô cùng vô vị khi hớp phải một ngụm cà phê vừa loãng vừa nguội. Nếu cầm ly cà phê của tôi mà lắc khẽ, thì phải ít giây sau, lớp cà phê bám trên thành ly mới xuôi dần xuống hết được. Mỗi lần được nhấp một ngụm cà phê sóng sánh, đầm đậm vừa độ nóng, tôi thấy trong người thật khoan khoái dễ chịu. Vô cùng cảm ơn thổ nhưỡng của quê hương, đã đưa hạt cà phê thành cây công nghiệp mũi nhọn của tỉnh nhà, và hương vị thì bay xa tận ngoài biên giới.

Nơi tôi thường ngồi là dãy bàn đối diện với đồi Nam. Rất hài lòng với vị trí mình đã chọn, ngồi đây tôi tha hồ được tận hưởng những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng, tha hồ mặc mảnh hồn phiêu diêu đến tận cõi xa xanh nào. Nhất là vào cái khoảng không gian bảng lảng, tạn mạn của trời chiều, trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối ở chung quanh. Bởi vào cái giờ nhỡ nhàng này, chẳng mấy ai lại đi ném quỹ thời gian của mình vào chốn ưu trầm, tư tịnh như nơi đây. Họa chăng chỉ những kẻ trót mang một nghiệp chướng như tôi thì mới cảm thấy nơi đây, vào lúc trời chiều này là cả một thiên đường, Không gian như say, cảnh vật như say, ông mặt trời cũng như say, thì lẽ nào một kẻ luôn yêu thích, luôn chắt chiu những nét đẹp của đời sống cho lâng lâng một cõi tâm hồn lại không say. Thường thì tôi ra đây dể tìm cho mình một cõi riêng, dù tạm bợ, nhưng cũng đủ cho tôi hóa giải những ưu tư, băn khoăn hoặc rối rắm trong lòng. Thật quá rẻ khi chỉ bằng giá một ly cà phê mà lại mua được nhiều đến thế.

Mọi lần tôi vẫn thao túng sự tự do của mình cho đến khi chiều sẫm, khi bóng hoàng hôn đã dang rộng vòng tay ôm choàng vạn vật. Nhưng hôm nay, khoang trời tự do của tôi bị phá vỡ, hay nói đúng hơn là cõi riêng của tôi có sự đột nhập của một kẻ lạ mặt. Oái oăm ở chỗ tôi không thể trưng ra cái quyền sở hữu đặc biệt này, lạ nữa là hình như tôi cũng không có tí ti ý định trục xuất hắn thì phải. Hắn ngồi hơi chênh chếch hướng tôi, nên tôi chỉ có thể nhìn hắn theo chiều nghiêng nghiêng. Tôi tò mò quan sát hắn, chỉ riêng một chi tiết ngồi nắm cảnh với một cặp mảnh chai màu rêu đậm sù sù trên mắt đã đặt cho tôi một dấu hỏi to tướng rồi. Ai lại phí hoài một cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ thế mà lại nhìn qua một lăng kính tối sầm sầm. Vì sao thì chắc tôi có thể tìm được lời giải đáp sau. Hắn có một mái tóc dài, tuy khoảng cách hơi xa, nhưng tôi vẫn có cảm giác là êm và mượt lắm, hẳn là hắn rất siêng xem chương trình truyền hình quảng cáo dầu gội đầu lắm. Khuôn mặt hắn, dù chưa có điều kiện ngắm chính diện, tôi vẫn có thể cam đoan rằng khá xinh. Nếu nhiễm bệnh nghề nghiệp một tí, chắc tôi sẽ tả mũi hắn cao, mắt hắn trong, và đôi môi thì chắc chắn phải hồng, vì thay vào cái màu hơi thâm thâm khói thuốc như tôi, sẽ là môt chút son phơn phớt, nếu là loại son gió nữa thì khỏi nói, chỉ cần thoa nhẹ, khi gặp gió sẽ dậy lên một màu hồng tươi điệu đàng. Người hắn hơi mảnh, vì chiếc ghế hắn ngồi vẫn còn thừa một khoảng (chắc đủ chỗ cho tôi đấy nhỉ) . Mảnh hồn hoang của tôi hôm nay lại ngoan ngoãn chịu ở nhà, và nó đang bận rộn giải trình hiện tuợng. Lý do gì mà hắn có mặt ở đây vào giờ này nhỉ? Bởi là giờ cao điểm của “thiên chức” mà. Hay hắn có mẹ để nhõng nhẽo, có chị để cậy nhờ? Không lẽ hắn có cùng một lý do như tôi? Ờ mà sao tôi bỗng nhiên vô lý thế? Có thế nào thì cũng là việc của hắn, liên quan gì đến tôi. Chẳng qua cái tính tò mò và hay lan man tâm tưởng làm vấn víu cái thằng tôi ấy mà. Nghĩ thế, nhưng tôi lại chẳng thể bứt khỏi sự suy tư về nhân vật lạ ấy. Bẻ gãy bao giả thiết, tôi vẫn không thể nào chọn được một sự lý giải mà có thể cho rằng hợp lý nhất, về thủ phạm phá vỡ cõi riêng và gieo cho tôi những vẩn vơ khó hiểu. Chỉ có mỗi một cách là nhấp nhấp đôi chân, băng qua những dãy ghế, đến gần với một lời hỏi han thật lịch sự. Nhưng cái ý định đó cứ chùng chình trong tôi, đường đột mà đi hỏi han một người chưa quen biết với những câu không đầu không cuối thì quá là vô duyên, vô lý. Vả lại người ấy dường như cũng đang có gì ngẫm ngợi lắm thì phải. Suốt bao lâu mà tôi chả thấy lắc lư tẹo nào, cũng chả thèm nhích cái tia nhìn sau cặp “Rạng đông” kia sang hàng xóm tí cho tôi có cớ gật đầu chào làm quen. Mà thôi, đừng nghĩ ngợi vớ vẩn nữa, nếu người ta đã muốn tĩnh lặng một mình, thì sự quấy rầy, cho dù là rất lịch sự đi nữa, vẫn là điều không nên một chút nào. Với mình cũng vậy thôi. Nên những gì mình đã không muốn thì đừng nên đem đến cho người khác, đó là nét văn hóa ứng xử tối thiểu nhất đấy. Tự nhắc nhở mình thế rồi tôi bỗng bật cười, người kia mà biết những gì lủng củng trong tôi nãy giờ chắc buồn cười lắm đấy.

Nắng chỉ còn sót lại vài tia lấp lóe, ông mặt trời đã ngà ngà, những cụm mây đã buông màn rủ trướng cho ông. Mọi lần thì giờ cũng là lúc tôi gửi lại bóng chiều cái chỗ ngồi của mình, nhưng hôm nay thì nán nán một tí nữa, may ra chút cùng đường ra quầy thanh toán sẽ tiện làm quen. Bỗng có một cô gái hiện ra trên lối đi, từng bậc bước xuống đến cạnh người ấy ghé tai nói nhỏ điều gì. Tôi như cảm thấy rất rõ sự miễn cưỡng của người ấy khi đứng dậy và đưa tay cho cô gái mới đến nắm. Tôi kinh ngạc đến sững sờ. Chúa ơi! Hắn – người kia – cô gái ấy là một người khiếm thị. Hai cô gái chầm chậm bước lên từng bậc, từng bậc, bước chân tôi cũng tự nhiên mà đưa theo. Cơn choáng qua nhanh, không hiểu tại sao, ma xui hay quỷ khiến mà chiếc xe tôi cũng bon bon sau xe hai cô gái một đoạn, rồi tần ngần trước cánh cổng có một màu tím lênh loang của một giàn hoa. Đêm đến, tôi không thể nào dỗ mình vào giấc ngủ. Hình ảnh cô gái khỉếm thị ban chiều cứ ám ảnh, bao câu hỏi cứ chập chờn truy vấn tôi. Có vẻ sự khiếm thị của cô ấy không phải là từ bé, có vẻ như cô ấy đã từng biết khuôn viên cảnh vật của quán cà phê ấy, có vẻ cô ấy có một cảm niệm hay ấn tượng gì khá gắn bó với cảnh trí ấy. Bởi nếu chưa từng, thì không thể nào cô ấy lại đến đấy với một dáng vẻ đầy tâm trạng như vậy. Không chỉ do điều mà thường gọi là “bệnh nghề nghiệp”, mà từ bé, tôi luôn bồi hồi cảm trạng trước những hình ảnh không may của cuộc đời. Tôi trắc ẩn thương tâm cả trước cái chết của những con vật, mẹ tôi thường thở dài bảo “Mày rồi đa đoan lắm thôi con ạ, đàn ông con trai mà yếu đuối tình cảm quá”. Tính tình cũng như những điều bắt đầu cho một đời sống con người đều không phải là sự tự lựa chọn, phải sao thì hay vậy. Cho dẫu khi lớn lên, tôi cũng không đến nỗi ủy mị gì, nhưng so với các bạn trai, tôi sống thiên về sự trầm lắng nội tâm hơn. Để rồi thầm lặng đi vào một loại hình công việc mà với những người giỏi tính toán luôn cho rằng viễn vông, hoang tưởng, bềnh bồng mây gió. Một thứ công việc không làm cho cái túi của tôi đầy đặn lên, nhưng luôn đem đến cho đời sống tinh thần của tôi những cảm xúc rất đẹp, những điều mà tôi biết, nếu có tiền cũng chưa chắc gì mua được, và tôi rất trân trọng nó. Còn suy nghĩ của mọi người tôi không quan tâm, vì họ không phải là tôi, làm sao họ hiểu được tâm tư, cảm thức của tôi là gì. Khi đã là môt sự lựa chọn, lại là sự lựa chọn có phần mặc nhận của số phận, thì mặc nhận cả những buồn vui, hay dở, được mất của nó. Tôi vốn không tin vào những khả năng ngoài thực tế, nhưng tôi có một linh giác rất nhạy, trực cảm thường báo trước cho tôi những can hệ, không phải lúc nào cũng đúng, nhưng có thể nói là đa phần dự cảm báo đúng. Nên trong trường hợp này, tôi mơ hồ thấy có một cái gì đó không thể bỏ qua. Hay do sự mẫn cảm thái quá mà tôi cảm thấy vậy chăng? Không, không hẳn thế. Chỉ với một góc nhìn đơn giản, một suy luận thông thường, cũng có thể hiểu được phần nào những trúc trắc của một số phận, và vấn đề không chỉ từ những gì đã diễn ra, mà còn cả những gì đang tiếp diễn. Bởi bàn chân con người luôn quay những ngón về phía trước, và đôi mắt thì chẳng bao giờ mọc ở sau lưng.

Những ngày sau, tôi vẫn lại qua trước cửa ngôi nhà ấy mà không tìm được cách gõ cửa. Lấy lý do gì chứ? Và hỏi ai? Ngay cả một cái tên cũng đang còn mờ mịt. Hỏi vu vơ ngớ ngẩn khéo người ta tưởng mới ở bệnh viện tâm thần mới sổng ra thì khốn. Mà cũng không thấy nhân vật ấy bước ra khỏi nhà để có cớ vờ làm người tốt bụng. Không lẽ chịu bó tay. Cũng đã có lúc tôi đánh rơi ý định, bởi cảm giác mình đang đi vào một chốn lênh đênh lãng đãng, không có ý nghĩa rõ rệt, không có mục đích rõ rệt, còn nữa, liệu khi có thể tiếp cận rồi, thì thái độ đối diện với vấn đề của nhân vật ấy sẽ thế nào? Trong một phạm vi đơn thuần nhất, người ta vốn muốn tự điều chuyển lấy những vấn đề của cá nhân, không muốn có sự can thiệp, chi phối và tác động một cách trực tiếp và cụ thể từ những người chung quanh. Một tâm lý cá nhân nhất trong bản thể con người, chỉ ngoại trừ những khả năng ngoài tầm chủ động, thì người ta mới buộc phải chấp nhận một giải pháp ngoại vi. Lại càng khó khăn hơn khi với một người hoàn toàn xa lạ, lại càng phải dè chừng với bao ý đồ bất hảo, nhất là với một tình trạng thiếu khả năng tự vệ. Nhưng vẫn cứ canh cánh trong tôi một hình ảnh mà tôi biết, tôi sẽ không thể tự giải thoát khỏi nó nếu không bắt tay vào một cái gì. Và rồi, trong cái khó tất ló cái khôn. Tôi vui mừng tự thưởng cho mình một ấm trà ngâu thơm phức. Từ đó, mỗi chiều chiều đến quán Yên Nhung cũng có một vật biết lên tiếng theo tôi. Cô chủ quán ngạc nhiên:

- Anh định làm chàng nhạc sĩ lang thang đấy à?

- Thế cô có nhu cầu tận dụng không?

Nụ cười thay cho câu trả lời. Vẫn chỗ ngồi quen thuộc với những chiều trông đợi, tôi có một niềm tin gần như chắc chắn sẽ gặp lại cô gái ấy. Sự kiên nhẫn luôn là một yếu tố cần thiết trong nhìều cảnh trạng, nhất là với sự chờ đợi. Thế rồi niềm tin và lòng kiên nhẫn đã giúp tôi đạt được kết quả. Một chiều, tôi khẽ reo thầm khi nhìn thấy hai cô gái trên những bậc thang dìu nhau xuống, có vẻ họ là hai chị em. Khi đưa cô gái khiếm thị vào chỗ ngồi rồi, cô em ghé tai nói nhỏ câu gì với chị rồi trở lên. Sau khi phục vụ đem thức uống đến, cô gái lại buông mình vào sự trầm mặc. Bấy giờ tôi mới từ từ nhả tơ. Tôi cố tình chọn những bản nhạc buồn, cổ điển, có giai điệu nhẹ và sâu lắng, những bản nhạc có âm giai rất hợp với giutar. Tiếng đàn tôi vẫn thường được bạn bè khen là rất có hồn, thì giờ là lúc tôi thử nghiệm chính cái hồn của nó. Ban đầu hầu như cô gái không buồn chú ý đến, tuy có hơi một chút động tĩnh. Có lẽ cô cho rằng một gã lãng tử dở hơi nào đem chút tài lẻ của mình ra khoe chăng? Nhưng cổ nhân đã đúc kết rồi “nước rên siên siết thì đá tảng cũng phải mòn” huống nữa là màng nhĩ mỏng manh của một con người. Mà cũng đố ai thờ ơ được, khi trong chiều thanh tịnh, gió hiu hiu man mát, hương thơm dìu dịu từ các loài hoa tỏa nhẹ, tiếng róc rách khe khẽ từ con suối xa vọng lại, hòa âm cùng trầm bổng điệu đàng, thì tâm hồn không lao xao hoài mặc hoặc có là gỗ đá vô tri mà thôi. Phán đoán sự chuyển bíến qua một vài biểu hiện cho dù khá kín đáo của đối phương, tôi biết tôi đang đi đúng hướng. Thế rồi, ngày một ngày hai, không một lời hò hẹn, không một câu nhắc nhủ, nhưng gần như cô gái không vắng mặt chiều nào, điều này rõ ràng đã gây sự thắc mắc cho cô gái dẫn đường, và cô này ném cái nhìn hoài nghi, có phần nào như cảnh báo về phía tôi, khi nhận thấy khoảng cách của hai chỗ ngồi ngày càng cố tình ngắn hơn. Tiếng đàn của tôi ngày càng phát huy tốt tác dụng, nó đang nghiễm nhiên được một sự chấp nhận thầm lặng, và hẳn nó cũng đang đặt ra một số câu hỏi trong sự châp nhận ấy. Và rồi, cái gì đã trở thành một thói quen, thì khi vắng đi, người ta sẽ cảm thấy trống vắng và mong đợi.

Để chiều nay, cây đàn vẫn đó nhưng thanh âm của nó thì nhường chỗ cho sự sắp đặt có chủ ý của tôi. Khoảng cách giữa tôi và cô gái bây giờ chỉ là một cái bàn, nhưng dẫu sao nó cũng còn là một phân ranh đáng kể khi chưa được quyền vượt ngưỡng. Sau một lúc như chờ đợi, sự thông minh và nhạy cảm giúp cho cô gái đoán hiểu tình thế. Tôi chắc chắn điều đó qua khóe miệng khẽ cử động. Tôi vẫn cố tình nhường quyền chủ động cho đối phương. Khách đã gõ cửa, nhưng có mở hay không là tùy chủ nhân chứ. Và rồi…

- Nếu đã cố tình, sao còn ngần ngại?

Chủ nhà đã mở cửa rồi, còn đợi chờ gì nữa?

- Rất cảm ơn vì đã nhã ý tạo cơ hội cho tôi được làm quen. Nếu không có gì bất tiện, có thể cho tôi ngồi cùng bàn được chứ?

Một cái gật nhẹ. Cây guitar bây giờ chễm chệ một mình một bàn. Câu chuyện rất mau chóng lướt qua cái cầu xã giao, mau chóng trở nên thật tự nhiên và cởi mở, có lẽ vì chúng tôi đã “nói” với nhau nhiều rồi. Thì ra, cũng như tôi, cô gái cũng cảm giác một điều gì đó như thân quen, nhưng không phải từ cái nhìn đầu tiên, mà là từ tiếng đàn đầu tiên. Con đường ngắn nhất để con người có thể đến với nhau là chạm được vào một sở thích của miền tâm cảm. May mắn cho tôi đã tìm được đúng đường. Nỗi niềm chất chứa đã bao ngày, nay mới có dịp được thổ lộ trong một tâm trạng đầy xúc cảm.

Cô tên là Diệu Anh, lẽ ra đã có thể là một họa sĩ tài năng trong tương lai nếu con đường từ nhà đến cổng trường Văn hóa Nghệ thuật không bị cắt ngang bởi một tai nạn giao thông. Mọi thứ đổ sụp trong cô khi biết mình đã qua cơn nguy hiểm tính mạng nhưng lại mất hoàn toàn khả năng thị giác. Thế giới đầy màu sắc tươi tắn quanh cô đã vĩnh viễn khép kín. Dù gia đình cô đã cố gắng hết sức những sự phát triển của y học vẫn không giúp gì được trong trường hợp này. Đã nhiều lúc trong cơn tuyệt vọng, Diệu Anh nghĩ mình thà chết đi còn hơn, nhưng những người thân quanh cô đâu dễ dàng để cho cô thực hiện ý định. Tâm trạng cô bức bối, hoảng loạn tưởng chừng như đến phát điên lên, khi bản thân bất lực đến không thể tự quyết cho mình môt việc gì dù nhỏ nhất. Không ít lần cô mất kiềm chế và đập phá tất cả những gì mà cô vớ được. Mọi sự an ủi, động viên đều không tác dụng. Cho đến một lần, mẹ cô đau đớn gào lên “Con ơi! Giá mà mẹ mù thay con được thì mẹ cũng sẵn lòng. Trời ơi! Mẹ biết phải làm gì cho con đây? Nhìn con thế này, mẹ đứt từng khúc ruột, con ơi!”. Câu gào khóc của mẹ đã đánh thức cô. Cô đau xót nhận ra cô đang làm khổ tất cả mọi người, trong khi bản thân lại không giúp gì được cho ai. Một thực tế phũ phàng và khắc nghiệt, nhưng không còn cách nào khác là cô buộc phải chấp nhận nó. Khi nhận thức được điều này, cô thu mình vào lặng lẽ. Để tự hóa lấy mình, để người thân bớt phần lo lắng, và cũng để tìm ra cho mình một hướng tới, cô nhờ em gái thi thoảng dẫn mình đến quán cà phê này. Đây là nơi khi xưa cô rất yêu thích, và cũng là nơi cô dự định làm tác phẩm tốt nghiệp của mình.

Sau một chuỗi dài tự sự, Diệu Anh dừng lời, nơi khóe mắt run run hai giọt nước, tôi cũng lặng đi. Giây lát, Diệu Anh buồn bã nói thêm:

- Chắc anh cũng thấy nơi đây thật tuyệt phải không? Ngày trước, ước mong lớn nhất của tôi là đưa được cảnh sắc nơi đây vào tranh của mình. Thế mà…

Tôi vẫn không thể nói gì. Trong cuộc đời nhiều long đong trúc trắc này, con người ta không thể nào biết trước được những biến cố ập đến cho mình vào lúc nào, và hoàn toàn mất khả năng kháng cự khi nó ập đến. Để tiếp nhận và vượt qua được nó thật không dễ dàng một chút nào. Đôi mắt lại gần như đóng vai trò chủ động trong đời sống. “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Chỉ mới là đau thôi, mà người ta đã liệt nó vào hàng thứ nhất của sự khó chịu, huống là mất hẳn, có khác nào một tấm màn đen phủ kín cả cuộc đời. Đôi mắt của Diệu Anh lại là một đôi mắt của người họa sĩ. Một đôi mắt biết cảm thụ vẻ đẹp của những màu sắc, biết ghi nhận những lung linh huyền ảo của cuộc sống, hẳn đôi mắt ấy xưa kia cũng đã rất sáng trong, nồng nàn khi gửi trao những yêu thương cuộc đời. Vậy mà… Với một cô gái có vóc người mảnh khảnh, có cuộc sống nội tâm phong phú, có một trái tim luôn thiết tha những xúc cảm, thì làm sao tránh khỏi sự đột quỵ trước một cú sốc quá lớn như thế. Nói gì với cô đây? Những lời mang tính lên dây cót chỉ đem lại những phản cảm. Lại còn như khoét sâu vào vết thương khi người nghe có cảm giác là đang bị thương hại. Trong cô lúc này không còn sự tự tin, hy vọng, niềm tin yêu vào cuộc sống, mà chỉ có một áp lực tư tưởng rất lớn “Mình đang là gánh nặng cho mọi người”. Để cấy lại cho cô niềm vui sống, yêu đời, là một điều hết sức khó khăn. Lấy gì làm chiếc gậy cho cô chống qua cơn bão lớn của cuộc đời? Liệu tôi có làm được gì? Hay rồi chỉ biết buông vài ba câu trắc ẩn?

“Gặp gỡ là duyên, vương mang là nợ” Vốn dĩ con người ta gặp nhau trên cõi đời này thì phải có đủ cả nợ lẫn duyên. Một thời khắc của định mệnh đã dẫn dắt phần số của những con người lồng vào nhau, để có thể đem đến cho nhau những buồn vui, khóc cười, những điều đã làm nên bản chất của cuộc đời này. Để tương hòa được với nhau trong bao lâu thì tùy thuộc vào độ dài ngắn của những nợ duyên ấy.

Nếu tự coi mình là một cái phao thì thật là một điều càn rỡ. Nhưng tự đáy lòng mình, chẳng biết có gì thôi thúc, mà tôi tự hứa sẽ cố làm được cho “Em” một điều gì đó. Bởi nếu tôi quay gót, vội vàng thối lui trước một chiếc thuyền con đang chòng chành con nước số phận, thì khác nào một con sóng có thể nhấn chìm, có thể dập tắt một chút lửa còn le lói trong một cõi lòng, ít ra tôi cũng xin được làm một thanh củi mục. Cho dù ngay lúc này tôi chưa thể nghĩ ra được phương cách nào khả dĩ, nhưng có lẽ rồi sẽ phải có, tôi tin chắc chắn là thế. Bởi đa số những phúc phận đời người không phải là vô nguyên bất lý. Nó đã từng có mấu chốt để khởi thủy, thì rồi nó sẽ phải có một đường diễn tiến, để tất yếu đi đến một kết cuộc nào đó, hay dở, nên hư, phần nhiều tùy thuộc vào khả năng nhận định và điều vận của mỗi người. Rốt cục, cây guitar một lần nữa trở thành điểm bấu của tôi, biến tôi thành một nhạc sư bất đắc dĩ cho em. Thường thì những ai có chút hồn nghệ sĩ đều khó bỏ ngoài tai cái âm giai trầm bổng, thanh thoát, trữ tình của tiếng đàn guitar. Em cũng không ngoại lệ, mà với người khiếm thị thì sự tinh nhạy gần như dồn hết cả vào đôi tai và đôi tay. Cũng may là trước khi bị tai nạn, Diệu Anh đã từng thử qua nhạc cụ này, nên một phần cơ bản em đã nắm được. Trí nhớ rất tốt của em đã có dịp phát huy tối đa. Chỉ khác loại hình thuật nhưng nìềm đam mê thì như nhau. Diệu Anh dần bị cuốn hút vào thế giới âm thanh cũng say mê không khác gì thế giới màu sắc của em trước kia. Nỗi vui mừng của tôi trào lên khi một hôm em cất tiếng hát hòa cùng cung đàn. Giờ thì không những tôi, mà cả em cũng quyết tâm tìm lại mình trong lĩnh vực mới. Khi vốn liếng âm nhạc hạn hẹp của tôi hết nhẵn, tôi đưa em đến một vị nhạc sư nổi tiếng về môn guitar. Vị nhạc sư này cũng hết sức chăm sóc trường hợp đặc biệt của em. Thời gian là con dấu đỏ đóng lên sự quyết định của mọi vấn đê. Lĩnh hội được tất cả những kỹ năng cần thiết của nhạc thuật, cộng thêm nét sáng tạo và sự nhạy cảm của riêng mình, tiếng đàn của em ngày càng điêu luyện. Khỏi nói, những người thân của em vui thế nào khi thấy em dần trở lại là một Diệu Anh tươi tắn, yêu đời trước kia.

Cả hội trường đông nghẹt, lặng phắc theo tiếng đàn đầy ma thuật của Diệu Anh. Từng cung bậc biến tấu lúc cao trào, lúc trầm, lúc lặng theo những ngón tay nhịp nhàng thoăn thoắt của Diệu Anh lướt trên cần đàn. Đến lúc này tâm trạng tôi mới tạm bình ổn. Trước buổi biểu diễn, Diệu Anh hồi hộp một thì tôi lo lắng mười. Bao nhiêu kỳ công có nên cơm cháo gì không là trông cả vào lúc này. Bởi chốt điểm cuối cùng để đưa em trở lại với tin yêu, hòa nhập cùng cuộc sống, vững tin vào tương lai của mình, gần như tùy thuộc hoàn toàn vào những tràng vỗ tay của quý vị khán giả này đây. Chỉ cần một sơ suất khiến em lỗi mất một nhịp nào đó, em mất bình tĩnh và tự tin thì tình thế không còn gì cứu vãn được nữa. Nhưng kìa, tràng vỗ tay đã nổi lên rồi, thật to và thật lâu. Và hoa, hoa nhiều đến nỗi em ôm không xuể. Phải đợi một lúc cho vòng người giãn bớt tôi mới đến được bên em. Vừa nghe tíếng tôi “Chúc mừng em” Diệu Anh vụt òa khóc, úp mặt vào ngực tôi thổn thức “Anh ơi! Em sống rồi.” Tôi ôm chặt lấy em, chẳng rõ nước mắt em hay nước mắt tôi mà nhòe nhoẹt hết cả. Mẹ em đứng lặng sau cánh gà, nước mắt bà cũng ướt đầm hai má. Người mẹ nghẹn ngào chứng kiến phút hồi sinh của con gái mình. Tôi dìu em đến thả vào lòng người, một khoảnh khắc thinh lặng, thiêng liêng và rất đỗi ngọt ngào…

Đàm Lan

Thông báo:

Kỳ họp tiếp theo của CLB sách Xưa & Nay sẽ diễn ra vào lúc 9:00 ngày 14/4/2012 tại nhà thờ Tân Sa Châu, số 387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình.

Bài viết cho bản tin nội bộ xin gửi về:

hamanhdoan69@yahoo.com

hoặc liên hệ với Hà Mạnh Đoàn

Dđ: 0937 108489 - 0907 108484

Các bản tin trước có thể xem tại:

www.diendan.songhuong.com.vn

www.giaimakinhphat.com

www.sachvatranh.com

www.newvietart.com

www.vandanviet.net

www.hoamai-aus.org.au

|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
 54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
 59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
 69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
 74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
 84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
 89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
|  49 |
 50 |
 51 |
 52 |
 53 |
|  54 |
 55 |
 56 |
 57 |
 58 |
|  59 |
 60 |
 61 |
 62 |
 63 |
|  64 |
 65 |
 66 |
 67 |
 68 |
|  69 |
 70 |
 71 |
 72 |
 73 |
|  74 |
 75 |
 76 |
 77 |
 78 |
|  79 |
 80 |
 81 |
 82 |
 83 |
|  84 |
 85 |
 86 |
 87 |
 88 |
|  89 |
 90 |
 91 |
 92 |
 93 |
|  94 |
 95 |
 96 |
 97 |
 98 |
 
Netadong.com thiết kế